1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giá trị của chụp cắt lớp vi tính trong phân biệt dày thành túi mật do ung thư với các nguyên nhân lành tính khác

7 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 311,94 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ung thư túi mật là bệnh hiếm gặp tuy nhiên có tiên lượng xấu, thường được phát hiện muộn. Dày thành túi mật là một dấu hiệu thường gặp trên hình ảnh học, dấu hiệu này gặp trong gần 1/3 các trường hợp ung thư túi mật và trong rất nhiều bệnh lý lành tính khác của túi mật. Bài viết trình bày xác định các đặc điểm hình ảnh trên cắt lớp vi tính có giá trị trong phân biệt ung thư túi mật với các bệnh lý lành tính khác của túi mật trên bệnh nhân có dày thành túi mật.

Trang 1

GIÁ TRỊ CỦA CHỤP CẮT LỚP VI TÍNH TRONG PHÂN BIỆT DÀY THÀNH TÚI MẬT

DO UNG THƯ VỚI CÁC NGUYÊN NHÂN LÀNH TÍNH KHÁC

Đỗ Đỗ Như1, Đỗ Hải Thanh Anh1, Trần Thị Mai Thùy 1, Đặng Nguyễn Trung An1,

Lâm Thanh Ngọc1, Phạm Ngọc Hoa2

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Ung thư túi mật là bệnh hiếm gặp tuy nhiên có tiên lượng xấu, thường được phát hiện muộn Dày thành túi mật là một dấu hiệu thường gặp trên hình ảnh học, dấu hiệu này gặp trong gần 1/3 các trường hợp ung thư túi mật và trong rất nhiều bệnh lý lành tính khác của túi mật Việc chẩn đoán chính xác trước phẫu thuật giữa hai nhóm bệnh này rất quan trọng

Mục tiêu: Xác định các đặc điểm hình ảnh trên cắt lớp vi tính có giá trị trong phân biệt ung thư túi mật với các bệnh lý lành tính khác của túi mật trên bệnh nhân có dày thành túi mật

Đối tượng và phương pháp: Hình ảnh cắt lớp vi tính bụng chậu của 28 bệnh nhân ung thư túi mật và 47 bệnh nhân mắc các bệnh lý lành tính của túi mật (dựa trên kết quả giải phẫu bệnh) được thu nhận trong khoảng thời gian từ 1/2016 đến 6/2020, tại bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh Phân tích đặc điểm hình ảnh trên cắt lớp vi tính bao gồm các dấu hiệu trực tiếp của thành túi mật, các dấu hiệu tổn thương gián tiếp và đặc điểm tăng quang của thành túi mật sau tiêm thuốc tương phản để tìm ra các dấu hiệu có giá trị giúp phân biệt hai nhóm bệnh nhân

Kết quả: Trong các dấu hiệu tổn thương trực tiếp của thành túi mật thì dày thành không đều, dày khu trú

và mất liên tục lớp niêm mạc là các dấu hiệu gợi ý ung thư túi mật hơn là các bệnh lý lành tính Tất cả các dấu hiệu gián tiếp đều có sự khác biệt giữa hai nhóm bệnh Tăng quang dạng một lớp, không đồng nhất (type 1) là kiểu tăng quang chính của ung thư túi mật (71%) Khi chọn kiểu tăng quang type 1 để dự đoán ác tính thì độ nhạy, độ đặc hiệu và giá trị tiên đoán dương tương ứng là 71%, 96% và 91%

Kết luận: Cắt lớp vi tính là một phương tiện đáng tin cậy trong đánh giá một tổn thương dạng dày thành của túi mật là lành tính hay ác tính Trong đó dày thành túi mật không đều, dày khu trú hay mất liên tục lớp niêm mạc là các dấu hiệu gợi ý ung thư túi mật cao nhất Ngoài ra đặc điểm tăng quang dạng một lớp không đồng nhất (type 1) của thành túi mật cũng là một dấu hiệu hữu ích giúp gợi ý tổn thương ác tính

Từ khóa: ung thư túi mật, dày thành túi mật

ABSTRACT

THE VALUE OF CT SCAN IN DIFFERENTIATION BETWEEN MALIGNANT AND BENIGN GALLBLADDER WALL THICKENING

Do Do Nhu, Do Hai Thanh Anh, Tran Thi Mai Thuy, Dang Nguyen Trung An, Lam Thanh Ngoc,

Pham Ngoc Hoa * Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol 25 - No 1 - 2021: 85-91

Background: Gallbladder carcinoma is a rare disease with a late diagnosis and poor prognosis Gallbladder wall thickening is one of the most common finding on radiologic examination, this finding is seen in approximately one-third of gallbladder carcinomas and in many other benign conditions An accurate differentiation between these two groups is very important for treatment planning

1 Bộ môn Chẩn đoán Hình ảnh, Đại học Y dược TP HCM 2 Hội Chẩn đoán Hình ảnh TP HCM

Trang 2

Objective: To evaluate the value of CT findings in differentiation gallbladder carcinomas from other benign conditions in patients with thickened gallbladder wall

Method: CT scan images of 75 patients including 28 gallbladder carcinomas and 47 other benign conditions were recorded from 1/2016 to 6/2020, at University Medical Center HCMC The CT features including direct, indirect findings and the wall enhancement pattern were analyzed Differences in CT findings between benign and malignancy were evaluated and calculated

Results: Among the direct CT findings, irregular, focal wall thickening and discontinuous mucosal enhancement offer the highest values for predicting malignancy All the indirect CT findings showed statistical significant differences between benignity and malignancy Most of gallbladder carcinomas in the present series manifested as type 1 enhancement pattern (71%) By using type 1 enhancement pattern as the predictor for malignancy, the sensitivity, specificity, and accuracy of CT scan for detection of malignancy was 71%, 96% and 91%, respectively

Conclusion: MDCT is a reliable diagnostic method for differentiating between benign and malignant thickened gallbladder wall Focal, irregular wall thickening and discontinuous mucosal enhancement are three direct signs that most associated with malignancy Moreover, the one-layer heterogeneous enhancement of gallbladder wall is suggestive of malignancy

Keywords: gallbladder carcinoma, gallbladder wall thickening

ĐẶT VẤN ĐỀ

Ung thư túi mật là ung thư phổ biến thứ

năm liên quan đến đường tiêu hóa và là bệnh ác

tính phổ biến nhất của đường mật, chiếm

80-95% ung thư đường mật(1) Với những triệu

chứng lâm sàng mơ hồ, bệnh thường phát hiện

trễ và có tiên lượng xấu với tỷ lệ sống 5 năm

nhìn chung dưới 5% và thời gian sống trung

bình chỉ hơn 6 tháng Khi ở giai đoạn tiến triển,

không được điều trị, thời gian sống sót trung

bình chỉ từ 2 đến 5 tháng(2)

Cắt lớp vi tính (CLVT) là một trong những

công cụ hữu ích nhất trong đánh các tổn thương

ổ bụng nói chung và túi mật nói riêng, với độ

phân giải không gian cao, cung cấp chi tiết giải

phẫu tốt của thành túi mật, từ đó giúp chẩn

đoán các bệnh lý của túi mật tốt hơn Ba mô hình

tổn thương thường gặp của ung thư túi mật trên

CLVT bao gồm: tổn thương dạng khối choán chỗ

vị trí túi mật (40-65%), tổn thương dạng polyp

xuất phát từ niêm mạc túi mật (15-25%) hoặc tổn

thương túi mật dạng dày thành khu trú hay lan

tỏa (20-30%)(1) Thật không may, dày thành túi

mật là một trong những bất thường phổ biến

nhất được phát hiện trên hình ảnh học Dấu hiệu

này là không đặc hiệu và có thể thấy ở nhiều

bệnh túi mật lành tính, chẳng hạn như viêm túi mật cấp tính hay mạn tính, viêm túi mật dạng u hạt vàng - xanthogranulomatous, bệnh cơ tuyến túi mật - adenomyomatosis Ngoài ra, thành túi mật dày lên cũng có thể là thứ phát do các nguyên nhân như viêm gan, suy tim, hạ đường huyết và viêm bể thận nặng cấp tính(3,4,5)

Ung thư túi mật có tiên lượng và hướng điều trị khác hoàn toàn với các bệnh lành tính của túi mật Hầu hết các bệnh túi mật lành tính được điều trị bởi phẫu thuật cắt túi mật nội soi, cắt túi mật đơn giản hoặc điều trị bảo tồn Ngược lại, nội soi cắt túi mật chống chỉ định trong ung thư túi mật do nguy cơ gieo rắc(6,7,8) Trong khi các phẫu thuật điều trị ung thư biểu mô túi mật thường là cắt bỏ triệt để, bao gồm cắt bỏ túi mật, cắt bỏ các đoạn gan liền kề và hạch bạch huyết(3,9) Do đó, việc phân biệt chính xác trước phẫu thuật ung thư biểu mô túi mật với các bệnh lành tính khác là rất quan trọng

Mục tiêu Xác định các đặc điểm hình ảnh trên cắt lớp

vi tính có giá trị trong phân biệt ung thư túi mật với các bệnh lý lành tính của túi mật trên bệnh nhân có dày thành túi mật

Trang 3

ĐỐI TƯỢNG-PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Bệnh nhân có bệnh lý túi mật ác tính và lành

tính nằm viện và điều trị tại bệnh viện Đại học Y

Dược Thành phố Hồ Chí Minh (BV ĐHYD TP

HCM) trong khoảng thời gian từ tháng 01/2016

đến tháng 6/2020

Tiêu chí chọn

Nhóm bệnh: tất cả bệnh nhân có kết quả giải

phẫu bệnh (GPB) là ung thư túi mật và có chụp

CLVT vùng bụng chậu có tiêm thuốc tương

phản trước phẫu thuật

Nhóm chứng: tất cả bệnh nhân có kết quả

GPB là các bệnh lý lành tính khác của túi mật

ngoại trừ nhóm viêm túi mật cấp(ᵃ) và có chụp

CLVT vùng bụng chậu có tiêm thuốc tương

phản trước phẫu thuật

(ᵃ) Do viêm túi mật cấp ở Việt Nam chiếm tỉ

lệ cao, hơn nữa viêm túi mật có các triệu chứng

cấp tính, các dấu hiệu đặc hiệu giúp chẩn đoán

(được đưa vào quy trình chuyên môn khám

chữa bệnh của Bộ Y Tế năm 2016, dựa trên nền

tảng Tokyo Guidelines 2013), khả năng nhầm lẫn

với bệnh lý ác tính của túi mật không cao

Tiêu chí loại trừ

Các trường hợp không còn hình ảnh CLVT

lưu trữ hoặc hình ảnh giảm chất lượng không

đảm bảo khảo sát tốt tổn thương

Các trường hợp hiện diện tổn thương dạng

khối thay thế túi mật trên hình CLVT

Độ dày thành túi mật tối đa <3 mm

Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu

Cắt ngang mô tả

Kỹ thật chụp cắt lớp vi tính

Bệnh nhân được chụp CLVT bụng chậu với

thì không tiêm thuốc và thì tĩnh mạch (khoảng

60-80s sau khi tiêm thuốc tương phản không ion

hóa với liều lượng 1,5 ml/kg trọng lượng cơ thể)

Bệnh nhân sẽ được chụp CLVT trong tư thế nằm

ngửa, hít vào tối đa và nín thở Thường trường

quét từ đáy phổi đến hết đáy chậu Thực hiện tái

tạo đa mặt phẳng dựa trên lát cắt mỏng 1mm ở thì tĩnh mạch Các thông số kỹ thuật được cài đặt

cố định trên máy

Biến số nghiên cứu

Các dấu hiệu tổn thương trực tiếp của thành túi mật: dày không đều thành túi mật, bề dày thành túi mật tại vị trí dày nhất (mm), dày thành túi mật khu trú (khi vùng dày thành <½ chu vi thành túi mật), mất liên tục lớp niêm mạc túi mật, phù dưới niêm, nang trong thành (các hốc với đậm độ dịch bên trong thành túi mật), đóng vôi thành, sỏi túi mật, thâm nhiễm mỡ xung quanh và tụ dịch quanh túi mật

Các dấu hiệu gián tiếp: xâm lấn cơ quan lân cận, tắc mật, phì đại hạch vùng (hạch dọc ống mật chủ, động mạch gan, tĩnh mạch cửa và ống túi mật- theo AJCC 8th), di căn xa (gồm di căn phúc mạc, gan, phổi, màng phổi, hạch gian chủ, hạch dọc động mạch mạc treo tràng trên và động mạch thân tạng- theo AJCC 8th)

Đặc điểm tăng quang của thành túi mật sau tiêm thuốc tương phản: phân loại theo 5 type dựa trên cách phân lớp, độ dày của lớp trong, lớp ngoài cũng như các bắt thuốc tương phản của các lớp so với nhu mô gan bình thường Mô hình tăng quang của thành túi mật được mô tả lần đầu bởi Kim SJ (2008)(10) Trong

đó, type 1 - dạng một lớp dày không đồng nhất, hoặc không thể phân biệt các lớp, type 2 - tăng quang dạng hai lớp với lớp trong dày, tăng quang mạnh (≥2,6 mm), lớp ngoài mỏng, tăng quang yếu hoặc không tăng quang (≤3,4 mm), type 3 - lớp trong dày với các hốc dạng nang tăng quang viền và lớp ngoài không tăng quang, type 4 - tăng quang dạng hai lớp với lớp trong mỏng tăng quang yếu và lớp ngoài mỏng không tăng quang, type 5 - tăng quang dạng hai lớp với lớp trong mỏng tăng quang yếu và lớp ngoài dày không tăng quang

Phương pháp xử lý và phân tích số liệu

Quản lý và phân tích số liệu bằng phần mềm MS Excel 2013, Stata 14.0 Các biến định tính được mô tả bằng tần số, tỉ lệ phần trăm

Trang 4

Các biến định lượng được mô tả bằng số trung

bình và độ lệch chuẩn Các tỉ lệ được so sánh

bằng phép kiểm Chi-Square hoặc phép kiểm

Fisher Các giá trị trung bình được so sánh

bằng phép kiểm t-test hoặc Wilcoxon – Mann –

Whitney Các phép kiểm được xem là có ý

nghĩa thống kê khi p <0,05

Y đức

Nghiên cứu này được thông qua bởi Hội

đồng Đạo đức trong nghiên cứu Y sinh học Đại

học Y Dược TP HCM, số 183/HĐĐĐ, ngày

6/3/2020

KẾT QUẢ

Từ tháng 1/2016 đến tháng 8/2020, tại bệnh

viện Đại học Y Dược TP HCM, chúng tôi ghi

nhận có 75 bệnh nhân bệnh nhân phù hợp với

các tiêu chuẩn lựa chọn mẫu được đưa ra trong

phương pháp nghiên cứu Trong đó có 28 bệnh

nhân có kết quả giải phẫu bệnh là ung thư túi

mật (gồm 16 nữ, 12 nam, tuổi trung bình 59,39 ±

10,46) và 47 bệnh nhân có kết quả giải phẫu bệnh

là các bệnh lý lành tính của túi mật (gồm 26 nữ,

21 nam, tuổi trung bình 53,43 ± 14,47)

Bề dày trung bình của thành túi mật trong

nhóm ung thư túi mật (16,36 ± 6,06 mm) lớn hơn

so với nhóm bệnh lý lành tính của túi mật (7,98 ± 4,73 mm) Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p <0,05, Phép kiểm Wilcoxon)

0.00 0.25 0.50 0.75 1.00

1 - Độ đặc hiệu

AUC = 0.8921

Hình 1: Đường cong ROC biểu thị giá trị của bề dày thành túi mật trong phân biệt nhóm ung thư túi mật

và nhóm bệnh lý lành tính túi mật

Dựa vào đường cong ROC, chọn giá trị bề dày thành túi mật là 10 mm làm điểm cắt để chẩn đoán ung thư túi mật, độ nhạy và độ đặc hiệu tương ứng là 92,86% và 76,60% (Diện tích dưới

đường cong AUC = 0,8921, p <0,05) (Hình 1)

Bảng 1: So sánh các dấu hiệu trực tiếp của tổn thương túi mật trên CLVT giữa hai nhóm ung thư túi mật và nhóm bệnh lý lành tính của túi mật

Ung thư túi mật (n=28)

Bệnh lý túi mật lành tính

Trong các dấu hiệu trực tiếp, dày thành túi

mật khu trú, không đều, mất liên tục lớp niêm

mạc và thâm nhiễm mỡ quanh túi mật là các dấu

hiệu thường gặp trong ung thư túi mật hơn so

với các bệnh lý lành tính của túi mật (p <0,05)

Trong khi dấu hiệu nang trong thành và sỏi túi

mật lại đại diện cho nhóm bệnh lý lành tính hơn

là ung thư túi mật (p <0,05) Các dấu hiệu còn lại

bao gồm phù dưới niêm, đóng vôi thành và tụ dịch quanh túi mật không cho thấy sự khác biệt

có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm nghiên cứu

(Bảng 1)

Tất cả các dấu hiệu gián tiếp nêu trên đều đại diện cho tổn thương ác tính của túi mật (p <0,05) Trong đó, phì đại hạch vùng là dấu hiệu thường gặp nhất (85,71%), tiếp đến là xâm lấn cơ quan

Trang 5

khác (64,29%), di căn xa (57,14%) và tắc mật do

tổn thương túi mật xâm lấn hoặc chèn ép

(32,14%) Như vậy hầu hết các bệnh nhân ung

thư túi mật được phát hiện ở giai đoạn tiến triển

(Bảng 2)

Bảng 2: So sánh các dấu hiệu gián tiếp của tổn thương túi mật trên CLVT giữa hai nhóm ung thư túi mật và nhóm bệnh lý lành tính của túi mật

Ung thư túi mật (n=28)

Bệnh lý túi mật lành

Tắc mật do tổn thương

Bảng 3: Đặc điểm tăng quang của thành túi mật

Ung thư túi mật

(n=28)

Bệnh lý túi mật lành tính (n=47)

P Type 1

Type 2

Type 3

Type 4

Type 5

20 (71,43)

6 (21,43)

1 (3,57)

0

1 (3,57)

2 (4,26)

1 (2,13)

22 (46,81)

17 (36,17)

5 (10,64)

<0,001

Trong nhóm ung thư túi mật, kiểu tăng

quang type 1 chiếm tỉ lệ cao nhất (71,43%), tiếp

đến là kiểu tăng quang type 2 (21,43%), các type

còn lại chiếm tỉ lệ thấp Trong nhóm bệnh lý lành

tính của túi mật, kiểu tăng quang type 3, 4 và 5

chiếm đại đa số (>90%), trong khi type 1 và 2

chiếm tỉ lệ thấp (Bảng 3)

Nếu chọn kiểu tăng quang type 1 đại diện

cho chẩn đoán ung thư túi mật, ta có: độ nhạy

71,43%, độ đặc hiệu 95,74%, giá trị tiên đoán

dương 90,91%, giá trị tiên đoán âm 84,91%

BÀN LUẬN

Đã có nhiều nghiên cứu so sánh các đặc

điểm hình ảnh cắt lớp vi tính của hai nhóm ung

thư túi mật và các bệnh lý lành tính của túi mật

với mục đích tìm ra các dấu hiệu có giá trị giúp

phân biệt giữa hai nhóm bệnh, từ đó có hướng

điều trị thích hợp(10,11,12)

Tương tự như các nghiên cứu trước đây của

các tác giả Yun EJ (2003)(12) và Tongdee R

(2011)(11), kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng

cho thấy có sự khác biệt về bề dày thành túi mật

giữa hai nhóm bệnh (p <0,05) Dựa vào đường

cong ROC, chúng tôi chọn giá trị bề dày thành

túi mật là 10 mm làm điểm cắt để chẩn đoán ung

thư túi mật, độ nhạy và độ đặc hiệu tương ứng

là 92,86% và 76,60%

Trong loạt các dấu hiệu tại chỗ của thành túi mật, kết quả của chúng tôi cho thấy dấu hiệu dày thành túi mật không đều, dày dạng khu trú và mất liên tục lớp niêm mạc là các dấu hiệu đại diện cho tổn thương ác tính với tỷ

số chênh lần lượt là 22, 7 và 7 Kết quả này tương đồng với kết quả của các tác giả Tongdee R (2011), Kim SJ (2008) và Mathur M (2017)(4,11,13) Dấu hiệu nang trong thành túi mật

và sỏi túi mật lại đại diện cho tổn thương dạng lành tính của túi mật Trong nghiên cứu của Tongdee R (2011), tất cả bệnh nhân (n = 15) với tổn thương dày thành túi mật kèm nang trong thành đều cho kết quả mô bệnh học lành tính, bao gồm 4/5 bệnh nhân với bệnh cơ tuyến túi mật, 3/45 bệnh nhân bị viêm túi mật phức tạp, 2/7 bệnh nhân viêm túi mật dạng u hạt vàng

và 6/50 bệnh nhân bị viêm túi mật mãn tính Không có trường hợp nào trong nhóm ung thư túi mật có dấu hiệu này Về sỏi túi mật, tác giả Yun EJ (2003)(12) và Chang BJ (2010)(14) cũng ghi nhận sỏi túi mật thường gặp trong các bệnh lành tính như viêm túi mật mạn tính và viêm túi mật do u hạt vàng hơn so với ung thư túi mật (p <0,05) Chúng tôi và các tác giả khác(10,11), đều đồng thuận cho rằng các dấu hiệu như đóng vôi thành túi mật, tụ dịch quanh túi mật không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm nghiên cứu, do

đó các dấu hiệu này không được xem là các dấu hiệu giúp chẩn đoán phân biệt giữa ung

Trang 6

thư túi mật và nhóm bệnh lý lành tính của túi

mật Trong mẫu nghiên cứu này chúng tôi ghi

nhận dấu hiệu thâm nhiễm mỡ quanh túi mật

chiếm 60,71% trong nhóm ung thư túi mật và

chiếm 10,64% trong nhóm bệnh lý túi mật lành

tính (p <0,05) Trong khi tác giả Tongdee R

(2011) lại ghi nhận không có sự khác biệt về

dấu hiệu này giữa hai nhóm bệnh Kết quả này

có lẽ do cỡ mẫu khác nhau và nhóm bệnh lý

lành tính của tác giả Tongdee R bao gồm cả

những bệnh nhân viêm túi mật cấp, trong khi

thâm nhiễm mỡ quanh túi mật thường do

phản ứng viêm gây ra, đây là dấu hiệu rất

thường gặp trong các bệnh lý viêm cấp

Ung thư túi mật nổi tiếng là bệnh lý âm

thầm, bệnh thường được phát hiện muộn ở giai

đoạn tiến triển và tiên lượng xấu Do đó các dấu

hiệu như xâm lấn gan hoặc tạng lân cận, tắc

nghẽn đường mật do tổn thương túi mật xâm

lấn hoặc chèn ép, phì đại hạch vùng và di căn xa

rất thường gặp(1) Nghiên cứu của tác giả Ngô Thị Thúy Linh (2014) ghi nhận 42/46 (91%) bệnh nhân được phát hiện ở giai đoạn T3 và T4, 39/46 (85%) bệnh nhân có hạch vùng phì đại và 14/46 (30%) bệnh nhân có di căn phúc mạc hoặc hạch gian chủ(15) Trong nghiên cứu của chúng tôi, tất

cả các dấu hiệu gián tiếp trên đều đại diện cho tổn thương ác tính của túi mật Trong đó hạch vùng là dấu hiệu thường gặp nhất chiếm 86%, tiếp đến là dấu hiệu xâm lấn gan hoặc tạng lân cận chiếm 64%, di căn xa gặp trong 57% và tắc mật gặp trong 32% các trường hợp ung thư túi mật Ngược lại hạch vùng chỉ gặp trong 34% bệnh nhân ở nhóm bệnh lý lành tính, 1 bệnh nhân có dấu hiệu nghi ngờ xâm lấn đại tràng ngang cho kết quả mô bệnh học là bệnh cơ tuyến

túi mật kèm viêm túi mật mạn tính (Hình 2) và

không có bệnh nhân nào có dấu hiệu tắc mật và

di căn xa

Hình 2: tổn thương túi mật dạng dày thành lan tỏa, không đều, nghi ngờ xâm lấn đại tràng ngang Nguồn: bệnh nhân N.H.T, nam 61 tuổi, N16-0306271, bệnh viện ĐHYD TPHCM Hình A: mặt cắt ngang, túi mật dày thành lan tỏa, không đều, còn thấy rõ mặt phẳng mỡ giữa túi mật và gan Hình B: mặt cắt đứng dọc, không thấy ranh giới giữa túi mật và đại tràng ngang ở phía sau (mũi tên cam), ngoài ra còn thấy các hốc dạng nang trong thành túi mật (mũi tên xanh) Kết quả mô bệnh học sau mổ kết luận bệnh cơ tuyến túi mật kèm viêm mạn tính túi mật

Về đặc điểm tăng quang của thành túi mật

sau tiêm, nghiên cứu của chúng tôi cho kết quả

tương tự tác giả Kim SJ (2008) khi tăng quang

type 1 và 2 trong nhóm ung thư túi mật chiếm tỉ

lệ cao tương ứng với 71% và 21%, trong khi kiểu

tăng quang type 3, 4, 5 là chiếm đại đa số (>90%)

trong nhóm các bệnh lý lành tính của túi mật Tuy nhiên khác với tác giả Kim SJ kiểu tăng quang type 2 chiếm tỉ lệ cao nhất trong nhóm ung thư túi mật, trong nghiên cứu của chúng tôi, kiểu tăng quang type 1 thường gặp hơn so với type 2 trong nhóm ung thư túi mật Trong loạt

Trang 7

bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu của chúng tôi,

kết quả mô bệnh học đa số đánh giá tổn thương

ở giai đoạn T2 hoặc T3 (u xâm lấn qua lớp cơ

đến lớp thanh mạc hoặc xâm lấn gan), do đó gây

xáo trộn cấu trúc lớp khiến hình ảnh phân lớp

trên CLVT không còn rõ ràng, do đó kiểu tăng

quang type 1 trở nên phổ biến hơn

Với việc chọn kiểu tăng quang type 1 là một

dấu hiệu để phân biệt giữa tổn thương túi mật

lành tính và ác tính, chúng tôi ghi nhận độ nhạy,

độ đặc hiệu trên CLVT của dấu hiệu này tương

ứng là 71% và 96%, ngoài ra giá trị tiên đoán

dương lên đến 91% Tác giả Tongdee R (2011)

cũng cho kết quả tương tự đối với kiểu tăng

quang type 1 (độ nhạy 78% và độ đặc hiệu 94%,

giá trị tiên đoán dương 96%)

KẾT LUẬN

Cắt lớp vi tính là một phương tiện đáng tin

cậy trong đánh giá một tổn thương dạng dày

thành của túi mật là lành tính hay ác tính Trong

đó dày thành túi mật không đều, dày khu trú

hay mất liên tục lớp niêm mạc là các dấu hiệu

gợi ý ung thư túi mật cao nhất Ngoài ra đặc

điểm tăng quang dạng một lớp không đồng nhất

(type 1) của thành túi mật sau tiêm thuốc tương

phản cũng là một dấu hiệu hữu ích giúp gợi ý

tổn thương ác tính

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Levy AD, Murakata LA, Rohrmann AJ (2001) Gallbladder

carcinoma: Radiologic-pathologic correlation Radiographics,

21(2):295-314

2 Jarnagin WR, Belghiti J, Blumgart LH (2012) Tumors of the

gallbladder In: Jarnagin WR Blumgart's surgery of the liver,

biliary tract and pancreas, Vol.1, 6 th edition: 786-804 Elsevier

Saunders, Philadelphia

3 Grand D, Horton KM, Fishman EJ (2004) CT of the gallbladder:

Spectrum of disease American Journal of Roentgenology,

183(1):163-170

4 Kim SJ, Lee JM, Lee JY (2008) Analysis of enhancement pattern

of flat gallbladder wall thickening on MDCT to differentiate

gallbladder cancer from cholecystitis American Journal of Roentgenology, 191(3):765-771

5 Zissin R, Osadchy A, Shapiro-Feinberg M (2003) CT of a

thickened-wall gall bladder British Institute of Radiology,

76(902):137-143

6 Misra MC, Guleria SJ (2006) Management of cancer gallbladder

found as a surprise on a resected gallbladder specimen Journal

of Surgical Oncology, 93(8):690-698

7 Reddy YP, Sheridan WG (2000) Port-site metastasis following laparoscopic cholecystectomy: A review of the literature and a

case report European journal of Surgical Oncology, 26(1):95-98

8 Shirai Y, Ohtani T, Hatakeyama K (1998) Laparoscopic cholecystectomy may disseminate gallbladder carcinoma

Hepato-Gastroenterology, 45(19):81-82

9 Zhu AX, Hong TS, Hezel AF (2010) Current management of

gallbladder carcinoma Oncologist, 15(2):168-181

10 Kim SW, Kim HC, Yang DM (2016) Gallbladder carcinoma:

Causes of misdiagnosis at CT Clinical Radilogy, 71(1):e96-e109

11 Tongdee R, Maroongroge P, Suthikeree W (2011) The value of MDCT scans in differentiation between benign and malignant

gallbladder wall thickening Journal of the Medical Association of Thailand, 94(5):592-600

12 Yun EJ, Cho SG, Park S (2004) Gallbladder carcinoma and chronic cholecystitis: Differentiation with two-phase spiral CT

Abdominal Imaging, 29(1):102-108

13 Mathur M, Singh J, Singh DP (2017) Imaging Evaluation of Enhancement Patterns of Flat Gall Bladder Wall Thickening and Its Correlation with Clinical and Histopathological Findings

Journal of Clinical and Diagnostic Research, 11(4):TC07-TC11

14 Chang BJ, Kim SH, Park HY (2010) Distinguishing xanthogranulomatous cholecystitis from the wall-thickening

type of early-stage gallbladder cancer Gut and Liver,

4(4):518-523

15 Ngô Thị Thúy Linh (2014) "Nghiên cứu giá trị của X quang cắt

lớp vi tính trong chẩn đoán ung thư túi mật" Luận văn Thạc sỹ Y học, chuyên ngành Chẩn đoán hình ảnh, Đại học Y Dược TP Hồ

Chí Minh

Ngày đăng: 10/04/2021, 11:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w