1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi điều trị thoát vị hoành bẩm sinh ở trẻ sơ sinh

6 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 274,12 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thoát vị hoành là một trong những nguyên nhân ngoại khoa quan trọng gây suy hô hấp ở trẻ sơ sinh. Phẫu thuật nội soi ở sơ sinh ngày càng phát triển và được ứng dụng trong điều trị TVH bẩm sinh. Bài viết trình bày đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi lồng ngực điều trị thoát vị hoành bẩm sinh ở trẻ sơ sinh.

Trang 1

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT NỘI SOI ĐIỀU TRỊ

THOÁT VỊ HOÀNH BẨM SINH Ở TRẺ SƠ SINH

Tạ Huy Cần 1 , Huỳnh Thị Thanh Thảo 1 , Trần Tấn Lộc 1 , Nguyễn thị Cẩm Xuyên 1 , Trương Quang Định 1 ,

Trương Nguyễn Uy Linh 2

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Thoát vị hoành là một trong những nguyên nhân ngoại khoa quan trọng gây suy hô hấp ở trẻ sơ sinh Phẫu thuật nội soi ở sơ sinh ngày càng phát triển và được ứng dụng trong điều trị TVH bẩm sinh Tuy nhiên, tỷ lệ tái phát trong mổ nội soi cao hơn mổ mở cũng như lo ngại tác dụng bất lợi của bơm CO 2 trong mổ nên việc áp dụng vẫn còn tranh luận.

Mục tiêu: Đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi lồng ngực điều trị thoát vị hoành bẩm sinh ở trẻ sơ sinh Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Hồi cứu mô tả loạt ca những trẻ sơ sinh bị thoát vị hoành bẩm sinh được phẫu thuật nội soi lồng ngực khâu phục hồi cơ hoành từ tháng 1/2018 đến tháng 1/2020 tại Bệnh viện Nhi Đồng Thành Phố Mô tả đặc điểm trước, trong và sau phẫu thuật Kết quả ban đầu đánh giá tỷ lệ thoát vị tái phát Kết quả thứ phát bao gồm thời gian nằm viện, thời gian thở máy và các biến chứng sau mổ

Kết quả: Có 35 trẻ sơ sinh bị thoát vị hoành bẩm sinh, với 34 trường hợp được phẫu thuật nội soi và 1 trường hợp phải chuyển mổ mở Thoát vị hoành bên trái 30 bệnh nhân và bên phải 4 bệnh nhân Có 2 bệnh nhân thở rung tần số cao Khâu trực tiếp 2 mầm cơ hoành với nhau trong 5 trường hợp Khâu 2 mầm cơ hoành với cơ thành ngực trong 29 trường hợp Thời gian phẫu thuật trung bình 63 ± 21 phút và thời gian nằm viện trung

Kết luận: Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy, phẫu thuật nội soi lồng ngực điều trị thoát vị hoành an toàn

về mặt biến chứng và tử vong Ngoài ra, thời gian hồi phục sau mổ nhanh

Từ khóa: thoát vị hoành bẩm sinh, sơ sinh, phẫu thuật nội soi lồng ngực

ABSTRACT

RESULT OF LAPAROSCOPIC SURGERY IN THE TREATMENT OF CONGENITAL

DIAPHRAGMATIC HERNIA IN NEONATES

Ta Huy Can, Huynh Thi Thanh Thao, Tran Tan Loc, Nguyen Thi Cam Xuyen, Truong Quang Dinh, Truong Nguyen Uy Linh * Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol 25 - No 1 - 2021: 128 - 133

Background: Diaphragmatic hernia is one of the important surgical causes of neonatal respiratory failure

Laparoscopic surgery in newborn is increasingly developing However, the recurrence rate in laparoscopic surgery

is higher than in open surgery as well as concerns about the adverse effects of CO 2 pump in surgery, so the application is still debated

Objectives: To examine the results of thoracoscopic congenital diaphragmatic hernia repair in neonates Methods: The retrospective review was carried out on neonates with CDH who underwent thoracoscopic

surgery from January 2018 to January 2020 at City Children’s Hospital The perioperative characteristics were recorded The primary outcome was hernia recurrence Secondary outcomes included length of hospital stay, mechanical ventilation, and postoperative complications

Results: 35 neonates with CDH, of whom 34 underwent thoracoscopic repair and 1 required conversion to

1 Bệnh Viện Nhi Đồng Thành Phố 2 Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh

Tác giả liên lạc: BSCKII Tạ Huy Cần ĐT: 0975649090 Email: huycansurg@gmail.com

Trang 2

open surgery The hernia was located on the left side in 30 patients and on the right side in 4 High frequency oscillatory ventilation was used in 2 patients Direct closure of two rims of diaphragmatic hernia was carried out

in 5 patients Closure of two rims of diaphragmatic hernia with the thoracic wall was performed in 29 patients The mean operative time was 63 ± 21 minutes and duration of postoperative hospital stay was 21.85 ± 8.9 days Recurrence rate was 3/34 There were no cases of postoperative mortality

Conclusions: We demonstrate that thoracoscopic repair for diaphragmatic hernia appears to be safe in terms

of complications and mortality Besides, it is associated with fast postoperative recovery

Keywords: congenital diaphragmatic hernia, neonates, thoracoscopic repair

ĐẶT VẤN ĐỀ

Thoát vị hoành (TVH) là một trong những

nguyên nhân ngoại khoa quan trọng gây suy hô

hấp ở trẻ sơ sinh, với tần suất của bệnh 1/2500 –

1/3000 trẻ sinh sống Do khiếm khuyết trong sự

phát triển của cơ hoành, tạng trong ổ bụng thoát

vị vào khoang lồng ngực Một tiến bộ quan

trọng trong chăm sóc bệnh nhân TVH bẩm sinh

là chẩn đoán trước sinh, từ đó tham vấn các

nguy cơ và tiên lượng dựa trên các hình ảnh học

của siêu âm và cộng hưởng từ thai(1)

Ngày nay, TVH bẩm sinh được xem là một

cấp cứu nội khoa Hồi sức trước mổ giúp cải thiện

việc mở lại tuần hoàn thai nhi, tăng tính đàn hồi

của phổi cũng như giảm sự nhạy cảm của giường

mạch máu, tạo điều kiện tốt cho phẫu thuật Nhờ

tiến bộ của hồi sức sơ sinh mà tỷ lệ sống của TVH

ngày càng cải thiện, 70-90%(1)

Phẫu thuật nội soi (PTNS) ở sơ sinh ngày

càng phát triển và được ứng dụng trong điều trị

TVH bẩm sinh Tuy nhiên, PTNS không chỉ đòi

hỏi kỹ năng mà còn cần sự phối hợp tốt với gây

mê hồi sức trước, trong và sau mổ Bên cạnh đó,

tỷ lệ tái phát trong mổ nội soi cao hơn mổ mở

cũng như lo ngại tác dụng bất lợi của bơm CO2

trong mổ nên việc áp dụng vẫn còn tranh

luận(2,3,4) Chính vì thế, chúng tôi tiến hành

nghiên cứu nhằm trả lời câu hỏi: PTNS điều trị

TVH bẩm sinh ở trẻ sơ sinh có hiệu quả, an toàn

hay không?

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Chúng tôi thực hiện nghiên cứu hồi cứu mô

tả về kết quả điều trị TVH bẩm sinh bằng PTNS

khâu phục hồi cơ hoành tại bệnh viện Nhi Đồng

Thành Phố, từ 1/1/2018 đến 1/1/2020

Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu hồi cứu mô tả

Phương pháp thực hiện

Tất cả trẻ sơ sinh, chẩn đoán TVH khe sau bên điều trị bằng PTNS, theo dõi sau mổ ít nhất

6 tháng, được đưa vào nghiên cứu Sau khi được hồi sức ổn định, PTNS lồng ngực được thực hiện trên các bệnh nhân đủ tiêu chuẩn: cao áp phổi cải thiện trên siêu âm tim và trạng thái tim phổi

ổn định Tất cả các trường hợp phẫu thuật được thực hiện bởi cùng một phẫu thuật viên chính

Thu thập và xử lý dữ liệu

Thu thập và phân tích các dữ liệu về dịch tễ, lâm sàng, cận lâm sàng, phẫu thuật, điều trị sau

mổ, biến chứng, tái phát, tử vong Các phép kiểm thực hiện trên SPSS 20.1

KẾT QUẢ Trong thời gian nghiên cứu, ghi nhận 35 trường hợp trẻ sơ sinh TVH bẩm sinh thỏa tiêu chuẩn chọn bệnh được đưa vào nghiên cứu Trong đó, có 34 trẻ được PTNS hoàn toàn, 1 trẻ

chuyển mổ mở

Đặc điểm bệnh nhi trước phẫu thuật

Nghiên cứu có 15 nam (41,2%), 19 nữ (58,8%) với đa số sinh đủ tháng, chỉ có 2 trẻ sinh non Có

22 trẻ được chẩn đoán trước sinh (64,7%), trong

đó có 19 trẻ đã được tư vấn trước sinh (86,36%)

Cân nặng lúc sinh trung bình là 3108 ± 278 gram (2400 - 3600 gram) Thời điểm xuất hiện suy hô hấp trung bình là 11,53 giờ tuổi, sớm nhất

là ngay sau sinh và muộn nhất là 147 giờ sau sinh Có 20 trẻ (58,5%) suy hô hấp ngay sau sinh

Trang 3

và 29 trẻ (85,3%) suy hô hấp trong ngày đầu sau

sinh Tim bẩm sinh gặp ở 24 trẻ (70,6%), cao áp

phổi ghi nhận ở 18 trẻ (59,2%), với áp lực động

mạch phổi trung bình là 36,45 ± 13,65 mmHg (20

– 81 mmHg) TVH bên trái chiếm đa số, gặp ở 30

trẻ (88,2%), bên phải 4 trẻ (11,8%)

Bảng 1: Khí máu động mạch trước phẫu thuật

Khí máu (N = 34) Trung bình Độ lệch chuẩn Thấp nhất nhất Cao

pH (n=34) 7,17 0,17 7 7,38

PCO 2 (mmHg) (n=34) 53,02 10,34 42 73

PO 2 (mmHg) (n=34) 89,75 32,94 28 159

AaDO 2 (n=34) 73,85 58,93 4 228

FiO 2 (%) (n=34) 27,95 4,09 21 40

Đa số trẻ cần hỗ trợ hô hấp bằng máy thở

trước phẫu thuật, 28 trẻ (82,4%), với thời gian

thở máy trước phẫu thuật trung bình là 95,5 ± 71

giờ (32 – 405 giờ) Có 2 trẻ cần thở máy rung tần

số cao, chiếm 5,9% Số trường hợp cần sử dụng

thuốc vận mạch trước mổ là 9 (26,5%) (Bảng 1)

Đặc điểm bệnh nhi trong phẫu thuật

Thời điểm phẫu thuật trung vị là 73 giờ tuổi

(26 - 408 giờ tuổi)

Thoát vị hoành dạng B chiếm phần lớn, 24

trường hợp (70,6%), dạng C có 5 trường hợp

(17,6%) và dạng A có 4 trường hợp (11,8%) Có

20 trẻ thoát vị hoành có túi (58,8%) Tạng thoát vị

bao gồm ruột, kèm theo lách có 22 trường hợp

(64,7%), gan 9 trường hợp (26,5%) và dạ dày có 7

trường hợp (20,6%)

Có 5 trường hợp được khâu phục hồi cơ

hoành bằng cách khâu trực tiếp 2 mép cơ hoành,

còn đa số là các trường hợp còn lại, cơ hoành

được khâu vào thành ngực (29 trẻ, 85,3%)

Có 6 trường hợp cần dẫn lưu màng phổi sau

mổ, chiếm 17,6% Thời gian phẫu thuật trung

bình là 63,38 ± 21,02 phút (25 - 100 phút) EtCO2

trong mổ trung bình là 38,12  7,49 mmHg (20 –

56 mmHg), pH trong mổ trung bình là 7,27 

0,11 (6,96 - 7,49), PaCO2 trong mổ trung bình là

47,66 mmHg (18,4 - 97,9 mmHg)

Kết quả và biến chứng sau phẫu thuật

Thời gian thở máy trung bình sau phẫu thuật

5,03 ± 4,05 ngày (1 – 22 ngày) Thời điểm bắt đầu

cho ăn đường miệng trung bình là 4,26 ± 4,14 ngày (1 – 24 ngày), hơn nửa số trẻ (58,8%) bắt đầu ăn lại từ ngày thứ 3 sau mổ, hơn ba phần tư

số trẻ bắt đầu ăn lại vào ngày thứ 4 sau mổ Thời gian nuôi ăn tĩnh mạch trung bình là 9,18 ± 5,58 ngày (4 – 33 ngày) Thời gian nằm hồi sức sau

mổ trung bình là 10,38 ± 5,97 ngày (4 – 30 ngày)

Có 1 bệnh nhi chảy máu sau phẫu thuật (2,9%), được mổ lại cầm máu vào ngày hậu phẫu thứ 2 sau mổ cắt túi thoát vị và khâu phục hồi cơ hoành trái Có 4 trường hợp tràn khí màng phổi sau mổ (11,8%) và 10 trường hợp tràn dịch màng phổi sau mổ (29,4%)

Không có trường hợp tử vong sau mổ, có 3/34 trường hợp tái phát sau mổ, chiếm tỷ lệ 8,8%, đều là thể có túi Chúng tôi có 1 trường hợp tắc ruột do dính sau 2 tháng PTNS (2,9%),

có 6 trường hợp trào ngược dạ dày thực quản (17,6%) Thời gian nằm viện trung bình sau mổ

là 21,85 ± 8,9 ngày (11 – 48 ngày)

BÀN LUẬN Đặc điểm bệnh nhi trước mổ

Tỷ lệ chẩn đoán trước sinh của chúng tôi là 64,7% cao hơn so với nhiều nghiên cứu trong nước như tác giả Ngô Kim Thơi 1,9%(5), Đặng Quốc Bửu 10,6%(6) Sự khác biệt này do chúng tôi hợp tác với các bệnh viện sản của thành phố để tầm soát và tư vấn các dị tật trước sinh Khi được chẩn đoán trước sinh, các trường hợp TVH sẽ được đánh giá mức độ nặng cũng như tầm soát thêm các dị tật bẩm sinh đi kèm, đặc biệt là dị tật tim và bất thường nhiễm sắc thể Từ đó, bác sĩ lâm sàng sẽ có thái độ theo dõi thai kỳ thích hợp, thậm chí chấm dứt thai kỳ ở những trường hợp nặng, đa dị tật và giúp có sự chuẩn bị tâm lý, phương tiện hồi sức tại phòng sinh, chuyển viện đến đơn vị có khả năng phẫu thuật sơ sinh Cân nặng trung bình trong nghiên cứu của chúng tôi là 3108g, nhỏ nhất là 2400g, lớn nhất là 3600g Kết quả này tương tự như kết quả nghiên cứu PTNS của Jancelewicz T là 3100g(7) và Cho

SD là 3258g(8) Trẻ TVH bẩm sinh được PTNS hầu hết có cân nặng tốt, không có báo cáo nào

Trang 4

được thực hiện trên trẻ cực nhẹ cân, giúp tạo

thuận lợi cho việc gây mê và phẫu thuật viên

thao tác dễ dàng hơn

Tim bẩm sinh gặp ở 24 trẻ, không có trẻ nào

bị tim bẩm sinh nặng do chúng tôi chỉ chọn

những trẻ có dị tật tim nhẹ để PTNS Tỷ lệ cao

áp phổi trong nghiên cứu của chúng tôi là 59,2%,

cao hơn của tác giả Đặng Quốc Bửu là 40,4%(6)

Đây là một trong các yếu tố tiên lượng tử vong(1)

Khí máu động mạch là phương tiện đánh giá

tình trạng hô hấp của trẻ TVH, giúp xác định

thời điểm ổn định của bệnh nhi để lựa chọn thời

điểm phẫu thuật thích hợp Trong nghiên cứu

của chúng tôi, các chỉ số khí máu, đặc biệt là

AaDO2 thấp hơn trong nghiên cứu của tác giả

Chaudhary J(9) với AaDO2 trong khoảng 200

mmHg và tác giả Tanaka T(10) là 300 mmHg Chỉ

số pH trong nghiên cứu của chúng tôi cũng thấp

hơn sao với hai tác giả trên

Đặc điểm bệnh nhi trong mổ

Khuyến cáo chung về thời điểm phẫu thuật

khi hồi sức bệnh nhi ổn định huyết áp, kiểm soát

được cao áp phổi, ổn định các chỉ số về khí máu

PaCO2 <60 mmHg, PaO2 >40 mmHg, SatO2 >85%,

FiO2 <50% và tình trạng này được ổn định ít nhất

48 giờ(11)

Kích thước khe thoát vị là một yếu tố tiên

lượng quan trọng, khe thoát vị càng nhỏ tiên

lượng càng tốt, tỷ lệ sống càng cao(12) Khe thoát

vị lớn cũng gây khó khăn việc khâu phục hồi cơ

hoành, đặc biệt là khi PTNS Trong nghiên cứu

của chúng tôi, đa số là khe thoát vị là nhỏ đến

vừa (dạng A và B), chỉ có 1,6% trẻ có khe thoát vị

lớn dạng C và không có trường hợp nào rất lớn

dạng D

Theo một số tác giả, dạ dày thoát vị lên

ngực là chống chỉ định của phẫu thuật nội soi

vì nó liên quan đến kích thước khe thoát vị lớn

và gây khó khăn cho việc khâu phục hồi cơ

hoành(13) Tuy nhiên, khi kỹ thuật ngày càng

thuần thục, khâu phục hồi cơ hoành có thể

hoàn toàn được thực hiện qua nội soi trong

trường hợp dạ dày thoát vị lên ngực, khe thoát

vị lớn(14,15) Chúng tôi có 7 bệnh nhi thoát vị dạ

dày lên ngực và nhận thấy không quá khó khăn để khâu phục hồi cơ hoành

Gan thoát vị cũng gây khó khăn cho PTNS Chúng tôi có 8 bệnh nhi có một phần nhỏ gan thoát vị nên PTNS vẫn thực hiện được Lách thoát vị không gây nhiều khó khăn cho PTNS, tuy nhiên việc đưa lách xuống bụng phải đảm bảo không sang chấn vì khi chảy máu rất khó kiểm soát Để đưa lách xuống bụng, chúng tôi sử dụng 2 kẹp bắt chéo nhau, một kẹp vào đại tràng góc lách ở phía trước, một đưa xuống mặt dưới mép sau cơ hoành, để lách vào góc dưới chỗ bắt chéo, phối hợp 2 kẹp vừa kéo đại tràng góc lách xuống, vừa mở rộng khe thoát vị, vừa đẩy lách bằng chỗ bắt chéo 2 kẹp

Chúng tôi bắt đầu khâu cơ hoành ngay giữa khe thoát vị, làm hạn chế các tạng thoát vị trở lại lên ngực trong quá trình thao tác hoặc khi giảm áp lực bơm CO2, để các mũi khâu sau

dễ dàng hơn Trong trường hợp khe thoát vị nhỏ, khâu phục hồi cơ hoành được thực hiện đơn giản bằng khâu lại 2 mép cơ hoành Đối với 24 trường hợp khe thoát vị cỡ vừa, chúng tôi chọn phương pháp khâu cơ hoành-cơ hoành và đặc biệt thêm vài mũi khâu cơ hoành vào thành ngực, với mũi khâu góc giữa thành ngực và cả 2 mép cơ hoành là điểm quyết định

sự chắc chắn Đối với khe thoát vị lớn, chúng tôi chọn khâu cơ hoành vào thành ngực, dọc theo khoảng gian sườn, nơ chỉ được cột bên ngoài và vùi vào dưới da thành ngực, giúp thay thế cho việc sử dụng mảnh ghép nhân tạo, tuy nhiên cơ hoành sẽ rất căng và cần thời gian theo dõi tái phát cho các trường hợp này Chưa có sự thống nhất về việc có hay không dẫn lưu màng phổi sau PTNS(14,15) Chúng tôi có

6 trường hợp đầu đặt dẫn lưu màng phổi, sau đó chúng tôi nhận thấy nếu không đụng chạm phổi trong quá trình thao tác thì không cần thiết phải dẫn lưu màng phổi sau mổ

Thời gian phẫu thuật có sự cải thiện dần khi

kỹ thuật trong PTNS càng hoàn thiện Thời gian phẫu thuật trung bình của chúng tôi là 63,38 phút, khá tương đồng thậm chí ngắn hơn nhiều

Trang 5

nghiên cứu khác(8,15) do phần lớn trường hợp

trong nghiên cứu này là khe thoát vị vừa và nhỏ

cũng như không sử dụng mảnh ghép nhân tạo

Trong mổ, chúng tối theo dõi liên tục EtCO2

với EtCO2 trung bình vẫn nằm trong giá trị bình

thường là 38,12 mmHg Đây là chỉ số quan trọng

dùng để theo dõi trong quá trình PTNS Tăng

PaCO2 và toan hoá máu trong quá trình nội soi

lồng ngực được báo cáo đầu tiên vào năm 2009

bởi Bliss D(16) Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu

không cho thấy bằng chứng về tác động tiêu cực

của PTNS trong điều trị TVH(17,18) Chúng tôi

nhận thấy PaCO2 tăngkhông đáng kể và chưa

ghi nhận tác động bất lợi trên bệnh nhi

Chúng tôi có một trường hợp chuyển mổ

mở do tình trạng bệnh nhi xấu hơn với EtCO2

tăng sau khi đặt trocar đầu tiên và bơm CO2

vào khoang màng phổi Thêm vào đó, chúng

tôi tiên lượng cuộc mổ kéo dài vì khe thoát vị

lớn với dạ dày, một phần gan trái, lách và ruột

thoát vị lên ngực

Kết quả và biến chứng sau mổ

Thời gian thở máy sau mổ khi phẫu thuật

nội soi được nhiều tác giả ghi nhận ngắn hơn so

với phẫu thuật mở(14,19,20) Điều này ủng hộ cho

việc thực hiện PTNS điều trị TVH

Thời điểm bắt đầu cho ăn đường miệng và

đạt đinh dưỡng hoàn toàn đường miệng khi

PTNS sớm hơn mổ mở(14), do thao tác ít chạm

vào ruột nên nhu động phục hồi sớm hơn Ngoài

ra, do ít đau hơn nên thời gian sử dụng an thần

và giảm đau sau mổ ngắn hơn, tạo thuận lợi cho

việc bắt đầu nuôi ăn đường miệng sớm

Chúng tôi có 1 trường hợp chảy máu sau

mổ, nguyên nhân do chảy máu diện cắt túi thoát

vị Bên cạnh hai nguyên nhân chính gây chảy

máu là tổn thương lách và mạch máu liên sườn

khi khâu cơ hoành vào thành ngực thì chảy máu

diện cắt cần được lưu ý

Chúng tôi ghi nhận 4 bệnh nhi (chiếm 10,8%)

tràn khí màng phổi sau mổ, trong đó có 3 bệnh

nhi đã được dẫn lưu màng phổi thường quy

trong lúc mổ Cả 4 trường hợp tràn khí màng

phổi đều tự giới hạn Tràn khí màng phổi sau

mổ có thể do vỡ phế nang khi thực hiện hỗ trợ

hô hấp hoặc do sang chấn trực tiếp khi thao tác trong quá trình PTNS

Chúng tôi ghi nhận 3 trường hợp TVH tái phát, tương đồng với một số báo cáo trong nước

và trên thế giới(8,11,15) Cả 3 trường hợp tái phát đều có khe thoát vị lớn Chúng tôi nhận thấy khe thoát vị lớn là yếu tố nguy cơ chính dẫn đến tái phát và biện pháp khắc phục là thực hiện mũi khâu từ ngoài thành ngực ở nơi yếu nhất là tam giác giữa mép trước, mép sau cơ hoành và thành ngực

Có 1 trường hợp tắc ruột do dính sau mổ Theo Cho SD(8), Gourlay DM(3), McHoney M(4)

những trẻ phẫu thuật nội soi đường ngực điều trị TVH có tỷ lệ tắc ruột sau mổ thấp hơn những trẻ được mổ mở

Chúng tôi không ghi nhận có trường hợp nào tử vong sau mổ, tương tự với các tác giả Gourlay DM(3), McHoneyM(4) Kết quả này cho thấy PTNS điều trị thoát vị hoành có thể được thực hiện an toàn trên những trẻ sơ sinh được chọn lựa với tiêu chuẩn rõ ràng

KẾT LUẬN PTNS có thể thực hiện an toàn, hiệu quả trên những trẻ sơ sinh TVH bẩm sinh Tuy nhiên cần phải chọn bệnh tốt, phối hợp tốt giữa hồi sức sơ sinh, gây mê và phẫu thuật viên Đặc biệt, để phẫu thuật an toàn và hiệu quả cần kiểm soát việc tăng PaCO2 trong mổ cũng như đòi hỏi phẫu thuật viên phải có kỹ năng tốt về phẫu PTNS

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Hedrick HL, Adzick NS (2019) Congenital diaphragmatic hernia in the neonate UpToDate, TW (Ed), Waltham, MA

2 Kamran A, Zendejas B, Demehri FR, et al (2018) Risk factors for recurrence after thoracoscopic repair of congenital

diaphragmatic hernia (CDH) J Pediatr Surg, 53(11):2087-2091

3 Gourlay DM, Cassidy LD, Sato TT (2009) Beyond feasibility: a comparison of newborns undergoing thoracoscopic and open

repair of congenital diaphragmatic hernias J Pediatr Surg,

44(9):1702-1707

4 McHoney M, Giacomello L, Nah SA, et al (2010) Thoracoscopic repair of congenital diaphragmatic hernia: intraoperative

ventilation and recurrence J Pediatr Surg, 45(2):355-359

Trang 6

5 Ngô Kim Thơi (2003) Chọn thời điểm phẫu thuật trong thoát vị

hoành khe sau bên bẩm sinh ở sơ sinh Luận văn Bác sĩ Nội trú,

Đại học Y Dược Thành Phố Hồ Chí Minh

6 Đặng Quốc Bửu (2017) Đặc điểm dịch tễ, lâm sàng và điều trị

thoát vị hoành bẩm sinh tại Bệnh viện Nhi đồng 1 Luận văn Bác

sĩ Nội trú, Đại học Y Khoa Phạm Ngọc Thạch

7 Jancelewicz T, Langer JC, Chiang M (2013) Thoracoscopic

repair of neonatal congenital diaphragmatic hernia (CDH):

outcomes after a systematic quality improvement process J

Pediatr Surg, 48(2):321-325

8 Cho SD, Krishnaswami S, McKee JC (2009) Analysis of 29

consecutive thoracoscopic repairs of congenital diaphragmatic

hernia in neonates compared to historical controls J Pediatr

Surg, 44(1):80-6

9 Chaudhary J, Shivprasad B, Lakshmi V (2019) Analysis of

Prognostic Factors in Congenital Diaphragmatic Hernia in

Neonates J Indian Assoc Pediatr Surg, 24(3):176-179

10 Tanaka T, Okazaki T, Fukatsu Y (2013) Surgical intervention for

congenital diaphragmatic hernia: open versus thoracoscopic

surgery Pediatr Surg Int, 29(11):1183-1186

11 Tsao K, Lally KP (2011) Surgical management of the newborn

with congenital diaphragmatic hernia Fetal Diagn Ther,

29(1):46-54

12 Lally KP, Lally PA, Lasky RE (2007) Defect size determines

survival in infants with congenital diaphragmatic hernia

Pediatrics, 120(3):651-657

13 Becmeur F (2009) Congenital diaphragmatic heria repair In:

Essentials of Pediatric Endoscopic Surgery, pp.129-136 Springer,

Berlin

14 Criss CN, Coughlin MA, Matusko N (2018) Outcomes for thoracoscopic versus open repair of small to moderate

congenital diaphragmatic hernias J Pediatr Surg, 53(4): 635-639

15 Liem NT, Nhat LQ, Tuan TM (2011) Thoracoscopic repair for

congenital diaphragmatic hernia: experience with 139 cases J Laparoendosc Adv Surg Tech A, 21(3):267-270

16 Bliss D, Matar M, Krishnswami S (2009) Should Intraoperative Hypercapnea or Hypercarbia Raise Concern in Neonates Undergoing Thoracoscopic Repair of Diaphragmatic Hernia of

Bochdalek? J Laparoendosc Adv Surg Tech A, 19(1):55-58

17 Fishman JR, Blackburn SC, Jones NJ (2011) Does thoracoscopic congenital diaphragmatic hernia repair cause a significant intraoperative acidosis when compared to an open abdominal

approach? J Pediatr Surg, 46(3):458-461

18 Okazaki T, Okawada M, Koga H (2015) Safety of surgery for neonatal congenital diaphragmatic hernia as reflected by arterial

blood gas monitoring: thoracoscopic versus open repair Pediatr Surg Int, 31(10):899-904

19 Qin J, Ren Y, Ma D (2019) A comparative study of thoracoscopic and open surgery of congenital diaphragmatic

hernia in neonates J Cardiothorac Surg, 14(1):118

20 Vijfhuize S, Deden AC, Costerus SA, et al (2012) Minimal access surgery for repair of congenital diaphragmatic hernia: is it

advantageous? An open review Eur J Pediatr Surg,

22(5):364-373

Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 20/02/2021 Ngày bài báo được đăng: 10/03/2021

Ngày đăng: 10/04/2021, 12:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w