Bài viết trình bày xác định tỉ lệ nhận thức không đạt về các yếu tố nguy cơ và dấu hiệu cảnh báo đột quỵ và một số yếu tố liên quan đến các tỉ lệ nhận thức không đạt đó ở người trưởng thành tại Thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
Trang 1NHẬN THỨC VỀ CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ
VÀ DẤU HIỆU CẢNH BÁO ĐỘT QUỴ Ở NGƯỜI TRƯỞNG THÀNH TẠI THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, ĐẮK LẮK NĂM 2020
Đặng Thị Xuyến 1 , Đinh Hữu Hùng 1
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Đột quỵ luôn là vấn đề quan trọng trên toàn thế giới Nhận thức tốt về các yếu tố nguy cơ và dấu hiệu cảnh báo của đột quỵ góp phần làm giảm gánh nặng của đột quỵ vì điều này giúp dự phòng đột quỵ có hiệu quả hơn đồng thời giúp cải thiện kết cục điều trị
Mục tiêu: Xác định tỉ lệ nhận thức không đạt về các yếu tố nguy cơ và dấu hiệu cảnh báo đột quỵ và một số yếu tố liên quan đến các tỉ lệ nhận thức không đạt đó ở người trưởng thành tại Thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang 464 người trưởng thành ở Thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk Sử dụng một bộ câu hỏi được soạn sẵn để thu thập các thông tin thông qua phỏng vấn trực tiếp
Kết quả: Trong tháng 01/2020, chúng tôi đã thu thập 464 đối tượng nghiên cứu Kết quả cho thấy rằng có 67,9% và 76,1% người trưởng thành nhận thức không đạt về các yếu tố nguy cơ và dấu hiệu cảnh báo đột quỵ Các yếu tố liên quan đến tỉ lệ nhận thức không đạt về các yếu tố nguy cơ đột quỵ là tuổi cao (≥ 65 tuổi), dân tộc thiểu số, trình độ học vấn thấp và nghề nông Các yếu tố liên quan đến tỉ lệ nhận thức không đạt về dấu hiệu cảnh báo đột quỵ là lớn tuổi, trình độ học vấn thấp, nghề nghiệp và tiền sử gia đình có người thân bị đột quỵ Không có
sự khác biệt về sự nhận thức đối với các yếu tố nguy cơ và dấu hiệu cảnh báo đột quỵ giữa những người có tiền
sử mắc bệnh tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn lipid máu so với nhóm còn lại
Kết luận: Tỉ lệ nhận thức không đạt về yếu tố nguy cơ và dấu hiệu cảnh báo đột quỵ của người dân tuổi trưởng thành ở mức cao Các yếu tố có liên quan đến cả hai tỉ lệ nhận thức không đạt này là tuổi, trình độ học vấn và nghề nghiệp Riêng nhận thức về yếu tố nguy cơ, còn có liên quan với nhóm dân tộc, và đối với nhận thức
về dấu hiệu cảnh báo, còn có liên quan với tiền sử gia đình có người thân bị đột quỵ
Từ khóa: nhận thức, yếu tố nguy cơ, dấu hiệu cảnh báo, đột quỵ
ABSTRACT
AWARENESS OF RISK FACTORS AND WARNING SIGNS FOR STROKE AMONG ADULTS
IN BUON MA THUOT CITY, DAK LAK PROVINCE
Dang Thi Xuyen, Dinh Huu Hung
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol 25 - No 2 - 2021: 94 - 100
Background: Stroke is always an important issue in the world The good awareness of stroke risk factors and warning signs decrease the burden of stroke because that help more effective prevention and improve outcomes treatment
Objective: To identify the poor awareness of risk factors and warning signs for stroke among the adult population in Buon Ma Thuot city, Dak Lak province, and some associated factors with this poor awareness Methods: Descriptive cross-sectional study of 464 participants in Buon Ma Thuot city, Dak Lak province
We used a designed questionnaire to collect data from the subjects through direct interviews
1 Trường Đại học Tây Nguyên
Trang 2Results: In January 2020, we recruited 464 participants The results indicated that 67.9% and 76.1%
of participants had poor awareness of risk factors and warning signs for stroke Factors associated with poor awareness of stroke risk factors are older age (65 years old and more), ethnic minority, low education level, and farmers Factors associated with awareness of warning signs for stroke are older age, lower level of education, occupation and familial history have a ralatively experienced stroke No variations about the awareness between the respondents who have hypertension, diabetes mellitus, and dyslipidemia with the respondents without these characteristics
Conclusion: The poor perception of risk factors and warning signs for stroke among adults in the community is high Factors associated with the poor awareness of both stroke risk factors and warning signs are age, level of education, occupational Singular poor awareness of stroke risk factors associated with ethnic minority, and the poor perception of warning signs of stroke associated with a familial history that his ralatives had experienced stroke
Keywords: awareness, risk factors, warning signs, stroke
ĐẶT VẤN ĐỀ
Đột quỵ (ĐQ) luôn là vấn đề thời sự của mọi
quốc gia bởi tỉ lệ tử vong và tàn tật luôn ở mức
cao và số người chết, mắc mới và hiện mắc vẫn
không ngừng tăng lên với tỉ lệ lần lượt là 41%,
66% và 84%(1) Để làm giảm gánh nặng do đột
quỵ, chiến lược dự phòng đột quỵ nguyên phát
nhấn mạnh nên tập trung vào những yếu tố
nguy cơ (YTNC) thuộc về hành vi như hút thuốc
lá, chế độ ăn không hợp lý, thói quen ít vận
động(1) Bên cạnh đó, việc thiếu nhận thức về
triệu chứng ban đầu cũng như các dấu hiệu cảnh
báo (DHCB) đột quỵ là nguyên nhân dẫn đến
nhập viện muộn làm ảnh hưởng không tốt đến
kết cục điều trị ĐQ(2,3)
Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về vấn
đề nhận thức về YTNC và DHCB của người dân
tại cộng đồng, kết quả cho thấy tỉ lệ nhận thức
của người dân chưa cao Bằng chứng từ nhiều
nghiên cứu ở các quốc gia phát triển và đang
phát triển cho thấy việc xác định được bất kỳ
YTNC và DHCB của người dân ở mức chung là
dưới 50%(4) Theo nghiên cứu tổng quan của
Jones SP (2010), những yếu tố liên quan đến
nhận thức kém của người dân về YTNC và
DHCB đột quỵ là những người lớn tuổi, trình độ
học vấn thấp và dân tộc thiểu số(2)
Lý Thị Kim Thương và cs đã tiến hành
nghiên cứu tại một phường tại Thành phố
Pleiku, tỉnh Gia Lai cho thấy tỉ lệ nhận thức
không đạt về YTNC và DHCB của người dân là 51,3% và 58,8%(5) Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện tại số lượng các nghiên cứu về vấn đề này trong cộng đồng còn khá khiêm tốn Chính vì vậy, để góp phần xây dựng những chiến lược can thiệp cụ thể làm giảm gánh nặng do ĐQ gây
ra, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu này với hai mục tiêu cụ thể:
- Xác định tỉ lệ nhận thức không đạt về các yếu tố nguy cơ và dấu hiệu cảnh báo đột quỵ ở người trưởng thành tại Thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk,
- Xác định một số yếu tố liên quan với tỉ lệ nhận thức không đạt về các yếu tố nguy cơ và dấu hiệu cảnh báo đột quỵ tại điểm nghiên cứu ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu
Là những người dân từ 18 tuổi trở lên, có hộ khẩu thường trú và đang sinh sống tại Thành phố Buôn Ma Thuột từ 6 tháng trở lên
Tiêu chuẩn loại ra
Người mất năng lực hành vi, tâm thần, câm, điếc, không đi lại được, không có khả năng giao tiếp; Người vắng mặt tại địa phương trong thời điểm nghiên cứu sau hai lần mời hoặc tiếp xúc
mà không gặp được; Người là khách vãng lai Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu
Mô tả cắt ngang
Trang 3Cỡ mẫu
Tính theo công thức xác định tỉ lệ trong
quần thể:
Với α=0,05; d=0,05 và p=78,2% (tỉ lệ nhận
thức không đạt về YTNC đột quỵ của
Olorukooba AA(6)), ta tính được n=262 Tương
tự, với p=77,6% (tỉ lệ nhận thức không đạt về
DHCB đột quỵ của Pandian JD(7)), ta tính được
n=268 Như vậy, cỡ mẫu cần cho nghiên cứu này
là 268 Bởi vì chọn mẫu nhiều giai đoạn nên
chúng tôi chọn hệ số thiết kế là 1,5 và có dự
phòng trường hợp mất mẫu (5%) nên cỡ mẫu
thực sự cần có là: 268 x 1,5 x 1,05 ≈ 423
Phương pháp chọn mẫu
Gồm các giai đoạn: (1) chọn 7 cụm
(xã/phường) thuộc Thành phố Buôn Ma Thuột,
tỉnh Đắk Lắk bằng phương pháp PPS, (2) chọn
hộ gia đình theo phương pháp ngẫu nhiên hệ
thống từ mỗi cụm Với ước tính mỗi hộ gia đình
có 2 người thỏa mãn tiêu chuẩn chọn mẫu thì
mỗi cụm sẽ cần chọn ra 31 hộ gia đình, và (3)
chọn tất cả các thành viên trong hộ gia đình
được chọn theo tiêu chuẩn chọn mẫu
Phương pháp thu thập số liệu
Số liệu được thu thập bằng bộ câu hỏi soạn
sẵn Tất cả các đối tượng tham gia nghiên cứu
đều được phỏng vấn mặt đối mặt để ghi nhận
các thông tin về: (1) các yếu tố nhân khẩu học
như tuổi, giới tính, dân tộc, trình độ học vấn,
nghề nghiệp và tình trạng hôn nhân; các yếu tố
về tiền sử y khoa như tăng huyết áp (THA), đái
tháo đường (ĐTĐ), rối loạn lipid máu (RLLM),
tiền sử gia đình có người thân bị đột quỵ; và (2)
sự nhận thức về các YTNC và DHCB ĐQ (câu
hỏi mở, không có gợi ý) Nhận thức không đạt
khi kể tên được ít hơn 2 YTNC/DHCB ĐQ, nhận
thức đạt khi kể tên được từ 2 YTNC/DHCB ĐQ
trở lên(6) Trước khi tiến hành thu thập số liệu tại
thực địa, chúng tôi đã tiến hành một cuộc điều
tra thử tại một cụm trên 30 người tham gia để
thử nghiệm bộ công cụ và thực hành các hoạt
động thu thập số liệu
Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu được nhập bằng phần mềm Epidata 3.1 và được xử lý bằng phần mềm Stata 14.0 Thống kê mô tả (tần số, tỉ lệ %) và thống kê phân tích (phép kiểm Chi bình phương và phép kiểm chính xác của Fisher) được sử dụng để phân tích
số liệu
Y đức
Nghiên cứu này được thông qua bởi Hội đồng Đạo đức trong nghiên cứu Y sinh học Đại học Y Dược TP HCM, số 25/HĐĐĐ, ngày 6/01/2020 KẾT QUẢ
Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu
Bảng 1: Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu (n=464)
Đặc điểm Tần số (%) Giới tính Nam 145 (31,2)
Nữ 319 (68,8) Tuổi
54,03 ±14,92
18-44 123 (26,5) 45-64 226 (48,7)
≥ 65 115 (24,8) Dân tộc Kinh 359 (77,4)
Dân tộc thiểu số 105 (22,6)
Trình độ học vấn
Từ tiểu học trở xuống 127 (27,4) Trung học cơ sở 161 (34,7) Trung học phổ thông 90 (19,4) Đại học/Cao đẳng trở lên 86 (18,5)
Nghề nghiệp
Nông dân 161 (34,7) Nội trợ 86 (18,5) Công nhân viên chức 58 (12,5) Buôn bán 33 (7,1) Nghề khác* 126 (27,2) Tình trạng hôn
nhân
Chưa kết hôn 30 (6,5)
Đã kết hôn** 434 (93,5) Tiền sử tăng huyết áp 144 (31,0) Tiền sử đái tháo đường 45 (9,7) Tiền sử rối loạn lipid máu 78 (16,8) Tiền sử gia đình có người thân bị đột quỵ 86 (18,5)
** ã k t hôn g m ang s ng v i v /ch ng,
ly hôn/ly thân, góa
*Nghề khác bao gồm nghỉ hưu, bốc vác, nghề không cố định
Nhận thức của người dân về các yếu tố nguy cơ
và dấu hiệu cảnh báo đột quỵ Hơn 2/3 số người tham gia nghiên cứu có nhận thức không đạt về các YTNC ĐQ và hơn
Trang 43/4 có nhận thức không đạt về DHCB ĐQ Trong
đó, có đến 42,9% không biết bất kỳ YTNC nào và
47% không biết bất kỳ DHCB nào
Bảng 2: Tỉ lệ nhận thức không đạt về các yếu tố nguy
cơ và dấu hiệu cảnh báo đột quỵ (n=464)
Nhận thức Yếu tố nguy cơ Dấu hiệu cảnh báo
Tần số Tỉ lệ (%) Tần số Tỉ lệ (%)
Không đạt 315 67,9 353 76,1
Đạt 149 32,1 111 23,9
Đạt: kể được từ 2 yếu tố nguy cơ/dấu hiệu cảnh báo trở lên;
Không đạt: kể tên được ít hơn 2 yếu tố nguy cơ/dấu hiệu
cảnh báo
Một số yếu tố liên quan đến tỉ lệ nhận thức không đạt
về yếu tố nguy cơ và dấu hiệu cảnh báo ĐQ
Kết quả Bảng 3 cho thấy:
- Một số yếu tố liên quan đến tỉ lệ nhận
thức không đạt về các YTNC ĐQ bao gồm:
Tuổi (≥65), dân tộc thiểu số, trình độ học vấn
(trình độ học vấn càng thấp, tỉ lệ nhân thức
không đạt càng cao) và nghề nghiệp mà đặc
biệt là nghề nông dân
- Không có sự khác biệt giữa những người
có tiền sử tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn lipid máu, tiền sử gia đình có người thân
bị đột quỵ về sự nhận thức không đạt YTNC với những người không có những tiền sử y khoa nói trên
Kết quả Bảng 4 cho thấy:
- Một số yếu tố liên quan đến tỉ lệ nhận thức không đạt về DHCB ĐQ bao gồm: Tuổi (tuổi càng cao, tỉ lệ nhận thức không đạt càng cao), trình độ học vấn (trình độ học vấn càng thấp, tỉ
lệ nhận thức không đạt càng cao), nghề nghiệp (nghề nông dân có tỉ lệ nhận thức không đạt cao nhất) và tiền sử gia đình có người thân bị đột quỵ (có tỉ lệ nhận thức không đạt thấp hơn)
- Không có sự khác biệt giữa những người có tiền sử tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn lipid máu về sự nhận thức không đạt về DHCB
ĐQ với những người không có những tiền sử y khoa nói trên
Bảng 3: Một số yếu tố liên quan với tỉ lệ nhận thức không đạt về các yếu tố nguy cơ của đột quỵ
Tuổi
≥ 65 1,83 1,05 - 3,2 0,033
45 – 64 1,30 0,82 - 2,05 0,267
Dân tộc Dân tộc thiểu số 5,34 2,76 - 10,32 <0,001
Dân tộc kinh 1 Tham chiếu
Trình độ học vấn
Từ tiểu học trở xuống 21,84 9,98 - 47,8 <0,001 Trung học cơ sở 4,03 2,31 - 7,01 <0,001 Trung học phổ thông 3,38 1,82 - 6,28 <0,001 Đại học/Cao đẳng trở lên 1 Tham chiếu
Nghề nghiệp
Nông dân 19,11 9,06 - 40,28 <0,001 Buôn bán 5,73 2,26 - 14,56 <0,001 Nội trợ 5,08 2,44 - 10,6 <0,001 Nghề khác 5,53 2,76 - 11,07 <0,001 Công nhân viên chức 1 Tham chiếu
Tình trạng hôn nhân Đã kết hôn 1,94 0,92 - 4,08 0,082
Chưa kết hôn 1 Tham chiếu Tiền sử tăng huyết áp Có 0,74 0,49 - 1,11 0,147
Tiền sử đái tháo đường Có 0,62 0,33 - 2,25 0,129
Tiền sử rối loạn lipid máu Có 0,67 0,40 - 1,10 0,115
Tiền sử gia đình có người thân bị đột quỵ Có 0,86 0,52-1,41 0,542
Trang 5Không 1 Tham chiếu
Bảng 4: Một số yếu tố liên quan với tỉ lệ nhận thức không đạt về dấu hiệu cảnh báo đột quỵ
Tuổi
≥ 65 4,53 2,28 - 8,97 < 0,001
45 – 64 1,88 1,17 - 3,04 0,01
Dân tộc Dân tộc thiểu số 1,56 0,90 - 2,70 0,114
Dân tộc kinh 1 Tham chiếu
Trình độ học vấn
Từ tiểu học trở xuống 9,62 4,72 - 19,63 < 0,001 Trung học cơ sở 4,6 2,58 - 8,19 < 0,001 Trung học phổ thông 3,39 1,79 - 6,43 < 0,001 Đại học/Cao đẳng trở lên 1 Tham chiếu
Nghề nghiệp
Nông dân 7,9 4,03 - 15,49 < 0,001 Buôn bán 3,5 1,41 - 8,69 0,007 Nội trợ 7,82 3,59 - 17,03 <0,001 Nghề khác 5,85 2,96 - 11,56 < 0,001 Công nhân viên chức 1 Tham chiếu
Tình trạng hôn nhân Đã kết hôn 0,55 0,25 - 1,19 0,129
Chưa kết hôn 1 Tham chiếu Tiền sử tăng huyết áp Có 1,02 0,65 -1,63 0,916
Tiền sử đái tháo đường Có 1,79 0,78 - 4,34 0,171
Tiền sử rối loạn lipid máu Có 1,06 0,59-1,89 0,848
Tiền sử gia đình có người thân bị đột quỵ Có 0,58 0,35-0,97 0,039
BÀN LUẬN
Tỉ lệ nhận thức không đạt về các yếu tố nguy cơ
và dấu hiệu cảnh báo đột quỵ
Trong nghiên cứu này, tỉ lệ người dân tuổi
trưởng thành trong cộng đồng có nhận thức
không đạt của về các YTNC ĐQ ở mức cao
(67,9%) Con số này tương đương với nghiên
cứu của Sadeghi-Hokmabadi E ở Iran (64,9%) và
thấp hơn so với kết quả nghiên cứu của
Olorukooba AA ở Nigeria (78,2%)(6,8) Tuy nhiên,
kết quả của chúng tôi lại cao hơn so với nghiên
cứu của Blades LL tại Mỹ (55%) và nghiên cứu
Lý Thị Kim Thương tại Gia Lai (51,3%)(5,9) Bên
cạnh đó, tỉ lệ người không có khả năng kể được
tên bất kỳ một YTNC đột quỵ nào cũng ở mức
cao (42,9%) Kết quả này cao hơn nghiên cứu của
Chhabra M tại Ấn Độ (28,85%)(10), Blades LL tại
Mỹ (21%)(9) và nghiên cứu của Sadeghi-Hokmabadi E ở Iran (20,2%)(8) Không biết gì về YTNC ĐQ là vấn đề đáng báo động vì hơn 90% gánh nặng đột quỵ là do các YTNC có thể thay đổi được, nhưng lại không được nhận thức để thay đổi(4)
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỉ lệ nhận thức không đạt về DHCB ĐQ là 76,1%, kết quả này tương tự nghiên cứu của Pandian JD ở Ấn
Độ (77,6%) và cao hơn nhiều so với nghiên cứu của Blades LL tại Mỹ (30%)(7,9) Bên cạnh đó, tỉ
lệ người dân không biết bất kỳ DHCB ĐQ nào trong nghiên cứu này cũng cao hơn rất nhiều (47%) so với nghiên cứu của Pandian JD (23%)(7) và của Blades LL (38%)(9) Tỉ lệ nhận thức không đạt này cũng cao hơn so với
Trang 6nghiên cứu của Lý Thị Kim Thương với tỉ lệ
nhận thức không đạt là 58,8% và tỉ lệ người
dân không biết về DHCB là 32,6%(5)
Như vậy, nghiên cứu này chỉ ra rằng sự
nhận thức của người dân trưởng thành trong
cộng đồng về các YTNC và DHCB ĐQ còn thấp
Rõ ràng, đây là một thách thức không nhỏ đối
với nỗ lực dự phòng ĐQ(11) Và đó cũng là rào
cản lớn trong việc điều trị ĐQ mà tác giả
Nguyễn Thị Trà Giang và Lê Văn Tuấn đã cho
thấy việc chậm trễ trong nhập viện của bệnh
nhân ĐQ liên quan đến nhận biết về triệu chứng
ban đầu của ĐQ(3) Do đó, cần có những biện
pháp thích hợp nhằm nâng cao nhận thức của
người dân về các YTNC, DHCB ĐQ và cách
kiểm soát các YTNC này cũng như cách xử trí
khi gặp các DHCB ĐQ này để góp phần làm
giảm gánh nặng ĐQ cho gia đình và xã hội
Một số yếu tố liên quan với tỉ lệ nhận thức
không đạt về các yếu tố nguy cơ và dấu hiệu
cảnh báo đột quỵ
Trong nghiên cứu này, tỉ lệ nhận thức không
đạt về YTNC ĐQ cao gấp gần 2 lần ở nhóm
người ≥65 tuổi so với nhóm từ 18-45 tuổi, ở
người dân tộc thiểu số cao gấp 5 lần so với người
Kinh và những người có trình độ học vấn càng
thấp thì tỉ lệ nhận thức không đạt về YTNC ĐQ
càng cao Kết luận tương cũng được chỉ ra trong
nghiên cứu tổng quan của Jones và cs khi có đến
70% người ≥65 tuổi có nhận thức không đạt về
các YTNC ĐQ, cao hơn có ý nghĩa so với nhóm
<65 tuổi (50%) Thiếu nhận thức về YTNC ĐQ
cao hơn ở người Mỹ gốc Phi và những người có
trình độ học vấn thấp(6) Bên cạnh đó, theo Lý Thị
Kim Thương và cs thì những người có trình độ
trung học phổ thông có nhận thức không đạt về
YTNC ĐQ cao hơn những người có trình độ từ
cao đẳng trở lên với OR=38,73 (KTC 95%; p
<0,001)(5) Thêm vào đó, kết quả của chúng tôi
cũng chỉ ra tỉ lệ nhận thức không đạt về các
YTNC ĐQ cũng rất cao ở nhóm người dân làm
nghề nông Điều này có lẽ do trong nghiên cứu
này những người làm nghề nông đa số là những
người có trình độ học vấn thấp
Càng lớn tuổi, tỉ lệ mắc đột quỵ càng cao và
từ 55 tuổi trở lên nguy cơ mắc đột quỵ tăng gấp đôi sau mỗi 10 năm(4) Nhưng trong nghiên cứu của chúng tôi và nhiều nghiên cứu khác cũng cho thấy, sự nhận thức về các YTNC ĐQ ở nhóm tuổi ≥65 lại rất hạn chế Đây có thể là yếu tố góp phần làm cho tỉ lệ đột quỵ vốn đã cao ở nhóm đối tượng này ngày càng cao hơn Tỉ lệ nhận thức không đạt cao về YTNC ĐQ của nhóm người có trình độ học vấn thấp và dân tộc thiểu
số trong nghiên cứu của chúng tôi cũng là vấn
đề đáng được quan tâm bởi Đắk Lắk là một tỉnh thuộc khu vực Tây Nguyên nơi có tới 35% là người đồng bào dân tộc thiểu số, tỉ lệ dân số từ
15 tuổi trở lên chưa bao giờ được đi học đứng hàng thứ 2 so với cả nước(11)
Vì thế, chúng ta cần có những giải pháp phù hợp và thiết thực nhất nhằm nâng cao nhận thức của người lớn tuổi, những người là đồng bào dân tộc thiểu số và những người có trình độ học vấn thấp về các YTNC ĐQ để góp phần làm giảm gánh nặng gây ra bởi các bệnh không lây nhiễm nói chung và ĐQ nói riêng
Về vấn đề nhận thức các DHCB ĐQ, nghiên cứu của chúng tôi đã chỉ ra rằng, có mối liên quan với tỉ lệ nhận thức không đạt với tuổi (tuổi càng cao thì tỉ lệ nhận thức không đạt càng cao), trình độ học vấn (trình độ học vấn càng thấp thì
tỉ lệ nhận thức không đạt càng cao), nghề nghiệp (những người làm nghề nông có tỉ lệ nhận thức không đạt cao nhất) và tiền sử gia đình có người thân bị đột quỵ (có tỉ lệ nhận thức không đạt thấp hơn)
Tỉ lệ nhận thức không đạt về DHCB ĐQ cao hơn ở những người ≥65 tuổi so với những người
ở độ tuổi 45-64 cũng được báo cáo trong nghiên cứu của Blades LL và tổng quan của Jones SP(2,9) Vấn đề này cần được chú ý hơn nữa với mong muốn cải thiện kết cục điều trị ĐQ vì khả năng mắc ĐQ ở những người càng lớn tuổi thì càng cao Họ cần được cung cấp những kiến thức cần thiết về những DHCB ĐQ, cách xử trí khi gặp những triệu chứng đó xảy ra với chính họ hoặc những người xung quanh họ
Trang 7Trình độ học vấn trên 12 năm có sự nhận
thức về DHCB ĐQ tốt hơn được Blades LL
chứng minh sau khi đưa vào phân tích hồi quy
đa biến(9), kết quả tương đồng với tác giả Lý Thị
Kim Thương(5) Cũng giống như lý do đã nêu
trên sự nhận thức về các YTNC ĐQ, những
người làm nghề nông có tỉ lệ nhận thức không
đạt về DHCB ĐQ cao hơn so với những nhóm
còn lại Như vậy những chiến lược làm gia tăng
nhận thức về DHCB ĐQ cuả những người có
trình độ học vấn thấp cần phải lưu ý đến khả
năng tiếp nhận thông tin cũng như hình thức
truyền tải thông tin đến nhóm đối tượng này
Trong nghiên cứu này, những người có tiền
sử gia đình có người thân bị đột quỵ thì có tỉ lệ
nhận thức không đạt về DHCB ĐQ thấp hơn
nhóm còn lại, điều này có thể được lý giải do họ
đã được chứng kiến hay quan tâm hơn về những
triệu chứng mà người thân của họ đã trải qua
Tuy nhiên, tỉ lệ chung nhận thức không đạt về
DHCB ĐQ vẫn là rất cao
Điều đáng quan tâm trong nghiên cứu của
chúng tôi là tỉ lệ nhận thức không đạt cả về
YTNC và DHCB ĐQ ở những người có tiền sử y
khoa như THA, ĐTĐ, RLLM không có sự khác
biệt gì so với những người không có tiền sử trên
THA, RLLM, ĐTĐ là 3 trong 10 YTNC quan
trọng của ĐQ được xác định trong nghiên cứu
INTERSTROKE với nguy cơ quy trách gây ra
ĐQ trong dân số lần lượt là 47,9%, 26,8%,
3,9%(11) Điều này lại một lần nữa nhấn mạnh
rằng những người có nguy cơ cao bị đột quỵ lại
thiếu nhận thức về YTNC cũng như DHCB ĐQ,
phải chăng đó là một trong những lý do mà tỉ lệ
mắc ĐQ vẫn chưa được kiểm soát tốt Đây là
điều đáng phải quan tâm hơn nữa trong công tác
dự phòng ĐQ, bên cạnh các chiến lược tầm soát
các YTNC của ĐQ cần phải có các chiến lược
nâng cao nhận thức của những người có nguy cơ
cao này về tầm quan trọng của các YTNC cũng
như việc kiểm soát các YTNC đó
KẾT LUẬN
Tỉ lệ nhận thức không đạt về yếu tố nguy cơ
và dấu hiệu cảnh báo đột quỵ của người dân
tuổi trưởng thành ở mức cao Các yếu tố có liên quan đến cả hai tỉ lệ nhận thức không đạt này là tuổi, trình độ học vấn và nghề nghiệp Riêng nhận thức về yếu tố nguy cơ, còn có liên quan với nhóm dân tộc, và đối với nhận thức về dấu hiệu cảnh báo, còn có liên quan với tiền sử gia đình có người thân bị đột quỵ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Feigin VL, Norrving B, Mensah GA (2017) Primary prevention of cardiovascular disease through population-wide motivational strategies: insights from using smartphones in
stroke prevention BMJ Global Health, 2(2):e000306
2 Jones SP, Jenkinson AJ, Leathley MJ, Watkins CL (2010) Stroke knowledge and awareness: an integrative review of the
evidence Age Ageing, 39(1):11-22
3 Nguyễn Thị Trà Giang, Lê Văn Tuấn (2018) Các yếu tố ảnh hưởng đến thời gian nhập viện và kết cục lâm sàng của bệnh
nhân nhồi máu não cấp tại bệnh viện Đa khoa Đắk Lắk Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 22(1):262-268
4 Donkor ES (2018) Stroke in the 21(st) Century: A Snapshot of
the Burden, Epidemiology, and Quality of Life Stroke Res Treat,
doi: 10.1155/2018/3238165
5 Lý Thị Kim Thương, Đinh Hữu Hùng, Phạm Thị Hoàng Yến (2019) Nhận thức về các yếu tố nguy cơ và biểu hiện cảnh báo đột quỵ não của người dân tại phường Tây Sơn Thành phố
Pleiku tỉnh Gia Lai năm 2016 Nghiên cứu Khoa học, 2(1):82-90
6 Olorukooba AA, Mohammed Y, Yahaya SS, et al (2018) Awareness of stroke and knowledge of its risk factors among respondents in Shika community, Kaduna State, Nigeria
Archives of Medicine and Surgery, 3(1):30-34
7 Pandian JD, Jaison A, Deepak SS, et al (2005) Public awareness
of warning symptoms, risk factors, and treatment of stroke in
northwest India Stroke, 36(3):644-648
8 Sadeghi-Hokmabadi E, Vahdati SS, Rikhtegar R, Ghasempour
K, Rezabakhsh A (2019) Public knowledge of people visiting Imam Reza hospital regarding stroke symptoms and risk
factors BMC Emerg Med, 19(1):36
9 Blades LL, Oser CS, Dietrich DW, et al (2005) Rural community knowledge of stroke warning signs and risk
factors Prev Chronic Dis, 2(2):A14
10 Chhabra M, Gudi SK, Rashid M, et al (2019) Assessment of Knowledge on Risk Factors, Warning Signs, and Early Treatment Approaches of Stroke among Community Adults in
North India: A Telephone Interview Survey J Neurosci Rural Pract, 10(3):417-422
11 Kalkonde YV, Alladi S, et al (2018) Stroke Prevention
Strategies in the Developing World Stroke, 49(12):3092-3097
12 Ban chỉ đạo tổng điều tra dân số và nhà ở Trung Ương (2019) Tổng điều tra dân số và nhà ở 2019-Tổ chức thực hiện và kết
quả sơ bộ Nhà xuất bản Thống kê, pp.45-6