Luận văn thạc sĩ kỹ thuật Chuyên ngành: Quy hoạch và Quản lý tài nguyên nước LỜI CẢM ƠN Luận văn được hoàn thành với sự giúp đỡ tận tình của các thầy giáo, cô giáo trường đại học Thuỷ L
Trang 1Luận văn thạc sĩ kỹ thuật Chuyên ngành: Quy hoạch và Quản lý tài nguyên nước
LỜI CẢM ƠN
Luận văn được hoàn thành với sự giúp đỡ tận tình của các thầy giáo, cô giáo trường đại học Thuỷ Lợi Hà Nội, các đồng nghiệp, gia đình và sự nỗ lực của bản thân trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn
Trước hết tác giả xin chân thành cảm ơn tới Ban giám hiệu nhà trường, phòng đào tạo Đại học và sau đại học, khoa Quy hoạch và Quản lý tài nguyên nước
và các thầy giáo, cô giáo trong trường đã tận tình truyền đạt kiến thức, giúp đỡ tác giả trong quá trình làm luận văn
Xin chân thành cảm ơn tới ban lãnh đạo Trung tâm tư vấn và chuyển giao công nghệ thủy lợi – Tổng cục thủy lợi nơi tác giả đang công tác đã tạo mọi điều kiện cho tác giả trong suốt thời gian học tập và hoàn thành luận văn
Đặc biệt tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Hà Lương Thuần, Viện nước, tưới tiêu và môi trường đã tận tình chỉ dẫn, giúp đỡ tác giả hoàn thành luận văn này
Cuối cùng tác giả xin cảm ơn tới bạn bè và người thân trong gia đình đã tin tưởng, giúp đỡ, động viên, khích lệ để tác giả hoàn thành luận văn theo đúng kế hoạch đề ra
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 12 năm 2010
Tác giả
Nguyễn Hữu Hồng
Trang 2Luận văn thạc sĩ kỹ thuật Chuyên ngành: Quy hoạch và Quản lý tài nguyên nước
Trang MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
DANH MỤC BẢNG BIỂU
I Tính cấp thiết của đề tài 1
II Mục đích nghiên cứu của đề tài 2
III Phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật sử dụng: 2
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 4
1.1 Hệ thống thủy lợi vùng đồng bằng sông Hồng 4
1.1.1 Giới thiệu về đồng bằng sông Hồng 4
1.1.2 Sự phát triển của hệ thống thủy lợi đồng bằng sông Hồng 7
1.1.3 Công tác quản lý, khai thác, cơ cấu tổ chức và chính sách 9
1.2 Hiện đại hóa hệ thống tưới vùng châu Á 11
1.2.1 Sự phát triển của hệ thống tưới vùng châu Á 11
1.2.2 Khái niệm về hiện đại hóa hệ thống tưới 17
CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG CÔNG NGHỆ CỦA HỆ THỐNG THỦY LỢI ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG 21
2.1 Nội dung và phương pháp đánh giá 21
2.1.1 Nội dung đánh giá 21
2.1.2 Phương pháp đánh giá 22
2.2 Kết quả đánh giá 23
Trang 3Luận văn thạc sĩ kỹ thuật Chuyên ngành: Quy hoạch và Quản lý tài nguyên nước
2.2.1 Hệ thống thủy nông Đan Hoài (Hà Nội): 23
2.2.1.1 Giới thiệu về hệ thống thủy nông Đan Hoài 23
2.2.1.2 Đánh giá về công trình đầu mối : 24
2.2.1.3 Trạm bơm tưới cấp 2: 27
2.2.1.4 Hệ thống kênh mương: 28
2.2.1.5 Các công trình trên kênh: 32
2.2.1.6 Công trình tưới tiêu mặt ruộng: 34
2.2.1.7 Quản lý vận hành phân phối nước: 44
2.2.1.8 Hiện trạng tổ chức quản lý hệ thống thủy nông Đan Hoài: 46
2.2.2 Hệ thống thủy nông Thái Bình: 49
2.2.2.1 Giới thiệu về hệ thống thủy nông Thái bình 49
2.2.2.2 Hệ thống tưới Nam Tiền Hải: 50
2.2.2.3 Hệ thống tưới Cự Lâm: 55
2.2.2.4 Hệ thống tiêu Tân Phúc Bình: 60
2.2.2.5 Hiện trạng ứng dụng KHCN tiên tiến trong quản lý, vận hành công trình: 60
2.2.2.6 Hiện trạng các tổ chức quản lý thuỷ nông: 64
2.2.3 Hệ thống trạm bơm Cổ Đam – tỉnh Nam Định: 73
2.2.3.1 Giới thiệu về hệ thống trạm bơm Cổ Đam 73
2.2.3.2 Công trình đầu mối trạm bơm Cổ Đam: 74
2.2.3.3 Hệ thống kênh: 76
2.2.3.4 Các công trình trên kênh Chính: 77
2.2.3.5 Hiện trạng tổ chức quản lý hệ thống trạm bơm Cổ Đam 79
Trang 4Luận văn thạc sĩ kỹ thuật Chuyên ngành: Quy hoạch và Quản lý tài nguyên nước
2.2.3.6 Hiện trạng vận hành tưới tiêu 83
2.2.4 Đánh giá chung về hiện trạng công nghệ của hệ thống thủy lợi ĐBSH 88
2.2.4.1 Về công trình đầu mối: 88
2.2.4.2 Kênh và các công trình trên kênh 90
2.2.4.3 Công trình nội đồng 91
2.2.4.4 Công trình đong đo nước 92
2.2.4.5 Tổ chức quản lý 92
CHƯƠNG 3: NHU CẦU, MỤC TIÊU HIỆN ĐẠI HÓA HỆ THỐNG THỦY LỢI VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG 94
3.1 Nhu cầu hiện đại hóa hệ thống thủy lợi 94
3.1.1 Định hướng chung của Nhà nước 94
3.1.2 Định hướng phát triển thuỷ lợi vùng đồng bằng sông Hồng 94
3.1.3 Những yêu cầu cấp bách của thực tế 95
3.1.3.1 Nhu cầu tưới tiêu phục vụ chuyển đổi mô hình canh tác: 95
3.1.3.2 Nhu cầu tưới, tiêu phục vụ các mô hình nông nghiệp công nghệ cao: 96
3.1.3.3 Nhu cầu nước cho bảo vệ môi trường sinh thái: 97
3.1.3.4 Hệ thống tưới tiêu thích ứng với biến đổi khí hậu và sự khai thác sử dụng nước trên lưu vực: 99
3.1.3.5 Sự thay đổi chính sách thủy lợi phí: 100
3.2 Mục tiêu, nội dung nâng cấp hiện đại hóa thủy lợi 101
3.2.1 Mục tiêu hiện đại hóa thủy lợi 101
3.2.1.1 Mục tiêu chung 101
Trang 5Luận văn thạc sĩ kỹ thuật Chuyên ngành: Quy hoạch và Quản lý tài nguyên nước
3.2.1.2 Mục tiêu cụ thể : 101
3.2.2 Nội dung nâng cấp hiện đại hóa hệ thống thủy lợi 103
3.2.2.1 Hiện đại hóa trạm bơm: 103
3.2.2.2 Hiện đại hóa hệ thống kênh mương, công trình trên kênh và công trình đong đo nước: 103
3.2.2.3 Hiện đại hóa hệ thống thủy lợi mặt ruộng: 104
3.2.2.4 Hiện đại hóa cơ sở vật chất quản lý, công cụ phục vụ quản lý, điều hành: 104
3.2.2.5 Hiện đại hóa công tác tổ chức quản lý 105
3.2.3.Những vấn đề đặt ra của công tác quản lý hệ thống tưới: 105
3.2.3.1 Nâng cao hiệu quả tưới: 105
3.2.3.2 Vận hành đơn giản, hiệu quả: 107
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 108
4.1 Kết luận 108
4.2 Kiến nghị 108
TÀI LIỆU THAM KHẢO 110
PHỤ LỤC 111
Trang 6Luận văn thạc sĩ kỹ thuật Chuyên ngành: Quy hoạch và Quản lý tài nguyên nước
Trang
Hình 1.1: Sơ đồ hệ thống tổ chức QLKT CTTL từ Trung ương đến địa phương 9
Hình 1.2: Phát triển diện tích tưới trên thế giới qua các năm 12
Hình 1.3: Sản xuất nông nghiệp và sự gia tăng dân số của một số các quốc gia 15
Hình 1.4: Xu hướng của mùa vụ sản xuất ngũ cốc trong các nước đang phát triển 15 của châu Á và Thái Bình Dương 15
Hình 2.1: Sơ đồ bố trí hệ thống kênh tưới và tiêu vùng Thủy nông Đan Hoài 36
Hình 2.2: Vị trí khảo sát mặt ruộng khu thủy nông Đan Hoài 38
Hình 2.3: Vị trí khảo sát mặt ruộng khu Đồng Cò – Kênh chính 39
Hình 2.4: Hình thức lấy nước mặt ruộng khu Đồng Sâu – Kênh chính 40
Hình 2.5: Một dạng hình thức tưới phun mưa tại xã Liên Trung 41
Hình 2.6: Vị trí khảo sát mặt ruộng khu Đồng Cổng Trúng – Kênh N5 42
Hình 2.7: Sơ đồ tổ chức quản lý của Xí nghiệp KTCTTL Đan Hoài 46
Hình 2.8: Sơ đồ các cơ quan QLNN và các đơn vị QLKT 79
Hình 2.9: Sơ đồ tổ chức công ty KTCTTL Ý Yên 79
Hình 2.10: Sơ đồ tổ chức của HTX 80
Trang 7Luận văn thạc sĩ kỹ thuật Chuyên ngành: Quy hoạch và Quản lý tài nguyên nước
Trang
Bảng 1.1: Cơ cấu kinh tế một số ngành chủ yếu của các tỉnh vùng ĐBSH năm 2007
112
Bảng 1.2: Cơ cấu kinh tế một số ngành chủ yếu của vùng ĐBSH 113
Bảng 1.3: Giá trị sản xuất nông nghiệp tính theo giá năm 1994 của các tỉnh vùng ĐBSH 114
Bảng 1.4: Thống kê công trình thuỷ lợi vùng ĐBSH 115
Bảng 1.5: Các hệ thống thuỷ lợi lớn vùng ĐBSH 116
Bảng 1.6: Diện tích được tiêu bằng các biện pháp công trình vùng ĐBSH 117
Bảng 1.7: Tổng hợp các trạm bơm làm nhiệm vụ tiêu 118
Bảng 1.8: Tổng hợp trạm bơm tiêu trực tiếp ra sông chính 119
Bảng 1.9: Thống kê các cống tiêu 120
Bảng 2.1: Các thông số kỹ thuật của trạm bơm Đan Hoài 121
Bảng 2.2: Thông số kỹ thuật của cống Bá Giang 122
Bảng 2.3: Thống kê các trạm bơm cấp 2 122
Bảng 2.4: Thống kê các trạm bơm tưới tiêu kết hợp 123
Bảng 2.5: Thống kê điện năng tiêu thụ của các trạm bơm cấp 2 124
Bảng 2.6: Thống kê các công trình điều tiết 32
Bảng 2.7: Mật độ kênh tưới 34
Bảng 2.8: Một số kết quả khảo sát công trình mặt ruộng khu Đồng Trước 43
Bảng 2.9: Một số kết quả khảo sát công trình mặt ruộng khu Đồng Sau 43
Bảng 2.10: Thống kê các sông trục dẫn nước 125
Trang 8Luận văn thạc sĩ kỹ thuật Chuyên ngành: Quy hoạch và Quản lý tài nguyên nước
Bảng 2.11: Thống kê các cống lấy nước trên kênh chính Biên Hòa 126
Bảng 2.12: Thống kê các trạm bơm cấp II 127
Bảng 2.13: Thống kê kênh tưới cấp 2 128
Bảng 2.14: Thống kê kênh mương nội đồng của hệ thống trạm bơm Nam Tiền Hải 128
Bảng 2.15: Thống kê số lần đóng và mở cống từ năm 2002 đến 2005 129
Bảng 2.16: Tính thời gian thủ cống phụ vận hành cống trong 1 năm 130
Bảng 2.17: Tổng số CBCNV tính đến ngày 1/6/2008 131
Bảng 2.18: Số lượng, loại hình tổ chức hợp tác xã 66
Bảng 2.19: Tình hình thu chi của Công ty 67
Bảng 2.20: Đánh giá hiệu quả hoạt động của mô hình quản lý Nam Thái Bình 132
Bảng 2.21: Hiện trạng tuyến kênh tưới chính và kênh chính Đông 133
Bảng 2.22: Hiện trạng tuyến kênh tưới chính Tây 134
Bảng 2.23: Công trình trên kênh chính và kênh chính Đông 134
Bảng 2.24: Các thông số kỹ thuật cống lấy nước trên kênh chínhvà kênh chính Đông 135
Bảng 2.25: Thông số kỹ thuật cống lấy nước đầu kênh cấp IIthuộc kênh chính Tây 137
Bảng 2.26 : Các trạm bơm nội đồng do HTX quản lý thuộc lưu vực kênh tưới chính và kênh chính Đông 138
Bảng 2.27 : Các trạm bơm trong lưu vực kênh chính Tây do HTX quản lý 141
Trang 9Luận văn thạc sĩ kỹ thuật Chuyên ngành: Quy hoạch và Quản lý tài nguyên nước
M Ở ĐẦU
I Tính c ấp thiết của đề tài
- Vùng đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) là một trong 2 vùng trọng điểm sản xuất lương thực của cả nước Ở đó, vai trò của các hệ thống công trình thuỷ lợi đối với việc tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp cực kỳ rõ nét
- Diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp nhường chỗ cho sự phát triển đô thị và các khu công nghiệp tạo áp lực lớn cho các công trình thủy lợi Việc
tiêu thoát nước không những cho nông nghiệp mà còn cho cả đô thị, các khu công nghiệp Các ngành dùng nước nhiều hơn và yêu cầu cả về số lượng lẫn chất lượng
- Trong khi đó, hệ thống thủy lợi nói chung và hệ thống tưới tiêu nói riêng được xây dựng từ đã lâu, chưa được đồng bộ và phần lớn xuống cấp, không đáp ứng nhu cầu hiện tại cũng như tương lai Trang thiết bị phục vụ công tác quản lý còn thô
sơ, lạc hậu dẫn đến chất lượng phục vụ thấp Cơ chế chính sách quản lý khai thác còn nhiều bất cập Vấn đề tài chính trong dịch vụ nước đang gặp nhiều biến động
- Về các hệ thống tưới tiêu các công trình thuỷ lợi trong khu vực chủ yếu bao gồm các trạm bơm và các cống lấy nước dọc theo trục sông chính Quy mô các hệ thống thuỷ lợi trong vùng đồng bằng sông Hồng rất đa dạng
- Phần lớn các hệ thống thuỷ lợi đều được xây dựng vào những năm 1960 và
1970, trải qua một thời gian đưa vào vận hành khai thác tương đối lâu nên đa số đã
bị hư hỏng và xuống cấp và cần được nâng cấp hiện đại hoá một cách có hệ thống Theo đánh giá hiện nay hiệu quả sử dụng nước chỉ đạt khoảng 60% Mặc dù vậy, hiệu quả khai thác của các hệ thống thuỷ lợi vùng đồng bằng sông Hồng vẫn được đánh giá là cao hơn so với các hệ thống công trình thuỷ lợi ở các vùng khác trong cả
nước
- Trong giai đoạn vừa qua, hàng chục công trình và hệ thống công trình thuỷ lợi đã được triển khai xây dựng hoặc cải tạo lại bằng nguồn vốn của ADB, WB Theo báo cáo “Đánh giá hiệu ích các dự án ADB2 vùng đồng bằng sông Hồng” và
số liệu thu thập được ở địa phương thì năng lực của các hệ thống công trình mới được đầu tư xây dựng đã được cải thiện đáng kể Bên cạnh đó, do có nhiều nguyên
Trang 10Luận văn thạc sĩ kỹ thuật Chuyên ngành: Quy hoạch và Quản lý tài nguyên nước
nhân khác nhau, hiệu quả của các công trình thuỷ lợi mang lại cũng chưa được như mong đợi và cũng chưa tương xứng với mức đầu tư
Đứng trước yêu cầu phát triển bền vững nông nghiệp để bảo đảm an ninh lương thực trước sự gia tăng dân số và biến đổi khí hậu, cần phải nâng cấp hiện đại hóa các hệ thống tưới tiêu đồng bằng sông Hồng nói riêng và cả nước nói chung
Vì vậy việc triển khai đề tài “Đánh giá hiện trạng và xác định nhu cầu hiện đại hóa tưới tiêu vùng đồng bằng sông Hồng” là rất cần thiết và cấp bách
II M ục đích nghiên cứu của đề tài
- Đánh giá được hiện trạng các công trình và công tác quản lý của hệ thống tưới tiêu vùng ĐBSH
- Xác định được nhu cầu hiện đại hóa hệ thống thủy lợi vùng ĐBSH và mục tiêu, nội dung nâng cấp hiện đại hóa hệ thống thủy lợi vùng ĐBSH
III Phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật sử dụng:
* Các phương pháp sau đây sẽ được áp dụng trong nghiên cứu:
- Phân tích, tổng hợp và kế thừa tài liệu: Tổng hợp và phân tích các tài liệu
về khu vực nghiên cứu, tài liệu của các đề tài, dự án có liên quan, kế thừa các kết quả nghiên cứu đã có, đặc biệt là kết quả nghiên cứu của thế giới cũng như kết quả các đề tài, dự án đã triển khai trong khu vực nghiên cứu
- Điều tra, khảo sát thực địa: điều tra thu thập số liệu và thông tin tổng thể,
lựa chọn điểm để khảo sát chi tiết
- Phương pháp điều tra, đánh giá nhanh (RRA): có sự tham gia của cộng
đồng được sử dụng để điều tra đánh giá thực trạng và nhu cầu hiện đại hóa hệ thống tưới tiêu và các giải pháp tưới tiêu, khả năng sử dụng thiết bị, thực trạng quản lý tưới tiêu và hiện trạng đầu tư
- Hội thảo, lấy ý kiến chuyên gia: áp dụng trong xây dựng kế hoạch triển khai
nghiên cứu, trong đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp, trong đánh giá kết quả và hoàn thiện giải pháp
* Các kỹ thuật, công cụ sau đây sẽ được áp dụng trong nghiên cứu:
Trang 11Luận văn thạc sĩ kỹ thuật Chuyên ngành: Quy hoạch và Quản lý tài nguyên nước
- Điều tra nông thôn có sự tham gia của dân - PRA;
- Phân tích khung logic - LFA;
- Phân tích các trường hợp nghiên cứu điển hình
- Đo xác định các yếu tố kỹ thuật của các công trình
- Sử dụng phần mềm chuyên dụng để xử lý các số liệu
Trang 12Luận văn thạc sĩ kỹ thuật Chuyên ngành: Quy hoạch và Quản lý tài nguyên nước
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1 H ệ thống thủy lợi vùng đồng bằng sông Hồng
1.1.1 Giới thiệu về đồng bằng sông Hồng
- Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) được hình thành và phát triển trong vùng
hạ lưu của hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình bao gồm 10 tỉnh và thành phố:
Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Dương, Thái Bình, Hà Nam, Ninh Bình với diện tích tự nhiên là 16.644 km2 Về vị trí địa giới hành chính ĐBSH có tọa độ địa lý từ 20o đến 20o30” vĩ độ Bắc, 105o đến 107o30” kinh độ Đông Phía Đông giáp biển Đông, phía Tây và phía Bắc giáp các tỉnh Trung
du miền núi phía Bắc, phía Nam giáp tỉnh Thanh Hóa
Trang 13Luận văn thạc sĩ kỹ thuật Chuyên ngành: Quy hoạch và Quản lý tài nguyên nước
- ĐBSH có đường bờ biển kéo dài 130 km từ trung tâm mỏ than và cảng Thành phố Hạ Long ở phía Bắc, đến điểm cực Nam của tỉnh Ninh Bình ở phía Nam Đây là vùng dân sinh kinh tế tập trung và có truyền thống lịch sử phát triển từ lâu đời, có Thủ đô và nhiều thành phố và khu công nghiệp lớn, dân cư đông đúc
- Vùng ĐBSH có địa hình tương đối bằng phẳng, thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam, độ cao so với mặt nước biển từ 0,4÷9m Trong đó 58,4% diện tích có độ cao trung bình dưới 2m so với mực nước biển
- ĐBSH nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa Một năm có 2 mùa rõ rệt:
+ Mùa khô từ tháng XI năm trước đến tháng IV năm sau, không khí lạnh và khô, nhiệt độ trung bình dưới 20oC, lượng mưa nhỏ chỉ chiếm (8÷11)% tổng lượng mưa cả năm
+ Mùa mưa từ tháng V đến tháng X, thời tiết nóng ẩm, mưa nhiều, nhiệt độ trung bình 20oC, lượng mưa của năm chủ yếu tập trung vào mùa này và chiếm (89÷92)% Đây cũng là mùa thường xảy ra bão và mưa to trên diện rộng
- Lượng mưa bình quân ở ĐBSH từ 1500÷1800 mm được đánh giá vào loại dồi dào Tuy nhiên lượng mưa phân bố không đều theo không gian và thời gian Lượng mưa tập trung nhiều nhất ở Vĩnh Phúc và ít nhất ở tỉnh Hưng Yên, Hải Dương và Bắc Ninh, các tỉnh còn lại có lượng mưa trung bình
- Dân số: Tính đến thời điểm 31/12/2008, Vùng ĐBSH có số dân là 19,655 triệu người, vùng ĐBSH có mật độ dân số cao nhất trong cả nước, 934 người/km2
(gấp 3,57 lần so với trung bình cả nước và 1,57 so với vùng có mật độ trung bình dân số đứng thứ 2 – Đông Nam Bộ)
* Tình hình sản xuất nông nghiệp:
- ĐBSH là vùng châu thổ được phù sa bồi đắp, địa hình tương đối bằng phẳng, đất đai màu mỡ, khí hậu đa dạng rất thích hợp cho sản xuất nông nghiệp, thêm vào đó là cơ sở hạ tầng phát triển, trình độ dân trí cao nên ngành nông nghiệp
có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế vùng và đối với cả nước ĐBSH có
Trang 14Luận văn thạc sĩ kỹ thuật Chuyên ngành: Quy hoạch và Quản lý tài nguyên nước
diện tích đất nông nghiệp khoảng 760.300 ha chiếm khoảng 51,2% diện tích tự nhiên; đất nông nghiệp được sử dụng tới 84% để trồng cây hàng năm, trong đó chủ yếu đất trồng lúa, còn lại là đất chuyên màu và cây công nghiệp được phân bố ở hai dạng địa hình là màu bãi ven sông và các chân ruộng cao như gò, đồi Diện tích đất nông nghiệp có xu hướng thu hẹp dần, đất lúa sẽ chuyển sang trồng màu, cây công nghiệp ngắn ngày và chuyển sang sử dụng mục đích khác xây dựng các khu công nghiệp đô thị
- Thành tựu nổi bật nhất của ngành nông nghiệp vùng ĐBSH trong những năm qua tập trung chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng phát triển sản xuất hàng hóa, nâng cao chất lượng, năng suất, sản lượng cây trồng, nên diện tích đất trồng trọt được sử dụng rất có hiệu quả Cơ cấu kinh tế nông nghiệp, thủy sản đã
có sự chuyển dịch tích cực: tỷ trọng chăn nuôi, thủy sản tăng, tỷ trọng trồng trọt giảm dần trong khi giá trị tuyệt đối không ngừng tăng qua các năm Giá trị thu nhập trên một đơn vị diện tích tăng do được cấp, thoát nước chủ động và đầu tư cao về giống, vật tư kỹ thuật
- Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp bình quân trong 4 năm tăng 3,9% tuy chưa đạt mục tiêu đề ra (4,5%) nhưng đó cũng là những bước tiến đáng kể Sự phát triển ổn định của nông nghiệp đã tạo điều kiện quan trọng để phát triển kinh tế, ổn định xã hội và nâng cao đời sống nhân dân; đồng thời tạo ra thị trường tiêu thụ sản phẩm công nghiệp và dịch vụ, nhất là trong điều kiện xuất khẩu giai đoạn này đang gặp khó khăn do thị trường bị thu hẹp, giá cả xuất khẩu xuống thấp
- So với tất cả các vùng trong nước, ĐBSH có lợi thế vượt trội về hệ thống
cơ sở hạ tầng kỹ thuật Đó là hệ thống các công trình thuỷ lợi khá hoàn chỉnh; hệ thống giao thông, bến cảng tiện lợi; hệ thống thông tin hiện đại; hệ thống các trạm trại kỹ thuật phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và các trường đại học, viện nghiên cứu rất tập trung Đó là lợi thế mà các vùng khác trong thời gian ngắn không thể theo kịp
Trang 15Luận văn thạc sĩ kỹ thuật Chuyên ngành: Quy hoạch và Quản lý tài nguyên nước
- Tuy nhiên, khó khăn nhất hiện nay mà ĐBSH gặp phải là sự biến mất dần đất nông nghiệp trong đó thành phố Hà Nội và Hải Phòng là hai địa phương có diện tích đất nông nghiệp bị mất nhiều nhất
- Giá trị sản xuất nông nghiệp một số năm của các tỉnh vùng ĐBSH được thể hiện trong Bảng 1.3: Giá trị sản xuất nông nghiệp tính theo giá năm 1994 của các tỉnh vùng ĐBSH
1.1.2 Sự phát triển của hệ thống thủy lợi đồng bằng sông Hồng
Hệ thống thủy lợi tưới tiêu ở ĐBSH được xây dựng qua nhiều thời kỳ phát triển như sau :
- Giai đoạn trước năm 1945: Cả nước có 12 hệ thống công trình thủ y nông loại lớn và khoảng 600 km kênh chính tạo nguồn Các hệ thống thủy nông có tổng năng lực tưới và tạo nguồn cấp nước cho 1,4 triệu ha, trong đó Bắc Bộ 0,09 triệu ha, Trung bộ 0,06 triệu ha, Nam Bộ 1,25 triệu ha Một số hệ thống thủy nông lớn ở Bắc
Bộ được xây dựng vào thời kỳ này có Liễn Sơn , Thác Huống, Cầu Sơn, Liên Mạc, Đập Đáy
- Giai đoạn từ 1945 đến 1975: Nhiều hệ thống thủy nông lớn được xây dựng và đi vào vận hành như hệ thốn g thủy nông Bắc Hưng Hải (1959); hệ thống 6 trạm bơm lớn ở Bắc Nam Hà ; hồ chứa lớn Thác Bà , Cấm Sơn, Đại Lải Từ 1972-
1975 là thời kỳ hoàn chỉnh thủy nông
- Giai đoạn từ 1976 đến 1985: Mở rộng hệ thống tưới tiêu , chú trọng tiêu úng vụ mùa (các hệ thống tiêu Bắc Nam Hà, sông Đáy ), cấp nước tưới vụ ba
- Giai đoạn 1986-2000: Bổ sung mở rộng một số công trình lớn để tăng năng lực tiêu úng ở ĐBSH : cống Lân 2 (Thái Bình), Cổ Tiểu, Đa Độ (Hải Phòng), Vân Đình, Khai Thái, Quế (Hà Nội), Tân Chi, Kênh Vàng, Kim Đôi (Bắc Ninh), Yên Lệnh, Nhân Hòa (Hà Nam), Đò Neo (Hải Dương); Vĩnh Trị 2 (Nam Định; Đại Định, Thanh Điềm (Vĩnh Phúc) Kiên cố hóa hệ thống kênh mương , phần nội đồng
do dân tự làm với hỗ trợ từ tín dụng ưu đãi
Trang 16Luận văn thạc sĩ kỹ thuật Chuyên ngành: Quy hoạch và Quản lý tài nguyên nước
- Các hệ thống thuỷ nông vùng ĐBSH đảm bảo tưới cho 1,12 triệu ha đất canh tác, trong đó diện tích tưới bằng động lực khoảng 500.000 ha (chiếm 44,6%), đảm bảo tiêu chuẩn theo thiết kế khoảng 1.264.443 ha trong đó bơm điện 586.652
ha, tự chảy 677.791 ha Trong đó khi diện tích cần tiêu khoảng 1.228.438 ha bao gồm cả khu dân cư và cơ sở hạ tầng)
- Thống kê các hệ thống thủy lợi và các hệ thống thủy lợi lớn vùng ĐBSH được thống kê trong Bảng 1.4 và Bảng 1.5
- Còn thiếu nhiều các công trình tiêu úng kể cả công trình đầu mối và hệ thống kênh trục tiêu ở khu vực mặt ruộng vì đầu tư vào các công trình tiêu cần nguồn vốn lớn và hiệu quả thấp hơn các công trình tưới
- Các công trình phục vụ tiêu nước được xây dựng đã lâu, thiết kế với mức đảm bảo thấp, thời gian tiêu nước kéo dài (trước đây thiết kế từ 1,8 ÷ 4,6 l/s/ha, nay tính toán lại yêu cầu phải là 6 ÷ 7 l/s/ha) Hiện nay do yêu cầu ngày càng cao của chuyển dịch cơ cấu cây trồng và thời vụ nên mức thiết kế thấp không còn thích hợp
- Chuyển đổi cơ cấu trong sản xuất nông nghiệp, hệ thống kênh tiêu nội đồng bị lấn chiếm, thu hẹp, đất đai các khu trũng, ao hồ nơi điều tiết nước đều đã tận dụng nuôi trồng thuỷ sản hoặc cấy lúa, làm cho khu vực mặt ruộng ở nhiều nơi bị tắc nghẽn, gây úng cục bộ, không tiêu tự chảy được nhanh chóng
- Thống kê các diện tích tiêu và các biện pháp công trình vùng ĐBSH được thể hiện trong Bảng 1.6: Diện tích được tiêu bằng các biện pháp công trình vùng ĐBSH
- Tổng hợp các trạm bơm làm nhiệm vụ tiêu và các trạm bơm tiêu trực tiếp ra sông chính được thể hiện trong Bảng 1.7 và Bảng 1.8
- Vùng ĐBSH có 2.841 cống dưới đê sông, đê biển các loại (trong đó cống đê sông Nhuệ 127 cái và đê Bắc Hưng Hải 427 cái) làm nhiệm vụ tưới tiêu, đến nay đảm bảo tiêu 585.548 ha
Trang 17Luận văn thạc sĩ kỹ thuật Chuyên ngành: Quy hoạch và Quản lý tài nguyên nước
- Thống kê các cống tiêu và diện tích tiêu của các tỉnh vùng ĐBSH được
thể hiện trong Bảng 1.9
- Hệ thống kênh tiêu của các tỉnh Đồng bằng sông Hồng: tổng chiều dài kênh tiêu từ kênh chính đến kênh cấp 2 khoảng 25.733,4 km; chưa kể hàng chục nghìn km kênh nội đồng và bờ vùng bờ bao cũng như hàng vạn công trình trên kênh làm nhiệm vụ tiêu úng
1.1.3 Công tác quản lý, khai thác, cơ cấu tổ chức và chính sách
Hình 1.1: Sơ đồ hệ thống tổ chức QLKT CTTL từ Trung ương đến địa phương
- Bộ máy quản lý Nhà nước về quản lý khai thác công trình thủy lợi từ Trung ương đến địa phương đã không ngừng tăng cường, củng cố và phát triển qua các thời kỳ, thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý Nhà nước trong chỉ đạo xây dựng và
Gồm 6 hình thức tổ chức
Gồm 13 hình thức tổ chức
Trang 18Luận văn thạc sĩ kỹ thuật Chuyên ngành: Quy hoạch và Quản lý tài nguyên nước
thực hiện chiến lược, quy hoạch kế hoạch, chính sách về quản lý khai thác công trình thủy lợi…v.v Các công trình hệ thống vận hành an toàn, phòng chống và hạn chế các rủi ro do thiên tai lũ lụt và hạn hán, phục vụ tốt sản xuất nông nghiệp, dân sinh kinh tế xã hội trước mọi diễn biến phức tạp của thời tiết khí hậu
- Tuy vậy, bộ máy quản lý Nhà nước về quản lý khai thác công trình thủy lợi vẫn tồn tại những bất cập, năng lực quản lý Nhà nước chưa tương xứng với yêu cầu, việc tham gia của cộng đồng dân cư thực hiện Luật và Pháp lệnh còn hạn chế Trang thiết bị phục vụ cho công tác quản lý thiếu, lạc hậu
- Sự phối hợp gữa các ngành dùng nước với cơ quan quản lý tài nguyên nước là Sở NN – PTNT chưa chặt chẽ, các Ngành khi lập dự án phát triển thường theo ý chủ quan, ít liên hệ với Sở trong việc giải quyết nguồn nước hoặc phòng tránh thiên tai lũ bão
- Vấn đề điều hành, quản lý các hệ thống tưới tiêu hết sức khó khăn, chưa
có được một quy trình quản lý vận hành chặt chẽ
- Hệ thống điện cung cấp cho các trạm bơm còn chưa được quan tâm nhiều làm ảnh hưởng đến khả năng phục vụ của các công trình thủy lợi
- Các công ty thủy nông hoạt động công ích, thu không đủ bù chi dẫn đến vấn đề quản lý, tu sửa kênh mương, bảo dưỡng hàng năm không tốt làm cho công trình xuống cấp nhanh
- Việc phân cấp quản lý và chính sách về thu thủy lợi phí cũng như đầu tư cho thủy lợi còn nhiều bất cập
- Vấn đề quản lý công trình còn nhiều chống chéo và mang nặng tính địa phương
- Nhận thức của cộng đồng trong việc bảo vệ công trình thủy lợi chưa cao, chưa gắn được trách nhiệm của người dân với quyền lợi của họ
Trang 19Luận văn thạc sĩ kỹ thuật Chuyên ngành: Quy hoạch và Quản lý tài nguyên nước
- Chưa có được một biện pháp chế tài cụ thể để thực hiện các luật và các văn bản dưới luật
- Chưa có hệ thống lưu trữ tài liệu dùng cho quản lý vận hành cũng như chưa có chính sách thu hút đầu tư hợp lý
- Tình trạng vi phạm pháp lệnh khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi tràn lan, tình trạng lấn chiếm lòng dẫn, kênh mương, hành lang bảo vệ diễn ra hàng ngày, nhiều vật cản gây nhiều khó khăn và tốn kém cho công tác giải tỏa
- Nhận thức về HĐH các HTTL của hầu hết các cấp còn chưa phù hợp, nặng về cải tạo, sửa chữa mới công trình coi nhẹ các khâu quản lý, điều hành, cải tiến thể chế, tổ chức…
- Trình độ tổ chức và năng lực cán bộ của các công ty khai thác CTTL còn hạn chế, ít tiếp cận với phương thức tiến tiến, ít và không biết sử dụng các thiết bị mới dẫn đến chỉ quản lý hệ thống theo kiểu cũ, lạc hậu nên hiệu quả không cao
1.2 Hi ện đại hóa hệ thống tưới vùng châu Á
1.2.1 Sự phát triển của hệ thống tưới vùng châu Á
- Theo số liệu của Uỷ ban tưới tiêu quốc tế, đến năm 2002 toàn thế giới đã tưới được 276,719 triệu ha trong số 1.510 triệu ha đất canh tác, chiếm tỷ lệ 18,32% Trong đó châu á đạt tỷ lệ tưới nước cao nhất: 33,6% rồi đến châu Mỹ: 10,6%, châu Âu: 9,2%, châu Phi 6,9%, châu Đại dương 4,8% Diện tích tưới tăng nhanh, năm
1950 diện tích được tưới trên thế giới mới chỉ đạt gần 50 triệu ha, như vậy trong vòng 50 năm diện tích tưới trên thế giới đã tăng lên 5,5 lần Diện tích tưới trên thế giới qua các năm thể hiện ở Hình 1.2
Trang 20Luận văn thạc sĩ kỹ thuật Chuyên ngành: Quy hoạch và Quản lý tài nguyên nước
50 252,4 273,3 275,2 275,9 276,7
0 100 200 300
Hình 1.2: Phát triển diện tích tưới trên thế giới qua các năm
- Theo đánh giá của FAO, trong giai đoạn 1992-2002 tốc độ phát triển tưới trên toàn Thế giới là 1%, trong đó châu á có tốc độ phát triển tưới mạnh nhất 1,3% Các nước có tốc độ phát triển tưới nhanh là Trung Quốc, ấn Độ, Bangladesh, Myamar…
- Tỷ lệ đất được tưới so với đất nông nghiệp cũng tăng đáng kể, đặc biệt là khu vực châu á - Thái Bình Dương Năm 1992 tỷ lệ đất được tưới so với đất nông nghiệp khu vực châu á - Thái Bình Dương là 28,7% đến năm 2002 tăng lên là 31,2% Những nước có tỷ lệ tăng mạnh là Bangladesh 15,7%; Myamar 7,9%; Thái Lan 4,1%
- Việc tưới nước đã góp phần tăng nhanh sản xuất lương thực đặc biệt là lúa gạo trong 4 thập kỷ qua Số liệu đánh giá của tổ chức vào năm 1980 cho thấy sản xuất nông nghiệp ở các nước Châu á trong thập kỷ này tăng 50% trong khi tốc độ tăng dân số là 20%
- Trong thập kỷ 90 mặc dù tốc độ tăng trưởng về tưới nước đã giảm nhiều nhưng thành quả của việc tưới nước cùng các biện pháp nông nghiệp vẫn góp phần đưa sản xuất nông nghiệp có tốc độ cao hơn tốc độ tăng dân số, cụ thể là:
+ Từ năm 1981 - 1991: Tại Châu á tốc độ tăng trưởng về sản xuất lương thực là 1,45% Trong khi tốc độ tăng dân số là 1,2%
Trang 21Luận văn thạc sĩ kỹ thuật Chuyên ngành: Quy hoạch và Quản lý tài nguyên nước
+ Hầu hết các nước ở Châu á trừ CHDCND Triều Tiên, Hàn Quốc, Nhật Bản do đất canh tác ít, dân đông, các nước còn lại đều có tốc độ tăng trưởng về sản xuất lương thực cao hơn tốc độ gia tăng dân số Đây là thành quả của việc tưới nước
và các biện pháp nông nghiệp đã góp phần tạo ra
+ Dân số của châu Á đã tăng gần gấp đôi giữa 1960 và 1990 thêm hơn 2,9 nghìn triệu người Chiếm gần 55 % tổng số trên thế giới Theo các nước như Trung Quốc trích dẫn trong một số tạp chí , dự đoán dân số của Châu Á sẽ tăng lên đến 4,2 nghìn triệu người vào năm 2025 Viện Nghiên cứu Chính sách lương thực quốc tế ước tính rằng do sự gia tăng dân số và thay đổi nhu cầu lương thực trên thế giới sản xuất lương thực phải được tăng gấp đôi vào năm 2020
+ Chống lại hiện tượng này, hiện nay xu hướng trong sản xuất lương thực là đáng quan tâm Ngũ cốc là những loại thức ăn ở khu vực Châu Á và đảm bảo an ninh lương thực chủ yếu phụ thuộc vào mức độ sản xuất của nó Trong những thập niên của những năm 1980 sản xuất nông nghiệp bình quân của các nước châu Á tăng 50% Trong thời gian cùng kỳ dân số tăng 20% nên sản xuất nông nghiệp của khu vực góp phần đáng kể trong một cách để những phúc lợi phát triển trong khu vực (Hình 1.3 và Hình 1.4) Từ năm 1990, tỷ lệ tăng trưởng sản xuất ngũ cốc đã đi xuống Hiện nay hàng năm đạt tốc độ tăng trưởng tổng số sản xuất ngũ cốc chỉ là 0,9% (Theo tài liệu FAO, 1995)
+ Tăng cường sản xuất lương thực có thể thúc đẩy vi ệc sử dụng nâng cao chất lượng đầu vào như giống , phân bón và thuốc trừ sâu và bệnh dịch Những tác động của tất cả các yếu tố đầu vào phụ thuộc cơ bản rất nhiều vào tài nguyên , đất đai và nước, được sử dụng cho sản xuất nông nghiệp Ở châu Á, có rất ít khả năng bền vững của đất sản xuất nông nghiệp Hơn nữa, đất sản xuất nông nghiệp liên tục được chuyển đổi bởi việc quy hoạch xây dựng khu đô thị và phát triển công nghiệp
Hiện nay có khoảng 43% đất ở châu Á bị ảnh hưởng bởi một số mức độ suy thoái
+ Sự khan hiếm n ước sẽ có một vấn đề nghiêm trọng trong tương lai, đặc biệt là nước sạch Sự sẵn có của mỗi đơn vị tái tạo nước ngọt (PCA) sẽ giảm 50%
Trang 22Luận văn thạc sĩ kỹ thuật Chuyên ngành: Quy hoạch và Quản lý tài nguyên nước
trong 25 năm tiếp theo (Theo Shahrizaila Abdullah bin, 1994) Thông tin về 9 nước châu Á sẽ có một mức thấp PCA thì Trung Quốc và Ấn Độ là một trong những nước thấp nhất với PCA
+ Điều này ngụ ý rằng có giới hạn trong phạm vi nguồn lực cho các nước phát triển Còn gì đáng buồn hơn , khi các nhà đầu tư trong công trình thủy lợi đã giảm đáng kể trong những năm 1990 cùng mức của thập kỷ trước đó Trợ giúp tài chính của các nhà tài trợ quốc tế có xu hướng chuyển từ công trình thủy lợi để phát triển các lĩnh vực khác mang lại nhiều lợi ích hơn như công nghiệp, du lịch, v.v
- Từ những quan điểm trên , cần phải có nhiều hơn sự chú ý nhằm trả lại hiện trạng vốn có của đất đai và tài nguyên nước Những thách thức là có thể sử dụng chúng với những cách thức tốt nhất có thể Để đạt được điều này, công trình
thủy lợi sẽ phát đóng vai trò lớn trong gia tăng sản lượng lương thực , nhưng phải được cải tiến để đạt được mục tiêu này
- Tất cả các quốc gia trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương có một số lượng lớn các hệ thống thuỷ lợi đang hoạt động Một sự xem xét cẩn thận của các
hệ thống thủy lợi cần phải được đưa lên trước khi chọn một hệ thống cho hiện đại hóa Các thủ tục thảo luận để đánh giá hiệu suất trong sớm FAO : thủ tục đó sẽ cung cấp một số thông tin phản hồi cho các lựa chọn của hệ thống Chỉ có các hệ thống
đó sẽ trả lời để hiện đại hóa phải được lựa chọn (kết quả: vấn đề gì sẽ được hiện đại hoá) Các hoạt động sẽ được lựa chọn sẽ phụ thuộc vào các yếu tố như hệ thống có thể được đáp ứng, tính ứng chuẩn của các đơn vị thụ hưởng và các kỹ thuật hiện có Các hoạt động được lựa chọn sẽ áp dụng được cho nhiều vị trí cụ thể
Trang 23Luận văn thạc sĩ kỹ thuật Chuyên ngành: Quy hoạch và Quản lý tài nguyên nước
Hình 1.3: Sản xuất nông nghiệp và sự gia tăng dân số của một số các quốc gia
Hình 1.4: Xu hướng của mùa vụ sản xuất ngũ cốc trong các nước đang phát triển
của châu Á và Thái Bình Dương
Khó khăn trong việc phát triển tưới tiêu
- Đối với các công trình xây dựng mới gặp rất nhiều khó khăn do việc quy hoạch tổng thể còn nhỏ lẻ chắp vá mang tính chất ngắn hạn mặt khác quỹ đất giành
Trang 24Luận văn thạc sĩ kỹ thuật Chuyên ngành: Quy hoạch và Quản lý tài nguyên nước
cho nông nghiệp không ổn định ngày càng bị co hẹp dần Nguồn vốn đầu tư lớn trong khi sản lượng của nhiều chương trình thủy lợi trở lên đáng thất vọng , khả năng tài chính của các công trình thủy lợi , cơ sở hạ tầng là mối đe dọa sự phát triển bền vững của nhiều chương trình
- Đối với các hệ thống đã có thì đã xây dựng từ lâu, kinh phí giành cho duy
tu bảo dưỡng không đảm bảo nên công trình hiệu quả hoạt động thấp, bị xuống cấp,
hư hỏng như:
• Sự xuống cấp ở cả 2 cấp độ chính là cấp hệ thống và tại các cấp nông trại;
• Sự tắc nghẽn tại kênh chính, thứ cấp và các kênh rạch cấp 3;
• Cỏ dại mọc trong hệ thống kênh;
• Gia tăng trong việc sử dụng nguồn nước tạo ra sự úng ngập và khả năng bị nhiễm mặn
• Gây khó khăn cho việc mở cống do lắng đọng và cỏ dại
- Tài chính công khai của chương trình bảo dưỡng thường lệ thuộc vào giới hạn ngân quỹ cho các hoạt động của chính phủ và trong khi doanh thu từ cung cấp nước tưới tiêu cho nông dân rất khó khăn để chứng minh được nguồn kinh phí
Hiệu suất hiện có của các hệ thống tưới
- Các nguyên nhân chính của sự thất vọng về hiệ u suất của hệ thống thủy lợi trong khu vực châu Á có thể được liệt kê như sau:
• Theo sử dụng tiềm năng của các công trình thủy lợi hiện có,
• Không đáp ứng hiệu quả quản lý của các công trình thủy lợi,
• Hệ thống quản lý,
• Không đầy đủ và bảo trì
- Trong một số lớn các hệ thống thuỷ lợi , tiềm năng của các công trình thủy lợi hiện có là không được sử dụng do các lý do như thái độ của nông dân, thiếu về
Trang 25Luận văn thạc sĩ kỹ thuật Chuyên ngành: Quy hoạch và Quản lý tài nguyên nước
phát triển nông nghiệp v.v…Cán bộ quản lý không được tiếp cận với công nghệ quản lý mới Các hệ thống công trình thủy lợi quản lý trong một số trường hợp không thể đến gần với người nông dân và có thể được đáp ứng nhu cầu của họ Yêu cầu thoát nước của các cơ sở có thể không được thành lập và cũng có thể không đủ ngân sách đã được quy định nên nhiều khi không sẵn sàng cho việc duy trì của hệ thống
- Ngoài các yếu tố kết cấu , sự không công bằng và sử dụng không hợp lý khiến nguồn nước bị ảnh hưởng và toàn bộ quá trình phân phối nước của hệ thống
- Hiệu suất của hệ thống thủy lợi, tuy nhiên, đã trở thành chủ đề của sự chỉ trích Sự tương đối lớn hơn các hệ thống đã phải nhận thêm những lời chỉ trích , trong khi xuất hiện những cái nhỏ hơn để có được thực hiện tốt hơn Các thông cáo
số hiệu suất lớn trong hệ thống thủy lợi bao gồm các yếu tố như kinh tế , không đủ lợi nhuận từ các nhà đầu tư , ít sử dụng nước hiệu quả, các yếu tố xã hội, như không
để đạt được phân phối công bằng nước, và các yếu tố môi trường như đất mặn, ô nghiễm nước ngầm của các nguồn lực, không công bằng trong y tế công cộng 1.2.2 Khái niệm về hiện đại hóa hệ thống tưới
- Tổ chức Nông lương Thế giới (FAO) định nghĩa về hiện đại hóa hệ thống
thủy lợi: “Hiện đại hoá các hệ thống thủy lợi là một quá trình nâng cấp về kỹ thuật
và qu ản lý (hoàn toàn trái ngược với cải tạo đơn thuần) cho các hệ thống thuỷ lợi với
m ục tiêu là cải thiện việc sử dụng các nguồn nhân lực, nước, kinh tế và môi trường cũng như dịch vụ phân phối nước tới người sử dụng nước”
- Định nghĩa này cho thấy hiện đại hoá không phải là một hạng mục đơn lẻ
mà là một quá trình liên quan tới việc nâng cấp và cải thiện cách sử dụng các nguồn nước một cách hiệu quả hơn chứ không phải chỉ quay lại điều kiện ban đầu Để hiện đại hóa hệ thống thủy lợi cần cải thiện cả về mặt công trình (phần cứng) và công tác
quản lý vận hành (phần mềm) của hệ thống thủy lợi Không nhất thiết phải đầu tư vào các trang thiết bị và phần mềm tinh vi mà quan trọng là vấn đề kiến thức, những
Trang 26Luận văn thạc sĩ kỹ thuật Chuyên ngành: Quy hoạch và Quản lý tài nguyên nước
sự lựa chọn và áp dụng một cách phù hợp nhằm đáp ứng các mục tiêu theo dự kiến
Hiện đại hoá nên cải thiện về quản lý nước trong phạm vi lưu vực: chính xác về thời gian phân phối nước, về lưu lượng cũng như về lượng nước và chính xác về địa điểm được phân phối nước
Mục tiêu của chương trình hiện ĐH theo Burd and Styles( 1999) bao gồm:
♦ Nâng cao năng xuất cây trồng
♦ Hiệu quả tưới được nâng cao
♦ Giảm giá quản lý vận hành bảo dưỡng
♦ Giá vận hành bảo dưỡng được thu hồi
♦ Bền vững về mặt tài chính
♦ Giảm sự bất động mâu thuẫn giữa người quản lý và nông dân
♦ Giảm được sự xuống cấp về môi trường
Theo quan điểm của FAO về hiện đại hóa thì, một hệ thống tưới tiêu được coi là hiện đại hóa khi nó đáp ứng được các yêu cầu sau:
♦ Vận hành an toàn và kinh tế;
♦ Đảm bảo độ tin cậy trong phân phối nước;
♦ Đảm bảo tính linh hoạt trong phân phối nước;
♦ Đảm bảo tính công bằng tương đối trong phân phối nước
Hiện đại hóa tưới mà Wolter và Burt nghiên cứu đã xem đó là quá trình tư duy xem xét sự kết hợp giữa thiết bị và thiết kế mới với tầm nhìn cho vận hành tưới trong tương lai Các tác giả này cho rằng tưới hiện đại sẽ có các đặc điểm sau
♦ Tưới hiện đại là dịch vụ đối với người nông dân mà càng hiệu quả và càng
tiện lợi càng tốt
Trang 27Luận văn thạc sĩ kỹ thuật Chuyên ngành: Quy hoạch và Quản lý tài nguyên nước
♦ Hệ thống tưới hiện đại bao gồm các cấp khác nhau với ranh giới được xác định rõ ràng tại nơi đo và kiểm soát nguồn nước
♦ ở mỗi cấp thì tự động cả về mặt tài chính và về mặt thủy lực càng độc lập càng tốt,
♦ Mỗi cấp đáp ứng nhu cầu của khách hàng,
♦ Nông dân cuối cùng phải được lợi để đảm bảo hệ thống vận hành, việc duy
tu bảo dưỡng là nhiệm vụ của mỗi cấp
♦ Tính toán thủy lực của hệ thống phân phối nước dựa trên kế hoạch vận hành
đã được xác định, việc tính toán cần linh hoạt, kết quả tính toán chỉ thay đổi tương đối nhỏ dưới sự biến thiên của các điều kiện thiết kế ban đầu
♦ Khuyến khích và đào tạo người vận hành phải thực hiện ở mọi cấp của hệ
♦ Phải có hệ thống giám sát định hướng các thông số kỹ thuật, vận hành của
hệ thống công trình thuỷ lợi
♦ Bền vững hay còn gọi là kiên cố Bền vững theo thời gian dưới tác động của thiên nhiên và các hoạt động của con người
♦ Có tác động tốt tới môi trường sinh thái xung quanh Hài hoà đến mức độ cao nhất có thể với môi trường thiên nhiên xung quanh
♦ Có tính kỹ thuật cao về mặt kiến trúc
♦ Tiện dụng cho người sử dụng Giảm đến tối thiểu sức lao động vận hành công trình An toàn lao động cao
Trang 28Luận văn thạc sĩ kỹ thuật Chuyên ngành: Quy hoạch và Quản lý tài nguyên nước
V ề mặt quản lý:
♦ Trước hết công trình có chủ thể quản lý (Nhà nước hay tư nhân ) Chủ thể này được tổ chức khoa học,có mối quan hệ chặt chẽ trong hệ thống quan hệ
quốc gia
♦ Năng suất lao động trong quản lý cao
♦ Chủ thể quản lý là một doanh nghiệp tự hạch toán
♦ Được trang bị đủ các thiết bị và phương tiện dành cho quản lý (vận hành, đo đạc kiểm tra độ bền vững công trình cũng như đo đạc phục vụ công tác dự báo xử lý các tình huống khẩn cấp và sự cố v.v)
♦ Người làm quản lý vận hành phải có đủ năng lực: có kiến thức quản lý tốt và làm chủ được các trang thiết bị quản lý vận hành công trình
♦ Người quản lý vận hành có quyền lợi thích đáng toàn diện về kinh tế và xã
hội
♦ Có thể chế quản lý tốt (tuân thủ Luật và các quy định dưới Luật)
Trang 29Luận văn thạc sĩ kỹ thuật Chuyên ngành: Quy hoạch và Quản lý tài nguyên nước
CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG CÔNG NGHỆ CỦA HỆ
2.1 N ội dung và phương pháp đánh giá
Việc đánh giá thực trạng công nghệ của hệ thống thủy lợi là rất quan trọng trong việc hiện đại hóa hệ thống thủy lợi, nó giúp việc đưa ra giải pháp hiện đại hóa
phù hợp, chính xác và đảm bảo tính hiệu quả của việc đầu tư Với vai trò và ý nghĩa quan trọng của việc đánh giá hiện trạng của hệ thống, do đó để đánh giá hiện trạng công nghệ của hệ thống thủy lợi nói chung và hệ thống thủy lợi đồng bằng sông Hồng nói riêng cần được xây dựng nội dung đánh giá và đối tượng đánh giá
2.1.1 Nội dung đánh giá
Đối với hệ thống thủy lợi, theo chức năng và nhiêm vụ của từng nhóm các hạng mục, được chia ra như sau
+ Công trình trong hệ thống tưới
+ Hệ thống thủy lợi nội đồng (mặt ruộng)
a) Đánh giá hiên trạng công nghệ của công trình trong hệ thống tưới tiêu
♦ Đánh giá hiện trạng công nghệ công trình đầu mối (trạm bơm vừa và lớn) Thiết bị kết cấu công trình trạm, các thiết bị điều khiển, quan trắc mực nước
Trang 30Luận văn thạc sĩ kỹ thuật Chuyên ngành: Quy hoạch và Quản lý tài nguyên nước
♦ Đánh giá hiện trạng công nghệ hệ thống phân phối nước, bao gồm kênh chính và kênh các cấp.Các công trình điều tiết và đong đo lưu lượng trên kênh
b) Đánh giá hiện trạng khoa học công nghệ của hệ thống mặt ruộng, công nghệ tưới tiêu
♦ Đánh giá hiện trạng hệ thống thủy lợi nội đồng
♦ Đánh giá hiện trạng công trình mặt ruộng
♦ Đánh giá hiện trạng cộng nghệ tưới Các loại hình kỹ thuật tưới, cây trồng được tưới, hiệu quả và khả năng phát triển công nghệ tưới
c) Đánh giá hiện trạng quản lý hệ thống tưới tiêu
♦ Đánh giá hiện trạng tổ chức quản lý Các công ty xí nghiệp, các loại hình tổ
chức quản lý cấp sơ sở, nội dung phương thức và hiệu quả hoạt động
♦ Đánh giá hiện trạng khoa học công nghệ quản lý vận hành, phân phối nước
♦ Đánh giá hiện trạng ứng dụng công nghệ tự động hóa thu thập truyền dẫn số
* Trong nội dung nghiên cứu này sử dụng các phương pháp sau:
+ Đánh giá nhanh RAP
+ Phân tích khung logic LFA
+ Phương pháp tham gia với công cụ PRA
+ Hội thảo
* Nguyên tắc lựa chọn hệ thống thống để đánh giá:
+ Hệ thống phải đại diện cho các tiểu vùng của ĐBSH
Trang 31Luận văn thạc sĩ kỹ thuật Chuyên ngành: Quy hoạch và Quản lý tài nguyên nước
+ Hệ thống phải đại diện cho loại hình công trình cũng như nhiệm vụ công trình
+ Hệ thống thể hiện được mô hình tổ chức quản lý đại diện cho vùng ĐBSH Trên cơ sở các nguyên tắc tác giả đã lựa chọn 3 hệ thống sau đây mang tính chất đặc trưng cho vùng ĐBSH để tiến hành nghiên cứu đánh giá:
(1) Hệ thống thủy nông Đan Hoài (Hà Nội)
(2).Hệ thống thủy nông Nam Thái Bình (Thái Bình)
(3) Hệ thống thủy nông Cổ Đam (Nam Định)
2.2 K ết quả đánh giá
2.2.1 Hệ thống thủy nông Đan Hoài (Hà Nội):
2.2.1.1 Giới thiệu về hệ thống thủy nông Đan Hoài
- Hệ thống thuỷ nông Đan Hoài là một trong những hệ thống lớn và quan trọng của Hà Nội được đưa vào sử dụng từ năm 1962 Hệ thống thủy nông Đan Hoài nằm trong phạm vi khép kín của 4 con sông là sông Hồng, sông Đáy, sông Nhuệ và kênh đào La Khê, là hệ thống tưới và tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp của hai huyện Đan Phượng, Hoài Đức và hai xã thuộc huyện Từ Liêm - Hà Nội
- Hệ thống tưới hoàn toàn bằng bơm điện cho 9.200 ha canh tác trong đó có 2700ha ở ngoài bãi và 4 khu cao cục bộ ở trong đồng phải bơm 2 cấp Hệ thống tiêu
tự chảy cho phần lớn diện tích với mực nước sông Nhuệ tại Hà Đông < +4.5m, riêng có 887 ha trũng phải tiêu bằng bơm điện
- Hệ thống có đủ điều kiện chủ động về nguồn nước, nguồn điện Sau khi hoàn chỉnh thủy nông đã có đủ đầu nước, lưu lượng thiết kế, với 1200 công trình
xây lắp các loại và 300km kênh mương tưới tiêu nội đồng, có đủ điều kiện để chủ động, thông suốt đưa nước từ đầu mối đến khoảnh và tiêu thì ngược lại theo các cấp kênh
- Hệ thống thủy nông Đan Hoài do Công ty Khai thác Công trình Thủy lợi sông Đáy quản lý, Xí nghiệp Khai thác công trình thủy lợi Đan Hoài trực tiếp quản
Trang 32Luận văn thạc sĩ kỹ thuật Chuyên ngành: Quy hoạch và Quản lý tài nguyên nước
lý vận hành Công ty quản lý thống nhất từ đầu mối đến đầu khoảnh và tất cả các hợp tác xã có tổ chức hoặc đội thủy nông quản lý từ khoảnh đến mặt ruộng
2.2.1 2 Đánh giá về công trình đầu mối :
Những mặt tích cực:
Trong hệ thống hiện có 10 trạm bơm lấy nước từ Sông Hồng, sông Đáy và sông La Khê Trong đó có 1 trạm lấy nước từ sông Hồng, 7 trạm lấy nước từ sông Đáy, 2 trạm lấy nước từ sông La Khê với 25 máy bơm các loại, tổng lưu lượng thiết
Hình thức: cống ngầm lấy nước qua đê sông Hồng thân cống gồm 2 đoạn:
- Đoạn 1 dài 42m có 3 cửa kích thước 1,7x2,5m, cao trình đỉnh cống +3,9m, đóng mở bằng vít me V5, cao trình chân dàn van +6,00m, cao trình đỉnh dàn van +8,00m
- Đoạn 2 nằm dưới đê sau tháp cống, dài 35m gồm hai khoang, kích thước mỗi khoang BxH=2,8x2,2m, cao trình đáy cống +1.4
Cống số 1 chỉ được mở lấy nước khi mực nước sông H ồng dưới báo động 1
là +10,70m
*Kênh dẫn: là kênh đất, chiều dài L= 600m, chiều rộng trung bình 40 m, cao trình đáy +1,2m; hệ số mái m=2,5; 2 cơ ở cao trình +5,4m và +8,00m
*Trạm bơm tưới Đan Hoài:
Quy mô 5 máy bơm DU 750 do Rumani sản xuất Công suất mỗi máy Q=7.700 m3/h, lưu lượng toàn trạm theo thiết kế là 10,65 m3/s, diện tích tưới thiết
kế là 9.200 ha Các thông số kỹ thuật của trạm bơm Đan Hoài trong Bảng 2.1
Trang 33Luận văn thạc sĩ kỹ thuật Chuyên ngành: Quy hoạch và Quản lý tài nguyên nước
Trạm bơm Đan Hoài là hệ thống trạm bơm trục đứng Sau gần 50 năm hoạt động khai thác phục vụ nông nghiệp đến nay các thiết bị công trình đã bị xuống cấp Máy bơm không có thiết bị thay thế nên hiện nay máy móc trong nhà máy trạm bơm không đồng bộ, thay thế chắp vá
*Cống số 2: dưới đê quai Liên Trì gồm 2 cửa, kích thước 2x(2,2x2,8)m Kết cấu BTCT, cánh cửa thép
Hình ảnh công nhân sửa chữa tổ máy bơm số 4 - trạm bơm Đan Hoài
Hình ảnh hệ thống điện của trạm bơm Đan Hoài
Trang 34Luận văn thạc sĩ kỹ thuật Chuyên ngành: Quy hoạch và Quản lý tài nguyên nước
b Trạm bơm lấy nước từ sông Đáy:
Hiện có 7 trạm bơm lấy nước từ sông Đáy với 17 máy bơm các loại (7 máy 1000m3/h; 6 máy 540m3/h; 3 máy 270 m3/h) Trong đó: Trạm bơm Đồng Tháp (2x1000 m3/h), Cát Ngòi (2x1000 m3/h); Yên Sở (3x1000 m3/h), Đắc Sở (2x540 m3/h), Vân Côn 1 (3x540 m3/h), Vân Côn 2 ( 2x270 m3/h), Lại Dụ (1x540 + 1x270 m3/h)
c Trạm bơm lấy nước từ sông La Khê (nguồn sông Nhuệ)
Lấy nước từ sông La Khê có 2 trạm Đồng La (1x1000m3/h) và Dương Nội (2x1000m3/h)
d Cống Bá Giang:
- Cống Bá Giang được xây dựng năm 1993 tại K40+600 (thuộc xã Hồng Hà, huyện Đan Phượng ) trên đê hữu sông Hồng , cống có quy mô 2 cửa kích thước 2x2,5m Cống có nhiệm vụ lấy sa để tưới bổ sung cho hệ thống khi mực nước sông Hồng từ +9,00m đến +12,0m nhằm đảm bảo tưới đủ lưu lượng thiết kế và góp phần tiết kiệm điện năng Cống chỉ làm việc trong vụ mùa
- Hình thức kết cấu : kết cấu BTCT, cánh cống bằng thép Cống có cấu tạo 2 tầng nâng cao khả năng lấy nước tự chảy Thiết bị đóng mở được bố trí bằng cả tời điện lẫn quay tay để giảm công lao động của công nhân vận hành và đảm bảo an toàn khi xảy ra mất điện
- Qua 16 năm hoạt động, cống Bá Giang đã hoạt động rất có hiệu quả và hiện nay vẫn đáp ứng được nhu cầu tưới tự chảy vào vụ mùa Thông số kỹ thuật của cống Bá Giang trong Bảng 2.2
Những mặt tồn tại:
- Hệ thống điện: Trạm bơm Đan Hoài hiện có 2 máy biến áp loại 750 KVA 35/0,4 KV do Liên Xô (cũ) sản xuất Các thiết bị điện được lắp đặt từ lâu , không đảm bảo an toàn điện
- Trạm bơm Đan Hoài vận hành bơm bán tự động: Đóng ngắt khi vận hành máy bơm bằng cầu dao điện đặt ở các tủ điện của mỗi tổ máy Nếu mực nước bể hút
Trang 35Luận văn thạc sĩ kỹ thuật Chuyên ngành: Quy hoạch và Quản lý tài nguyên nước
quá thấp rơle tự ngắt Tất cả các trường hợp có sự cố hay những vấn đề bất thường xảy ra trong khi vận hành máy đều phải nhanh chóng báo về xí nghiệp để có phương hướng chỉ đạo giải quyết
- Công trình nhà trạ m được xây dựng theo kiểu kiến trúc cũ nên việc đi lại vận hành không thuận lợi, chưa đáp ứng được Sau nhiều năm đi vào hoạt động nhà trạm đã xuống cấp tường, trần sàn nhiều chỗ bị nứt
- Trạm bơm đầu mối đặt quá xa so với cửa s ông Hồng, kênh dẫn là kênh đất, dài 600 m, rộng trung bình 40 m Hàng năm Công ty KTCTTL Đan Hoài phải tiến hành nạo vét bằng thủ công và tàu c uốc, khối lượng trùng bình 15.000 m3 Ngoài ra
do sự biến đổi của dòng chảy sông Hồ ng, ở phía cửa sông có những năm bị bồi lắng tạo thành những bãi bồi cao trên mức đáy kênh thiết kế , Công ty phải sử dụng tàu cuốc và các phương tiện khác nạo vét mở luồng lạch để lấy nước , khối lượng khá lớn
- Từ năm 1993 cống Bá Giang được xây dựng và đưa vào sử dụng , lấy nước
tự chảy khi mực nước sông Hồng >+9,00m (chủ yếu cấp cho vụ mùa ) thì nguồn nước đảm bảo liên tục, chi phí điện năng giảm Tuy nhiên những năm gần đây do có
sự điều tiết của hồ Hòa Bình , về vụ Đông Xuân mực nước sông thường thấp hơn cùng kỳ những năm trước , thậm chí thấp hơn mực nước thiết kế của trạm bơm Đan Hoài Điển hình vào ngày 23/02/2007, mực nước tại cống số 1 xuống đến +2,30 m,
số máy bơm hoạt động chỉ được 1 máy /5 máy
2.2.1.3 Trạm bơm tưới cấp 2:
Những mặt tích cực:
- Các trạm bơm tưới cấp 2 nằm trong hệ thống có nhiệm vụ chuyển nước từ kênh chính qua đê sông Đáy và cấp nước cho vùng bãi ngoài đê sông Đáy Tổng diện tích thiết kế là 2.594 ha, diện tích thực tưới là 1.320 ha Ngoài ra, các trạm bơm tưới tiêu kết hợp có nhiệm vụ : Lấy nước từ kênh tiêu cấp nước bổ sung cho kênh tưới của trạm bơm cấp 1 (trạm bơm Đào Nguyên, Đồng La, Thượng Mỗ,
Trang 36Luận văn thạc sĩ kỹ thuật Chuyên ngành: Quy hoạch và Quản lý tài nguyên nước
Đồng Nghể); Lấy nước từ kênh chính cấp nước tưới cho kênh nội đồng (Trạm bơm Đồng Quan, Đìa Sáo )
kê một số năm gần đây cho thấy điện năng tiêu thụ trung bình trên ha của các trạm
có sự khác nhau giữa các năm và có chênh lệch giữa các trạm Điện năng tiêu thụ trung bình của các trạm bơm tưới cấp 2 là 418 kw/ha
Thống kê các trạm bơm cấp 2 trong Bảng 2.3
Thống kê các trạm bơm tưới tiêu kết hợp trong Bảng 2.4
Thống kê điện năng tiêu thụ của các trạm bơm cấp 2 trong Bảng 2.5
2.2.1.4 Hệ thống kênh mương:
Những mặt tích cực:
Toàn bộ hệ thống hiện có 775,5 km kênh tưới các loại gồm:
+ Kênh chính là tuyến kênh tưới chính của trạm bơm Đan Hoài với tổng chiều dài 23,5 km
+ Kênh tưới cấp 2 : 86,03 km
+ Kênh nội đồng : 666 km
a Kênh chính Đan Hoài:
*.Sơ đồ
Trang 37Luận văn thạc sĩ kỹ thuật Chuyên ngành: Quy hoạch và Quản lý tài nguyên nước
N5 N7
*Quy mô:
Kênh chính Đan Hoài được bố trí theo chiều dốc của địa hình khu vực, chiều dài kênh 23,5km, hiện tại đã được bê tông hóa 95,24% Dọc tuyến kênh có 19 kênh nhánh cấp 2, trong đó có một số kênh lớn như: N1, N4, N5, N8, N11…, có 5 điều tiết: ĐT Minh Khai, ĐT Song Phương, ĐT Đa Khuy, ĐT An Khánh, ĐT La Dương, ngoài ra có các cống vượt cấp có diện tích tưới dưới 50ha cũng lấy nước trực tiếp từ kênh chính
*Nhiệm vụ
Hệ thống kênh chính có nhiệm vụ tưới cho khoảng 6000ha đất canh tác của 2 huyện Đan Phượng và Hoài Đức
b Kênh cấp 2:
Tổng chiều dài các tuyến kênh cấp 2 là 86,030 km Trong đó kênh đã được
bê tông hóa là 28,16km (chiếm 32,7%) Các kênh cấp 2 có diện tích phụ trách từ
100 đến 600ha, riêng kênh N11 diện tích tưới 689,44 ha
i).Kênh N1
*Sơ đồ
Trang 38Luận văn thạc sĩ kỹ thuật Chuyên ngành: Quy hoạch và Quản lý tài nguyên nước
Kªnh chÝnh
N1-1 N1-1a N1-2
N1-4
N1-1b N1-6
1-*.Quy mô
Kênh dẫn N1 với tổng chiều dài 5,5km, đã kiên cố (gạch xây) 1,175 km (thuộc N1b) chiếm tỉ lệ 21,36% còn lại 4,325 km là kênh đất (bên bờ kênh cỏ mọc rất nhiều, nhiều chỗ lòng kênh bị co hẹp)
*Nhiệm vụ
Kênh N1 lấy nước trực tiếp từ kênh chính Đan Hoài tưới cho 308,4 ha thuộc
xã Liên Trung, xã Thượng Cát, huyện Đan Phượng
V4 V6
Kªnh c hÝnh
Kªnh N 4
Trang 39Luận văn thạc sĩ kỹ thuật Chuyên ngành: Quy hoạch và Quản lý tài nguyên nước
* Quy mô: kênh N4 bắt nguồn từ cống lấy nước tự chảy Bá Giang nối với kênh chính Đan Hoài, chiều dài kênh 2,785 km, hiện tại đã được bê tông hóa toàn
bộ
*Nhiệm vụ:
- Về mùa lũ: kênh có nhiệm vụ dẫn nước tự chảy từ cống Bá Giang
- Về mùa kiệt kênh có nhiệm vụ lấy nước từ kênh chính Đan Hoài cấp nước tạo nguồn cho trạm bơm Thiên Tân với diện tích 4911,48ha Đồng thời cấp nước cho một số vùng ven kênh N4
Những mặt tồn tại:
- Hệ thống kênh tưới được kiên cố hóa từng phần , phân tán, thiếu đồng bộ , các cửa cống phân phối trên kênh chưa đầy đủ gây tổn thất nước do vậy hệ số lợi dụng kênh mương không được cải thiện nâng cao nhiều , ảnh hưởng trực tiếp đ ến quy trình tưới chung của hệ thống
- Các tuyến kênh đất đều ở trong tình trạng xuống cấp, hàng năm tuy có được
tu sửa nạo vét nhưng tình trạng chung vẫn bị bồi lắng sụt sạt, nhiều tuyến mặt cắt kênh bị thu hẹp, tình trạng làm nhà lấn chiếm, đổ rác thải, nước thải từ sản xuất công nghiệp, thủ công nghiệp xuống lòng kênh gây ách thu hẹp dòng chảy, ô nhiễm nguồn nước…
- Hệ thống kênh tiêu bị xuống cấp hiện chưa có kinh phí đầu tư nâng cấp cải tạo; hệ thống cống tiêu chưa hoàn chỉnh , các cửa tiêu còn thiếu hệ thống cánh cửa điều tiết ; việc quản lý vận hành các cống tiêu chủ yếu giao cho đội thủy lợi địa phương quản lý Do vậy còn khá nhiều bất cấp trong việc phối hợp điều hành tưới
và tiêu, dẫn đến thất thoát lượng nước và giảm thấp mực nước tưới
- Kênh tưới và tiêu trong hệ thống thủy nông Đan Hoài ngày càng đào sâu
mở rộng để trữ nước và để lấy đất đắp bờ hàng năm , hiện tại thì kênh mương nội đồng theo khảo sát thì mặt cắt lớn hơn mặt cắt thiết kế nhiều Đây là đặc điểm quan trọng để cần thiết phải thực hiện kiên cố hóa kênh mương tạo mặt cắt cố định , kết hợp với chuyển đổi ruộng từ thửa nhỏ sang thửa lớn , tạo điều kiện thâm canh tăng
Trang 40Luận văn thạc sĩ kỹ thuật Chuyên ngành: Quy hoạch và Quản lý tài nguyên nước
năng suất cây trồng là nền tảng đủ đáp ứng hiện đại hóa trong hệ thống thủy nông Đan Hoài
2.2.1.5 Các công trình trên kênh:
Những mặt tích cực:
Trên kênh chính Đan Hoài có 136 cống lấy nước đầu kênh (bao gồm cả cống vượt cấp), 5 công trình điều tiết Cụ thể chi tiết các cống lấy nước đầu kênh và công trình điều tiết đã khảo sát:
b Công trình điều tiết
Bảng 2.6: Thống kê các công trình điều tiết
(bxh)m Van điều tiết Hình thức vận hành