Biến đổi khí hậu làm cho mực nước biển dâng, gây ngập lụt, làm mất đất ở vùng ven biển, đồng thời đe doạ an toàn của các công trình, trong đó có các tuyến đê biển, đê sông.. Hệ thống thu
Trang 1ĐÀO KIM DUNG
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ NGHIÊN CỨU
ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP VẬN HÀNH CỐNG LẤY NƯỚC VÙNG TRIỀU THUỘC HỆ THỐNG BẮC HƯNG HẢI TRONG BỐI CẢNH SUY GIẢM NGUỒN NƯỚC
VÀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Chuyên ngành Quy hoạch và quản lý tài nguyên nước
Mã số: 60-62-30 LUẬN VĂN THẠC SĨ
Người hướng dẫn khoa học:
GS.TS DƯƠNG THANH LƯỢNG
Hà Nội – 2012
Trang 2LỜI CẢM ƠN
♥
Luận Văn “Đánh giá hiện trạng và nghiên cứu đề xuất giải pháp vận
hành cống lấy nước vùng triều thuộc hệ thống Bắc Hưng Hải trong bối cảnh suy giảm nguồn nước và biến đổi khí hậu” được thực hiện từ tháng 9
năm 2010 Ngoài sự cố gắng của bản thân, tác giả đã được sự giúp đỡ nhiệt
tình của thầy, cô giáo, gia đình và bạn bè
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo GS.TS Dương Thanh Lượng, người đã trực tiếp tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và cung cấp những tài liệu, những thông tin cần thiết cho tác giả hoàn thành Luận văn này
Tác giả xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các đồng nghiệp đã cung cấp các tài liệu cần thiết cho tác giả hoàn thành luận văn
Tuy nhiên do thời gian có hạn, trình độ còn hạn chế, số liệu và công tác
xử lý số liệu với khối lượng lớn nên những thiếu xót của Luận văn là không thể tránh khỏi, do đó tác giả rất mong tiếp tục nhận được sự chỉ bảo giúp đỡ của các thầy cô giáo cũng như những ý kiến đóng góp của bạn bè và của đồng nghiệp
Cuối cùng tác giả xin chân thành cảm ơn tấm lòng của những người thân trong gia đình, bạn bè đã động viên giúp đỡ khích lệ tác giả trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này
Xin chân thành cảm ơn./
Hà Nội, tháng 3 năm 2012
Tác giả
Đào Kim Dung
Trang 3Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Tác giả xin cam đoan Đề tài luận văn được làm dựa trên cơ sở nghiên cứu, tổng hợp, hệ thống các kết quả nghiên cứu trên thế giới và trong nước để đưa một số đề xuất
về giải pháp, tác giả không sao chép bất kỳ một luận văn thạc sĩ nào trước đó
Xin trân trọng cảm ơn!
Học viên
Đào Kim Dung
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 4
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu biến đổi khí hậu trên thế giới 4
1.2 Tình hình nghiên cứu biến đổi khí hậu trong nước 8
1.2.1 Khái quát chung 8
1.2.2 Một số công trình khoa học đã nghiên cứu có liên quan đến tiêu nước và biến đổi khí hậu ở Việt Nam 12
1.2.3 Nhận xét và đánh giá chung về các công trình khoa học đã công bố có liên quan đến biến đổi khí hậu ở Việt Nam 16
CHƯƠNG 2 NHỮNG ẢNH HƯỞNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG THUỶ LỢI BẮC HƯNG HẢI 18
2.1 Giới thiệu chung về hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải 18
2.1.1 Vị trí địa lý 18
2.1.2 Đặc điểm địa hình 18
2.1.3 Đặc điểm khí tượng thuỷ văn 18
2.1.4 Hiện trạng kinh tế xã hội 20
2.1.5 Hiện trạng phát triển nông nghiệp 21
2.2 Hiện trạng hệ thống thuỷ lợi Bắc Hưng Hải 22
2.2.1 Hiện trạng hệ thống công trình thuỷ lợi 22
2.2.2 Hiện trạng các tuyến đê, bờ kênh nội đồng 26
2.2.3 Hiện trạng các tuyến sông trục trong hệ thống 29
2.2.4 Hiện trạng các công trình điều tiết chính trên kênh chính 31
2.2.5 Tình hình quản lý vận hành hệ thống thủy lợi 34
2.2.6 Những khó khăn thách thức 37
2.3 Những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến hoạt động của hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải 38
2.3.1 Sự thay đổi khí hậu 38
Trang 52.3.2 Sự thay đổi chế độ thuỷ văn 40
CHƯƠNG 3 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN VÙNG BẮC HƯNG HẢI TRONG ĐIỀU KIỆN BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 45
3.1 Định hướng phát triển kinh tế 45
3.1.1 Về nông nghiệp 45
3.1.2 Về thuỷ sản 47
3.1.3 Các ngành khác 49
3.2 Mục tiêu phát triển thuỷ lợi 51
3.3 Nhiệm vụ phát triển thuỷ lợi 52
CHƯƠNG 4 NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP CÔNG TRÌNH VÀ PHI CÔNG TRÌNH 53
4.1 Các giải pháp công trình 53
4.1.1 Giải pháp lấy nước công trình đầu mối 53
4.1.2 Giải pháp đối với các tiểu vùng và hệ thống kênh trục dẫn nước tưới tiêu, cống thoát nước ven sông 54
4.1.3 Giải pháp đối với tiêu úng qua cống Cầu Xe và An Thổ 67
4.2 Các giải pháp phi công trình 67
4.2.1 Giải pháp quy hoạch sử dụng đất và cơ cấu cây trồng trong hệ thống 67
4.2.2 Giải pháp sửa đổi, bổ sung quy trình vận hành lấy nước vùng triều qua cống Cầu Xe và An Thổ 71
4.2.3 Giải pháp sửa đổi, bổ sung quy trình vận hành hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải 72
4.2.4 Giải pháp đổi mới hoạt động của Hội đồng quản lý hệ thống thuỷ lợi Bắc Hưng Hải 75
4.2.5 Giải pháp tăng cường tham gia của cộng đồng đến quản lý vận hành hệ thống (PIM) 76
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
Trang 6MỞ ĐẦU
1 T ính cấp thiết của đề tài
Biến đổi khí hậu là những thay đổi theo thời gian của khí hậu, trong đó bao gồm cả những biến đổi tự nhiên và những biến đổi do các hoạt động của con người gây ra Dự báo đến năm 2100 mực nước biển trung bình có thể cao thêm từ 9 ÷ 88
cm, mà nguyên nhân chủ yếu là do lớp nước mặt giãn nở thể tích do nóng lên và sự tan băng ở các cực trái đất, lượng mưa toàn cầu cũng tăng lên
Việt Nam được xem xét như là một trong số những nước chịu ảnh hưởng nặng
nề nhất do biến đổi khí hậu toàn cầu Khu vực nông thôn, sản xuất nông nghiệp và người nông dân là những đối tượng chịu tác động trực tiếp nhất, gặp nhiều khó khăn lớn Quốc gia cần có chiến lược toàn diện, giải pháp cụ thể để thích ứng, giảm thiểu, khắc phục tác động của biến đổi khí hậu để duy trì sự phát triển bền vững
Biến đổi khí hậu làm cho lượng mưa tăng lên trong mùa lũ, nhưng giảm xuống trong mùa khô dẫn đến cho nhu cầu tưới tiêu cao hơn trước Biến đổi khí hậu làm cho mực nước biển dâng, gây ngập lụt, làm mất đất ở vùng ven biển, đồng thời đe doạ an toàn của các công trình, trong đó có các tuyến đê biển, đê sông Hiện tượng thời tiết cực đoan sẽ đè nặng lên công tác phòng chống và giảm nhẹ thiên tai Mưa lớn làm tăng lưu tốc dòng chảy dẫn đến xói mòn đất, nhiều bùn cát chuyển đến lòng
hồ chứa làm giảm dung tích hữu ích, khả năng cung cấp nước giảm đi
Đối với công tác thuỷ lợi, biến đổi khí hậu toàn cầu sẽ tác động đến toàn bộ các nội dung từ cấp nước, phòng chống và khắc phục hậu quả lũ lụt, phòng chống úng ngập và tiêu thoát nước, phòng chống cạn kiệt, ô nhiễm và suy thoái nguồn nước, phòng chống sạt lở bờ sông và chỉnh trị sông Để thích ứng và hỗ trợ cho phát triển nông nghiệp, nông thôn, nông dân trong điều kiện biến đổi khí hậu công tác thuỷ lợi cần có những giải pháp, hành động phù hợp, hiệu quả, vừa đáp ứng những yêu cầu trước mắt vừa thích ứng với những đòi hỏi lâu dài trong điều kiện thực tế của đất nước
Vùng đồng bằng sông Hồng sẽ chịu ảnh hưởng rất nặng của biến đổi khí hậu, trực tiếp là ảnh hưởng của nước biển dâng, ngập lụt, xâm nhập mặn Theo kết quả nghiên cứu của một số đề tài, mặc dù trong mùa kiệt đã được điều tiết nguồn nước
từ hồ thuỷ điện Hoà Bình, Thác Bà, Tuyên Quang bổ sung nước cho hạ du nhưng
Trang 7tình trạng xâm nhập mặn vẫn vào sâu nội địa, ranh giới mặn 4‰ lên đến 25 ÷ 40
km Nước biển dâng sẽ ảnh hưởng tới các công trình tiêu thoát nước, phòng chống
lũ và an toàn hệ thống công trình thuỷ lợi Trong trường hợp vào giai đoạn triều cường, nước biển dâng cao đúng vào thời gian xuất hiện mưa to tăng thêm 25% so với mức bình thường, thì diện tích úng của đồng bằng Bắc bộ sẽ là 550.000 ha ứng với kịch bản nước biển dâng cao thêm 70 cm và 650.000 ha ứng với kịch bản nước biển dâng cao thêm 100 cm
Hệ thống thuỷ lợi Bắc Hưng Hải nằm trong vùng đồng bằng sông Hồng nên cũng phải gánh chịu nhiều tác động của biến đổi khí hậu, trong đó chủ yếu là nước biển dâng và tổ hợp nước biển dâng - lũ sông cao - mưa lớn nội đồng Một số ảnh hưởng chính của biến đổi khí hậu đối với Hệ thống thuỷ lợi Bắc Hưng Hải như sau:
- Nước biển dâng lên làm thay đổi chế độ dòng chảy ven bờ gây xói lở và làm cho khả năng tiêu thoát nước ra sông, ra biển giảm dẫn đến mực nước các sông trong hệ thống, kênh trục trong nội đồng dâng lên, nếu trùng hợp vào đúng lúc hệ thống cần tiêu úng, nước từ đầu hệ thống dồn xuống sẽ làm cho mực nước lên rất cao, uy hiếp sự an toàn của các công trình tiêu, nhất là cống tiêu lớn như Cầu Xe và
An Thổ , đồng thời những cống tiêu tự chảy ra sông, kênh nội đồng sẽ khó khăn dẫn đến diện tích úng ngập tăng lên và thời gian tiêu kéo dài hơn
- Nước biển dâng làm cho mặn xâm nhập sâu vào nội địa, các cống sẽ không lấy được nhiều nước ngọt vào ruộng, đặc biệt là việc lấy nước ngọt ngược từ sông vào đồng qua các cống Cầu Xe và An Thổ, Cầu Cất sẽ bị hạn chế Trong trường hợp này nhiều công trình sẽ hoạt động khác với thiết kế, năng lực phục vụ sẽ giảm xuống Không đủ nước ngọt, hạn hán sẽ tăng lên và mức độ ngày càng trở lên căng thẳng
2 Mục tiêu của đề tài
Tìm hiểu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến sự hoạt động của các công trình thủy lợi vùng triều ở hệ thống thuỷ lợi Bắc Hưng Hải, từ đó đề xuất các giải pháp
nhằm thích ứng với ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến hệ thống này
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là Hệ thống thuỷ lợi Bắc Hưng Hải
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài là các vấn đề liên quan đến sự làm việc của các
Trang 8công trình tưới tiêu của hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải trong bối cảnh có sự biến động nguồn nước do biến đổi khí hậu
4 Nội dung nghiên cứu
- Tìm hiểu các kết quả nghiên cứu khoa học liên quan đến biến đổi khí hậu và ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến các hoạt động kinh tế - xã hội của Việt Nam, trong đó có vùng thuộc hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải
- Nghiên cứu, phân tích và đánh giá hiện trạng hệ thống thuỷ lợi Bắc Hưng Hải
- Đề xuất một số giải pháp công trình và phi công trình cần được áp dụng để đảm bảo cho hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải hoạt động nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài của Luận văn, cần sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp kế thừa: Nghiên cứu các kết quả có liên quan đến đề tài nhằm làm rõ các nội dung và vấn đề cần nghiên cứu
- Phương pháp điều tra: Thu thập, thống kê số liệu có liên quan
- Phương pháp phân tích: Phân tích các số liệu để xác định các đại lượng, các giải pháp cần thiết
Trang 9
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu biến đổi khí hậu trên thế giới
Các công trình nghiên cứu quy mô toàn cầu về hiện tượng biến đổi khí hậu đã được các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới tiến hành từ đầu thập kỷ 90 của thế kỷ trước Hội nghị quốc tế do Liên hiệp quốc triệu tập tại Rio de Janeiro năm 1992 đã thông qua Hiệp định khung và Chương trình hành động quốc tế nhằm cứu vãn tình trạng “xấu đi” nhanh chóng của bầu khí quyển trái đất Từ đó Tổ chức liên Chính phủ về biến đổi khí hậu của Liên hiệp quốc (IPCC) đã được thành lập, thu hút sự tham gia của hàng ngàn nhà khoa học quốc tế Tại Hội nghị Kyoto năm 1997, Nghị định thư Kyoto đã được thông qua vào đầu tháng 2/2005 đã được nguyên thủ 165 quốc gia trong đó có Việt Nam phê chuẩn Nghị định thư này bắt đầu có hiệu lực từ 10/2/2005
Theo kết quả nghiên cứu mới nhất của IPCC trình lên Hội đồng bảo an Liên hợp quốc, nguyên nhân của hiện tượng biến đổi khí hậu do con người gây ra chiếm 90%, do tự nhiên gây ra chiếm 10 % Cũng theo báo cáo của IPCC, trong vòng 85 năm (từ 1920 đến 2005) nhiệt độ trung bình trên bề mặt trái đất đã ấm lên gần 1°C
và tăng rất nhanh trong khoảng 25 năm nay (từ 1980 đến 2005) và đưa ra dự báo: đến cuối thế kỷ XXI, nhiệt độ bề mặt Trái đất sẽ tăng thêm từ 1,4 oC đến 4 °C, mực nước biển sẽ dâng thêm khoảng 28 cm đến 43 cm, tối đa có thể lên tới 81cm Nhiều nhà khoa học còn đưa ra những dự báo mực nước biển đang dâng nhanh hơn nhiều, nhất là do hiện tượng tan băng đang xảy ra với tốc độ đáng kinh ngạc trong thời gian gần đây Các nhà khoa học Anh dự báo mực nước biển cuối thế kỷ XXI có thể tăng thêm 163 cm - tức là gấp đôi số liệu dự báo của IPCC Trong thế kỷ XXI, nhiệt
độ thế giới có thể tăng thêm 5 oC, tương đương với sự thay đổi nhiệt độ từ thời kỳ băng hà, thời kỳ phần lớn châu Âu và Bắc Mỹ còn nằm dưới lớp băng dầy 1 km Trong khi đó, ngưỡng biến đổi khí hậu nguy hiểm là tăng thêm 2 o
C
Sự nóng lên của trái đất làm cho băng tuyết của các dãy Himalaya, vùng Nam Cực, Bắc Cực và các khu vực có băng tuyết khác tan chảy Ví dụ ở Nam Cực, tháng 3/2002, các nhà khoa học tận mắt chứng kiến khối băng 500 tỷ tấn tan rã thành hàng nghìn mảnh; ở Bắc Cực, mùa hè 2002, lượng băng tan ở Greenland cao gấp đôi so
Trang 10với 1992, diện tích băng tan đã lên tới 655.000 m2 Hơn 110 sông băng và những cánh đồng băng vĩnh cửu ở bang Montana đã biến mất trong vòng 100 năm qua Nếu độ tan chảy duy trì như hiện nay thì các sông băng sẽ hầu như biến mất khỏi dãy Alpes vào năm 2050 Mùa hè 2002, các nhà khoa học ghi nhận một khối băng 3,5 triệu tấn tách ra, gây ra lũ băng từ dãy núi Mali trên đỉnh Kavkaz thuộc Nga Trong vòng 13 năm gần đây, số băng tan ở châu Âu tăng gấp đôi so với lượng băng tan của 30 năm trước (1961-1990) Các số liệu quan trắc mực nước biển thế giới cho thấy trong khoảng thời gian 40 năm (1962−2003), mực nước biển đã tăng thêm 7,2 cm (trung bình mỗi năm tăng 1,8 mm)
Trước nguy cơ này các nhà khoa học thế giới đã mô phỏng tính toán 6 kịch bản
dự báo tăng nhiệt độ và mực nước biển Theo kịch bản số 4, nếu hàm lượng phát thải khí nhà kính năm 2100 bằng 850 ppm thì nhiệt độ trung bình toàn cầu của bề mặt trái đất sẽ tăng 2,8 oC so với năm 2000 và mực nước biển sẽ dâng từ 0,21 cm đến 0,48 m, gây một thảm hoạ không lường trước cho nhân loại, đó là chưa kể từ nay đến lúc đó biến đổi khí hậu sẽ tạo ra bão lụt, hạn hán, sụt lở đất, nhiễm mặn, bệnh tật… cho bao nhiêu cư dân trên hành tinh ở các vùng đất thấp, mà trước hết đối tượng dễ bị tổn thương nhất là các nước kém phát triển và người nghèo là đại bộ phận của nhân loại
Cả thế giới hiện có hơn một nửa trong số 7 tỷ người đang sống ở vùng duyên hải với phạm vi chiều rộng 100 km thuộc vùng ven bờ biển Báo cáo phát triển con người 2007/2008 của UNDP cảnh báo rằng nếu nhiệt độ tăng lên từ 3 0C đến 4 0C, các quốc đảo nhỏ và các nước đang phát triển sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng Khi mực nước biển dâng lên khoảng 1,0 m, Việt Nam sẽ có khoảng 22 triệu người bị mất nhà cửa; vùng trũng Ai Cập có khoảng 6 triệu người mất nhà cửa và 4.500 km2đất ngập lụt; ở Bangladesh có khoảng 18 % diện tích đất ngập úng, tác động tới 70 triệu dân Trong báo cáo cũng cho rằng không chỉ những nước đang phát triển ảnh hưởng mà những nước đã phát triển cũng không tránh khỏi thảm họa biến đổi khí hậu Trước mắt, băng tan sẽ đe dọa hơn 40 % dân số toàn thế giới Mặt khác, biến đổi khí hậu sẽ làm cho năng suất nông nghiệp giảm, thời tiết cực đoan tăng, thiếu nước ngọt trầm trọng trên toàn thế giới, hệ sinh thái tan vỡ và bệnh tật gia tăng Những nước như Việt Nam, Bangladesh, Myanmar, Ai Cập sẽ bị ảnh hưởng nhiều nhất Nguy cơ bão lụt, thiên tai sẽ làm cho những nước này rất khó khăn để phát triển kinh tế, đẩy lùi đói nghèo
Trang 11Theo Báo cáo của IPCC, danh sách 10 thành phố bị đe doạ nhiều nhất bởi biến đổi khí hậu bao gồm Calcutta và Bombay của Ấn Độ, Dacca của Bangladesh, Thượng Hải, Quảng Châu của Trung Quốc, TP.Hồ Chí Minh của Việt Nam, Bangkok của Thái Lan và Yangon của Myanmar Các nhà khoa học thế giới cũng
dự báo thủ đô Băng Cốc (Thái Lan) trong vòng 20 năm nữa sẽ bị ngập và hiện Thái Lan không đủ thời gian để chuyển thủ đô sang nơi khác
Tại hội thảo “Biến đổi khí hậu và phát triển con người” do Viện Khoa học Khí tượng thủy văn và môi trường, Cục Bảo vệ môi trường, Viện Chiến lược Chính sách tài nguyên và môi trường phối hợp tổ chức ngày 5/12/2008 tại TP Hồ Chí Minh, ông John Hendra, điều phối viên thường trú của Liên hiệp quốc tại Việt Nam cho biết: nếu nhiệt độ trung bình của trái đất tăng lên từ 2 0C đến 3 0C so với mức hiện nay sẽ có thêm 600 triệu người ở châu Phi bị đói, hơn 300 triệu người phải rời bỏ nhà cửa do bão lũ và có thêm 400 triệu người bị bệnh truyền nhiễm như sốt rét, viêm màng não, sốt xuất huyết, 185 triệu người chết
Trước nguy cơ nói trên, Liên hợp quốc đã kêu gọi tất cả các quốc gia trên thế giới đồng tâm nhất trí để giải quyết vấn đề này Theo các nhà khoa học, các giải pháp hạn chế tình trạng biến đổi khí hậu toàn cầu cần đi theo hai hướng sau: thứ nhất là làm giảm tác động của biến đổi khí hậu và thứ hai là thích ứng với biến đổi khí hậu
Nhật Bản là quốc gia có hệ thống công trình phòng chống thiên tai kiên cố nhất thế giới nhưng với tốc độ mực nước biển dâng trung bình 4mm đến 8mm/năm, cùng với gia tăng về tần suất xuất hiện và cường độ ác liệt của các trận bão thì nguy cơ làm gián đoạn các hoạt động sản xuất sẽ rất cao
Nước Anh với hệ thống công trình chống lũ có khả năng chống lũ 100 năm và
lũ 200 năm nhưng với diễn biến của biến đổi khí hậu và nước biển dâng thì hệ thống này không có khả năng kiểm soát Kết quả tính toán dự báo cho biết số hộ có nguy cơ bị lũ đe dọa tăng từ 2 triệu hộ hiện nay lên 3,5 triệu hộ với các kịch bản biến đổi khí hậu nếu hệ thống công trình không được củng cố
Ở Bangladesh, Chính phủ có chương trình đầu tư 6,5 triệu USD để đối phó với các vùng đất ven biển ngày càng bị nhiễm mặn Chính phủ cũng đề xuất dự án nâng
cao 800 km đường bộ lên từ 0,5 m đến 1,0 m so với mức hiện tại để tránh bị ngập
do nước biển dâng với chi phí đầu tư khoảng 128 tỉ USD
Trang 12Biến đổi khí hậu toàn cầu đã và đang tác động trực tiếp đến đời sống của người dân ở mọi nơi trên thế giới Để đối phó và thích ứng với tác động của biến đổi khí hậu, người dân đã tìm ra nhiều giải pháp phù hợp với điều kiện tự nhiên và môi trường sống của họ Dưới đây là một số ví dụ điển hình:
- Để đối phó với tình trạng hạn hán triền miên, nông dân ở Ecuado đào các ô
chứa nước hình chữ U trên sườn dốc để chặn, chứa nguồn nước trong mùa mưa giúp tăng cường lượng nước bổ sung xuống tầng nước ngầm đề từ đó lại khai thác nước ngầm sử dụng trong mùa khô còn người dân ở Ấn Độ lại tăng cường đầu tư các hình thức trữ nước, thu góp nước quy mô nhỏ để trữ nước mưa
- Để đối phó với tình trạng úng ngập, người dân ở Tây Bengal (Ấn Độ) thường phải làm những hệ thống cột chống rất cao để có chỗ lánh nạn khi lũ lụt kéo đến Ở Bangladesh nông dân làm những ngôi nhà nổi có thể tự nâng lên khi mực nước lũ dâng cao Còn ở Nepal các cộng đồng dân cư xây dựng các tháp canh cảnh báo lũ sớm, đóng góp nhân công và nguyên vật liệu để gia cố các bờ kè không cho các hồ băng bị vỡ do tan băng
Trong các nghiên cứu của IPCC, UNDP về các kịch bản biến đổi khí hậu thì hệ thống các mô hình toán khí động học khí quyển, mô hình thủy động lực học cho các đại dương được xây dựng và sử dụng để đánh giá định lượng tác động của biến đổi khí hậu đến khí hậu toàn cầu, mực nước các đại dương trên thế giới Với từng vùng lãnh thổ, từng quốc gia trên cơ sở các kịch bản biến đổi khí hậu toàn cầu sẽ có các nghiên cứu chi tiết đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến từng yếu tố khí tượng (nhiệt độ, mưa, độ ẩm, bốc hơi…), điều kiện thủy văn, hải văn (dòng chảy trong sông, dao động triều, biến đổi mực nước biển) Mô hình toán được sử dụng trong trường hợp này thường là mô hình thủy động lực học HEC (Mỹ), SOBEK (Hà Lan), MIKE (Đan Mạch), ISIS (Anh) Một số nghiên cứu tác động của biến đổi khí hậu đến tăng giảm nhu cầu sử dụng nước, ví dụ như nghiên cứu ứng dụng mô hình toán CROPWAT tính toán thay đổi trong tổng lượng nhu cầu nước cho cây trồng, cũng như thay đổi mùa vụ, các giai đoạn phát triển của cây trồng do nhiệt độ không khí
ấm lên
Nghiên cứu gần đây được Hiệp hội các trường đại học công bố tại Trường đại học Copenhagen tháng 3/2009 cho thấy nhiều khả năng tác động của biến đổi khí
Trang 13hậu trong thế kỷ XXI sẽ trầm trọng hơn những con số dự báo của IPCC đã công bố năm 2007
1.2 T ình hình nghiên cứu biến đổi khí hậu trong nước
1.2.1 Khái quát chung
Việt Nam là một trong 5 quốc gia trên thế giới bị tác động nhiều nhất của hiện tượng biến đổi khí hậu mà cụ thể là hiện tượng nước biển dâng cao - hậu quả tăng nhiệt độ làm bề mặt trái đất nóng lên do phát thải khí nhà kính Ông Bernard O’Callaghan là Điều phối viên chương trình của Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên thế
giới đã đưa ra bản báo cáo có nhan đề “Cuộc chiến chống lại biến đổi khí hậu:
Đoàn kết nhân loại trong một thế giới phân cách” cho biết: Nếu mực nước biển
dâng cao như dự báo vào năm 2030 thì vùng đồng bằng sông Cửu Long sẽ có khoảng 45% diện tích đất bị nhiễm mặn quá mức cho phép, năng suất lúa sẽ giảm 9% Nếu mực nước biển dâng cao 1 m, phần lớn đồng bằng sông Cửu Long sẽ hoàn toàn ngập trắng nhiều thời gian dài trong năm”
Theo nghiên cứu của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), thành phố
Hồ Chí Minh nằm trong danh sách 10 thành phố bị đe doạ nhiều nhất bởi biến đổi khí hậu (gồm Calcutta và Bombay của Ấn Độ, Dacca của Bangladesh, Thượng Hải, Quảng Châu của Trung Quốc, thành phố Hồ Chí Minh của Việt Nam, Bangkok của Thái Lan, Yangon của Myanmar)
Theo bản báo cáo về phát triển con người 2007−2008 của UNDP, nếu nhiệt độ trên trái đất tăng thêm 2 oC, thì có khoảng 22 triệu người ở Việt Nam sẽ mất nhà cửa và 45 % diện tích đất nông nghiệp ở vùng đồng bằng sông Cửu Long sẽ ngập chìm trong nước biển
Theo cảnh báo của IPCC, đến năm 2100, nếu mực nước biển dâng cao thêm 1 mét sẽ ảnh hưởng đến 5 % đất đai, 10 % dân số, tác động đến 7 % sản xuất nông nghiệp, làm giảm 10 % GDP của Việt Nam, riêng sản xuất kinh tế biển sẽ suy giảm
ít nhất 1/3 so với hiện nay (nguồn UNDP)
Còn theo nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới (WB), nếu nước biển dâng cao 1m, có tới 27 % sinh cảnh tự nhiên quan trọng, 33 % khu bảo tồn, 23 % khu vực có
sự đa dạng sinh học chính của Việt Nam bị tác động
Trang 14Tại hội thảo “Đánh giá nhu cầu nâng cao năng lực về biến đổi khí hậu cho các
tổ chức phi chính phủ”, các đại biểu xác nhận, nếu nước biển dâng cao 30 cm thì
đồng bằng sông Cửu Long sẽ có thể bị nhiễm mặn thêm 10 km, nguy cơ mặn hóa ở đồng bằng sông Cửu Long làm giảm 9 % năng suất cây trồng vật nuôi vào năm
2030 Theo đánh giá của ông Vũ Thái Trường thuộc Tổ chức CARE quốc tế tại Việt Nam, mỗi thập kỷ mực nước biển có thể dâng 5cm, đến năm 2070 có thể dâng 69
cm, năm 2100 nước biển có thể sẽ dâng tới khoảng 1 mét Nếu nước biển dâng cao theo dự báo như vậy sẽ ảnh hưởng đến 12 % diện tích và 10,8 % dân số khiến 22 triệu người mất nhà cửa và làm giảm 10 % GDP Nếu nước biển dâng cao thêm 1 mét thì Đồng bằng sông Hồng sẽ bị ngập khoảng 5.000 km2
, đồng bằng sông Cửu Long sẽ bị ngập 20.000 km2 dẫn đến mất đất và giảm sản lượng nông nghiệp Nước biển dâng cao 1 mét có thể sẽ làm giảm sản lượng lương thực tới 12 % (5 triệu tấn) tại đồng bằng sông Hồng Nếu nhiệt độ tăng thêm 1 oC có thể làm giảm 5 % đến 20
% sản lượng ngô và 10 % sản lượng lúa gạo Khi năng suất sản lượng vật nuôi giảm thì tình hình dịch bệnh cũng gia tăng, đa dạng sinh học trong lâm nghiệp cũng bị tác động mạnh mẽ
Tại Hội thảo khoa học biến đổi khí hậu toàn cầu và giải pháp ứng phó của Việt Nam tổ chức tại Hà Nội từ ngày 26 đến 29/02/2008, nhiều nhà khoa học trong nước
và quốc đều có chung nhận định: nếu mực nước biển dâng lên 1m sẽ làm cho 1/5 diện tích lãnh thổ bị ngập chìm trong nước, khoảng 22 triệu người dân sẽ bị mất nhà cửa và đất đai canh tác Riêng vùng đồng bằng sông Cửu Long, khi mực nước biển dâng cao từ 0,2 m đến 0,6 m sẽ có 1.708 km2 đất bị ngập ảnh hưởng tới hàng chục triệu người sinh sống Dưới đây là tóm lược một số nhận định và kết quả nghiên cứu của một số nhà khoa học trong nước đã trình bày tại Hội thảo:
PGS TS.Trần Thục - Viện trưởng Viện Khoa học khí tượng thủy văn và môi trường cho biết: “Chỉ cần nước biển dâng lên một mét chúng ta sẽ mất đi một diện tích đất khoảng 15.000 km2 ÷ 20.000 km2 tại Đồng bằng sông Cửu Long”
Nhà khoa học Nguyễn Khắc Hiếu đã trình bày tóm tắt một số phác thảo kịch bản biến đổi khí hậu ở Việt Nam được trình bày trong các bảng 1.1, 1.2 và 1.3
Trang 15Bảng 1.1 Thông báo Quốc gia về biến đổi khí hậu ở Việt Nam (so với năm 1990)
Năm Nhiệt độ tăng thêm ( 0
C) Mực nước biển tăng thêm (cm)
Bảng 1.2: Kịch bản biến đổi khí hậu các vùng của Việt Nam
(nhiệt độ tăng thêm 0 C so với năm 1990)
Năm Tây Bắc Đông Bắc Đồng bằng B ắc Bộ Trung Bộ Bắc Trung Bộ Nam Tây
Xu thế chung của biến đổi khí hậu ở Việt Nam theo Nguyễn Khắc Hiếu: 1) Nhiệt độ
ở các vùng phía Bắc tăng nhanh hơn các vùng phía Nam; 2) Nhiệt độ ở các vùng ven biển tăng chậm hơn các vùng sâu hơn trong lục địa; 3) Đến cuối thế kỷ XXI
Trang 16nhiệt độ trung bình của nước ta có thể tăng thêm từ 4,0 oC đến 4,5 0C theo kịch bản cao nhất và từ 2,0 oC đến 2,2 0C theo kịch bản thấp nhất
Cũng tại Hội thảo khoa học nói trên, nguyên Chủ tịch nước Trần Đức Lương đã đến dự và đưa ra một số định hướng sau đây về những công việc cần phải làm để đối phó và thích ứng với tình trạng biến đổi khí hậu:
- Tổng kết, rút ra các kinh nghiệm thành công và chưa thành công của cha ông
ta trong nhiều thế kỷ qua, được đẩy mạnh trong thời cận hiện đại trong việc ứng phó với các loại “thiên tai” thường xuyên xảy ra ở các vùng đồng bằng thấp, vùng ven biển;
- Xây dựng mạng lưới kênh mương rộng lớn phục vụ việc tưới và tiêu nước cho đồng bằng;
- Gia cố hệ thống đê điều;
- Xây dựng các công trình hồ thủy điện - thủy lợi điều tiết ở thượng nguồn;
- Từng bước xây dựng tuyến đê biển từ Bắc vào Nam kết hợp xây dựng các cống điều tiết thoát lũ và ngăn mặn ở các cửa sông;
- Xây dựng các công trình kè bờ chống sạt lở sông và biển;
- Nạo vét cửa sông, luồng vào cảng;
- Bơm thoát nước cưỡng bức đối với nạn úng, ngập sâu và ô nhiễm nặng tại các vùng đất thấp ở đồng bằng và ven biển
- Những công trình có quy mô lớn, xây dựng bền vững lâu dài như hệ thống công trình “chung sống với lũ” ở đồng bằng Cửu Long, tuyến đê biển Bắc - Nam cần được hoạch định có căn cứ khoa học về tuyến, về nền móng, để những công việc được thực hiện ngày nay còn được tiếp nối thuận lợi cho nhiều thế hệ mai sau Ngày 9/9/2009 Bộ Tài nguyên và môi trường đã chính thức công bố ba kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng cho Việt Nam trong thế kỷ XXI theo các trường hợp phát thải trung bình, thấp và cao Theo đó, nếu khí nhà kính của thế giới thải ít, ý thức bảo vệ môi trường của con người tốt thì thực tế có thể diễn ra theo kịch bản phát thải thấp Khi đó, nhiệt độ của năm 2100 chỉ tăng từ 1,4 oC đến 1,7 oC tùy theo từng vùng Tuy nhiên, nếu dân số tăng nhanh, nếu các nước tiếp tục gia tăng sự phát thải thì kịch bản phát thải cao rất có thể sẽ trở thành hiện thực Khi đó,
Trang 17nhiệt độ có thể tăng từ 2,1 oC cho đến 3,6 oC, tức là mức tăng gấp đôi kịch bản phát thải thấp
Kịch bản nước biển dâng cũng đã được xây dựng theo các kịch bản phát thải thấp - trung bình - cao Theo đó, vào giữa thế kỷ XXI, mực nước biển có thể dâng thêm lần lượt là 28 cm – 30 cm – 33 cm và đến cuối thế kỷ XXI, mực nước biển dâng thêm từ 65 cm − 75 cm − 100 cm so với thời kỳ 1980−1999
Theo kịch bản trung bình, vào cuối thế kỷ XXI nhiệt độ trung bình năm có thể tăng lên 2,6 oC ở Tây Bắc, 2,5 oC ở Đông Bắc, 2,4 oC ở đồng bằng Bắc Bộ, 2,8 oC ở Bắc Trung Bộ, 1,9 oC ở Nam Trung Bộ, 1,6 oC ở Tây Nguyên và 2,0 oC ở Nam Bộ
so với trung bình thời kỳ 1980−1999 Nhiệt độ ở các vùng khí hậu phía Bắc và Bắc Trung Bộ sẽ tăng nhanh hơn so với nhiệt độ ở các vùng khí hậu phía Nam Tại mỗi vùng, nhiệt độ mùa đông sẽ tăng nhanh hơn nhiệt độ mùa hè Tổng lượng mưa năm
và lượng mưa mùa mưa ở tất cả các vùng của nước ta đều tăng, trong khi đó lượng mưa mùa khô có xu hướng giảm Theo tính toán, nếu kịch bản trung bình xảy ra, vào giữa thế kỷ XXI mực nước biển có thể dâng thêm khoảng 30 cm và đến cuối thế kỷ này, mực nước biển có thể dâng thêm khoảng 75 cm so với thời kỳ
1980−1999 Kịch bản cũng cho biết tại Thành phố Hồ Chí Minh nếu nước biển dâng thêm 65 cm thì phạm vi ngập là 128 km2 chiếm 6 % diện tích; dâng 75 cm ngập 204 km2 chiếm 10 % và nếu dâng 100 cm thì diện tích ngập lên tới 473 km2
, chiếm 23 % diện tích thành phố Tại đồng bằng sông Cửu Long nếu nước biển dâng
65 cm thì diện tích ngập là 5.133 km2, chiếm 12,8 %; nếu dâng 75 cm, ngập 7.580
km2, chiếm 19%; dâng 100 cm thì diện tích ngập là 15.116 km2, chiếm 37,8 % diện tích vùng đồng bằng
1.2.2 Một số công trình khoa học đã nghiên cứu có liên quan đến tiêu nước và biến đổi khí hậu ở Việt Nam
1) Nghiên cứu biến đổi khí hậu Châu Á: Báo cáo của Việt Nam (ADB, 1994) do
Viện Quy hoạch thủy lợi chủ trì thực hiện, được tài trợ từ Ngân hàng phát triển Châu Á Tham gia cùng thực hiện nghiên cứu còn có các chuyên gia nghiên cứu từ
10 cơ quan nghiên cứu của Việt Nam như Viện Khí tượng thủy văn, Trường Đại học Thủy lợi, Viện Khoa học Thủy lợi, Trường Đại học Tổng hợp Nghiên cứu cũng nhận được tư vấn trực tiếp từ IPCC và các chương trình của Liên hợp quốc như UNEP, UNDP, UN/ESCAP, UNCRD, WB Nghiên cứu chủ yếu tập trung vào
Trang 18hai lưu vực sông Hồng - Thái Bình và sông Cửu Long, gồm có 1) Tác động của biến đổi khí hậu đối với các điều kiện tự nhiên và xã hội ở Việt nam, 2) Các lựa chọn chính sách đối phó với biến đổi khí hậu, 3) Chiến lược ứng phó của quốc gia Tác động của biến đổi khí hậu được xem xét và đánh giá định lượng tương đối chi tiết, cụ thể cho nông nghiệp, tài nguyên nước, hệ sinh thái ngập mặn, lâm nghiệp, hệ thống năng lượng, sức khỏe cộng đồng và cơ sở hạ tầng Kết quả nghiên cứu đã đề xuất các chính sách đối phó với biến đổi khí hậu bao gồm các giải pháp:
1) Thích ứng; 2) Kiểm kê phát thải khí nhà kính từ các nguồn năng lượng, các hoạt động sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp, dịch vụ; 3) Giảm thải khí nhà kính trong các ngành công nghiệp năng lượng, xây dựng, giao thông vận tải, nông nghiệp, lâm nghiệp
2) Thông báo đầu tiên của Việt Nam cho công ước chung của Liên hợp quốc về
biến đổi khí hậu (Bộ Tài nguyên và môi trường, 2003) đã kiểm kê phát thải khí nhà
kính của Việt Nam năm 1994, đề xuất các phương án giảm thải khí nhà kính Một trong những nội dung chính của Thông báo là tính toán dự báo các tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu đến tài nguyên nước cho 7 vùng lãnh thổ Việt Nam dựa trên kết quả dự báo của CSIRO Kịch bản sử dụng trong Thông báo được phân thành hai nhóm: kịch bản về biến đổi nhiệt độ và kịch bản về biến đổi lượng mưa Liên quan đến lưu vực sông Hồng - Thái Bình có vùng Tây Bắc, Việt Bắc và vùng đồng bằng Bắc Bộ Thông báo cũng dự báo tác động của biến đổi khí hậu đến các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, năng lượng, giao thông vận tải Thông báo cũng đề xuất xây dựng hệ thống quan trắc khí tượng thủy văn và tăng cường năng lực đội ngũ cán bộ nghiên cứu
3) Báo cáo sơ bộ đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến vùng hạ du và ven biển lưu vực sông Hồng - Thái Bình (Viện Quy hoạch thủy lợi, 2008) Kết quả
nghiên cứu đánh giá sơ bộ cho thấy biến đổi khí hậu sẽ tác động rất mạnh đến toàn
bộ hệ thống lưu vực sông Hồng - Thái Bình như sau: Đến năm 2020 với mực nước biển dâng thêm 17 cm cùng với tăng lượng mưa trên lưu vực dẫn đến hệ số tiêu trung bình toàn vùng đạt khoảng 18 l/s/ha, diện tích bị úng khoảng 300.000 ha phân
bổ ở khu vực đồng bằng ven biển Cũng với trường hợp mực nước biển dâng thêm
17 cm thì tác động làm dâng mực nước lũ chỉ thể hiện rõ ở khu vực gần cửa sông (trung bình 35 km tính từ cửa sông), hệ thống đê sông vẫn đảm bảo, riêng đê sông Trà Lý có mực nước lũ xấp xỉ cao trình đỉnh đê cần có biện pháp nâng cao trình và
Trang 19củng cố đê Báo cáo đã đánh giá tác động đến từng vấn đề cấp nước, tiêu thoát nước, phòng chống lũ cùng với đề xuất các giải pháp ứng phó, thích nghi Phạm vi ngập, mức độ ngập cũng được cung cấp qua các bản đồ
4) Quy hoạch sử dụng tổng hợp nguồn nước lưu vực sông Hồng - Thái Bình
(Viện Quy hoạch thủy lợi, 2007) Nội dung của quy hoạch này cũng đã sơ bộ đánh giá tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu đến vùng hạ lưu và vùng ven biển lưu vực sông Hồng - Thái Bình Tác động cụ thể đến các hoạt động cấp nước, tiêu thoát nước và phòng chống lũ đã được sơ bộ định lượng cùng với đề xuất và tính toán các giải pháp thích nghi Tuy vậy do hạn chế về thời gian cũng như điều kiện số liệu nên các tác động mới chỉ dừng ở mức đánh giá sơ bộ
5) Chiến lược phát triển thuỷ lợi đến năm 2020 (Viện Quy hoạch thủy lợi,
2005) cũng đã xem xét đến tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu Tuy nhiên do điều kiện thời gian và kinh phí có hạn nên bản Chiến lược này chưa xem xét được toàn diện các yếu tố biến đổi khí hậu có ảnh hưởng tới phát triển thuỷ lợi, cũng như chưa tính toán được đầy đủ các giải pháp cần có để phòng chống các ảnh hưởng này
6) Nghiên cứu cơ sở khoa học và giải pháp công nghệ để phát triển bền vững lưu vực sông Hồng (Viện Quy hoạch thủy lợi, 2008) Mục tiêu và kết quả nghiên
cứu của đề tài này là tìm giải pháp phân bổ tối ưu nguồn nước lưu vực sông Hồng đến năm 2020 đảm bảo hiệu quả sử dụng nước và đáp ứng tốt điều kiện môi trường nguồn nước lưu vực sông Phương án vận hành điều tiết hệ thống công trình thủy lợi được xác định trên cơ sở tính toán tối ưu hiệu ích kinh tế các ngành sử dụng nước (các mục tiêu sử dụng nước như cấp nước cho trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, công nghiệp, sinh hoạt, phát điện…) Kết quả nghiên cứu đã xác định phương án chuyển nước từ dòng chính sông Hồng bổ sung nước làm giảm thiểu ô nhiễm nguồn nước cho lưu vực sông Nhuệ - Đáy (là lưu vực sông ô nhiễm rất trầm trọng hiện nay) Đề tài đã triển khai ứng dụng công nghệ GAMS để giải quyết bài toán tối ưu phi tuyến vận hành hệ thống công trình phân bổ nguồn nước cho các mục tiêu sử dụng nước trên lưu vực sông, mô hình toán sinh thái nguồn nước ECOLab mô phỏng hệ môi trường sinh thái, ô nhiễm kim loại nặng trong nguồn nước lưu vực sông GAMS và ECOLab là những công nghệ tiên tiến hiện nay trên thế giới, Viện Quy hoạch thủy lợi là tổ chức nghiên cứu đầu tiên ở Việt Nam tiếp nhận chuyển giao và triển khai đưa vào ứng dụng thành công ở Việt Nam)
Trang 207) Nghiên cứu xây dựng quy trình vận hành hệ thống liên hồ chứa Hòa Bình, Thác Bà, Tuyên Quang phục vụ cấp nước trong mùa cạn cho hạ du lưu vực sông
Hồng - Thái Bình (Viện Quy hoạch thủy lợi, 2007) Sản phẩm của quy trình là đảm
bảo vận hành hệ thống liên hồ chứa lớn Hòa Bình, Thác Bà, Tuyên Quang và hệ thống công trình khai thác nguồn nước vùng hạ du lưu vực sông Hồng - Thái Bình phục vụ cấp nước cho sinh hoạt, công nghiệp, nông nghiệp, thủy sản, giao thông thủy và yêu cầu môi trường chất lượng nước Nghiên cứu đã ứng dụng công nghệ GAMS giải quyết bài toán tối ưu phi tuyến vận hành hệ thống công trình phân bổ nguồn nước cho các mục tiêu sử dụng nước trên lưu vực sông Hồng - Thái Bình, đảm bảo mục tiêu cấp nước cho các ngành sử dụng nước đồng thời tối ưu lượng điện pháp trên toàn hệ thống liên hồ chứa đa mục tiêu
8) Quy hoạch thủy lợi vùng duyên hải ven biển Bắc Bộ và Bắc Trung bộ do
Viện Quy hoạch thủy lợi và Trường Đại học Thủy lợi thực hiện năm 2007 có sự phối hợp của Viện Kinh tế Quy hoạch Thủy sản Mục tiêu và sản phẩm chính là giải quyết vấn đề cấp nước, tiêu thoát nước, phòng chống lũ và giảm nhẹ thiên tai đáp ứng quá trình phát triển của vùng ven biển từ Quảng Ninh đến Thừa Thiên Huế Kết quả tính toán dự báo cho thấy đến năm 2020 hệ thống thủy nông Nam Thái Bình sẽ không đảm bảo cấp đủ nước cho 18.000 ha đất canh tác của huyện Tiền Hải còn ở huyện Thái Thụy thuộc hệ thống thủy lợi Bắc Thái Bình sẽ có gần 6.000 ha không
có công trình tiêu Tại tỉnh Ninh Bình, hệ thống đê sông đều có cao trình thấp, mặt
đê nhỏ, chưa đảm bảo yêu cầu chống lũ kết hợp triểu dâng, hệ thống đê biển Bình Minh có nhiều vị trí xung yếu chưa có kè bảo vệ, một số kè và cống đã có thì bị bị hỏng Phương án quy hoạch đề xuất giải pháp đảm bảo cấp đủ nước cho toàn vùng, đảm bảo tiêu thoát và yêu cầu phòng chống lũ bão đến năm 2020
9) Dự án Quy hoạch phòng chống lũ đồng bằng sông Hồng (Viện Quy hoạch
thủy lợi, 2000) Giải pháp phòng chống lũ đề xuất cho đồng đồng bằng sông Hồng
bao gồm: 1) Các phương án hồ chứa cắt lũ thượng nguồn, công trình vận hành chống lũ hạ du; 2) Xác định nhiệm vụ phòng chống lũ cho các hồ chứa lớn như Hòa Bình, Thác Bà, Tuyên Quang, Sơn La, Lai Châu; 3) Xác định hiệu quả các công trình khống chế dòng chảy lũ như cống sông Đào, âu Quần Liêu, các đập Đò Hàn, Sông Hóa cũng như các khu phân lũ chậm lũ lớn trên lưu vực sông Hồng - Thái Bình
Trang 2110) Đề tài khoa học cấp Bộ: Nghiên cứu đề xuất quy hoạch và giải pháp nâng cấp các hệ thống thủy lợi vùng ven biển Đồng bằng Sông Hồng nhằm thích ứng với
biến đổi khí hậu do Viện Quy hoạch thủy lợi chủ trì thực hiện từ năm 2009−2010
với kết quả đạt được như sau: 1) Đánh giá mức độ ảnh hưởng của nước biển dâng
do biến đổi khí hậu đến tiêu thoát nước vùng đồng bằng sông Hồng; 2) Đề xuất được quy hoạch và giải pháp nâng cấp các hệ thống thủy lợi vùng ven biển đồng bằng sông Hồng nhằm thích ứng với biến đổi khí hậu
11) Đề tài khoa học cấp Bộ: Nghiên cứu ảnh hưởng của công nghiệp hoá và đô
thị hoá đến hệ số tiêu vùng Đồng bằng Bắc Bộ do Trường Đại học Thủy lợi chủ trì
thực hiện từ năm 2008−2010 với kết quả đạt được như sau: 1) Xác định được mức
độ ảnh hưởng của công nghiệp hoá và đô thị hoá đến hệ số tiêu vùng đồng bằng Bắc Bộ; 2) Đề xuất được phương pháp tính toán hệ số tiêu có xét đến ảnh hưởng của công nghiệp hoá và đô thị hoá; giải pháp điều chỉnh quy hoạch tiêu và giải pháp công trình thủy lợi phù hợp với phát triển công nghiệp hoá, đô thị hoá vùng đồng bằng Bắc Bộ
12) Bộ Nông nghiệp và PTNT với sự hỗ trợ của Cơ quan Liên hợp quốc đã xây
dựng một chương trình đối phó với tình trạng lũ, ngập lụt ở đồng bằng sông Cửu Long bao gồm các khoản đầu tư để xây hệ thống thoát nước, hệ thống đê, kênh mương xung quang các khu dân cư cùng với việc phục hồi các khu rừng ngập mặn ven biển
1.2.3 Nhận xét và đánh giá chung về các công trình khoa học đã công bố có liên quan đến biến đổi khí hậu ở Việt Nam
Tương tự với tình hình chung của thế giới, hầu hết các công trình khoa học đã công bố rộng rãi ở Việt Nam mới chỉ tập trung vào dự báo các kịch bản biến đổi khí hậu toàn cầu và nước biển dâng Hầu hết các công trình đều sử dụng dự báo của IPCC, UNDP, WB có đề cập đến vùng Nam Á, Đông Nam Á và Việt Nam nhưng ở
mức độ sơ bộ trên phạm vi rộng Khái quát về các công trình khoa học công nghệ liên quan đến giải pháp hạn chế và thích ứng với biến đổi khí hậu toàn cầu đã công
bố ở nước ta trong thời gian qua cho thấy những vấn đề sau đây có liên quan đến đề tài này vẫn chưa được nghiên cứu giải quyết:
Trang 22- Chưa nghiên cứu chi tiết đến diễn biến điều kiện khí tượng thủy văn, đặc biệt
là diễn biến dòng chảy các lưu vực sông ở Việt Nam trong đó có lưu vực sông Hồng
- sông Thái Bình;
- Chưa nghiên cứu chi tiết đến diễn biến chế độ dòng chảy vùng cửa sông ven biển (chịu ảnh hưởng mạnh của thủy triều) cho các lưu vực sông ở Việt Nam trong
đó có lưu vực sông Hồng - sông Thái Bình;
- Chưa nghiên cứu chi tiết biến đổi khí hậu tác động cụ thể đến thay đổi nhu cầu tiêu thoát nước do tăng lượng mưa các trận mưa trong mùa mưa;
- Chưa có nghiên cứu, tính toán chi tiết thay đổi chế độ thủy động lực dòng chảy cho phạm vi vùng tác động đến hệ thống tiêu thoát nước, hệ thống công trình phòng chống thiên tai
Trang 23Hệ thống thuỷ lợi Bắc Hưng Hải phục vụ sản xuất nông nghiệp và dân sinh của
7 huyện thuộc tỉnh Hải Dương, 3 huyện thuộc Bắc Ninh, huyện Gia Lâm và quận
Long Biên của thành phố Hà Nội và toàn bộ tỉnh Hưng Yên Hệ thống được giới
hạn bởi các hệ thống sông: phía bắc là sông Đuống, phía Tây là sông Hồng, phía nam là sông Luộc và phía đông là sông Thái Bình
Diện tích tự nhiên toàn hệ thống là 214.932 ha, trong đó diện tích trong đê
là 192.045 ha, diện tích ngoài đê là 22.887 ha Diện tích đất nông nghiệp la 143.896
ha, diện tích đất canh tác là 125.435 ha
- Khu giữa của hệ thống, đất có cao trình từ +2,0 đến +2,5 m, là loại đất thịt
nặng, độ chua cao, mực nước ngầm thấp
2.1.3 Đặc điểm khí tượng thuỷ văn
Hệ thống thuỷ lợi Bắc Hưng Hải được bao bọc bởi 4 con sông lớn:
1 Sông Hồng
Sông chảy dọc theo phía tây hệ thống, đoạn qua hệ thống dài 59 km, lòng sông rộng khoảng 500 m ÷ 600 m Độ dốc mặt nước vào mùa lũ khoảng 1/5.000, mùa kiệt khoảng 1/50.000 Sông Hồng là nguồn cung cấp nước chủ yếu cho hệ thống
Trang 24Bắc Hưng Hải Theo tài liệu đo đạc của trạm quản lý cống Xuân Quan thì dao động mực nước mùa kiệt của sông Hồng thường từ 1,74 đến 2,48 m
Hình 2.1 Sơ đồ hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải
Lũ sông Hồng hàng năm thường xảy ra vào thời kỳ mưa lũ, mực nước trên sông lớn là nguyên nhân cơ bản gây cản trở việc tiêu úng của hệ thống Bắc Hưng Hải
2 Sông Đuống
Sông Đuống là phân lưu của sông Hồng, dài 67 km chảy theo hướng Tây Đông
và đổ vào sông Thái Bình ở Chí Linh Khi chảy qua huyện Gia Lâm sông Đuống phân ra một nhánh bên hữu là sông Lương Tài chảy qua các huyện Thuận Thành và Gia Lương rồi đổ ra sông Thái Bình Sông Đuống có độ dốc khá lớn, hàng năm về
Trang 25mùa lũ sông Đuống chuyển tải một lượng nước lớn từ sông Hồng sang sông Thái Bình, uy hiếp hệ thống Bắc Hưng Hải trong chống lũ và tiêu úng
3 Sông Thái Bình
Sông Thái Bình chảy dọc theo phía Đông của hệ thống, dài 90 km Lòng sông rộng trung bình 350 m ÷ 450 m Sông ít dốc, nông, bồi lấp nhiều Hiện tại về mùa lũ sông Thái Bình là nơi nhận nước tiêu của hệ thống Bắc Hưng Hải qua cống Cầu Xe
4 Sông Luộc
Sông Luộc là phân lưu thứ 2 bên bờ tả sông Hồng và đổ vào sông Thái Bình ở Quý Cao tỉnh Hải Dương Sông dài 72 km, ít dốc và chảy quanh co, độ rộng lòng trung bình khoảng 200 ÷ 300 m Hiện tại về mùa lũ sông Luộc nhận nước tiêu của vùng Bắc Hưng Hải qua cống An Thổ Mùa kiệt mực nước sông Luộc thấp nên việc lấy nước gặp nhiều khó khăn Hiện nay chỉ có một số cống nhỏ dưới đê lấy nước tưới cho phần diện tích ven sông ở đoạn cuối
Ngoài 4 sông chính bao bọc bên ngoài có ảnh hưởng trực tiếp đến hệ thống Bắc Hưng Hải, bên trong hệ thống còn có mạng lưới nhiều sông nhỏ
2.1.4 Hiện trạng kinh tế xã hội
Những năm 2005−2008 đồng thời với việc duy trì tăng trưởng ở cả 3 khu vực kinh tế (nông nghiệp, công nghiệp và xây dựng - dịch vụ) trong vùng đã có sự chuyển biến tích cực và đúng hướng Gia tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp và xây dựng, dịch vụ, giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp - lâm nghiệp Diễn biến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ 2005 đến nay như sau (bảng 2.1)
Nhìn chung nền kinh tế trong vùng đạt tốc độ tăng trưởng khá, năm sau cao hơn năm trước Tăng trưởng thể hiện trên các mặt như sau:
- Khu vực sản xuất nông - lâm - thuỷ sản tiếp tục có bước phát triển bền vững, tuy nhiên do có sự dịch chuyển của nền kinh tế nên tỷ trọng có xu thế giảm xuống
- Sản xuất công nghiệp và xây dựng đạt mức tăng trưởng cao so với giai đoạn 5 năm trước Giá trị sản xuất khu vực công nghiệp đạt mức tăng bình quân 2,5%, trong đó công nghiệp tăng 2,7%, xây dựng tăng 1,9%
- Các ngành dịch vụ có bước phát triển khá với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế nhất là các ngành dịch vụ thương mại và du lịch
Trang 26Bảng 2.1 Cơ cấu tổng sản phẩm (%) theo giá trị thực tế phân theo ngành kinh tế
Ngành 2005 2006 2007 2008 Hải Dương
- Nông nghiệp - Lâm nghiệp - Thủy sản 32,0 30,0 28,5 30,0
- Công nghiệp và xây dựng 39,6 41,5 42,3 40,0
- Dịch vụ - thương mại và các ngành khác 28,4 28,5 29,2 30,0
Hưng Yên
- Nông nghiệp - Lâm nnghiệp - Thủy sản 37,2 35,3 33,2 30,5
- Công nghiệp và xây dựng 31,6 33,2 35,6 38,0
- Dịch vụ - thương mại và các ngành khác 31,2 31,4 31,5 31,5
Bắc Ninh
- Nông nghiệp - Lâm nghiệp - Thủy sản 32,3 29,2 26,5 25,7
- Công nghiệp và xây dựng 40,0 43,9 46,2 47,1
- Dịch vụ - thương mại và các ngành khác 27,7 26,9 27,3 27,2
Hà Nội
- Nông nghiệp - Lâm nghiệp - Thủy sản - - - 2,5
- Công nghiệp và xây dựng - - - 65,5
- Dịch vụ - thương mại và các ngành khác - - - 32,0
(Số liệu trong bảng được tổng hợp từ niên giám thống kê của các địa phương)
Bảng 2.2 Tổng giá trị GDP và GDP bình quân đầu người các tỉnh trong vùng
2.1.5 Hiện trạng phát triển nông nghiệp
Kinh tế vùng trong những năm qua có nhịp độ tăng trưởng khá, trong đó ngành
Trang 27nông nghiệp có bước tăng trưởng bình quân tương đối cao đạt 6 ÷ 7% trong thời kỳ 2005−2008
Sự tăng trưởng nhanh trong nông nghiệp thể hiện chính sách đổi mới của Đảng
và nhà nước ta đối với kinh tế nông nghiệp Trong ngành nông nghiệp ngoài sự biến động mạnh của trồng trọt, chuyển dịch cơ cấu cây trồng Mức độ tăng trưởng của chăn nuôi gia súc, nuôi trồng thuỷ sản cũng tăng mạnh
Ngành thuỷ sản trong vùng có tốc độ tăng trưởng khá, nhịp độ tăng trưởng là 15,5% Sự phát triển về thuỷ sản của vùng thời gian qua đã góp phần vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế của ngành nông - lâm - ngư nghiệp trong vùng đồng thời khai thác có hiệu quả tiềm năng của vùng theo hướng sản xuất hàng hoá Tốc độ tăng trưởng của nuôi trồng thuỷ sản đạt 19%, đánh bắt dịch vụ thuỷ sản tăng 17,7%
Tốc độ tăng trưởng của ngành chăn nuôi tăng từ 23% lên 26% Chăn nuôi gia súc trong vùng qua thống kê thấy chủ yếu là trâu, bò, lợn, gia cầm từ năm 2001 đến
2005 đàn lợn và bò có xu thế tăng trưởng trong khi đó đàn trâu giảm từ 20.292 con (năm 2001) xuống còn 14.502 con (năm 2004), gia cầm do ảnh hưởng của dịch cúm
gà nên giảm từ 13.169.491 con (năm 2003) xuống 11.366.341 con (năm 2004)
Đối với ngành trồng trọt: do vùng nghiên cứu nằm trong các tỉnh vựa lúa của đồng bằng sông Hồng nên đất canh tác ở đây chủ yếu là trồng lúa 2 vụ chiêm và mùa Đất nông nghiệp toàn vùng theo thống kê năm 2008 là 142.391 ha, diện tích đất canh tác là 123.985 ha trong đó diện tích đất trồng lúa là 114.231 ha chiếm 88,6% diện tích đất canh tác Diện tích đất trồng màu và cây công nghiệp là 5.422
ha chiếm 4,3% diện tích canh tác Diện tích đất có mặt nước nuôi trồng thuỷ sản là 10.975 ha chiếm 7,5% diện tích đất nông nghiệp
Các cây trồng chủ yếu trong vùng là lúa, cây màu có khoai, ngô các loại, ngoài
ra còn một số các loại cây khác như lạc, đậu, rau nhưng diện tích không chủ lực như Ngô, Khoai Cây ăn quả cũng được tăng diện tích trong 5 năm trở lại đây do cơ chế hàng hoá thị trường phát triển
2.2 Hiện trạng hệ thống thuỷ lợi Bắc Hưng Hải
2.2.1 Hiện trạng hệ thống công trình thuỷ lợi
2.2.1.1 Hiện trạng công trình tưới, cấp nước
Trang 28Theo thiết kế, nguồn nước tưới cung cấp cho hệ thống Bắc Hưng Hải từ sông
Hồng lấy qua cống Xuân Quan, trừ một phần nhỏ diện tích ven sông Đuống, Thái Bình, sông Luộc là lấy trực tiếp bổ sung vào hệ thống Cấp nước tưới trong hệ thống chủ yếu bằng các trạm bơm lấy nước trên các sông trục Hiện nay diện tích cần tưới toàn hệ thống là 123.985 ha, trong đó lấy nước từ sông Đuống là 8.155 ha (do các trạm bơm Gia Thượng, Vàng, Môn Quảng phụ trách); lấy nước từ sông Thái Bình là 2.188 ha (do các trạm bơm Kênh Vàng 1, Bình Lãng, Quang Trung, Bình
Di, Văn Tố phụ trách) Ngoài ra cống Cầu Dừa, Trại Vực, Cộng Hoà, Bình Hàn bổ sung thêm nguồn nước tưới cho 1000 ha vùng bãi Hữu Trung của Tứ Kỳ; lấy nước
từ sông Luộc là 2.585 ha (do các trạm bơm Hiệp Lễ, Cống Sao, Cổ Ngựa, Triều Dương, Mai Xá A, Nguyên Giáp, Cống Gạch), ngoài ra còn một số cống lấy nước
hỗ trợ như cống Trung, cống Nhạn, cống My Động
Tổng diện tích lấy nước từ sông ngoài theo thiết kế là 12.928 ha, phần còn lại lấy nước từ Xuân Quan
2.2.1.2 Hiện trạng công trình tiêu
Hiện nay, diện tích tiêu toàn vùng là 186.000 ha, trong đó tiêu qua cống Cầu Xe
và An Thổ là 134.273 ha (tự chảy 56.723 ha, bơm 77.500 ha), phần còn lại 51.587
ha được bơm tiêu trực tiếp ra sông ngoài
Các tiểu khu tiêu trong hệ thống Bắc Hưng Hải như sau:
1 Khu Gia Thuận
Diện tích trong đê cần tiêu là: 32.757 ha, diện tích canh tác là 21.021 ha Vùng này hiện có 3 trạm bơm tiêu ra sông ngoài là trạm bơm Đại đồng thành tiêu ra sông Đuống, trạm bơm Văn Thai, trạm bơm Kênh Vàng 2 tiêu trực tiếp ra sông Thái Bình Diện tích còn lại tiêu toàn bộ vào trục tiêu Bắc Hưng Hải qua các sông nội đồng như sông Ngụ, Lương Tài, sông Dâu-Đình dù, sông đại Quảng bình và tập trung tại cầu Cẩm Giàng đổ vào sông Bắc Hưng Hải Hệ số tiêu của vùng này đã được UBND tỉnh phê duyệt giai đoạn 1996 đến 2010 là 5,2 l/s/ha xong hiện nay mới đạt 4 l/s/ha
2 Khu Châu Giang
Diện tích trong đê cần tiêu là: 20.132 ha, diện tích canh tác là 12.441 ha Bao gồm đất đai của các huyện Văn Giang, Khoái Châu, một phần Kim Động, Yên mỹ Qua đánh giá của địa phương, tồn tại của vùng này là nhiều vùng trước đây thiết kê
Trang 29tiêu tự chảy nay không có khả năng tiêu tự chảy được mà cần phải bố trí tiêu bơm mới giải quyết triệt để được Hệ số tiêu thiết đã được UBND tỉnh phê duyệt tới năm
2010 đối với vụ mùa là 4,51l/s/ha, vụ chiêm 2,25l/s/ha
3 Khu Gia Lâm
Khu này có diện tích trong đê cần tiêu là 7.924 ha Do khu này nằm ở đầu hệ thống, cao độ ruộng đất cao nên hoàn toàn tiêu tự chảy Trục tiêu chính của khu này
là sông Cầu Bây ra sông Kim Sơn qua cống Xuân Thụy bao gồm toàn bộ quận Long Biên và vùng thị trấn Gia Lâm, các xã phía dưới đường quốc lộ 5 Phần diện tích các xã trên đường 5 như Đặng Xá, Phú Thụy, Lệ Chi, Kim Sơn, Dương Quang, Cổ
Bi tiêu vào sông Dâu - Đình dù Phần diện tích các xã dưới đường 5 như Trâu Quỳ, Dương Xá tiêu vào sông Kim Sơn qua cống Tân Quang Đối với vùng này việc tiêu thoát là thuận lợi
4 Khu Bắc Kim Sơn
Khu này bao gồm đất đai của huyện Mỹ Hào, một phần của Cẩm Giàng, Yên
Mỹ, Văn Lâm Diện tích trong đê cần tiêu của khu này là 18.925 ha, diện tích đất canh tác là 11.339 ha Trục tiêu chính của khu này là sông Bần vũ xá, sông Cẩm Giàng, sông Kim Sơn và mạng lưới kênh trục dày đặc trong nội đồng Toàn bộ vùng này tiêu vào trục Bắc Hưng Hải Theo quyết định của UBND tỉnh Hưng Yên phê duyệt hệ số tiêu cho vùng này tới năm 2010 là 4,65l/s/ha
5 Khu Bình Giang - Bắc Thanh Miện
Diện tích cần tiêu trong đê là 24.285 ha bao gồm đất đai của các huyện Bình Giang, một phần huyện Gia Lộc, huyện Ninh Giang và Thanh Miện Toàn bộ khu này tiêu vào trục Bắc Hưng Hải qua các sông Cửu An, Chi ân, Đò đáy, Đình Đào và các sông trục nội đồng Toàn bộ khu này theo thống kê của địa phương hiện có 19.868 ha là tiêu bằng động lực, 4.417 ha tiêu tự chảy Trong số 4.417 ha tiêu tự chảy hiện có 2.479 ha là tiêu tự chảy kém thuộc diện bấp bênh, phần diện tích này nằm chủ yếu ở khu vực Bình xuyên, Nhân quyền, Long xuyên, Cỏ bì và một số vùng rải rác khác thuộc huyện Bình Giang
Thực tế những năm úng nặng, địa phương đã huy động cao nhất năng lực của các trạm bơm do xí nghiệp thủy nông quản lý đồng thời sử dụng tối đa tất cả các trạm bơm kể cả các trạm dã chiến để tranh thủ bơm tiêu ra trục Bắc Hưng Hải, mặt
Trang 30khác tranh thủ tiêu tự chảy để giảm giá thành bơm tiêu, thực hiện chôn rải-tháo nước có kế hoạch do vậy việc tiêu thoát được giảm thiệt hại tới mức tối đa
/h
Hiện tại vùng này đã tách một số diện tích ven các sông Thái Bình và sông Luộc tiêu trực tiếp tra sông ngoài mà không đổ vào hệ thống Bắc Hưng Hải nữa để giảm độ căng thẳng cho hệ thống
7 Khu Cẩm Giàng
Khu này có diện tích trong đê cần tiêu là 10.886 ha bao gồm diện tích đất đai của các huyện Cẩm Giàng, hầu hết diện tích thành phố Hải Dương Toàn bộ khu này được thiết kế tiêu động lực trong đó tiêu trực tiếp ra sông Thái Bình bằng các trạm bơm Văn Thai B và Tiên Kiều, Bình Hàn còn lại tiêu vào trục Bắc Hưng Hải Các trạm bơm trong vùng đa số là máy công suất 1000 m3/h, xây dựng đã lâu (40 năm) nên xuống cấp, năng lực hiệu quả kém Địa phương đã đề nghị thay bằng máy 2.500 m3
/h
8 Khu đông nam Cửu An
Diện tích cần tiêu của khu này là 14.831 ha, bao gồm đất đai của các huyện Ninh Giang, Thanh Miện và 2 xã của huyện Tứ Kỳ
Vùng này nằm ở cuối hệ thống do vậy tiêu hoàn toàn bằng động lực vào các sông trục của hệ thống Bắc Hưng Hải như sông Cửu An và các trục sông nội đồng ra sông Thái Bình và sông Luộc trừ một số diện tích ven sông Luộc tiêu trực tiếp ra sông Luộc nhằm giảm bớt căng thẳng cho hệ thống Các trạm bơm tiêu ra sông Luộc gồm trạm bơm My Động, Cổ Ngựa, Hào Khê, Hiệp Lễ 1, Hiệp Lễ 2, Cống Sao, Sông Rùa, Cống Gạch, Nguyên Giáp
9 Khu Tây Nam Cửu An
Diện tích cần tiêu của khu này là 25.116 ha bao gồm đất đai của các huyện Tiên
Trang 31Lữ, thị xã Hưng Yên, Phủ Cừ, 14 xã huyện Kim Động, 2 xã của huyện Khoái Châu,
2 xã của huyện Ân Thi
Toàn bộ khu này được bố trí tiêu bằng động lực các trục tiêu chính của khu này
là sông Cửu An và sông Luộc các trạm bơm tiêu ra sông Luộc gồm Triều Dương, Mai Xá A, Mai Xá B1, Mai Xá B2, My Động Trạm bơm My Động tiêu cho hai huyện Thanh Miện và Phủ Cừ
10 Khu Ân Thi
Khu này có diện tích cần tiêu là 15.868 ha, bao gồm đất đai của huyện ân thi, một vài xã lẻ của các huyện Yên mỹ, Khoái Châu, Kim Động, Phủ Cừ Do địa hình thấp, ruộng đất ở dưới cao trình +3 vì vậy toàn bộ diện tích khu này đều bố trí tiêu động lực Trong số 15.868 ha cần tiêu đã có 15.073 ha là có công trình phụ trách, còn lại 345 ha thuộc huyện Kim Động là chưa có công trình phụ trách
2.2.2 Hiện trạng các tuyến đê, bờ kênh nội đồng
2.2.2.1 Hiện trạng đê sông ngoài
Hệ thống Bắc Hưng Hải được bao bọc bởi các sông lớn: sông Hồng, Đuống, Thái Bình, Luộc Đê của các sông này là đều là đê Trung ương do Trung ương quản
lý Hiện trạng các tuyến đê sông ngoài như sau:
1 Đê trái sông Hồng
Đoạn từ Gia Lâm đến thị xã Hưng Yên có chiều dài 59 km, là đê cấp I Chiều rộng mặt đê từ 5 ÷ 6 m, cao độ đỉnh đê lớn hơn MNTK từ 0,7 ÷ 1,0 m Mái trong đồng m = 3, mái ngoài sông m = 2
2 Đê trái sông Luộc
Đoạn chảy qua đất Hưng Yên là 20,7 km, là đê cấp II Nhìn chung đoạn này có cao độ gia thăng là 0,8 m so với mực nước thiết kế Đầu năm 2000 đoạn này đã được đầu tư áp trúc phía sông, hiện nay bề rộng đê đảm bảo từ 5 ÷ 6 m mái sông m
= 3 và mái đồng m = 2 Đoạn chảy qua đất Hải Dương có chiều dài 32 km từ trạm bơm My Động đến Tứ Kỳ qua địa phận các huyện Thanh Miện, Ninh Giang và Tứ
Kỳ Đê cấp II có bề rộng 4 ÷ 6 m, cao độ đê lớn hơn mực nước thiết kế từ 0,5 đến trên 0,5 m
3 Đê sông Thái Bình
Trang 32Đoạn chảy qua địa phận Bắc Ninh từ ngã ba sông Đuống tới cống Văn Thai có chiều dài 9,6 km Đoạn này có cao độ gia tăng đảm bảo so với mức lũ quy định tại Phả Lại Bề rộng đê 5 ÷ 6 m, mái phía đồng m = 3, mái phía sông m = 2 Đoạn từ cống Văn Thai đến Tứ Kỳ có chiều dài 30,4 km, là đê cấp II, cao độ đỉnh đê lớn hơn MNTK từ 0,5 ÷ 0,6 m Trong số 30,4 km đê có 13,787 km đã được tôn cao, xoá trạch và mặt đê được cứng hoá bằng bê tông, mặt đê rộng 5 m
3 Đê sông Đuống
Bắt đầu từ đoạn nối với đê sông Hồng thuộc huyện Gia Lâm Hà Nội đến đoạn nối với đê sông Thái Bình thuộc huyện Gia Lương tỉnh Bắc Ninh Đoạn này có chiều dài 50,9 km, cao độ gia thăng trung bình 1 m, riêng đoạn K4÷K9+50, K10+746÷K21+447 (Hà Nội); K23÷K26; K48÷K53 còn thiếu 0,3 ÷ 0,5 m so với chiều cao gia thăng Chiều rộng mặt đê từ 5 ÷ 6 m, mái phía sông m = 2, mái phía đồng m = 3
2.2.2.2 Hiện trạng đê nội đồng
Kết quả đo đạc địa hình toàn bộ các tuyến sông nội đồng do Viện Quy hoạch thuỷ lợi thực hiện như sau:
1 Đê sông Cửu An
Từ đầu sông (xã Thuần Hưng) đến xã Phượng Kỳ gặp sông Đình Đào Chiều dài sông là 53,8 km, mái phía trong và ngoài đê m = 1 ÷ 1,3 Cao trình đê bờ trái dao động từ (+2,9) ÷ (+3,5), chỗ thấp nhất đoạn qua Thanh Miện dao động (+2,6) Chiều rộng mặt đê 2 ÷ 3 m Cao trình đê bờ phải từ 3,3 ÷ 4,7, chiều rộng mặt đê 2,5
÷ 4 m Cao độ đáy sông giảm dần từ 0,45) ÷ 1,5) ÷ 1,9) ÷ 3,0) và cuối là 4,0) cá biệt có chỗ xuống (-5,0)
(-Đoạn cuối sông Cửu An: Từ Phượng Kỳ đến cống Cầu Xe Chiều dài đoạn này 6,3 km, cao trình đê bờ trái từ (2,8) ÷ (3,8); Cao trình đê bờ phải từ (1,97) ÷ (3,8); cao trình đáy sông (-5,4) đến Cầu Xe (-3,98)
2 Đê sông Kim Sơn - Đình Đào
Từ cống Xuân Quan sông kéo dài đến Bình Giang, đến ngã ba sông Sặt nối sông Đò Đáy - Đình Đào gặp sông Cửu An tại xã Phượng Kỳ Chiều dài sông là 91,598 km Cao trình đê bờ trái tại Xuân Quan là (+7,98); đến Lực Điền là (6,63); đến Bình Giang là (5,42); đến ngã ba sông Sặt là (4,25); đến cầu Tràng Thưa xã
Trang 33Đoàn Thượng (3,17); đến đoạn gặp sông Cửu An (Phượng Kỳ) là (3,26) Bề rộng mặt đê từ 2,5 ÷ 4 m, mái đê trong ngoài m = 1 Cao trình đê bờ phải tại hạ lưu Xuân Quan là (6,53); đến Lực Điền là (6,72); đến Bình Giang là (5,0); đến ngã ba sông Sặt là (3,4); đến cầu Tràng Thưa là (3,12); đến Phượng Kỳ là (3,38) Cao trình đáy sông diễn biến theo các điểm như ở trên đê là (-1,49) ÷ (-3,0) ÷ (-2,66) ÷ (-4,32) đến Phượng Kỳ (-7,23)
3 Đê sông Tràng Kỷ - Lương Tài
Nối từ sông Kim Sơn tại xã Cẩm phúc đến Cẩm Giàng rồi nối ra sông Thái Bình tại Văn Thai Chiều dài đoạn này 22,782 km, cao trình đê bờ trái từ 2,7 ÷ 3,1 ÷ 4,0; Cao trình đê bờ phải từ (3,3) ÷ (3,85); cao trình đáy sông từ (-2,5) đến (-2,4) Cẩm Giàng đến Văn Thai (-1,6)
4 Đê Sông Sặt
Từ âu Cầu cất (sông Thái Bình) nối với ngã ba sông Kim Sơn Đoạn này dài 13,107 km, cao độ bờ trái dao động từ (3,4) ÷ (3,0); cao độ bờ phải từ (4,2) ÷ (3,65); cao độ đáy sông từ (2,8) ÷ (2,57)
5 Đê sông Tây Kẻ Sặt
Nối từ sông Kim Sơn (Sa Lung) đến sông Cửu An (Tòng hoá) Chiều dài sông 20,222 km, bề mặt rộng 2,5 ÷ 3,0 m Cao độ bờ trái từ (2,9) ÷ (3,86); cao độ bờ phải dao động từ (3,0) ÷ (3,77); cao độ đáy sông từ (-1,17) ÷ (-6,1) nhưng dốc không đều, nhìn chung biến động từ (-1,7) ÷ (-2,7)
6 Đê sông Nam Kẻ Sặt
Nối tiếp từ Tây Kẻ Sặt (đoạn gặp sông Cửu An) đến trạm bơm My động (sông Luộc) Đoạn này dài 10,741 km Cao trình đê bờ trái từ 3,13 ÷ 3,3; cao trình đê bờ phải từ 2,57 ÷ 3,12 Cao trình đáy sông từ (-0,39) đến (-1,43) đoạn nối với Tây Kẻ Sặt (sông Cửu An) là (-5,41)
7 Đê sông Điện Biên
Nối từ sông Kim Sơn (cống Lực Điền) cắt qua sông Cửu An xuống Thị xã Hưng Yên Đoạn chảy theo hướng từ Kim Sơn xuống Cửu An gọi là sông Điện Biên và từ thị xã Hưng Yên về Cửu An gọi là sông Nam Điện Biên Chiều dài hai đoạn này là 15,49 km (đoạn sông Điện Biên) và 9,226 km (đoạn Nam Điện Biên),
Trang 34tổng hai đoạn là 24,716 km Chiều rộng mặt đê từ 2 ÷ 3 m Cao trình đê bờ trái sông Điện Biên từ (3,4) ÷ (3,8); sông Nam Điện Biên từ (3,8) ÷ (4,0) Cao trình đê bờ phải sông Điện Biên từ (3,4) ÷ (4,5); sông Nam Điện Biên từ (3,12) ÷ (3,9) Cao độ đáy sông Điện Biên từ (-0,97) ÷ (-1,35); sông Nam ĐB từ (0,6) ÷ (−1,5) Toàn bộ tuyến
đê sông Điện Biên chạy trên triền đất cao chỉ một số đoạn thấp cục bộ cần tu sửa
Do các kênh trục trong hệ thống phần lớn là sông thiên nhiên, bờ đê được hình thành theo quá trình phát triển của khu vực, một số ít đoạn do đào kênh đất đắp lên
Từ 1992 đến năm 2003 các địa phương quan tâm tôn cao áp trúc với tổng khối lượng 1,435,480 m3, việc đầu tư mới chỉ ở mức độ xử lý chắp vá chỗ xung yếu chưa hoàn thiện; dưới bờ kênh còn nhiều cống do các hợp tác xã tự làm, thân cống ngắn, cánh cống sơ sài không đảm bảo an toàn, đặc biệt những năm có lượng mưa lớn như những năm 2001, 2004, 2008 xảy ra nhiều sự cố sụt sạt, bục mang cống , rất xung yếu cần được khắc phục
2.2.3 Hiện trạng các tuyến sông trục trong hệ thống
Kết quả điều tra đánh giá hiện trạng hệ thống kênh trục Bắc Hưng Hải như sau:
1 Sông Kim Sơn
Sông được tính từ cống Xuân Quan đến âu Cầu Cất, có các đoạn như sau:
- Đoạn kênh trong từ Xuân Quan đến Báo Đáp: dài 3,0 km bề rộng đáy khoảng
67 m; cao trình đáy khoảng (0,00) ÷ (-0,15) Đoạn này được nạo vét từ năm 1998, nhưng hiện nay đáy kênh đã bị bồi lắng trung bình từ 0,5 ÷ 0,6 m so với thiết kế
- Đoạn Báo Đáp - Kênh Cầu: dài 10,5 km có bề rộng đáy khoảng 45 ÷ 55 m, cao trình đáy bằng (-0,93) ÷ (-1,08), đã được thi công nạo vét từ năm 1999 ÷ 2000 Hiện tại đã bị bồi lắng lại trung bình cao từ 0,3 ÷ 0,4 m so với thiết kế
- Đoạn Kênh Cầu - Lục Điền: dài 6 km thiết kế bề rộng đáy bằng 45 m, cao trình đáy (-1,25) ÷ (-1,64) Hiện tại đoạn kênh bị bồi lắng trung bình cao 0,4 ÷ 0,5
m so với thiết kế Hiện nay đang nạo vét những đoạn bị bồi lắng
- Đoạn Lực Điền - Cống Tranh: dài 15 km thiết kế bề rộng đáy bằng 45 m, cao trình đáy bằng (-1,73) ÷ (- 2,37) Đoạn kênh này đã được nạo vét theo mặt cắt thiết
kế từ năm 1975 ÷ 1976 đến nay nhìn chung đoạn kênh bị bồi lắng trung bình 0,4 ÷ 0,5 m so với thiết kế
Trang 35- Đoạn Cống Tranh - Ngã ba Bá Thủy: Dài 14,7 km, bề rộng đáy thiết kế bằng
35 ÷ 45 m, cao trình đáy bằng (-1,65) ÷ (-2,94) Đã nạo vét xong năm 2001 hiện tại
bị bồi lắng trung bình từ 0,2 ÷ 0,3 m so với thiết kế,
- Đoạn từ Ngã 3 Bá Thủy đến Cầu Cất: Dài 12,5 km, bề rộng đáy thiết kế bằng
40 m, cao trình đáy bằng (-1,05) ÷ (-1,1) Hiện trạng đoạn này bị bồi lắng trung bình 0,4 ÷ 0,5 m so với thiết kế
2 Sông Cửu An
Từ Cầu Ngàng đến ngã ba Cự Lộc dài 40 km, hiện trạng từng đoạn như sau:
- Đoạn cầu Ngàng đến xã Hùng Sơn huyện Thanh Miện (hạ lưu cống Neo), dài 32,8 km thiết kế bề rộng đáy bằng 13 ÷ 35 m, cao trình đáy bằng (-2,5) ÷ (2,92) đã nạo vét xong năm 2000 Hiện trạng đoạn này bị bồi lắng trung bình 0,3 ÷ 0,5 m so với thiết kế
- Đoạn hạ lưu cống Neo đến ngã 3 Cự Lộc: Dài 20,5 km bề rộng đáy thiết kế bằng 44 ÷ 52 m, cao trình đáy bằng (-3,01) ÷ (-4,0), Hiện trạng đoạn này bị bồi lắng trung bình 0,5 ÷ 0,7 m so với thiết kế
3 Sông Đình Dù
Từ trạm bơm Như Quỳnh đến sông Kim Sơn
Dài 2,3 km bề rộng đáy thiết kế bằng 18 ÷ 20 m, cao trình đáy bằng (0,4) ÷ (−0,8) m Đoạn sông này có chu kỳ nạo vét từ 3 ÷ 4 năm / 1 lần Năm 1999 đã nạo vét với khối lượng 73.490 m3, Hiện trạng đoạn này bị bồi lắng trung bình 0,6 ÷ 0,7
m so với mặt cắt thiết kế
4 Sông Điện Biên
Từ Lực Điền đến Bằng Ngang: Dài 15,8 km bề rộng đáy thiết kế bằng 10 m, cao trình đáy bằng (-1,37) ÷ (-1,60) m Đã nạo vét xong năm 2001 theo chỉ tiêu trên Hiện trạng đoạn này bị bồi lắng trung bình 0,3 ÷ 0,4 m so với thiết kế
5 Sông Tây Kẻ Sặt
Ttừ cống Tranh đến Tòng Hoá), dài 24 km bề rộng đáy thiết kế bằng 25 m, cao trình đáy bằng (-1,5) ÷ (-1,8) m Đã nạo vét xong năm 1991−1992 Hiện trạng bị bồi lắng trung bình 0,6 ÷ 0,7 m so với thiết kế
6 Sông Đình Đào
Trang 36Từ Bá Thủy đến Cự Lộc), dài 45 km; bề rộng đáy thiết kế bằng 51 ÷ 72 m, cao trình đáy bằng (-3,75) ÷ (-3,92) m Đã nạo vét xong từ năm 1978 theo chỉ tiêu trên Hiện trạng bị bồi lắng trung bình 0,9 ÷ 1,0 m so với thiết kế
7 Sông Tràng Kỷ
Từ Cầu Guột đến Sông Kim Sơn, dài 13,6 km; bề rộng đáy thiết kế bằng 10 m, cao trình đáy bằng (-2,52) ÷ (-2,81) m Đoạn từ Cầu Dốc - cầu Cẩm Giàng đã nạo vét xong năm 1998 Hiện trạng bị bồi lắng trung bình 0,5 ÷ 0,6 m so với thiết kế Đoạn từ Cầu Cẩm Giàng đến sông Kim Sơn đã nạo vét xong năm 2001 Hiện trạng
bị bồi lắng trung bình 0,3 ÷ 0,4 m so với thiết kế
8 Kênh Chính Cự Lộc - Lộng Khê
Dài 4,35 km; bề rộng đáy thiết kế bằng 110 m, cao trình đáy bằng (-4,0) m Đoạn này đã nạo vét xong năm 2000 Hiện trạng bị bồi lắng trung bình 0,3 ÷ 0,4 m
so với thiết kế
9 Kênh Lộng Khê - Cầu Xe
Dài 2,45 km; bề rộng đáy thiết kế 75 m, cao trình đáy (-4,0) m Đoạn này đã nạo vét xong năm 2000, Hiện trạng bị bồi lắng trung bình 0,3 ÷ 0,4 m so với thiết kế
10 Kênh Lộng Khê - An Thổ
Dài 4,5 km; bề rộng đáy thiết kế bằng 55 m, cao trình đáy bằng (-4,0) m Đoạn này đã nạo vét xong năm 2000 Hiện trạng bị bồi lắng trung bình 0,3 ÷ 0,4 m so với thiết kế
2.2.4 Hiện trạng các công trình điều tiết chính trên kênh chính
Các công trình trên trục chính Bắc Hưng Hải bao gồm cụm Xuân Quan - Báo Đáp là cụm lấy nước chính của hệ thống Cống Cầu Xe và An Thổ là 2 cống tiêu chính của hệ thống Ngoài các công trình đó ra còn một số cống điều tiết chính trên các trục sông như: cống Kênh Cầu, Lạc Cầu, âu Lực Điền, cống Tranh, âu Bằng Ngang, cống Neo, Bá Thủy Hầu hết các công trình chính trong hệ thống đã đến giai đoạn cần phải cải tạo sửa chữa, nâng cấp
1 Cống Xuân Quan
Cống được xây dựng xong năm 1959, có nhiệm vụ cấp nước tưới cho 130.000
ha canh tác và là công trình quan trọng của hệ thống Bắc Hưng Hải Cống có chiều
Trang 37rộng là 19 m, gồm 4 cửa lấy nước kích thước b×h = 3,5×4 m và 1 cửa âu thuyền phía thượng lưu là cánh thép kiểu cửa van thẳng, cửa âu phía hạ lưu là cửa chữ nhân Hình thức đóng mở bằng dây cáp và tời điện
Quá trình quản lý khai thác đến nay: Công trình làm việc bình thường, hiện tại các vết nứt thân cống cửa số 1, 2 xuất hiện từ ngay sau khi xây dựng xong qua theo dõi thấy ổn định, không phát triển thêm Phần đất công trình đã được tu bổ, cải tạo
ổn định, làm việc bình thường
2 Cống Báo Đáp
Cống được xây dựng năm 1959, cách cống Xuân Quan 3 km Nhiệm vụ để làm dâng mực nước sau hạ lưu Xuân Quan để đảm bảo an toàn cho cống Xuân Quan về mùa lũ Năm 1975 thiết kế bổ sung dâng nước lấy sa tưới tự chảy cho Trạm bơm Văn Giang Cống gồm 6 cửa lấy nước; kích thước b×h = 5×4 m và 1 cửa thông thuyền Khẩu độ thông thuỷ cống 35 m, thân cống dài 9 m, đáy cống (-0,5 m), mặt cầu (+7,25 m) Cống Báo Đáp nhìn chung không bảo đảm an toàn (đáy cống ngắn,
hạ lưu bị xói, bê tông thân cống bị nứt, công bị rò rỉ nhiều) Cần làm lại cống mới nâng đầu nước lên để an toàn cho cống Xuân Quan và tăng diện tích tưới tự chảy cho các trạm bơm
3 Cống Cầu Xe
Cống nằm ở cuối kênh tiêu của hệ thống thuỷ nông Bắc Hưng Hải tại xã cộng Lạc huyện Tứ Kỳ Quy mô: Cống dài 12,5m, toàn bộ chiều rộng là 66,2m, gồm 7 cửa, mỗi cửa rộng 8,0m (6 cửa lấy nước và 1 cửa âu) Đáy cống (-4,0) Đỉnh cống (mặt cầu giao thông) bằng 5,3 Cánh cống kiểu cửa van phẳng bằng thép, gồm 2 tầng cánh, kết cấu khung dàn, đóng mở bằng tời điện 6 tấn có đối trọng hỗ trợ Cống được xây dựng năm 1969 làm nhiệm vụ tiêu nước của sông trục Bắc Hưng Hải ra sông Thái Bình, với các thông số thiết kế: diện tích lưu vực là 151.600
ha, với tần suất P = 10% thì lưu lượng tiêu Qtiêu = 360 m3/s; với P = 20% thì Qtiêu =
230 m3/s; đồng thời ngăn triều không cho nước sông ngoài vào lưu vực Bắc Hưng Hải, kết hợp giao thông thuỷ và bộ
Hiện trạng công trình như sau:
- Phần đá xây đã bị rạn nứt nhiều chỗ, có chỗ đã bị lún nghiêng như tường cánh thượng lưu bên hữu tường đã bị xói chân, bị gẫy ngang và bị nghiêng Năm 1987
Trang 38đã xử lý thả rọ đá bảo vệ chân tường và phải chằng dây cáp neo giữ tường
- Phần đất: Thượng, hạ lưu công trình bị xói nghiêm trọng
- Thượng lưu: chiều dài hố xói 60 m, chiểu rộng hố xói 45 m, chỗ sâu nhất: 7,8/-4,0 TK) Hố sói nằm sát đầu âu, sói qua chân tường ngăn âu Năm 1984 đã được xử lý thả rọ đá và đá hộc
( Hạ lưu: Chiều dài hố sói 100m chỗ sói sâu nhất đến cao trình (-15,9) (sâu hơn thiết kế (-4,0) xấp xỉ 12 m) đã xử lý đợt I năm 1977 thả đá hộc và rọ đá Đợt II năm
1984 và 1987 thả tấm bê tông và rọ đá
Hiện hố sói thượng, hạ lưu vẫn chưa ổn định
Phần cơ khí: cánh cống bằng thép kiểu dầm giàn, năm 1998 đã thay cánh mới kết cấu kiểu dầm bản lớn Máy đóng mở bằng tời điện 6 tấn
Cống Cầu xe được thi công trong thời kỳ chiến tranh phá hoại của Mỹ, mác bê tông thấp, nhiều bộ phận làm bằng đá xây cốt thép chất lượng không cao Vị trí xây dựng cống trên nền đất mềm yếu của vùng Thuỷ triều Thượng, hạ lưu cống bị xói nghiêm trọng Với hiện trạng như trên, đánh giá ổn định là không an toàn, khó lường được hiểm hoạ có thể xảy ra
Hiện tại còn một số tồn tại:
- Các trụ pin số 1, 2, 5 và tường ngực đã bị nứt với chiều dài từ 1 ÷ 2 m, chiều rộng 0,5 m
- Kênh dẫn cả thượng và hạ lưu thông bị xói, ngược lại hiện nay hàng năm thường bị bồi lắng nhiều, tốc độ bội lắng nhanh, ảnh hưởng đến dòng chảy và giao
Trang 39thông thuỷ
- Cánh âu thượng lưu đã cũ, hiện bị hư hỏng một số chi tiết nên chỉ vận hành được khi mực nước chênh lệch thấp
5 Cống Kênh Cầu
Cống được xây dựng năm 1961, cống gồm 6 cửa kích thước b×h = 3,2×3,7 m
và 1 cửa thông thuyền b×h = 5×8 m Cánh cống bằng thép kiểu van phẳng 2 tầng đóng mở bằng tời 6 tấn Sau hơm 40 năm vận hành, đến năm 2003 cống mới được
tu bổ lát mái hạ lưu, thả đá xử lý xói Hiện tại hạ lưu cống vẫn tiếp tục xói, bồi lắng
6 Cống Bá Thủy
Cống được xây dựng năm 1962 gồm 5 cửa mỗi cửa có kích thước b×h = 8×5,15
m, cánh cống bằng thép kiểu hình cung Từ năm 1997 đến nay đã thay thế cánh mới, thay thế phai bê tông bằng phai thép, làm kè mái và xử lý xói hạ lưu hiện tại việc đóng mở bằng tời quay tay, hạ lưu cống vẫn tiếp tục bị xói
7 Cống Neo
Cống được xây năm 1962, gồm 5 cửa có kích thước b×h = 8,0×4,5 m và 1 cửa
âu tách riêng kích thước b×h = 5×6 m, cánh cống bằng thép kiểu hình cung Những năm qua đã thay thế cánh mới, thay thế phai bê tông bằng phai thép, hiện tại việc đóng mở bằng tời quay tay, hạ lưu cống bị xói
2.2.5 Tình hình quản lý vận hành hệ thống thủy lợi
1 Về tưới
Hệ thống thuỷ nông Bắc Hưng Hải được xây dựng từ năm 1956−1957 do chuyên gia Trung Quốc giúp đỡ, về tưới theo thiết kế toàn bộ lấy nước từ sông Hồng qua cống Xuân Quan vào trục chính Bắc Hưng Hải, cung cấp nước đảm bảo tưới cho diện tích canh tác 2 vụ là 143.900 ha (theo số liệu thống kê lúc đó) với QTK
= 75 m3/s, mực nước thiết kế tại Xuân Quan là +1,85
Quá trình vận hành hệ thống đã được bổ sung quy hoạch và phương án chọn giai đoạn quy hoạch 1990−1993 là cống Xuân Quan mở từ 05/1 đến 10/1 lúc đó các trạm bơm mới được hoạt động Cống Cầu Xe và An Thổ hoàn toàn đóng trong thời
kỳ lấy nước Cống Bá Thủy mở 1 cửa 0,4 m để lấy nước xuống cho hạ lưu
Trang 40Thời kỳ căng thẳng nhất là thời kỳ lấy nước đổ ải vụ chiêm xuân (từ 20/1 ÷ 10/2) Nếu với mực nước sông Hồng tại Xuân Quan bình quân +2,15 m kết hợp với việc lấy nước trữ sớm từ ngày 5/1, lấy ngược qua Cầu Xe và An Thổ và nạo vét khơi thông dòng chảy các kênh dẫn chính cấp II theo chỉ tiêu thiết kế thì hệ thống đảm bảo cung cấp nước phục vụ sản xuất nông nghiệp Dưới mực nước trên tình hình cấp nước gặp nhiều khó khăn
Theo số liệu đo đạc những năm vừa qua thì lưu lượng qua cống Xuân Quan trung bình là 40 ÷ 50 m3/s, năm cao nhất 60 m3/s, hệ số tưới ải tính đến đầu mối là 1,15 l/s/ha, như vậy lượng nước lấy qua Xuân Quan không thể đáp ứng được, cộng với mực nước sông Hồng những năm gần đây xuống quá thấp như năm 2005,2006 mực nước xuống 1,45 (tháng 1,2) vì vậy những năm qua vùng cuối hệ thống vẫn phải lấy nước ngược từ Cầu Xe và An Thổ lên để tưới và tận dụng triệt để những trạm bơm lấy nước trực tiếp từ sông ngoài, áp dụng các biện pháp chôn nước, tưới luân phiên, dịch thời vụ… để tận dụng nguồn nước tưới cho hệ thống Tất cả những biện pháp trên chỉ là tạm thời vì lấy nước ngược từ Cầu Xe và An Thổ lên chất lượng nước không tốt (không có phù sa), việc vận hành cống gặp nhiều khó khăn vì nếu không đóng cống kịp thời mặn sẽ vào nội đồng… Phương án lâu dài vẫn là lấy
từ sông Hồng vì chất lượng nước sông Hồng tốt cho cây trồng
Theo thống kê, hiện trạng tưới tiêu vùng Bắc Hưng Hải hiện nay như bảng 2.3
Bảng 2.3 Hiện trạng tưới vùng Bắc Hưng Hải
Nguồn DT tưới thiết kế (ha) thực (ha) DT tưới chủ động (ha) DT tưới chưa Lấy nước Xuân Quan 111.057 85.621 25.435