Tôi xin cam đoan luận văn “Đánh giá hiệu quả kinh tế và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế của dự án hồ chứa đa mục tiêu- Áp dụng vào dự án hồ chứa nước Đại Lải- Thị xã
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên là Nguyễn Thị Hồng Hạnh Tôi xin cam đoan luận văn “Đánh giá hiệu quả kinh tế và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế của dự án hồ chứa
đa mục tiêu- Áp dụng vào dự án hồ chứa nước Đại Lải- Thị xã Phúc Yên- Tỉnh Vĩnh Phúc” là công trình nghiên cứu của riêng tôi các số liệu trong luận văn được
sử dụng trung thực Kết quả nghiên cứu này chưa từng được trình bày ở bất kỳ các công trình nào
Tác giả luận văn
N guyễn Thi Hồng Hạnh
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian từ tháng 07/2016 đến tháng 2/2017, luận văn thạc sĩ với đề tài
"Đánh giá hiệu quả kinh tế và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả kinh
tế của dự án hồ chứa đa mục tiêu- Áp dụng vào dự án hồ chứa nước Đại Lải- Thị xã Phúc Yên- Tỉnh Vĩnh Phúc" đã được tác giả hoàn thành Có được bản
luận văn này, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất đến Trường Đại học Thủy lợi, Khoa Công trình, Bộ môn Quản lý xây dựng và các bộ môn khác thuộc Trường Đại học Thủy lợi; đặc biệt là Thầy giáo - GS TS Vũ Thanh
Te đã trực tiếp hướng dẫn tác giả trong suốt quá trình thực hiện luận văn này Xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, các Thầy, Cô giáo - Các nhà khoa học đã trực tiếp giảng dạy, truyền đạt những kiến thức chuyên ngành quản lý xây dựng và kinh tế thủy lợi cho bản thân tác giả suốt khóa học
Xin chân thành cảm ơn các đơn vị: Công ty TNHH MTV Thủy lợi Phúc Yên, Ban quản
lý khu du lịch Đại Lải, và các đơn vị có liên quan đã tận tình giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong quá trình thu thập số liệu, tài liệu và thực hiện luận văn này
Luận văn là kết quả của quá trình nghiên cứu khoa học công phu, nghiêm túc của bản thân tác giả, tuy nhiên do điều kiện tài liệu, thời gian và kiến thức có hạn nên không thể tránh khỏi những khiếm khuyết nhất định Tác giả rất mong nhận được sự tham gia góp ý và chỉ bảo của các Thầy cô giáo và bạn bè, đồng nghiệp
Cuối cùng, một lần nữa tác giả xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo, các cơ quan, đơn vị và cá nhân đã giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn này
Hà Nội, tháng 2 năm 2017
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC HÌNH ẢNH vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU vii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ DỰ ÁN ĐẦU TƯ- HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA DỰ ÁN HỒ CHỨA ĐA MỤC TIÊU 4
1.1 Tổng quan về dự án đầu tư xây dựng 4
1.1.1 Khái niệm về đầu tư 4
1.1.2 Vị trí và vai trò của đầu tư 4
1.1.3 Khái niệm dự án đầu tư xây dựng 4
1.1.4 Đặc điểm của dự án đầu tư xây dựng công trình 5
1.1.5 Các giai đoạn thực hiện của dự án đầu tư xây dựng 6
1.2 Tổng quan về hồ chứa đa mục tiêu 8
1.2.1 Giới thiệu tổng quan về dự án hồ chứa đa mục tiêu 8
1.2.2 Vai trò, hiệu quả của công trình hồ chứa đa mục tiêu 10
1.2.3 Tình hình đầu tư xây dựng các dự án hồ chứa thủy lợi 12
1.3 Tổng quan về hiệu quả kinh tế của hồ chứa đa mục tiêu 14
1.3.1 Khái niệm về hiệu quả kinh tế của dự án 14
1.3.2 Phân loại hiệu quả kinh tế 14
1.3.3 Hệ thống chỉ tiêu và hiệu quả của dự án hồ chứa đa mục tiêu 16
1.4 Những nhân tố tác động đến hiệu quả kinh tế của hồ chứa đa mục tiêu 17
1.4.1 Nhóm nhân tố trong giai đoạn quy hoạch 17
1.4.2 Nhóm nhân tố trong giai đoạn đầu tư xây dựng 18
1.4.3 Nhóm nhân tố trong giai đoạn quản lý vận hành 19
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 20
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA DỰ ÁN HỒ CHỨA ĐA MỤC TIÊU 21
2.1 Đặc điểm vận hành của dự án hồ chứa đa mục tiêu 21
2.2 Kinh nghiệm ở một số nước trên thế giới trong quản lý vận hành, khai thác hồ chứa đa mục tiêu 21
Trang 42.3 Cơ sở lý thuyết trong tính toán hiệu quả kinh tế dự án 23
2.3.1 Phương pháp phân tích chi phí- lợi ích 23
2.3.2 Phương pháp phân tích độ nhạy 30
2.3.3 Phương pháp dùng nhóm các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả từng mặt của dự án thủy lợi 31
2.4 Xây dựng các kịch bản để đánh giá hiệu quả kinh tế của dự án hồ chứa đa mục tiêu 34
2.4.1 Kịch bản xác định thu nhập của dự án hồ chứa đa mục tiêu 35
2.4.2 Kịch bản xác định chi phí của dự án hồ chứa đa mục tiêu 40
KÊT LUẬN CHƯƠNG 2 41
CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA DỰ ÁN HỒ CHỨA ĐA MỤC TIÊU 42
3.1 Hiện trạng hệ thống công trình thủy lợi vĩnh phúc 42
3.2 Giới thiệu chung về hồ chứa nước Đại Lải – Thị xã Phúc Yên – Tỉnh Vĩnh Phúc 43 3.2.1 Vị trí địa lý 43
3.2.2 Quá trình đầu tư xây dựng và cải tạo nâng cấp công trình Hồ Đại Lải 44
3.2.3 Vai trò, nhiệm vụ của công trình Hồ Đại Lải 45
3.2.4 Tình hình quản lý khai thác vận hành công trình hiện nay 49
3.3 Đánh giá hiệu quả kinh tế của hồ chứa nước Đại Lải 50
3.3.1 Đánh giá hiệu quả kinh tế của dự án hồ chứa theo thiết kế 50
3.3.2 Đánh giá hiệu quả kinh tế thực tế của dự án hồ chứa trong giai đoạn quản lý vận hành 60
3.4 So sánh hiệu quả kinh tế của dự án theo thực tế và theo thiết kế 67
3.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của dự án hồ chứa Đại Lải trong quá trình vận hành 68
3.5.1 Những nhân tố tích cực 68
3.5.2 Những nhân tố làm giảm hiệu quả kinh tế của công trình 69
3.6.Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế của dự án hồ chứa đa mục tiêu 70
3.6.1 Định hướng phát triển công tác thủy lợi trong giai đoạn từ nay đến 2020 70 3.6.2 Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế của dự án hồ chứa đa mục
Trang 5tiêu 75
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 84
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 86
1 Kết luận 86
2 Kiến nghị 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
Trang 6DANH M ỤC HÌNH ẢNH
Hình 3.1: Hồ Đại Lải 45 Hình 3.2: Tràn xả lũ hồ Đại Lải 48
Trang 7DANH M ỤC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1: Các thông số kỹ thuật Hồ Đại Lải 46
Bảng 3.2: Bảng tổng hợp vốn đầu tư của dự án (K) 51
Bảng 3.3: Diện tích, năng suất, sản lượng nông nghiệp khi không có dự án 53
Bảng 3.4: Diện tích, năng suất, sản lượng nông nghiệp sau khi có dự án 53
Bảng 3.5: Giá trị thu nhập thuần túy tăng thêm hàng năm từ sản xuất nông nghiệp theo thiết kế 54
Bảng 3.6 : Bảng tính NPV và B/C theo thiết kế (r = 7%/năm) 58
Bảng 3.7: Giá trị thu nhập thuần túy tăng thêm hàng năm từ sản xuất nông nghiệp theo hiện trạng 61
Bảng 3.8: Thu nhập thuần túy nuôi trồng thủy sản tính cho 1ha mặt nước hồ 62
Bảng 3.9: Tổng hợp thu nhập thuần túy thực tế hàng năm của dự án 63
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CĐT Chủ đầu tư
TKKT-DT Thiết kế kỹ thuật- Dự toán
Trang 9PH ẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hồ chứa thủy lợi là công trình được xây dựng với mục tiêu chính là cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp và tham gia điều tiết lũ cho vùng hạ du, tạo nguồn nước cho sinh hoạt và kết hợp phát điện Hồ chứa nước đa mục tiêu có tầm quan trọng đặc biệt rất lớn đối với công tác phòng chống lũ, lụt, tưới tiêu, phát điện, giao thông thủy, thủy sản, du lịch và nhiệm vụ cung cấp nhu cầu dùng nước khác Về mùa mưa bão, hồ có vai trò cắt lũ, chậm lũ Về mùa kiệt hồ cung cấp nước đáp ứng yêu cầu tưới, cấp nước công nghiệp, sinh hoạt, giao thông thủy, đẩy mặn, giữ gìn môi trường sinh thái Có thể nói rằng, so với công trình đơn mục tiêu cùng quy mô, công trình hồ chứa đa mục tiêu
có nhiều ưu điểm và mang lại hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường lớn hơn rất nhiều
Để thấy rõ hiệu quả tổng hợp của các hệ thống thủy lợi (HTTL), khắc phục tình trạng xuống cấp nhanh và nâng cao hiệu quả khai thác của các HTTL thì việc đánh giá hiệu quả kinh tế các hệ thống công trình loại này là rất quan trọng, sẽ giúp cho các nhà quản
lý nắm được những thiếu sót, bất cập của hiện trạng công trình, hiện trạng quản lý vận hành hệ thống để có biện pháp cải tiến, nâng cấp công trình và quản lý vận hành nhằm đạt hiệu quả tối ưu
Vai trò quan trọng, tính ưu điểm vượt trội và hiệu quả của các công trình hồ chứa đa mục tiêu là rất rõ ràng, nhưng cho đến nay, chúng ta vẫn chưa có một phương pháp luận hoàn thiện và cập nhật để đánh giá hiệu quả kinh tế của công trình loại này, chính
vì thế việc lựa chọn giải pháp công trình trong giai đoạn quy hoạch chưa được quan tâm, khả năng thuyết phục đầu tư trong giai đoạn lập dự án chưa cao, tính thuyết phục trong bước thiết kế chưa đảm bảo và đặc biệt là việc phát huy hiệu quả công trình trong giai đoạn hậu xây dựng chưa được quan tâm, còn nhiều hạn chế
Nhận thức rõ tầm quan trọng, vai trò của hệ thống các công trình thủy lợi trong điều kiện phát triển mới, Đảng và Nhà nước ta đã có chủ trương ưu tiên đầu tư các công trình thủy lợi đa mục tiêu trong chiến lược phát triển thủy lợi đến năm 2020 và tầm nhìn 2030 Như vậy, việc phân tích đánh giá làm rõ tính hiệu quả kinh tế của các công trình thủy lợi đa mục tiêu trong giai đoạn đầu tư xây dựng cũng như trong giai đoạn
Trang 10quản lý vận hành sẽ là căn cứ quan trọng để chúng ta sử dụng hiệu quả các nguồn lực Quốc gia trong quá trình đầu tư phát triển kinh tế xã hội đất nước Xuất phát từ những
vấn đề nêu trên, tác giả chọn đề tài luận văn thạc sĩ với tên: “Đánh giá hiệu quả kinh
tế và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế của dự án hồ chứa đa mục tiêu- Áp dụng vào dự án hồ chứa nước Đại Lải- Thị xã Phúc Yên- Tỉnh Vĩnh Phúc”
với mong muốn đóng góp chia sẻ những kết quả nghiên cứu và những vấn đề khoa học
mà tác giả quan tâm
2 Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu nhằm mục đích tìm ra phương pháp phân tích đánh giá hiệu quả kinh tế của loại hình công trình hồ chứa nước đa mục tiêu ở nước ta, từ kết quả nghiên cứu sẽ áp dụng đánh giá cho một công trình cụ thể và đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế của loại hình công trình này
3 Đối tượng nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là dự án hồ chứa đa mục tiêu
4 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành các nội dung và giải quyết các vấn đề nghiên cứu của đề tài, tác giả đã
sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây trong luận văn:
- Phương pháp thu thập và tổng hợp số liệu
- Phương pháp khảo sát thực tế
Trang 11- Phương pháp phân tích đánh giá hiệu quả kinh tế
- Phương pháp kế thừa và một số phương pháp kết hợp khác
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ được sử dụng trong phân tích hiệu quả kinh tế của các
dự án hồ chứa đa mục tiêu, một số giải pháp đề xuất sẽ là những gợi ý cho các nhà đầu
tư, nhà tư vấn, những người quản lý, khai thác vận hành hệ thống trong đầu tư, thiết
kế, quản lý hệ thống đạt hiệu quả kinh tế cao
Trang 12C HƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ DỰ ÁN ĐẦU TƯ- HIỆU QUẢ KINH TẾ
C ỦA DỰ ÁN HỒ CHỨA ĐA MỤC TIÊU
1.1 Tổng quan về dự án đầu tư xây dựng
1.1.1 Khái niệm về đầu tư
- Đầu tư là việc bỏ vốn nhằm đạt được một hoặc một số mục đích cự thể của người nào
đó sở hữu vốn (hoặc người được cấp có thẩm quyền giao quản lý vốn) với những yêu cầu nhất định
- Đầu tư xây dựng là việc bỏ vốn để xây dựng mới, mở rộng hoặc cải tạo những công trình xây dựng nhằm mục đích phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong thời gian nhất định
1.1.2 Vị trí và vai trò của đầu tư
- Đầu tư có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình phát triển của bất ký hình thức kinh tế nào, nó tạo ra những cơ sở vật chất kỹ thuật, những nền tảng vững chắc ban đầu cho sự phát triển của xã hội
- Đầu tư hình thành các công trình mới với thiết bị công nghệ hiện đại, tạo ra những cơ
sở vật chất hạ tầng ngày càng hoàn thiện đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước và đóng vai trò quan trọng trên mọi mặt kinh tế, chính trị- xã hội, an ninh- quốc phòng
- Đối với một nước đang phát triển như nước ta hiện nay , quản lý hiệu quả các dự án
là cực ký quan trọng nhằm tránh gây ra lãng phí, thất thoát những nguồn lực vốn đã rất hạn hẹp
1.1.3 Khái niệm dự án đầu tư xây dựng
- Khi đầu tư xây dựng công trình, Chủ đầu tư (CĐT) xây dựng công trình phải lập báo cáo đầu tư, dự án đầu tư ( hoặc lập báo cáo kinh tế- kỹ thuật) để xem xét, đánh giá hiệu quả kinh tế- xã hội của dự án
- “Dự án” là việc thực hiện một mục đích hay nhiệm vụ công việc nào đó dưới sự ràng buộc
về yêu cầu và nguồn vật chất đã định Thông qua việc thực hiện dự án để cuối cùng đạt được mục tiêu nhất định đã đề ra và kết quả của nó có thể là một sản phẩm hay một dịch vụ
Trang 13- Theo Luật Xây dựng Việt Nam số 50/2014/QH13 [10] thì dự án đầu tư xây dựng công trình là tập hợp các đề xuất có lên quan đến việc bỏ vốn để xây dựng mới, mở rộng hoặc cải tạo những công trình nhằm mục đích phát triển duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong một thời gian nhất định Hồ sơ dự án đầu tư xây dựng gồm 02 phần: phần tuyết minh và phần thiết kế cơ sở
1.1.4 Đặc điểm của dự án đầu tư xây dựng công trình
Dự án xây dựng là tập hợp các hồ sơ và bản vẽ thiết kế trong đó bao gồm các tài liệu pháp lý, quy hoạch tổng thể, kiến trúc, kết cấu, công nghệ tổ chức thi công được giải quyết Các dự án đầu tư xây dựng có các đặc điểm sau:
- Dự án có tính thay đổi: Dự án xây dựng không tồn tại một các ổn định cứng, hàng loạt phần tử của nó đều có thể thay đổi trong quá trình thực hiện do nhiều nguyên nhân, chẳng hạn như các tác nhân từ bên trong như nguồn nhân lực, tài chính các hoạt động sản xuất và bên ngoài như môi trường chính trị , kinh tế công nghệ, kỹ thuật thậm chí cả điều kiện kinh tế xã hội
- Dự án có tính duy nhất: Mỗi dự án đều có tính đặc trưng riêng biệt lại được thực hiện trong những điều kiện khác biệt nhau cả về địa điểm, không gian, thời gian và môi trường luôn thay đổi
- Dự án có hạn chế về thời gian và quy mô: Mỗi dự án đều có điểm khởi đầu và kết thúc rõ ràng và thường có một số kỳ hạn liên quan Có thể ngày hoàn thành được ấn định một cách tùy ý, nhưng nó cũng trở thành điểm trọng tâm của dự án, điểm trọng tâm đó có thể là một trong những mục tiêu của người đầu tư Mỗi dự án đều được khống chế bởi một khoảng thời gian nhất định, trên cơ sở đó quá trình triển khai thực hiện nó là cơ sở để phân bố các nguồn lực sao cho hợp lý và có hiệu quả nhất Sự thành công của dự án thường được đánh giá bằng khả năng có đạt được đúng thời điểm kết thúc đã quy định trước hay không? Quy mô của mỗi dự án là khác nhau và được thể hiện một cách rõ ràng trong mỗi dự án vì điều đó quyết định đến việc phân loại dự án và xác định chi phí của dự án
- Dự án có liên quan đến nhiều nguồn lực khác nhau: Triển khai dự án là một quá trình thực hiện một chuỗi các đề xuất để thực hiện các mục đích cụ thể nhất định,
Trang 14Lập thiết kế Đấu thầu Thi công Nghiệm
thu đưa dự
án vào hoạt động
chính vì vậy để thực hiện được nó chúng ta phải huy động nhiều nguồn lực khác nhau, việc kết hợp hài hòa các nguồn lực đó trong quá trình triển khai là một trong những nhân tố góp phần nâng cao hiệu quả của dự án
1.1.5 Các giai đoạn thực hiện của dự án đầu tư xây dựng
- Dự án đầu tư xây dựng và quá trình đầu tư xây dựng của bất ký dự án nào cũng bao gồm 3 giai đoạn: Chuẩn bị đầu tư, Thực hiện đầu tư, Kết thúc xây dựng và đưa dự án vào khai thác sử dụng Quá trình thực hiện dự án đầu tư được nêu bằng sơ đồ 1 1 dưới đây:
Lập Báo cáo Lập Dự án
đầu tư đầu tư
Đối với DA quan trọng quốc gia
Sơ đồ 1.1: Quy trình thực hiện dự án
- Giai đoạn chuẩn bị đầu tư:
Đối với các dự án quan trong quốc gia theo Nghị quyết số 66/2006/QH11 của Quốc hội thì chủ đầu tư phải lập Báo cáo đầu tư trình Chính phủ xem xét để trình Quốc hội thông qua chủ trương và cho phép đầu tư Đối với dự án nhóm A không có trong quy hoạch ngành được cấp có thẩm quyền phê duyệt thì chủ đầu tư phải báo cáo Bộ quản
lý ngành để xem xét, bổ sung quy hoạch theo thẩm quyền hoặc trình Thủ tướng Chính phủ chấp thuận bổ sung quy hoạch trước khi lập dự án đầu tư xây dựng Vị trí, quy mô xây dựng dự án phải phù hợp với quy hoạch xây dựng được cấp có thẩm quyền phê duyệt, nếu chưa có trong quy hoạch xây dựng thì phải được Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh chấp thuận
- Giai đoạn thực hiện đầu tư:
Sau khi báo cáo đầu tư được phê duyệt DAĐT được chuyển sang giai đoạn tiếp theo -
Trang 15giai đoạn thực hiện đầu tư
Vấn đề đầu tiên là lựa chọn đơn vị tư vấn, phải lựa chọn được những chuyên gia tư vấn, thiết kế giỏi trong các tổ chức tư vấn, thiết kế giàu kinh nghiệm, có năng lực thực thi việc nghiên cứu từ giai đoạn đầu, giai đoạn thiết kế đến giai đoạn quản lý giám sát xây dựng - đây là nhiệm vụ quan trọng và phức tạp Trong khi lựa chọn đơn vị tư vấn, nhân tố quyết định là cơ quan tư vấn này phải có kinh nghiệm qua những dự án đã được họ thực hiện trước đó Một phương pháp thông thường dùng để chọn là đòi hỏi các cơ quan tư vấn cung cấp các thông tin về kinh nghiệm, tổ chức sau đó xem xét lựa chọn rồi tiến tới đấu thầu
Sau khi lựa chọn được nhà thầu thiết kế, trên cơ sở dự án được phê duyệt, nhà thầu thiết kế tổ chức thực hiện các công việc tiếp theo của mình Tuỳ theo quy mô, tính chất công trình xây dựng, việc thiết kế có thể thực hiện theo một bước, hai bước hay ba bước
Thiết kế một bước là thiết kế bản vẽ thi công áp dụng đối với công trình chỉ lập báo cáo kinh tế kỹ thuật
Thiết kế hai bước bao gồm thiết kế cơ sở và thiết kế bản vẽ thi công áp dụng đối với công trình quy định phải lập dự án đầu tư
Thiết kế ba bước bao gồm thiết kế cơ sở, thiết kế kỹ thuật và thiết kế bản vẽ thi công
áp dụng đối với công trình quy định phải lập dự án và có quy mô là cấp đặc biệt, cấp I
và công trình cấp II có kỹ thuật phức tạp do người quyết định đầu tư quyết định
Sau khi sản phẩm thiết kế được hình thành, CĐT tổ chức thẩm định hồ sơ TKKT-TDT
và trình lên cơ quan nhà nước có thẩm quyền (cụ thể là người có thẩm quyền ra quyết định đầu tư) phê duyệt Trường hợp CĐT không đủ năng lực thẩm định thì thuê các tổ chức, cá nhân tư vấn có đủ điều kiện năng lực để thẩm tra dự toán thiết kế công trình làm cơ sở cho việc phê duyệt Trên cơ sở kết quả thẩm định TKKT-DT người có thẩm quyền quyết định đầu tư sẽ ra quyết định phê duyệt TKKT-DT Khi đã có quyết định phê duyệt TKKT- TDT, CĐT tổ chức đấu thầu xây dựng nhằm lựa chọn nhà thầu có
đủ điều kiện năng lực để cung cấp các sản phẩm dịch vụ xây dựng phù hợp, có giá dự
Trang 16thầu hợp lý, đáp ứng được yêu cầu của CĐT và các mục tiêu của dự án
Sau khi lựa chọn được nhà thầu thi công, CĐT tổ chức đàm phán ký kết hợp đồng thi công xây dựng với nhà thầu và tổ chức quản lý thi công xây dựng dự án Nội dung quản lý thi công xây dựng bao gồm quản lý chất lượng xây dựng; quản lý tiến độ xây dựng; quản lý khối lượng thi công xây dựng công trình; quản lý an toàn lao động trên công trường xây dựng; quản lý môi trường xây dựng
- Giai đoạn kết thúc xây dựng và đưa công trình vào khai thác sử dụng:
Sau khi dự án được thi công xong theo đúng thiết kế đã được phê duyệt, đảm bảo các yêu cầu về chất lượng, kỹ thuật, mỹ thuật, CĐT thực hiện công tác bàn giao dự án cho
cơ quan quản lý, sử dụng thực hiện khai thác, vận hành với hiệu quả cao nhất
Như vậy các giai đoạn của quá trình đầu tư có mối liên hệ mật thiết với nhau, mỗi giai đoạn có tầm quan trọng riêng của nó cho nên không đánh giá quá cao hoặc xem nhẹ một giai đoạn nào và kết quả của giai đoạn này là tiền đề của giai đoạn sau Trong quá trình quản lý đầu tư xây dựng CĐT luôn đóng vai trò quan trọng và quyết định đến việc nâng cao hiệu quả đầu tư và xây dựng
Tóm lại, trong giai đoạn này CĐT chịu trách nhiệm đền bù, giải phóng mặt bằng xây dựng theo tiến độ và bàn giao mặt bằng xây dựng cho nhà thầu xây dựng; trình duyệt
hồ sơ TKKT-DT; tổ chức đấu thầu; đàm phán ký kết hợp đồng, quản lý chất lượng kỹ thuật công trình trong suốt quá trình thi công và chịu trách nhiệm toàn bộ các công việc đã thực hiện trong quá trình triển khai dự án
1.2 T ổng quan về hồ chứa đa mục tiêu
1.2.1 Giới thiệu tổng quan về dự án hồ chứa đa mục tiêu
Hồ chứa, còn gọi là kho nước nhân tạo, hồ chứa nhân tạo, là những thủy vực chứa nước tương đối lớn, hình thành một cách nhân tạo hoặc bán nhân tạo, có chế độ nước
bị điều tiết nhân tạo Các hồ chứa do con người tạo ra bằng cách đắp đập ngăn dòng chảy của sông hoặc suối Các hồ chứa lớn trên thế giới đều được xây dựng theo phương thức xây đập ngăn sông Những hồ chứa đầu tiên đã được xây dựng từ khoảng 5.000 năm trước trên sông Tigris(Tích Giang) ở Iraq và Euphrates ở Syria (hai con
Trang 17sông đã tạo nên nền văn minh Lưỡng Hà - Mesopotamia); trên sông Nin ở Ai Cập và sông Indus (sông Ấn) ở Pakistan Tất cả các hồ chứa từ xa xưa được xây dựng chủ yếu
để phục vụ tưới cho nông nghiệp và kiểm soát lũ Trên thế giới hiện có hơn 45.000 hồ chứa lớn đang hoạt động (là những hồ chứa có đập cao >15m hoặc có đập cao từ 5-15m nhưng có dung tích >3 tỷ m3) và khoảng trên 800.000 hồ chứa không thuộc loại lớn Trong thời gian qua, hồ chứa lớn được xem là biểu tượng của khả năng chế ngự và chinh phục thiên nhiên của con người nhằm mục đích phát triển công nghiệp cũng như nông nghiệp, kinh tế xã hội và điện lực Kết quả là hơn một nửa các con sông lớn trên thế giới đều bị ảnh hưởng của việc xây dựng hồ chứa và gần 40 triệu người dân đã phải di dời Trung Quốc là nước có nhiều hồ chứa lớn nhất, với trên hồ chứa (trên tổng
số > 90.000 hồ chứa); Mỹ có khoảng 6.400 hồ chứa lớn, Ấn Độ có khoảng 4.000 hồ chứa lớn, Nhật và Tây Ban Nha có khoảng > 1.000 hồ chứa lớn Năm 1992 Trung Quốc tiến hành xây dựng hồ chứa nước Tam Hiệp trên sông Dương Tử trị giá 50 tỷ USD, với đập cao 185m có chức năng cấp nước, điều tiết lũ, phát điện (12% nhu cầu điện toàn quốc) Công trình làm 1,2 triệu người phải di dời và làm ngập 41.000ha đất nông nghiệp
Căn cứ vào tính chất hoặc nhiệm vụ chủ yếu của hồ chứa có thể phân thành 02 loại hồ chứa chủ yếu là hồ chứa thủy lợi và hồ chứa thủy điện Hồ chứa đa mục tiêu là loại công trình hồ chứa thủy lợi được xây dựng để khai thác tổng hợp nguồn nước: cung cấp nước tưới cho nông nghiệp, giảm lũ, cắt lũ cho hạ du, phát điện, cấp nước cho công nghiệp và sinh hoạt, tạo cảnh quan môi trường để phát triển dịch vụ du lịch, phục
vụ giao thông thủy, nuôi trồng thủy sản,…
Công trình hồ chứa đa mục tiêu có ba vấn đề chính cần quan tâm giải quyết mà ở công trình được thiết kế cho một mục tiêu duy nhất không có, đó là:
- Vấn đề giải quyết các xung đột và mâu thuẫn giữa các nhiệm vụ (các ngành dùng nước) trong bài toán cân bằng nước
- Vấn đề phân bổ vốn đầu tư cho từng nhiệm vụ
- Vấn đề xác định thu nhập và lợi ích của từng nhiệm vụ
Trang 18Nói chung trong lĩnh vực thủy lợi ngày nay, hầu hết các hệ thống thủy lợi, đặc biệt là các hệ thống có hồ chứa điều tiết dòng chảy đều thuộc loại hệ thống thủy lợi đa mục tiêu, cùng một lúc phục vụ nhiều ngành kinh tế quốc dân
1.2.2 Vai trò, hiệu quả của công trình hồ chứa đa mục tiêu
Hồ chứa đa mục tiêu là một biện pháp công trình nhằm kiểm soát và điều tiết lượng nước được sử dụng cho nhiều ngành, nhiều lĩnh vực một cách hợp lý, mang lại hiệu quả cao; có vai trò quyết định đến sự phát triển kinh tế - xã hội của khu vực dự án Hồ chứa đa mục tiêu được xây dựng nhằm các mục tiêu sau:
- Cấp nước nông nghiệp (Agricultural Water Supply)
- Hệ thống thủy lợi cung cấp nước sinh hoạt và công nghiệp (Domestic and Industry water supply)
- Nuôi trồng thuỷ sản và thủy cầm được CTTL cấp, thoát nước( Water suplly for Aquaculture )
- Hệ thống thủy lợi kết hợp cấp nước cho chăn nuôi (Integrated Irrigated Crop–Livestock Systems)
- Hệ thống thủy lợi kết hợp cung cấp nước cho tiểu công nghiệp, dịch vụ ở nông thôn (Water suplly for Rural enterprises )
- Hệ thống thủy lợi kết hợp cung cấp nước cho thủy điện và giao thông thủy (Hydropower generation and navigation)
- Các công trình thủy lợi phòng chống úng ngập, lũ lụt
- Hệ thống thủy lợi Tác động đến chu trình thủy văn và môi trường (Hydrological cycle and ecosystem functions)
- HTTL bổ sung nguồn nước ngầm (Groundwater recharge)
- Tác dụng làm sạch nước của các hệ thống thủy lợi (Water purification)
- Bảo tồn đa dạng sinh học nhờ các HTTL (Conservation of Biodiversity)
Trang 19- Giá trị du lịch sinh thái và giải trí của các hệ thống thủy lợi
-Hệ thống thủy lợi bảo vệ môi trường,cải thiện khí hậu (Climate adjustment)
- Hệ thống thủy lợi tác động tích cực đến sự phát triển văn hóa, xã hội
Hồ chứa có vai trò quyết định tạo đà phát triển trong phát triển kinh tế của khu vực dự
án Tạo điều kiện quan trọng cho phát triển nhanh và ổn định diện tích canh tác, năng suất, sản lượng lúa để đảm bảo an ninh lương thực và xuất khẩu Tạo điều kiện hình thành và phát triển các vùng chuyên canh cây trồng, vật nuôi như lúa, ngô ở đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng sông Hồng, cao su và cà phê ở miền Đông nam Bộ, Tây Nguyên, chè ở Trung du và miền núi Bắc Bộ, Nuôi trồng thủy sản phát triển bền vững mang lại hiệu quả cao tại những vùng có hệ thống thủy lợi bảo đảm nguồn cấp và thoát nước chủ động
Hồ chứa có tác dụng phòng chống giảm nhẹ thiệt hại do thiên tai (lũ lụt, úng, hạn, sạt lở, ), bảo vệ tính mạng của nhân dân, bảo vệ sản xuất, cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạn chế
dịch bệnh Các công trình hồ chứa lớn và vừa ở thượng du đã từng bước đảm bảo chống lũ cho công trình và tham gia cắt lũ cho hạ du
Hồ chứa còn có tác dụng cung cấp nước cho sinh hoạt, công nghiệp, dịch vụ và các ngành kinh tế khác theo số liệu cụ thể: Ở Việt Nam, Hàng năm các công trình thủy lợi cung cấp khoảng 6 tỷ mét khối nước cho sinh hoạt, công nghiệp, dịch vụ, trong đó chủ yếu là từ các hồ chứa cấp nước sinh hoạt cho đồng bằng, trung du miền núi Đến nay khoảng (70-75)% số dân nông thôn đã được cấp nước hợp vệ sinh với mức cấp 60 lít/người/ngày đêm.Cấp nước cho các khu công nghiệp, các làng nghề, bến cảng Các công trình hồ chứa còn góp phần phát triển nguồn điện: Lợi dụng thủy năng để phát triển ngành điện - một ngành có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế của các ngành nghề khác
Bên cạnh đó các công trình hồ chứa đã góp phần làm tăng độ ẩm, bổ sung nguồn nước ngầm, điều hòa dòng chảy, cải tạo đất chua, phèn, mặn, cải tạo môi trường nước, bảo tồn đa dạng sinh học, phòng chống cháy rừng, cải thiện điều kiện vi khí hậu,…
Trang 20Tuy nhiên, việc xây dựng và hoạt động của các hồ chứa đa mục tiêu cũng có thể gây ra một số tác động tiêu cực như: Phải thực hiện di dân và tái định cư để có diện tích xây dựng công trình và làm mất đi một số phần trăm diện tích đất canh tác và đất rừng, đa dạng sinh học bị thay đổi, tập quán canh tác thay đổi, Các tác động tiêu cực thường
là nhỏ, có thể giảm thiểu đến mức tối đa nhờ công tác quy hoạch, thiết kế, xây dựng và quản lý khai thác hợp lý và tối ưu, do vậy nó hầu như không đáng kể so với các lợi ích thu được từ hiệu quả phục vụ của các hồ chứa
1.2.3 Tình hình đầu tư xây dựng các dự án hồ chứa thủy lợi
Theo số liệu được Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn công bố tại Hội thảo “Đảm bảo an toàn hồ đập - Thực trạng, thách thức và giải pháp”, ngày 10/07/2014 thì hiện nay cả nước ta có 6.648 hồ chứa thủy lợi với tổng dung tích trữ khoảng 11 tỷ m3, trong
đó, có 560 hồ chứa lớn (có dung tích trữ >3,0 triệu m3 hoặc đập cao >15m); 1.752 hồ chứa có dung tích từ 0,2 triệu m3 đến 3,0 triệu m3, còn lại 4.896 hồ chứa nhỏ có dung tích dưới 0,2 triệu m3
Các tỉnh đã xây dựng nhiều hồ chứa là: Hoà Bình 521 hồ, Bắc Giang 461 hồ, Tuyên Quang 503 hồ, Vĩnh Phúc 209 hồ, Phú Thọ 124 hồ, Thanh Hoá 618 hồ, Nghệ An 625
1.2.3.1 Quá trình đầu tư xây dựng các hồ chứa thủy lợi
Từ những năm 1960 đến năm 2000 của thế kỷ trước, nước ta đã đầu tư xây dựng hàng ngàn hồ chứa với các quy mô và hình thức đầu tư khác nhau, cụ thể:
Giai đoạn 1960÷1975: Nhà nước đã đầu tư xây dựng nhiều hồ chứa có dung tích trữ từ
Trang 2110÷50 triệu m3 và chiều cao lớn chủ yếu là các đập vật liệu địa phương trong đó đập đất chiếm đa phần như: Đại Lải ( Vĩnh Phúc), Suối Hai, Đồng Mô (Hà Nội); Khuôn Thần (Bắc Giang); Thượng Tuy (Hà Tĩnh); Rào Nan, Cẩm Ly (Quảng Bình)…, trong
đó, hồ Cấm Sơn với dung tích trữ 248 triệu m3 và chiều cao đập 40m (là hồ chứa có đập đất cao nhất nhất lúc bấy giờ)
Giai đoạn 1975÷2000: Sau khi đất nước thống nhất, để đẩy mạnh phát triển kinh tế, nhà nước đã đầu tư xây dựng hàng loạt hồ chứa với nhiều quy mô khác nhau (lớn, vừa
và nhỏ):
+ Một số hồ chứa quy mô lớn như: Núi Cốc (Thái Nguyên), Kẻ Gỗ (Nghệ An); Yên Lập (Quảng Ninh); Sông Mực (Thanh Hóa), Phú Ninh (Quảng Nam), Dầu Tiếng (Tây Ninh)…, trong đó hồ Dầu Tiếng có dung tích lớn nhất 1,58 tỷ m3
+ Các địa phương trên cả nước đã xây dựng hơn 700 hồ chứa có dung tích từ (1÷10) triệu m3 Đặc biệt trong giai đoạn này các huyện, xã, hợp tác xã, nông lâm trường đã xây dựng hàng ngàn hồ chứa nhỏ có dung tích dưới 0.2 triệu m3
Từ năm 2000 đến nay, bằng nhiều nguồn vốn, đặc biệt nguồn vốn trái phiếu Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và PTNT đã quản lý đầu tư xây dựng mới nhiều hồ chứa có quy
mô lớn, như: Cửa Đạt (Thanh Hóa), Định Bình (Bình Định), Tả Trạch (Thừa Thiên Huế), Nước Trong (Quảng Ngãi), Đá Hàn (Hà Tĩnh), Rào Đá, Thác Chuối (Quảng Bình), Đá Mài, Tân Kim (Quảng Trị), Krông Buk Hạ, IaSup Thượng, Krông Pach Thượng (Đắk Lắk),…
1.2.3.2 Về công tác quản lý đầu tư xây dựng các hồ chứa thủy lợi
Những loại hồ chứa nước vừa và lớn do Bộ Thủy lợi trước đây và nay là Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quản lý việc đầu tư xây dựng đều giao cho các Ban quản lý đầu tư và xây dựng chuyên ngành thủy lợi thay mặt Bộ làm nhiệm vụ Chủ đầu
tư xây dựng Đây là những cơ quan có năng lực và kinh nghiệm quản lý xây dựng các
hồ chứa nước nhiều năm Các cơ quan tham mưu của Bộ là các Cục, Vụ chuyên ngành
có đủ năng lực chuyên môn giúp Bộ theo dõi, kiểm tra và chỉ đạo trực tiếp thường xuyên công tác quản lý đầu tư xây dựng kể cả mặt kỹ thuật, kinh tế và các thủ tục chính sách về xây dựng cơ bản
Trang 22Đối với những dự án xây dựng hồ chứa vừa và nhỏ do UBND tỉnh quản lý đầu tư xây dựng được giao cho các Ban Quản lý dự án chuyên ngành thủy lợi thuộc tỉnh hoặc thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thay mặt UBND tỉnh làm nhiệm vụ của Chủ đầu tư quản lý Đây cũng là các cơ quan có trình độ, chuyên môn kỹ thuật về xây dựng thủy lợi
Đối với các hồ chứa nhỏ do các xã, hợp tác xã, nông trường đầu tư vốn xây dựng hồ chứa, thông thường việc quản lý đầu tư xây dựng giao cho 1 Ban quản lý của xã, hợp tác xã, nông trường đảm nhiệm, các đơn vị này thường thiếu cán bộ chuyên môn về thủy lợi nên công tác quản lý kỹ thuật có những khó khăn Điều này ảnh hưởng đến chất lượng xây dựng các hồ chứa nước
1.3 Tổng quan về hiệu quả kinh tế của hồ chứa đa mục tiêu
1.3.1 Khái niệm về hiệu quả kinh tế của dự án
Hiệu quả kinh tế của dự án là toàn bộ mục tiêu kinh tế đã được đề ra của dự án, được đặc trưng bằng hai loại chỉ tiêu là các chỉ tiêu định tính (thể hiện ở các loại hiệu quả đạt được của dự án ) và bằng các chỉ tiêu định lượng (thể hiện quan hệ giữa chi phí đã
bỏ ra của dự án và các kết quả đạt được theo mục tiêu của dự án) Ngoài các lợi ích khó lượng hóa thành tiền như: lợi ích về môi trường; lợi ích về mặt xã hội,… Mục tiêu kinh tế của một dự án hồ chứa đa mục tiêu là Hiệu quả từ cấp nước cho sản xuất nông nghiệp; Hiệu quả từ cấp nước cho sinh hoạt, chăn nuôi; Hiệu quả từ cấp nước cho công nghiệp; Hiệu quả từ cấp nước cho phát triển thủy sản; Hiệu quả từ dịch vụ du lịch; Hiệu quả từ giao thông thủy;…
1.3.2 Phân loại hiệu quả kinh tế
1.3.2.1 Hiệu quả về mặt định tính
Hiệu quả về mặt định tính của dự án là những hiệu quả không thể lượng hóa được Tuỳ theo từng lĩnh vực hoạt động, các quan điểm đánh giá hay mức độ phát sinh mà được chia thành các loại như sau:
- Theo lĩnh vực hoạt động của xã hội, hiệu quả về mặt định tính bao gồm hiệu quả tài chính, hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả xã hội và hiệu quả quốc phòng
Trang 23- Theo quan điểm lợi ích, hiệu quả về mặt định tính được chia thành hiệu quả của dự
án (hiệu quả tài chính) và hiệu quả đem lại cho nhà nước và cộng đồng (hiệu quả kinh
1.3.2.2 Hiệu quả về mặt định lượng
Hiệu quả về mặt định lượng của dự án chỉ rõ độ lớn của mỗi chỉ tiêu hiệu quả định tính, được chia thành các loại sau:
- Theo cách tính toán, hiệu quả về mặt định lượng được chia thành 2 loại là hiệu quả được tính theo số tuyệt đối (kết quả của đầu tư) và hiệu quả được tính theo số tương đối
- Theo thời gian tính toán, hiệu quả về mặt định lượng được chia thành hiệu quả tính cho một thời đoạn niên lịch (thường là 1 năm) và hiệu quả tính cho cả đời dự án (kéo dài nhiều năm)
- Theo mức đạt yêu cầu, hiệu quả về mặt định lượng được chia thành các loại:
+ Hiệu quả chưa đạt mức yêu cầu, khi trị số hiệu quả của công trình được tính ra nhỏ
hơn trị số hiệu quả định mức (ngưỡng hiệu quả) Khi đó công trình được gọi là không đạt hiệu quả, hay là không đáng giá
+ Hiệu quả đạt mức yêu cầu, khi trị số hiệu quả của công trình được tính ra lớn hơn trị
số hiệu quả định mức Khi đó công trình được gọi là đạt hiệu quả, hay đáng giá
Trang 24+ Hiệu quả có trị số lớn nhất hoặc bé nhất
- Theo khả năng tính toán thành số lượng cũng có thể được phân ra thành hiệu quả có thể tính toán định lượng được và hiệu quả khó tính toán biểu hiện bằng số lượng được,
1.3.3 Hệ thống chỉ tiêu và hiệu quả của dự án hồ chứa đa mục tiêu
1.3.3.1 Hệ thống các chỉ tiêu
Đánh giá hiệu quả của dự án phải dựa trên một hệ thống các chỉ tiêu về mặt kỹ thuật, công nghệ, tài chính, kinh tế xã hội, trong đó có một số chỉ tiêu tài chính và kinh tế đóng vai trò chỉ tiêu hiệu quả tổng hợp Các chỉ tiêu này phản ánh được tương đối tổng hợp và toàn diện hiệu của của dự án, cả về mặt kỹ thuật và xã hội Các chỉ tiêu tài chính, kinh tế, xã hội của công trình được phân chia thành các nhóm sau:
Nhóm chỉ tiêu hiệu quả tài chính của dự án: phản ánh lợi ích trực tiếp của dự án mang lại, bao gồm các chỉ tiêu tĩnh (tính toán cho 1 năm) và các chỉ tiêu động (tính toán cho
cả đời công trình có kể đến yếu tố thời gian trong các chỉ tiêu kinh tế)
Nhóm chỉ tiêu hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án: phản ánh lợi ích thu được của Nhà nước và cộng đồng Các chỉ tiêu này có thể xảy ra trực tiếp hoặc gián tiếp do công trình mang lại
1.3.3.2 Hiệu quả kinh tế của dự án hồ chứa đa mục tiêu
Các dự án hồ chứa đa mục tiêu là cơ sở hạ tầng quan trọng, phục vụ yêu cầu tưới, tiêu nước cho sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, sinh hoạt, giảm nhẹ thiên tai và thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển Các mặt hiệu quả của công trình thủy lợi cụ thể như sau:
- Tạo điều kiện quan trọng cho phát triển nhanh và ổn định diện tích canh tác; tăng năng suất, sản lượng lúa và hoa màu để đảm bảo an ninh lương thực và xuất khẩu
- Phòng chống giảm nhẹ thiệt hại do thiên tai( lũ lụt, úng, hạn, sạt lở bờ …) Các dự
án hồ chứa lớn và vừa ở thượng du đã từng bước đảm bảo chống lũ cho công trình và tham gia cắt lũ cho hạ du
Trang 25- Cấp nước cho sinh hoạt, công nhiệp, dịch vụ và các ngành kinh tế khác:
+ Cấp nước sinh hoạt cho đồng bằng, trung du miền núi Đến nay khoảng 70 đến 75%
số dân nông thôn đã được cấp nước hợp vệ sinh với mức cấp 60 lít/người/ngày đêm + Cấp nước cho các khu công nghiệp, các làng nghề, bến cảng
+ Các hồ thuỷ lợi đã trở thành các điểm du lịch hấp dẫn du khách trong nước và quốc
tế như: Núi Cốc, Đồng Mô - Ngải Sơn, hồ Xuân Hương, Dầu Tiếng
- Góp phần phát triển nguồn điện: hàng loạt hồ chứa thuỷ điện vừa và nhỏ do ngành Thuỷ lợi đầu tư xây dựng Sơ đồ khai thác thuỷ năng trên các sông do ngành Thuỷ lợi
đề xuất trong quy hoạch đóng vai trò quan trọng để ngành Điện triển khai chuẩn bị đầu
tư, xây dựng nhanh và hiệu quả hơn
1.4 N hững nhân tố tác động đến hiệu quả kinh tế của hồ chứa đa mục tiêu
1.4.1 Nhóm nhân tố trong giai đoạn quy hoạch
1.4.1.1 Nguyên nhân do chưa lường trước những biến động trong tương lai trong giai đoạn quy hoạch
Trong giai đoạn quy hoạch việc xác định lượng nước đến cũng như nhu cầu dùng nước cho tương lai chỉ mạng tính ước đoán, định tính Nhu cầu cho phát triển kinh tế - xã hội của vùng có nhiều biến động, những chủ trương định hướng phát triển về cây trồng, vật nuôi, cơ cấu kinh tế nông nghiệp và kinh tế chung của vùng nghiên cứu chưa được xác định chính xác nên gây khó khăn cho công tác quy hoạch xây dựng, nâng cấp công trình thủy lợi phục vụ cho các ngành Hệ thống thủy lợi mới chỉ được quy hoạch cho công tác tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp là chính, chưa có quy hoạch, bố trí hợp lý để kết hợp nuôi trồng thủy sản trên hồ chứa, trên các ao hồ nhỏ được kênh mương của hồ chứa cấp, thoát nước mà hầu hết đều do dân làm tự phát, chắp vá, thiếu đồng bộ, kém ổn định, không chủ động cho việc cấp thoát nước phục vụ yêu cầu cho các khu nuôi Tuy nhiên, do yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội ngày càng tăng của khu vực dẫn đến yêu cầu nước ngày càng tăng, đòi hỏi công trình thủy lợi không chỉ phục
vụ cho nông nghiệp như nhiệm vụ thiết kế ban đầu, mà còn phục vụ cho các ngành kinh tế khác, dẫn tới làm giảm diện tích phục vụ tưới so với thiết kế ban đầu
Trang 261.4.1.2 Nguyên nhân do điều kiện tự nhiên, phát triển kinh tế, xã hội
a Nguyên nhân về đặc điểm điều kiện tự nhiên
Sự phân phối dòng chảy trong năm của khu vực có sự phân mùa rõ rệt Dòng chảy được chia thành mùa lũ và mùa kiệt và được phân ra các tiểu vùng khác nhau Lượng dòng chảy đến tập trung chủ yếu vào mùa lũ, từ tháng 8 đến tháng 11 Tổng lượng dòng chảy các tháng mùa lũ chiếm khoảng 70% lượng dòng chảy năm, mùa kiệt thường khan hiếm nước, dòng chảy trung bình nhỏ Những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu ngày càng có chiều hướng gia tăng , khắc nghiệt, tần suất xuất hiện những trận lũ lụt, bão to, lũ quét gây tác động nguy hiểm tới sự ổn định và an toàn của hồ chứa
b Nguyên nhân về đặc điểm điều kiện kinh tế - xã hội
Do sự thay đổi cơ cấu kinh tế chung, cơ cấu nông nghiệp, cơ cấu cây trồng: gieo trồng những giống cây mới có năng suất cao, ngắn ngày, thời vụ khắt khe, yêu cầu dùng nước đồng loạt trong thời gian ngắn, phát triển canh tác cây công nghiệp, lâm nghiệp, cây ăn quả… làm cho công trình thuỷ lợi không đủ năng lực phục vụ Ngày nay, trước
sự phát triển kinh tế - xã hội, khi diện tích sản xuất nông nghiệp có xu thế giảm dần do hiệu quả sản xuất không cao mà nhu cầu cung cấp nước cho các ngành kinh tế khác có hiệu quả cao ngày càng cấp thiết, đòi hỏi phải nâng cấp công trình để phục vụ đa mục tiêu
1.4.2 Nhóm nhân tố trong giai đoạn đầu tư xây dựng
1.4.2.1 Nguyên nhân về khảo sát thiết kế
Tài liệu khảo sát, điều tra cơ bản còn thiếu chính xác và nhiều khi còn thiếu cả tài liệu Tài liệu quan trắc trước trong quá trình thiết kế và quản lý khai thác rất thiếu thốn, chắp vá, thậm chí hầu như không đáng kể Một số quy trình, quy phạm còn lạc hậu, chưa cập nhật, chưa phản ánh kịp tiến bộ kỹ thuật và yêu cầu phát triển của thực tiễn Tính mỹ thuật công trình và yêu cầu kiến trúc còn ít được quan tâm
1.4.2.2 Nguyên nhân về xây dựng dự án, về trang thiết bị
Dự án công trình đầu mối hồ chứa quan trọng nhất là đập, cống lấy nước và tràn xả lũ, nhưng các hạng mục công trình này thường không hoàn chỉnh về thiết kế và thi công như: mặt cắt ngang đập không đảm bảo, mái dốc chưa phù hợp, cống lấy nước không
Trang 27kín, cầu công tác không đảm bảo an toàn gây khó khăn cho công tác quản lý Các thiết
bị cảnh báo, dự báo, quan trắc, đóng mở cửa van còn thiếu, lại thô sơ, lạc hậu gây khó khăn cho việc quản lý sử dụng Hầu hết hệ thống kênh mương không được xây dựng đồng bộ hoàn chỉnh cho tới mặt ruộng, về kết cấu kênh dẫn trên các hệ thống chủ yếu
là kênh đất, sau một số năm sử dụng bị sạt lở, bồi lấp không được khôi phục kịp thời làm giảm khả năng dẫn nước và khả năng đảm bảo điều kiện tưới tự chảy đặc biệt là
hệ thống kênh nội đồng Các công trình trên kênh đã được xây dựng nhưng thiếu đồng
bộ, hoàn chỉnh và do thời gian đưa vào khai thác, sử dụng đã nhiều năm, lại không được đầu tư tu bổ, sửa chữa đầy đủ, kịp thời và đúng mức nên phần lớn bị xuống cấp nhanh chóng
1.4.3 Nhóm nhân tố trong giai đoạn quản lý vận hành
Hệ thống hồ chứa đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân tuy vậy theo một
số đánh giá thì rất nhiều hệ thống hồ chứa lớn đã không đem lại hiệu ích kinh tế, môi trường như đã được đánh giá trong quá trình lập dự án Lý do phát huy hiệu quả kém
có thể do trong giai đoạn thiết kế không chú ý đầy đủ đến chế độ quản lý vận hành sau khi dự án hoàn tất, không lường trước được các yêu cầu, mục tiêu nảy sinh trong quá trình vận hành hệ thống sau khi hoàn thành ví dụ như các yêu cầu về cấp nước sinh hoạt, công nghiệp, yêu cầu duy trì dòng chảy môi trường sông, duy trì sinh thái vùng
hạ lưu Mâu thuẫn nảy sinh giữa các mục tiêu sử dụng nước có thể coi là nguyên nhân chính dẫn đến kém hiệu quả trong vận hành khai thác hệ thống hồ chứa
Vấn đề quản lý, khai thác, vận hành công trình chưa có sự thống nhất về mô hình, bộ máy quản lý nhà nước ở các địa phương Việc quản lý vận hành chưa lập và thực hiện
kế hoạch phân phối nước khoa học, hợp lý trên hệ thống; chưa thực hiện theo dõi và đánh giá hiệu quả tưới, tiêu thường xuyên qua các năm khai thác công trình hồ chứa đa mục tiêu Các công ty quản lý vận hành hồ chứa đa mục tiêu chỉ trực tiếp quản lý công trình hồ chứa, hệ thống kênh và công trình trên kênh chính, kênh cấp 1, các cấp kênh còn lại đến nội đồng đã giao cho địa phương trực tiếp quản lý nên còn thiếu cán bộ có chuyên môn Việc điều hành quản lý hồ chứa chưa chặt chẽ, lập và thực hiện quy trình vận hành, điều tiết và quản lý hồ chứa chưa phù hợp, quy trình đóng mở phân phối nước trên hệ thống kênh mương theo kế hoạch chưa thực hiện nghiêm chỉnh, mà còn
Trang 28tuỳ tiện gây lãng phí nước Hệ thống thiết bị quan trắc đo đạc còn thiếu và lạc hậu nên
không thực hiện được thường xuyên việc kiểm tra theo dõi đo đạc, quan trắc các thông
số cần thiết để đánh giá trạng thái hoạt động của công trình do đó không phát hiện kịp thời các hư hỏng để có kế hoạch sửa chữa phù hợp, kịp thời
Trong quá trình quản lý khai thác vận hành, do các yếu tố kinh tế, xã hội, môi trường luôn thay đổi so với khi quy hoạch thiết kế, những thay đổi này có thể làm phát sinh những yếu tố mới có thể đầu tư để khai thác những lợi ích và nguồn lợi này, như : Xây dựng thủy điện để tận dụng cột nước, nuôi trồng thủy sản trên mặt hồ, cấp nước, du lịch, giao thông thủy,…
K ẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Trong Chương 1, tác giả đã nghiên cứu, thu thập tài liệu, phân tích và giới thiệu chung
về dự án đầu tư xây dựng và đặc biệt là dự án hồ chứa đa mục tiêu; về vai trò, hiệu quả của dự án hồ chứa đa mục tiêu Dự án hồ chứa đa mục tiêu có vai trò quan trọng, tạo
đà cho sự phát triển kinh tế trong khu vực: tạo điều kiện phát triển nhanh và ổn định diện tích canh tác, tăng năng suất cây trồng, đảm bảo an ninh lương thực; phòng chống giảm nhẹ thiên tai; cung cấp nước cho sinh hoạt, công nghiệp, phát điện, nuôi trồng thủy sản và tạo môi trường phát triển dịch vụ du lịch, Chương 1 cũng đã nghiên cứu phân tích được các khái niệm về hiệu quả kinh tế của dự án nói chung và hiệu quả kinh
tế của hồ chứa đa mục tiêu nói riêng Qua đó đã làm rõ các mặt hiệu quả của dự án hồ chứa đa mục tiêu, nêu được nguyên tắc, phương pháp xác định một số mặt hiệu quả có thể lượng hóa được và phân tích rõ các yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả kinh tế của dự
án hồ chứa đa mục tiêu
Trang 29CHƯƠNG 2: CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ HIỆU
QU Ả KINH TẾ CỦA DỰ ÁN HỒ CHỨA ĐA MỤC TIÊU
2.1 Đặc điểm vận hành của dự án hồ chứa đa mục tiêu
Theo Quy trình quản lý vận hành, khai thác và kiểm tra hồ chứa nước [11] các hồ chứa phải được vận hành và khai thác theo nhiệm vụ và chỉ tiêu kỹ thuật đã được phê duyệt Kê khai đăng ký an toàn đập, kiểm tra an toàn đập và có phương án phòng chống lụt bão, lũ lụt cho vùng hạ du, phương án bảo vệ đập theo quy định
Quy định về quản lý vận hành và bảo vệ công trình được phổ biến rộng rãi đến các cán
bộ làm công tác quản lý, vận hành và bảo vệ công trình, có bảng nội quy ra vào công trình
Trong trường hợp cần phải vận hành khai thác với nhiệm vụ khác so với nhiệm vụ thiết kế hoặc các chỉ tiêu kỹ thuật cao hơn chỉ tiêu thiết kế thì phải được cấp có thẩm quyền phê duyệt thì mới được vận hành theo nhiệm vụ điều chỉnh và các chỉ tiêu cao hơn
Phải vận hành hồ chứa theo quy trình vận hành điều tiết được cấp có thẩm quyền phê duyệt; trường hợp hồ chưa có quy trình vận hành điều tiết thì phải vận hành hồ chứa theo kế hoạch tích, xả nước, cấp nước và theo quy định về phòng, chống lụt bão, bảo đảm việc trữ nước trong hồ không vượt trên mực nước dâng bình thường hoặc mực nước do có quan quản lý nhà nước có thẩm quyền quy định
Hàng năm, căn cứ vào dự báo khí tượng thủy văn mùa lũ, lập kế hoạch tích, xả nước làm cơ sở cho vận hành điều tiết hồ chứa, bảo đảm an toàn công tình và phục vụ nhu cầu dùng nước Trong mùa lũ, căn cứ vào tình hình khí tượng thủy văn thực tế và dự báo ngắn hạn để điều chỉnh kế hoạch tích, xả nước cho phù hợp
Trước mùa kiệt hàng năm, căn cứ vào lượng nước trữ trong hồ, dự báo khí tượng thủy văn và nhu cầu dùng nước, lập kế hoạch cấp nước trong mùa kiệt
2.2 K inh nghiệm ở một số nước trên thế giới trong quản lý vận hành, khai thác
hồ chứa đa mục tiêu
Đối với các nước phát triển (Pháp, Anh, Mỹ, Úc, Nhật ) việc nghiên cứu tài nguyên
Trang 30nước đã đề ra các quy trình, quy phạm nhằm quản lý tổng hợp tài nguyên môi trường nước theo lưu vực sông Nó bao gồm các biện pháp giảm thiểu chất thải bằng việc áp dụng công nghệ sản xuất sạch và kiểm soát chất thải, thu gom tái sử dụng các chất thải, xử lý một phần và toàn bộ các chất thải, nước thải trước khi đổ vào sông, quy hoạch khai thác hợp lý nguồn nước phục vụ phát triển bền vững KT - XH lưu vực sông, quan trắc lượng và chất lượng môi trường nước, cảnh báo sự khuếch tán các chất độc hại trong sông và dự báo sinh thái - chất lượng nước trên toàn lưu vực sông
Ở Trung Quốc quy trình và phân bổ sử dụng tiết kiệm nguồn nước được thể hiện chi tiết trong Luật nước 2002 theo trình tự phân cấp rõ ràng từ Trung ương đến địa phương; theo hình thức phân chia trách nhiệm và tự chịu trách nhiệm đối với các cấp chính quyền được thể hiện cụ thể như:
Nhà nước kiểm soát tổng thể và hệ thống quản lý hạn ngạch kết hợp với các tỉnh, khu
tự trị và thành phố phải xây dựng các bộ phận liên quan có thẩm quyền trong ngành công nghiệp nước; các vùng hành chính cố định; các cơ quan hành chính cùng cấp giám sát chất lượng nước và kiểm tra phê duyệt; Quốc vụ viện giám sát chất lượng ở các bộ phận hành chính tỉnh, khu tự trị, thành phố thông qua những biên bản kiểm tra Chính quyền nhân dân địa phương cấp huyện lập kế hoạch phát triển kết hợp với các phòng ban quản lý nước, theo nguồn nước tiểu ngạch, điều kiện kinh tế xã hội, công nghệ kỹ thuật và sự sẵn có nguồn nước để có kế hoạch xác định lượng nước sử dụng trong khu vực; phát triển các kế hoạch hàng năm để kiểm soát lượng nước sử dụng
hàng năm
Chính quyền nhân dân địa phương, thành phố phải có biện pháp hiệu quả để thúc đẩy nâng cao chất lượng các thiết bị tiết kiệm nước, giảm tỷ lệ rò rỉ mạng lưới cấp nước đô thị, nâng cao hiệu quả nước; tăng cường xử lý nước thải tập trung ở đô thị, khuyến khích việc sử dụng nước tái chế và cải thiện việc sử dụng, thu hồi nước thải
Xây dựng, mở rộng, cải tạo các công trình về xây dựng biện pháp tiết kiệm nước, cần xây dựng các chương trình hỗ trợ xây dựng công trình nước, các cơ sở dự án về nước
sẽ được thiết kế, xây dựng và đưa vào sản xuất Các công trình cấp nước tự xây dựng của các doanh nghiệp, đơn vị cung cấp nước phải tăng cường công tác bảo trì và quản
Trang 31lý công trình cấp nước để giảm rò rỉ nước
Đối với những nước đang phát triển như Việt Nam, việc nghiên cứu sử dụng TNN vẫn đang dừng lại ở mức kiểm kê các nguồn nước và việc nghiên cứu quản lý tổng hợp TNN theo các lưu vực sông còn nhiều bất cập
2.3 C ơ sở lý thuyết trong tính toán hiệu quả kinh tế dự án
Để đánh giá hiệu quả kinh tế của dự án chúng ta phải kết hợp dùng nhiều phương pháp vì không thể dùng một chỉ tiêu đơn độc hay một phương pháp để xác định, mà cần phải dùng kết hợp các chỉ tiêu, các nhóm chỉ tiêu và các phương pháp khác nhau
để xác định hiệu quả kinh tế Vì mỗi chỉ tiêu, mỗi phương pháp chỉ phản ánh được một mặt hiệu quả kinh tế của dự án
- Các phương pháp đánh giá hiệu quả kinh tế của dự án bao gồm:
- Phương pháp phân tích chi phí-lợi ích;
- Phương pháp phân tích độ nhạy
- Phương pháp dùng nhóm chỉ tiêu đánh giá từng mặt hiệu quả kinh tế của dự án;
- Phương pháp dùng nhóm chỉ tiêu phân tích trình độ sử dụng vốn;
- Phương pháp dùng chỉ tiêu tổng hợp không đơn vị đo;
2.3.1 Phương pháp phân tích chi phí- lợi ích
Theo bài giảng Quản lý dự án nâng cao [6] và bài giảng Kinh tế đầu tư xây dựng [9]
phương pháp phân tích chi phí - lợi ích (Cost Benefit Analysis hay còn gọi tắt là phương pháp CBA) hiện nay đang được áp dụng rộng rãi trên thế giới, nó là cơ sở để các nhà đầu tư đưa ra những quyết định hợp lý về việc có thực hiện hay không thực hiện dự án đầu tư và cũng là căn cứ để đánh giá hiệu quả kinh tế của dự án Phương pháp CBA sử dụng ba chỉ tiêu sau để đo hiệu quả của dự án:
2.3.1.1 Chỉ tiêu 1: Giá trị tương đương (Equivalent Worth)
Theo phương pháp này toàn bộ chuỗi dòng tiền tệ của dự án (chi phí và lợi ích) trong suốt thời kỳ phân tích được qui đổi tương đương thành:
Trang 32Giá trị hiện tại của hiệu số thu chi (Present Worth - PW), còn gọi là giá trị thu nhập ròng hiện tại (NPV)
Giá trị tương lai của hiệu số thu chi (Future Worth - FW), còn gọi là giá trị thu nhập ròng tương lai
Hệ số thu chi phân phối đều hàng năm (Annual Worth - AW)
Mỗi giá trị đó là một mức độ đo hiệu quả kinh tế của dự án và được dùng
làm cơ sở để so sánh phương án
Trong phạm vi luận văn này chỉ đề cập đến chỉ tiêu giá trị thu nhập ròng hiện tại (NPV)
Chỉ tiêu giá trị thu nhập ròng hiện tại NPV của một dự án đầu tư là lợi nhuận ròng của
dự án trong vòng đời kinh tế của nó được quy về hiện tại Tùy theo mục đích của việc xác định lợi ích của dự án mà ta có chỉ tiêu giá trị hiện tại ròng trong phân tích kinh
tế, và được xác định theo công thức chung sau:
Bt - Thu nhập của dự án ở năm thứ t;
Ct - Chi phí của dự án ở năm thứ t;
H - Giá trị thu hồi khi kết thúc dự án;
n - Thời kỳ tính toán (tuổi thọ của dự án hay thời kì tồn tại của dự án);
r - Tỷ lệ chiết khấu (còn gọi là lãi suất chiết khấu);
NPV là giá trị ròng quy về hiện tại của dự án đầu tư, ngoài ra cũng là mọi chi phí và thu nhập của dự án thuộc dòng tiền tệ đều đã tính trong NPV Mọi dự án khi phân tích kinh tế, nếu NPV ≥ 0 đều được xem là có hiệu quả Điều này cũng có nghĩa là khi NPV = 0 thì dự án được xem là hoàn vốn, khi NPV < 0 thì dự án không hiệu quả và
Trang 33không nên đầu tư dưới góc độ hiệu quả kinh tế Tổng quát là như vậy, nhưng trong thực tế, khi phân tích hiệu quả kinh tế một dự án đầu tư, có khả năng xảy ra một số trường hợp sau:
Trường hợp các dự án độc lập tức là các dự án không thay thế cho nhau được Trong trường hợp này nếu lượng vốn đầu tư không bị chặn, thì tất cả các dự án NPV > 0 đều được xem là hiệu quả nên đầu tư;
Trường hợp các dự án loại trừ lẫn nhau, tức là nếu đầu tư cho dự án này thì không cần đầu tư cho dự án kia và ngược lại, thì dự án nào có NPV lớn nhất, được coi là dự án có hiệu quả kinh tế cao nhất và nên đầu tư nhất;
Trường hợp có nhiều dự án độc lập và đều có chỉ tiêu NPV > 0, trong khi vốn đầu tư
có hạn, thì cần chọn các dự án với tổng số vốn nằm trong giới hạn của nguồn vốn, đồng thời NPV phải lớn nhất Và trong trường hợp này nên sử dụng thêm một số chỉ tiêu kinh tế khác để so sánh, lựa chọn
Ưu nhược điểm của phương pháp dùng chỉ tiêu NPV để đánh giá hiệu quả kinh tế của công trình:
- Ưu điểm:
+ Có tính đến sự biến động của chỉ tiêu thời gian
+Có tính toán cho cả vòng đời của dự án
+ Có tính đến giá trị tiền tệ theo thời gian
+ Có thể tính đến nhân tố trượt giá và lạm phát thông qua việc điều chỉnh các chỉ tiêu: Doanh thu, chi phí và trị số của suất chiết khấu
+ Có tính đến nhân tố rủi ro thông qua mức độ tăng trị số của suất chiết khấu
+ Có thể so sánh các phương án có vốn đầu tư khác nhau với điều kiện lãi
suất đi vay và lãi suất cho vay bằng nhau như một cách gần đúng
- Nhược điểm:
Trang 34+ Chỉ tiêu NPV chỉ đảm bảo chính xác trong thị trường vốn hoàn hảo (một điều kiện khó bảo đảm trong thực tế)
+ Khó dự báo chính xác các chỉ tiêu cho cả vòng đời dự án
+ Chỉ tiêu NPV phụ thuộc nhiều vào hệ số chiết khấu
+ Hiệu quả không biểu diễn dưới dạng tỷ số, chưa được so với một ngưỡng hiệu quả
có trị số dương khác 0
- Hệ quả: Từ chỉ tiêu NPV, có thể xác định thời hạn thu hồi vốn đầu tư theo kiểu động
2.3.1.2 Chỉ tiêu 2: Suất thu lợi (Rates of Return)
Người ta gọi mức lãi suất làm cho giá trị tương đương của phương án bằng không là suất thu lợi nội tại (Internal Rate of Return - IRR) của phương án Đó là một độ đo hiệu quả hay được dùng nhất hiện nay Ngoài ra còn có một số chỉ tiêu suất thu lợi khác như: Suất thu lợi ngoại lai, suất thu lợi tái đầu tư tường minh Trong phạm vi luận văn này chỉ giới thiệu chỉ tiêu suất thu lợi nội tại (IRR)
Suất thu lợi nội tại hay còn được gọi là hệ số hoàn vốn nội tại (Internal Rate of Return
- IRR) là mức lãi suất mà nếu dùng nó làm lãi suất chiết khấu để quy đổi dòng tiền tệ của dự án thì giá trị hiện tại của thu nhập sẽ cân bằng với giá trị hiện tại của chi phí Chỉ tiêu IRR là một loại suất thu lợi tối thiểu đặc biệt r ở trong các công thức tính toán chỉ tiêu NPV sao cho NPV = 0, nghĩa là IRR là nghiệm của phương trình:
NPV=
0 (1 IR ) (1 IR ) (1 IR )
Trang 35rb - là một trị số lãi suất nào đó sao cho NPVb < 0
ra < rb ;
Chú ý: Chọn ra, rb sao cho NPVa>0 và NPVb <0 Khi đó IRR được tính theo công thức (2.3)
Về thực chất chỉ số IRR là suất thu lợi được tính theo các kết số còn lại của vốn đầu tư
ở đầu các thời đoạn và khi sử dụng chỉ tiêu IRR như là mức sinh lợi cho nội bộ của dự
án sinh ra, người ta đã ngầm công nhận rằng hiệu số thu chi dương thu được trong quá trình hoạt động của dự án đều được đem đầu tư lại ngay lập tức cho dự án với suất thu lợi bằng chính trị số IRR, và ngược lại những hiệu số thu chi âm sẽ được bù đắp ngay bằng nguồn vốn chịu lãi suất bằng chính trị số IRR
Chỉ tiêu IRR là khả năng cho lãi của dự án, nó thường được đem ra để so sánh với lãi suất thu lợi tối thiểu chấp nhận được (hiểu đơn giản là lãi suất đi vay của vốn đầu tư - rc) Để đầu tư kinh tế không bị lỗ (NPV ≥ 0) thì điều kiện bắt buộc là IRR ≥ rc IRR càng lớn hơn mức lãi suất đi vay (rc) của vốn thì độ rủi ro càng thấp
Tuy nhiên vì đây là một chỉ tiêu tương đối cho nên nó không phản ánh mức lợi nhuận thu về cụ thể là bao nhiêu như chỉ số NPV Chỉ tiêu này phụ thuộc vào chi phí và thu nhập hàng năm, đời sống của dự án, nhưng lại độc lập với lãi suất sử dụng vốn rc Vì thế, nó phản ánh hiệu quả kinh tế của dự án khách quan hơn
Hiện nay IRR là chỉ tiêu được sử dụng rộng rãi trong đánh giá hiệu quả đầu tư, vì việc tính toán IRR chỉ cần dựa vào một tỷ lệ chiết khấu tính sẵn (định mức chọn trước gọi là Suất thu lợi tối thiểu chấp nhận được (rc ) - đó là tỷ suất dùng làm hệ số chiết tính để tính toán các giá trị tương đương cũng như để làm “ngưỡng” trong việc chấp nhận hay bác bỏ một phương án đầu tư)
Khi sử dụng chỉ tiêu IRR trong phân tích ta cần chú ý một số trường hợp sau đây:
- Trường hợp các dự án độc lập và vốn đầu tư không bị giới hạn thì tất cả các dự án có IRR lớn hơn hoặc bằng tỷ suất chiết khấu quy định, thì dự án được xem là có hiệu quả kinh tế;
Trang 36- Đối với các dự án loại trừ nhau (dự án loại trừ là nếu chấp nhận dự án này sẽ loại bỏ hoàn toàn dự án khác Tức là trong n dự án loại trừ thì chỉ được chọn ra 1 dự án duy nhất có NPV lớn nhất (cùng 1 thời gian) thì sử dụng chỉ tiêu IRR sẽ không hoàn toàn chính xác, trường hợp này nên sử dụng chỉ tiêu NPV;
- Trường hợp có nhiều dự án độc lập, IRR lớn hơn với tỷ lệ chiết khấu quy định trong khi nguồn vốn đầu tư có hạn thì không thể sử dụng chỉ tiêu IRR để lựa chọn mà phải dùng các chỉ tiêu khác
Ưu nhược điểm của phương pháp dùng chỉ tiêu IR để đánh gái hiệu quả kinh tế:
+ Việc tính toán trị số IRR phức tạp nhất là khi dòng tiền tệ đổi dấu nhiều lần
2.3.1.3 Chỉ tiêu 3: Tỷ suất lợi ích - chi phí (Benefit Cost Ratio - B/C) Chỉ số B/C là tỷ
số giữa giá trị tương đương lợi ích và giá trị tương đương của chi phí
Tỷ số lợi ích và chi phí (Benefit-Cost Ratio) còn có tên là Hệ số kết quả chi phí ký hiệu B/C (hoặc BCR) là tỷ lệ giữa tổng giá trị quy về hiện tại của dòng thu với tổng giá trị quy về hiện tại của dòng chi phí (gồm cả chi phí về vốn đầu tư và chi phí quản lý vận hành)
Trang 37n t t t
B
C C
B/C tỷ số lợi ích- chi phí
t - thời điểm tính toán, thường là cuối các năm, t = 0, 1,2,…;
Bt - tổng thu nhập của dự án trong năm t;
Ct - tổng chi phí của dự án trong năm t;
n - là tuổi thọ kinh tế của dự án;
r - là lãi suất chiết khấu;
Một dự án được coi là có hiệu quả kinh tế, thì tỷ số B/C phải lớn hơn hoặc bằng 1 Điều này cũng có nghĩa là tổng giá trị quy về hiện tại của thu nhập (tử số) lớn hơn tổng giá trị quy về hiện tại của chi phí (mẫu số) Như vậy, điều kiện này cũng chính là đảm bảo NPV > 0 và IRR >rc Chỉ tiêu B/C không nên sử dụng trực tiếp để lựa chọn giữa các dự án loại trừ nhau hoặc lựa chọn giữa các dự án độc lập khi vốn đầu tư có hạn
- Ưu nhược điểm của phương pháp B/C:
Chỉ tiêu tỷ số B/C có các ưu điểm tương tự như chỉ tiêu NPV, nhưng ít được sử dụng hơn, vì đây không phải là chỉ tiêu xuất phát để tính các chỉ tiêu khác, chỉ là chỉ tiêu cho điều kiện cần và không phải là chỉ tiêu để chọn phương án
Kết luận: Ưu nhược điểm của nhóm chỉ tiêu Chi phí - lợi ích (CBA)
- Mang lại kết quả tương đối chính xác;
- Có thể so sánh được hiệu thu nhập với chi phí mà đã được quy bằng tiền, xác định được trị tuyệt đối, phản ánh được hiệu quả kinh tế của dự án Đây là ưu điểm mà các phương pháp khác không có;
Trang 38- Mang tính tổng hợp, tính đến tất cả các chi phí và hiệu ích mang lại cho nền kinh tế quốc dân;
-Việc đánh giá hiệu quả kinh tế của dự án phải được xét đến cả hai yếu tố là không gian và thời gian
2.3.2 Phương pháp phân tích độ nhạy
Phân tích độ nhạy của dự án là xem xét sự thay đổi của các chỉ tiêu hiệu quả khi các yếu tố có liên quan đến chúng thay đổi Phân tích độ nhạy giúp nhận biết dự án nhạy cảm với các yếu tố nào, hay nói một cách khác, yếu tố nào gây nên sự thay đổi nhiều nhất của các chỉ tiêu hiệu quả để từ đó có biện pháp quản lý chung trong quá trình thực hiện dự án Mặt khác phân tích độ nhạy cho phép lựa chọn được những dự án có
độ an toàn cao Dự án có độ an toàn cao là những dự án vẫn đạt hiệu quả cần thiết khi những yếu tố tác động đến nó thay đổi theo chiều hướng không có lợi Những yếu tố
có thể thay đổi tác động đến các chỉ tiêu hiệu quả là: Mức lãi suất tính toán; Lượng sản phẩm tiêu thụ; Giá thành sản phẩm; Các yếu tố chi phí sản xuất; Chi phí vốn đầu tư; Giá trị thu chi quy về hiện tại (NPV), giá trị thu chi quy về tương lai (NFV); Tỷ suất thu hồi nội tại (IRR)
Các phương pháp phân tích độ nhạy:
2.3.2.1 Phương pháp 1:
Phân tích độ nhạy của từng chỉ tiêu hiệu quả với từng yếu tố có liên quan nhằm tìm ra yếu tố gây nên sự thay đổi lớn chỉ tiêu hiệu quả xem xét Nội dung của phương pháp: + Xác định các biến chủ yếu (những yếu tố liên quan) đến chỉ tiêu hiệu quả xem xét + Tăng giảm các yếu tố đó theo cùng một tỷ lệ % nào đó
+ Đo lượng tỷ lệ thay đổi của chỉ tiêu hiệu quả
Những yếu tố nào gây nên sự thay đổi lớn chỉ tiêu hiệu quả đã lựa chọn thì yếu tố đó cần được nghiên cứu và quản lý nhằm hạn chế tác động xấu và phát huy tác động tốt
2.3.2.2 Phương pháp 2:
Phân tích ảnh hưởng đồng thời của nhiều yếu tố (trong các tình huống xấu tốt khác
Trang 39nhau) đến chỉ tiêu hiệu quả để đánh giá độ an toàn của dự án
2.3.2.3 Phương pháp 3:
Phân tích độ nhạy theo hướng bất lợi:
Người ta cho các yếu tố liên quan thay đổi theo hướng bất lợi một số % nào đó khoảng(10-20)%, nếu phương án vẫn đạt hiệu quả thì nó vẫn được coi là an toàn Độ nhạy của dự án thường được xem xét theo các tình huống tốt nhất, xấu nhất và bình thường để xem xét và quyết định cuối cùng
Phương pháp phân tích độ nhạy có ưu điểm là đơn giản song phương pháp này có những hạn chế khi áp dụng là:
- Phương pháp phân tích độ nhạy thường phải giả thiết
- Không thể xem xét đồng thời nhiều nhân tố và các trị số trong dãy biến thiên của các yếu tố không đại diện cho yếu tố đó
- Việc giả thiết độc lập xem xét từng yếu tố, trong khi các yếu tố khác cố định là không phù hợp với thực tế Đặc biệt trường hợp các yếu tố có quan hệ tương quan hàm số với nhau thì sử dụng phương pháp này dẫn tới sai số lớn
2.3.3 Phương pháp dùng nhóm các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả từng mặt của dự án thủy lợi
Dự án đầu tư xây dựng công trình thủy lợi mang lại lợi ích về kinh tế và hiệu quả xã hội rất lớn Trước khi có công trình đời sống của người dân trong khu vực thường gặp nhiều khó khăn, do thiếu nước tưới nên diện tích đất canh tác và gieo trồng bị hạn chế, năng suất cây trồng thấp,… Nhưng sau khi công trình hoàn thành, diện tích đất canh tác được mở rộng, số vụ gieo trồng trong một năm tăng lên, năng suất cây trồng tăng, góp phần làm tăng tổng thu nhập của nền kinh tế quốc dân, nâng cao đời sống của nhân dân trong vùng dự án
Các chỉ tiêu thường được sử dụng đánh giá gồm:
Trang 402.3.3.1 Chỉ tiêu 1: Chỉ tiêu về sự thay đổi diện tích đất nông nghiệp
Thông thường một dự án thuỷ lợi nếu được xây dựng với mục đích phục vụ cho sản xuất nông nghiệp là chủ yếu thì điều đầu tiên người ta quan tâm là sự thay đổi về diện tích đất có khả năng trồng trọt
Việc thay đổi diện tích còn thể hiện ở chỗ dự án tạo điều kiện để có thể khai thác những vùng đất bị bỏ hoang do thiếu nguồn nước, cải tạo những vùng đất chua, mặn thành đất canh tác, hoặc biến những vùng đất chỉ gieo trồng 1 vụ thành 2, 3 vụ
+ Sự thay đổi diện tích đất canh tác
∆ωct = ωcts - ωcttr (ha) (2.5)
Trong đó: ∆ωct– diện tích canh tác tăng thêm nhờ có dự án (ha)
ωcts , ωcttr diện tích canh tác sau và trước khi có dự án (ha)
Nếu ∆ωct> 0 có nghĩa là diện tích canh tác được mở rộng
Nếu ∆ωct< 0 có nghĩa là diện tích canh tác bị thu hẹp
+ Sự thay đổi diện tích gieo trồng
∆F= Fs- Ftr (ha) (2.6) Trong đó: ∆F - diện tích gieo trồng tăng thêm nhờ có dự án (ha)
Fs, Ftr – diện tích gieo trồng sau và trước khi có dự án (ha)
Khi tính toán các chỉ tiêu này cần chú ý:Diện tích thực tế được tính bình quân qua nhiều năm.Khi có nhiều loại cây trồng, hoặc nhiều mức chủ động tưới thì diện tích phải được quy đổi về cùng loại
2.3.3.2 Chỉ tiêu 2: Chỉ tiêu tăng năng suất cây trồng
Năng suất cây trồng phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau: Điều kiện tự nhiên (thời tiết, khí hậu, thổ nhưỡng…), các biện pháp nông nghiệp, công tác thuỷ lợi…Xác định phần năng suất cây trồng tăng thêm do thuỷ lợi mang lại theo công thức: