Bài viết trình bày mô tả đặc điểm hình ảnh CLVT mạch máu của MXV ĐMC ở bệnh nhân đột quỵ do thiếu máu não cấp cùng bên. Đồng thời, xác định mối liên quan giữa các đặc điểm này và đột quỵ cấp, từ đó đưa ra các yếu tố tiên đoán đột quỵ trong tương lai.
Trang 1VAI TRÒ CỦA CHỤP CẮT LỚP VI TÍNH MẠCH MÁU
TRONG ĐÁNH GIÁ TỔN THƯƠNG ĐỘNG MẠCH CẢNH
Ở BỆNH NHÂN ĐỘT QUỴ DO THIẾU MÁU NÃO CẤP CÙNG BÊN
Nguyễn Võ Ngọc Huỳnh 1 , Nguyễn Thị Thùy Linh 1 , Lê Văn Phước 1 , Trần Thị Mai Thùy 1 ,
Đỗ Hải Thanh Anh 1 , Nguyễn Thị Tố Quyên 1
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Xơ vữa động mạch (XVĐM) là nguyên nhân quan trọng hàng đầu dẫn đến đột quỵ nhồi máu não với thuyên tắc là cơ chế chủ yếu Cắt lớp vi tính (CLVT) có giá trị cao trong đánh giá mức độ hẹp lòng động mạch chủ (ĐMC) và cung cấp thông tin về thành phần và hình thái bề mặt của mảng xơ vữa (MXV) Các đặc điểm tổn thương ĐMC như độ hẹp, MXV loét và đậm độ thấp dường như có liên quan đến biến cố nhồi máu não (NMN)
Mục tiêu: Mô tả đặc điểm hình ảnh CLVT mạch máu của MXV ĐMC ở bệnh nhân đột quỵ do thiếu máu não cấp cùng bên Đồng thời, xác định mối liên quan giữa các đặc điểm này và đột quỵ cấp, từ đó đưa ra các yếu
tố tiên đoán đột quỵ trong tương lai
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu thực hiện trên 102 bệnh nhân đột quỵ do thiếu máu não cấp được chụp CLVT mạch máu não cấp cứu Tổn thương ĐMC được đánh giá thông qua các đặc điểm độ hẹp lòng, độ dày thành ĐMC, kích thước, hình thái bề mặt, thành phần và tăng quang MXV
Kết quả: Phân tích đơn biến cho thấy các đặc điểm hẹp nặng (p=0,04, OR=4,68) và tắc ĐMC (p <0,001), tăng độ dày thành ĐMC (p=0,01), loét MXV (p=0,001, OR=7,03), MXV đậm độ thấp (p=0,001, OR=3,82) và tăng quang MXV (p=0,02, OR=4,07) thường gặp ở ĐMC cùng bên nhồi máu não hơn Ngược lại, các MXV có
bề mặt trơn láng (p <0,001, OR=0,23) và vôi hóa (p <0,001, OR=0,19) lại liên quan với bên không triệu chứng Phân tích hồi quy đa biến cho thấy MXV đậm độ thấp (p=0,02, OR=2,77) là yếu tố tiên đoán độc lập của đột quỵ
do thiếu máu não
Kết luận: Hẹp nặng đến tắc, độ dày thành ĐMC, MXV đậm độ thấp, loét và tăng quang thường gặp ở bên NMN Trong đó, MXV đậm độ thấp là yếu tố có giá trị tiên đoán NMN độc lập Ngược lại, MXV vôi hóa và bề mặt trơn láng dường như có tác dụng bảo vệ
Từ khóa: nhồi máu não, xơ vữa động mạch, mảng xơ vữa, CLVT mạch máu, động mạch cảnh
ABSTRACT
THE ROLE OF COMPUTED TOMOGRAPHY ANGIOGRAPHY IN EVALUATING CAROTID LESIONS
IN PATIENTS WITH ACUTE CEREBRAL ISCHEMIC STROKE
Nguyen Vo Ngoc Huynh, Nguyen Thi Thuy Linh, Le Van Phuoc, Tran Thi Mai Thuy,
Do Hai Thanh Anh, Nguyen Thi To Quyen
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol 25 - No 1 - 2021: 61-67
Background: Carotid artery atherosclerotic disease is an important cause of cerebral ischemic stroke Computed tomography angiography (CTA) allows to evaluate carotid artery stenosis and give information regarding the plaque composition and surface morphology The CTA features of carotid lesion such as stenosis carotid artery, ulcerated plaque and plaque hypoattenuation seem to be related to stroke
1 Bộ môn Chẩn Đoán Hình Ảnh ĐH Y Dược TP Hồ Chí Minh
Trang 2Objective: To describe the CTA features of plaque in patients with acute cerebral ischemic stroke and determine the correlation between these features and acute stroke events, thereby providing predictive factors for future stroke
Methods: One hundred and two patients presenting with acute cerebral ischemic stroke and having a CTA were studied The CTA features of carotid lesion such as degree of stenosis, carotid artery wall thickness, size, surface morphology, composition and enhancement of plaque are assessed Chi-squared test, t-test, and logistic regression analysis were performed to examine the correlation between these features and acute ischemic stroke Results: Univariable analysis showed that carotid occlusions (p <0.001), high – grade stenosis (p = 0.04, OR
=4.68), carotid artery wall thickness (p=0.01), ulcerated plaque (p = 0.001, OR=7.03), plaque hypoattenuation (p
= 0.001, OR = 3.82) and plaque enhancement (p=0.02, OR=4.07) were significantly more common in the ipsilateral carotid arteries than in the contralateral carotid artery In addition, some features were more commonly associated with the asymptomatic side, such as smooth plaque surface (p <0.001, OR=0.23) and plaque calcification (p <0.001, OR=0.19) Multiple logistic regression analyses confirmed plaque hypoattenuation (p = 0.02, OR=2.77) are independent predictors of stroke
Conclusions: High-grade stenosis and occlusion, increased carotid artery wall thickness, ulcerated plaque, plaque hypoattenuation and plaque enhancement were more commonly associated with the symptomatic side Plaque hypoattenuation is predictive factor for acute cerebral ischemic stroke By contrast, smooth plaque surface and plaque calcification seem to be the protective factors
Keywords: ischemic stroke, atherosclerosis, CT angiography, carotid artery
ĐẶT VẤN ĐỀ
Đột quỵ là nguyên nhân gây tử vong đứng
thứ 2 chỉ sau bệnh tim thiếu máu cục bộ và là
nguyên nhân hàng đầu gây tàn phế trên thế giới,
tạo gánh nặng lớn về kinh tế cho gia đình và xã
hội(1) Xơ vữa động mạch (XVĐM) là nguyên
nhân quan trọng dẫn đến đột quỵ nhồi máu não
(chiếm 80% đột quỵ cấp) Mức độ hẹp lòng là
biểu hiện gián tiếp của mảng xơ vữa (MXV) và là
tiêu chuẩn cho các hướng dẫn can thiệp tái
thông trong bệnh động mạch chủ (ĐMC) Bên
cạnh đó, các đặc điểm của MXV như lõi lipid, độ
dày nắp xơ, xuất huyết và tân sinh mạch đã
được chứng minh trên các phương tiện hình ảnh
không xâm lấn là yếu tố tiên đoán quan trọng
của đột quỵ
Cắt lớp vi tính (CLVT) ngày càng được sử
dụng phổ biến trong đánh giá các bệnh lý ĐMC
CLVT không những có giá trị cao trong đánh giá
mức độ hẹp lòng ĐMC với độ nhạy và độ đặc
hiệu tương tự chụp mạch máu số hóa xóa nền
mà còn có thể cung cấp thông tin về thành phần
và hình thái bề mặt của MXV Chúng tôi đã tiến
hành nghiên cứu các đặc điểm hình ảnh MXV
trên CLVT mạch máu với mục đích: Xác định mối tương quan giữa các đặc điểm này và nguy cơ đột quỵ do thiếu máu não cùng bên ĐỐI TƯỢNG-PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu
Các bệnh nhân nhập khoa cấp cứu bệnh viện Chợ Rẫy và Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh với chẩn đoán đột quỵ não cấp, được chụp CLVT mạch máu não từ 01/3/2019 đến 30/4/2020
Tiêu chuẩn loai trừ
Các trường hợp không thấy bằng chứng nhồi máu não (NMN) mới trên hình ảnh học, hiện diện tổn thương đáng kể ở bán cầu đại não đối bên với bên NMN, xuất huyết não, NMN hố sau, đột quỵ có nguồn gốc từ tim hoặc đã từng phẫu thuật, can thiệp ĐMC trước đây
Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu cắt ngang phân tích
Cỡ mẫu
Chúng tôi thu được 102 bệnh nhân thỏa tiêu chuẩn để đưa vào phân tích
Trang 3Kỹ thuật chụp cắt lớp vi tính
Tất cả các bệnh nhân được chụp bằng máy
CLVT xoắn ốc đa dãy đầu dò Thông số kỹ
thuật: kV = 120 kV, mAs = 100 - 200 mAs, độ dày
lát cắt 5 mm, độ mở đầu đèn 0,6 - 1,25 mm, thời
gian quay của bóng đèn 0,5 - 0,6 giây, độ di
chuyển bàn 1,2 - 1,4 mm/giây Trường khảo sát
từ quai động mạch chủ đến nền sọ Bệnh nhân
được tiêm tĩnh mạch 80 - 120 mL chất tương
phản không ion hóa nồng độ iod cao (350 - 370
mg/mL) với tốc độ 4 - 5 mL/giây Có hai thì chụp
để khảo sát là thì không thuốc và thì động mạch
Thì động mạch được chụp dựa vào kỹ thuật
bolus-tracking, ROI đặt tại cung động mạch chủ
với ngưỡng phát tia là 75 - 100 HU
Đánh giá hình ảnh cắt lớp vi tính
Các đặc điểm hình ảnh tổn thương ĐMC
được đánh giá bởi bác sĩ chẩn đoán hình ảnh Độ hẹp được tính toán theo công thức của NASCET(2) Độ dày thành ĐMC được đo trên mặt phẳng ngang tại vị trí dày nhất của đoạn xa ĐMC chung, nơi không có MXV (cách phình
cảnh 2 - 3cm) (Hình 1) Hình thái bề mặt của
MXV được phân thành ba dạng là trơn láng, không đều hoặc loét: Trơn láng là bề mặt đều đặn, không có bất kỳ dấu hiệu không đều hay loét Không đều được dùng cho các MXV có bề mặt dao động từ 0,3mm đến 0,9mm Loét là các hình cộng thuốc sâu ít nhất 1mm trong ít nhất
hai mặt phẳng (Hình 2) MXV được chia thành
ba loại: thấp, hỗn hợp và vôi hóa dựa vào đậm
độ với ngưỡng lần lượt là 50 HU và 120 HU MXV tăng quang khi đậm độ MXV sau tiêm tăng >15 HU so với trước tiêm
Hình 1: Độ dày thành ĐMC trên hình CLVT mạch máu
Hình 2: Loét MXV trên mặt phẳng đứng dọc (A) và mặt phẳng ngang (B)
Trang 4Phương pháp thống kê
Phân tích thống kê được thực hiện với phần
mềm STATA phiên bản 13 Các biến định tính
được mô tả bằng tần số và tỉ lệ phần trăm Các
biến định lượng được mô tả bằng số trung bình
và độ lệch chuẩn Các tỉ lệ được so sánh bằng
phép kiểm chi bình phương hoặc phép kiểm
chính xác Fisher Các giá trị trung bình được so
sánh bằng phép kiểm t đối với biến có phân phối
chuẩn hoặc phép kiểm phi tham số
Mann-Whitney U đối với biến không có phân phối
chuẩn Phân tích hồi qui logistic đa biến để xác
định yếu tố tiên lượng độc lập Tất cả các phép
kiểm đều sử dụng giá trị p hai đầu, có ý nghĩa
thống kê khi p <0,05
Y đức
Nghiên cứu này được thông qua bởi Hội
đồng Đạo đức trong nghiên cứu Y sinh học Đại
học Y Dược TP HCM, số 544/HĐĐĐ-ĐHYD,
ngày 24/10/2019
KẾT QUẢ
Trong 102 bệnh nhân, có 53 trường hợp
NMN bên phải và 49 trường hợp NMN bên trái
Các ĐMC cùng bên NMN được xếp vào nhóm
bệnh (n=102) và ĐMC đối bên được đưa vào
nhóm chứng (n=102) Thông tin chung của bệnh
nhân được báo cáo trong Bảng 1
Bảng 1: Các đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu
Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu Tổng (N=102)
Tuổi trung bình, TB (GTNN - GTLN) 64 (28 - 88)
Thời gian khởi phát trung bình (giờ)
TB (GTNN - GTLN)
4,5 (1 - 6) Điểm NIHSS, TB (GTNN - GTLN) 11 ± 8 (1 - 30)
Yếu tố nguy cơ
Tăng huyết áp
Đái tháo đường
Rối loạn lipid máu
Hút thuốc lá
Tiền căn đột quỵ
Tiền căn gia đình có người đột quỵ
87 (85,3%)
53 (52,0%)
50 (49,0%)
25 (24,5%)
16 (15,6%)
1 (1,0%) Trong 204 ĐMC có 134 ĐMC có MXV Tỉ lệ
MXV ở nhóm cùng bên NMN cao hơn đối bên
(71,6% so với 59,8%), tuy nhiên khác biệt này
không có ý nghĩa thống kê (p=0,08) MXV thường gặp nhất ở vị trí chỗ chia đôi của ĐMC Phân tích đơn biến cho thấy hẹp nặng, tắc ĐMC, độ dày thành ĐMC, loét MXV, MXV đậm
độ thấp và tăng quang MXV có mối liên quan với bên NMN Ngoài ra, có một số đặc điểm liên quan với bên không triệu chứng như hẹp <30%, MXV bề mặt trơn láng và MXV vôi hóa Kết quả
được báo cáo trong Bảng 2
Bảng 2: Kết quả phân tích các đặc điểm hình ảnh CLVT của tổn thương ĐMC
Đặc điểm hình ảnh CLVT p OR (KTC 95%) Hẹp < 30% < 0,001 0,24 (0,11 - 0,54) Hẹp 30% - 49% 0,97 0,98 (0,37 - 2,66) Hẹp 50% - 69% 0,23 2,64 (0,45 - 27,55) Hẹp 70% - 99% 0,04 4,68 (0,93 - 45,26) Tắc hoàn toàn < 0,001
Độ dày thành mạch 0,01 Chiều dài MXV 0,10
Bề dày MXV 0,10 MXV trơn láng < 0,001 0,23 (0,10 - 0,52) MXV không đều 0,1 1,91 (0,82 - 4,51) Loét MXV 0,001 7,03 (1,82 - 39,38) MXV đậm độ thấp 0,001 3,82 (1,59 - 9,41) MXV hỗn hợp 0,27 1,61 (0,64 - 4,14) MXV vôi hóa < 0,001 0,19 (0,08 - 0,46)
Bề dày thành phần vôi hóa 0,12
Bề dày thành phần mềm 0,052 Tăng quang MXV 0,02 4,07 (1,05 - 17,42) Phân tích đa biến ghi nhận MXV đậm độ thấp là yếu tố dự báo độc lập của đột quỵ thiếu
máu não Kết quả được ghi nhận trong Bảng 3 Bảng 3: Kết quả phân tích hồi quy logistic đa biến
Đặc điểm hình ảnh
Hẹp >70% 0,37 2,23 (0,38 - 12,96)
Độ dày thành ĐMC 0,29 3,44 (0,34 - 34,71) MXV loét bề mặt 0,13 3,16 (0,72 - 13,83) MXV đậm độ thấp 0,02 2,77 (1,18 - 6,55) BÀN LUẬN
Theo các tài liệu y văn, vì chịu tác động của động học dòng chảy mà XVĐM thường xảy ra ở các vị trí gần chỗ xuất phát, phân nhánh và uốn cong(3) Tại chỗ chia đôi của ĐMC, hướng dòng chảy bị xáo trộn hình thành nên dòng máu xoáy, làm giảm ứng suất cắt và tăng thời gian lưu trú
Trang 5của dòng máu, gây tổn thương lớp nội mạc, từ
đó tiến triển thành MXV Nghiên cứu chúng tôi
cũng ghi nhận MXV tập trung nhiều nhất ở chỗ
phân đôi ĐMC, phù hợp với sinh lý bệnh và các
nghiên cứu trước đây
Mức độ hẹp là một thông số quan trọng
trong việc đánh giá nguy cơ NMN và là một
trong những tiêu chí quan trọng nhất quyết định
việc lựa chọn phương pháp điều trị Saba L đã
ghi nhận mối liên quan giữa hẹp >70% và tổn
thương não trên CLVT (p=0,0007)(4) Kết quả của
Eesa và cs cũng cho thấy tắc hoàn toàn ĐMC có
mối tương quan với biến cố NMN (p=0,01,
OR=5,27)(5) Chúng tôi ghi nhận hẹp <30% liên
quan với bên không triệu chứng (p <0,001) Hẹp
nặng chiếm tỉ lệ cao hơn ở nhóm cùng bên NMN
(10% so với 2%) và 13 trường hợp tắc hoàn toàn
chỉ gặp ở các ĐMC cùng bên NMN Sự khác biệt
này có ý nghĩa thống kê với p=0,04 và p <0,001
Kết quả này phù hợp với các tác giả Saba L và
Eesa M
Độ dày lớp nội trung mạc của ĐMC được sử
dụng như một yếu tố dự báo quan trọng của các
biến cố mạch vành và mạch máu não Saba và cs
ghi nhận độ dày thành ĐMC trung bình ở nhóm
đột quỵ lớn hơn có ý nghĩa so với nhóm bệnh
nhân không đột quỵ (p <0,001)(6) Baradaran L
cũng đã phân tích tổng hợp trên 16 nghiên cứu
và tìm thấy mối liên quan giữa tăng độ dày
thành ĐMC và đột quỵ thiếu máu não(7) Chúng
tôi ghi nhận độ dày trung bình ở nhóm cùng bên
NMN và nhóm đối bên lần lượt là 1,01 ± 0,16
mm và 0,96 ± 0,15 mm, sự khác biệt này có ý
nghĩa thống kê (p=0,01) Kết quả này tương đồng
với nghiên cứu của các tác giả trên, cho thấy tăng
độ dày thành ĐMC là một yếu tố nguy cơ của
đột qụy
Đã có nhiều nghiên cứu chứng minh loét
MXV được cho là yếu tố dự báo đột quỵ, đóng
một vai trò quan trọng trong các biến cố NMN
Chúng tôi ghi nhận tỉ lệ loét MXV ở nhóm cùng
bên NMN là 26,7% cao hơn đáng kể so với nhóm
đối bên là 4,9% (p=0,001) Ngoài ra, chúng tôi cũng ghi nhận MXV trơn láng có liên quan với bên không triệu chứng (p <0,001) Saba L khảo sát trên 112 bệnh nhân đã báo cáo rằng sự hiện diện của loét trong MXV ĐMC có liên quan đến tổn thương não được phát hiện trên hình ảnh CLVT với p=0,049(4) Tương tự, De Weert TT cũng ghi nhận MXV loét và bề mặt không đều có mối liên hệ với triệu chứng NMN (p=0,01)(8) Ngược lại, tác giả Eesa M lại báo cáo rằng tần suất loét tương tự nhau ở các MXV cùng và đối bên NMN(5), đồng thời ghi nhận có mối liên quan giữa MXV có bề mặt trơn láng và ĐMC đối bên NMN Không có sự thống nhất trong kết quả của các nghiên cứu đặc điểm hình thái MXV Sự khác biệt này có lẽ là do khác nhau trong cỡ mẫu Nghiên cứu của Eesa M có cỡ mẫu rất lớn, trong khi chúng tôi, Saba L có cỡ mẫu nhỏ hơn
Thành phần MXV ĐMC đóng một vai trò quan trọng trong các biến cố mạch máu não và được phản ánh trên hình ảnh CLVT thông qua giá trị đậm độ HU Các nghiên cứu khảo sát mối tương quan của hình ảnh CLVT và mô bệnh học cho thấy đậm độ thấp đại diện cho các MXV mỡ hay lõi lipid và đôi khi là xuất huyết, đậm độ hỗn hợp tương ứng với mô xơ và đậm độ cao là các MXV vôi hóa Những MXV vôi hóa được ghi nhận là ổn định hơn những MXV không vôi hóa Một số nghiên cứu đã chứng minh vôi hóa bảo
vệ chống lại các áp lực, ngăn ngừa sự kết dính và kích hoạt các tác nhân sinh học Các tác giả Nandalur KR, Saba L và Eesa M đều thống nhất rằng các MXV vôi hóa ít có khả năng gây triệu chứng hơn so với các MXV không vôi hóa(3,5,9) Nghiên cứu chúng tôi cũng thấy có mối tương quan nghịch giữa MXV đậm độ cao và triệu chứng NMN (p <0,001)
Không có sự đồng nhất về mối tương quan giữa MXV đậm độ thấp với biến cố mạch máu não Tác giả Nandalur KR và Eesa M không tìm thấy mối tương quan có ý nghĩa giữa các MXV
Trang 6đậm độ thấp và triệu chứng(5,9) Ngược lại, tác giả
Baradaran H và Saba L lại kết luận rằng MXV
đậm độ thấp là yếu tố nguy cơ của biến cố
NMN(4,7) Kết quả của chúng tôi ghi nhận tỉ lệ
MXV đậm độ thấp ở nhóm ĐMC cùng bên
NMN cao hơn đối bên (48,3% so với 19,7%),
tương đồng với tác giả Baradaran H và Saba L
Điều này chứng tỏ rằng MXV đậm độ thấp là
một yếu tố tiên đoán NMN Sự khác biệt giữa
các nghiên cứu có thể do cỡ mẫu và dân số mẫu
khác nhau Nghiên cứu của Nandalur KR có dân
số mẫu là những bệnh nhân hẹp ĐMC >60%, còn
mẫu chúng tôi có tất cả các mức độ hẹp Tuy có
thiết kế nghiên cứu tương tự nhau nhưng cỡ
mẫu của Eesa M rất lớn (673 cùng bên và 673 đối
bên) trong khi cỡ mẫu của chúng tôi nhỏ hơn (60
cùng bên và 61 đối bên)
Tân tạo mạch trong MXV tương quan với
tình trạng viêm nội mạc khu trú, đã được chứng
minh là có nguy cơ cao bị xuất huyết và vỡ
MXV(10) Chúng tôi ghi nhận có 57,6% MXV ở
bên NMN có tăng quang, trong khi ở nhóm đối
bên NMN chỉ có 25% Saba M cũng báo cáo rằng
tăng quang MXV có liên quan đến sự hiện diện
của các triệu chứng đột quỵ não với p=0,001,
OR=7,5(11) Trong một nghiên cứu trên siêu âm,
Xu R đã báo cáo rằng ở các bệnh nhân NMN cấp
có sự tăng quang ở MXV nhiều hơn(12) Kết quả
chúng tôi và các tác giả trên tương đồng với
nhau cho rằng tăng quang MXV là một yếu tố
dự báo nguy cơ NMN
Trong nghiên cứu này, chúng tôi ghi nhận
chiều dài và bề dày trung bình của MXV ở 2
nhóm khác nhau không có ý nghĩa thống kê,
tương đồng với tác giả Eesa M và McNally IS(5,13)
Nghiên cứu của chúng tôi có một số hạn chế
Thứ nhất là cỡ mẫu nghiên cứu của chúng tôi
nhỏ có thể ảnh hưởng đến kết quả Thứ hai, đây
là nghiên cứu cắt ngang trên bệnh nhân NMN,
đã loại trừ một nhóm bệnh nhân tổn thương
ĐMC nhưng chưa có triệu chứng NMN, điều
này dẫn đến sai lệch thống kê Thứ ba, nghiên
cứu của chúng tôi đã loại trừ những trường hợp NMN có nguyên nhân từ tim nhưng không thể xác định chính xác nguyên nhân NMN là từ tổn thương ĐMC
KẾT LUẬN Hẹp nặng và tắc ĐMC, tăng độ dày thành ĐMC, loét MXV, MXV đậm độ thấp và tăng quang MXV là các đặc điểm liên quan đến NMN Trong đó, MXV đậm độ thấp là yếu tố tiên đoán độc lập của đột quỵ do thiếu máu não Điều này có thể giúp phân tầng bệnh nhân trong quá trình theo dõi và điều trị trên lâm sàng TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Katan M, Luft A (2018) Global burden of stroke Seminars in
Neurology, 38(2): 208-211
2 Barnett HJM, Taylor DW, Eliasziw M, et al (1998) Benefit of carotid endarterectomy in patients with symptomatic moderate
or severe stenosis New England Journal of Medicine,
339(20):1415-1425
3 Glagov S, Zarins C, Giddens DP, et al (1988) Hemodynamics and atherosclerosis Insights and perspectives gained from
studies of human arteries Archives of Pathology & Laboratory
Medicine, 112(10):1018-1031
4 Saba L, Montisci R, Sanfilippo R, et al (2009) Multidetector row
CT of the brain and carotid artery: a correlative analysis Clinical
Radiology, 64(8):767-778
5 Eesa M, Hill MD, Al-Khathaami A, et al (2010) Role of CT angiographic plaque morphologic characteristics in addition to stenosis in predicting the symptomatic side in carotid artery
disease American Journal of Neuroradiology, 31(7):1254-1260
6 Saba L, Sanfilippo R, Pascalis L, et al (2008) Carotid artery wall thickness and ischemic symptoms: evaluation using
multi-detector-row CT angiography European Radiology,
18(9):1962-1971
7 Baradaran H, Al-Dasuqi K, Knight-Greenfield A, et al (2017) Association between carotid plaque features on CTA and cerebrovascular ischemia: a systematic review and
meta-analysis American Journal of Neuroradiology, 38(12):2321-2326
8 De Weert TT, Cretier S, Groen HC, et al (2009) Atherosclerotic plaque surface morphology in the carotid bifurcation assessed
with multidetector computed tomography angiography Stroke,
40(4):1334-1340
9 Nandalur KR, Baskurt E, Hagspiel KD, et al (2005) Calcified carotid atherosclerotic plaque is associated less with ischemic
symptoms than is noncalcified plaque on MDCT American
Journal of Roentgenology, 184(1):295-298
10 Saha SA, Gourineni V, Feinstein SB (2016) The use of contrast-enhanced ultrasonography for imaging of carotid atherosclerotic plaques: current evidence, future directions
Neuroimaging Clinics, 26(1):81-96
Trang 711 Saba L, Mallarini G (2011) Carotid plaque enhancement and
symptom correlations: an evaluation by using multidetector
row CT angiography American Journal of Neuroradiology,
32(10):1919-1925
12 Xu R, Yin X, Xu W, et al (2016) Assessment of carotid plaque
neovascularization by contrast-enhanced ultrasound and high
sensitivity C-reactive protein test in patients with acute cerebral
infarction: a comparative study Neurological Sciences,
37(7):1107-1112
13 McNally JS, McLaughlin MS, Hinckley PJ, et al (2015) Intraluminal thrombus, intraplaque hemorrhage, plaque thickness, and current smoking optimally predict carotid stroke
Stroke, 46(1):84-90
Ngày nhận bài báo: 01/12/2020 Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 20/02/2021 Ngày bài báo được đăng: 10/03/2021