Hiện nay có nhiều phương pháp không xâm lấn để mô tả đặc điểm tổn thương của bệnh lý động mạch chi dưới, trong đó chụp cắt lớp vi tính mạch máu là phương pháp có độ nhạy độ đặc hiệu cao ngày được ứng dụng rộng rãi trong thực hành lâm sàng. Bài viết mô tả đặc điểm hình ảnh tổn thương trên chụp cắt lớp vi tính mạch máu ở bệnh nhân hẹp tắc động mạch chi dưới.
Trang 1ĐẶC ĐIỂM HÌNH ẢNH CỦA CHỤP CẮT LỚP VI TÍNH MẠCH MÁU
TRONG HẸP TẮC ĐỘNG MẠCH CHI DƯỚI
Nguyễn Thị Thu Hiền 1 , Trần Minh Hoàng 1 , Hồ Quốc Cường 1 , Huỳnh Phượng Hải 1 , Võ Thị Thúy Hằng 1 ,
Lâm Thanh Ngọc 1
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Hiện nay có nhiều phương pháp không xâm lấn để mô tả đặc điểm tổn thương của bệnh lý động mạch chi dưới, trong đó chụp cắt lớp vi tính mạch máu là phương pháp có độ nhạy độ đặc hiệu cao ngày được ứng dụng rộng rãi trong thực hành lâm sàng
Mục tiêu: Mô tả đặc điểm hình ảnh tổn thương trên chụp cắt lớp vi tính mạch máu ở bệnh nhân hẹp tắc động mạch chi dưới
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu được thực hiện tại khoa chẩn đoán hình ảnh và khoa phẫu thuật mạch máu bệnh viện Chợ Rẫy 44 bệnh nhân có triệu chứng lâm sàng hẹp tắc động mạch chi dưới được đưa vào nghiên cứu Chụp cắt lớp vi tính mạch máu (CTA) động mạch chi dưới được thực hiện ở những bệnh nhân này với máy Siemens 128 lát cắt Những đặc điểm về vôi hóa thành mạch, vị trí, số lượng và phân bố của các tổn thương trên mỗi tầng động mạch được phân tích Tổn thương được phân loại theo Hiệp hội xuyên Đại Tây Dương (TASC II)
Kết quả: Vị trí tổn thương tầng đùi khoeo hay gặp nhất (44,7%), sau đó là tổn thương tầng dưới gối (39%)
và tầng chủ chậu (16,3%) Trên cả ba tầng, hình thái tổn thương hay gặp là TASC B (27,9%), ít gặp là tổn thương TASC A (22,6%) Vị trí tổn thương động mạch hay gặp là động mạch đùi nông (17,3%), động mạch khoeo (12,7%) và động mạch chày trước (12,5%); ít gặp ở động mạch chủ bụng đoạn dưới thận (1,4%), động mạch đùi sâu (5,7%) Số đoạn mạch có vôi hóa trên toàn bộ chi dưới chiếm tỷ lệ cao (68,4%), chủ yếu là vôi hóa lan tỏa ba tầng (72,7%)
Kết luận: Chụp cắt lớp vi tính mạch máu là phương pháp không xâm lấn đáng tin cậy trong chẩn đoán
và mô tả tổn thương bệnh lý hẹp tắc động mạch chi dưới, qua đó làm cơ sở để đưa ra quyết định và lập kế hoạch điều trị
Từ khóa: bệnh động mạch chi dưới, chụp cắt lớp vi tính mạch máu, phân loại TASC II, can-xi hóa
ABSTRACT
STUDY ON IMAGING CHARACTERISTICS OF COMPUTED TOMOGRAPHY ANGIOGRAPHY
IN PATIENTS WITH LOWER EXTREMITY ARTERIAL STENOSIS AND OCCLUSIVE
Nguyen Thi Thu Hien, Tran Minh Hoang, Ho Quoc Cuong, Huynh Phuong Hai, Vo Thi Hang,
Lam Thanh Ngoc
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol 25 - No 1 - 2021: 46-52
Background: Currently, there are many non-invasive methods to characterize the lesion of lower extremity arterial disease, of which computed tomography angiography is a highly specific and sensitive method widely used
in clinical practice
Objective: Describe the characteristics of lesion imaging on computed tomography angiography of lower extremity arterial stenosis and occlusive patients
1 Bộ môn Chẩn đoán Hình ảnh, Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh
Trang 2Methods: The study was carried out in the department of radio-diagnosis in collaboration with departments
of vascular surgery, Cho Ray Hospital 44 patients presenting with clinical symptoms of lower extremity arterial stenosis and occlusive disease were recruited into the study In these patients, computed tomography angiography (CTA) lower limb arteries were performed with Somatom Definition Edge 128 slices The characteristics of vascular calcification, site, number and distribution of lesions on each stage were analyzed Lesions were classified according to the Trans Atlantic Inter Society Consensus (TASC II)
Results: The most common location of lesions was femoral-politeal segments (44.7%), followed by infrapopliteal segments (39%) and aortoiliac segments (16.3%) On all 3 stages, the common lesion morphology was TASC B, less common was TASC A The common arterial lesion was superficial femoral arteries (17.3%), popliteal arteries (12.7%), anterior tibial arteries (12.5%); less common in infrarenal aorta (1.4%), deep femoral arteries (5.7%) The number of vascular segments with calcification on the entire lower extremity artery accounts for a high proportion (68.4%), most multiple segments (72.7%)
Conclusions: CT angiography is a reliable noninvasive imaging method in diagnosing and describing lesions of lower extremity arterial stenosis and occlusive patients, thereby serving as a basis for decision making and treatment planning
Keywords: lower extremity arterial disease, computed tomography angiography, TASC classification, cancification
ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh động mạch chi dưới (BĐMCD) là tình
trạng hẹp hoặc tắc hoàn toàn của động mạch chủ
bụng và các động mạch chi dưới, gây thiếu máu
nuôi dưỡng đối với phần chi ở được cấp máu
bởi các động mạch này Biểu hiện lâm sàng từ
nhẹ không có triệu chứng, cơn đau cách hồi chi
dưới, đến nặng hơn là loét và hoại tử chi
BĐMCD ngày càng gặp nhiều trong thực hành
lâm sàng, ước tính trên thế giới có trên 200 triệu
người mắc BĐMCD(1) Mặc dù BĐMCD gây ảnh
hưởng đến chất lượng cuộc sống và gia tăng
nguy cơ tử vong của các bệnh lý tim mạch,
nhưng bệnh lý này vẫn chưa được đánh giá
đúng và điều trị kịp thời, đặc biệt là ở các nước
đang hoặc kém phát triển Hiện nay có nhiều
phương pháp để chẩn đoán BĐMCD, trong đó
chụp mạch số hóa xóa nền (DSA) từ lâu đã được
xem là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán cũng như
góp phần điều trị Tuy nhiên, DSA là một
phương pháp xâm lấn, gây tỷ lệ biến chứng
đáng kể, cách tiến hành không đơn giản, không
cho phép làm đi làm lại nhiều lần Ngày nay,
chụp cắt lớp vi tính (CLVT) với độ nhạy và độ
đặc hiệu gần tương đương với DSA ngày càng
phổ biến và được ứng dụng rộng rãi trong chẩn
đoán cũng như điều trị bệnh lý động mạch ngoại
vi, đặc biệt là từ khi có sự xuất hiện của CLVT đa dãy đầu dò Chụp CLVT mạch máu (CTA) giúp
mô tả đầy đủ các đặc điểm của bệnh ĐMCD, từ
đó giúp các nhà lâm sàng lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp
Mục tiêu
Mô tả các đặc điểm hình ảnh của chụp cắt lớp vi tính mạch máu (CTA) ở bệnh nhân hẹp tắc động mạch chi dưới
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu
Các bệnh nhân được điều trị tại khoa Phẫu thuật Mạch máu bệnh viện Chợ Rẫy từ 01/01/2019 - 30/04/2020
Tiêu chuẩn chọn mẫu
Bệnh nhân có triệu chứng hẹp tắc động mạch chi dưới trên lâm sàng, với cơn đau cách hồi hoặc loét, hoại tử chi dưới Bệnh nhân được chụp CTA động mạch chi dưới
Tiêu chuẩn loại trừ
Bệnh nhân có tổn thương động mạch chi dưới do chấn thương
Chúng tôi thu thập được 44 trường hợp thỏa tiêu chuẩn chọn mẫu để đưa vào phân tích, tuổi
Trang 3của bệnh nhân trong nhóm nghiên cứu của
chúng tôi dao động từ 34 đến 103 tuổi, gồm có
36 bệnh nhân nam và 8 bệnh nhân nữ
Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu
Mô tả cắt ngang có phân tích
Kỹ thuật chụp cắt lớp vi tính mạch máu
Phương tiện
Máy CLVT đa dãy đầu dò (128 dãy đầu dò)
thuộc thương hiệu Somatom Definition Edge
của hãng Siemens, chất tương phản được sử
dụng là thuốc cản quang tan trong nước có chứa
i-ốt nồng độ 350 - 370 mg I/ml (thường dùng
Ultravist 370)
Phương pháp thực hiện
Để hạn chế những trường hợp thay đổi
cung lượng tim làm ảnh hưởng đến huyết
động, làm thay đổi chất lượng hình ảnh, ta áp
dụng kỹ thuật Bolus tracking Hệ thống theo
dõi được cài đặt để bắt đầu hoạt động sau 15
giây chờ tính từ thời điểm tiêm thuốc cản
quang Thời điểm ghi hình bắt đầu 12 giây tính
từ lúc đạt ngưỡng đậm độ thuốc trong động
mạch chủ ngang mức động mạch chủ bụng đoạn dưới thận (khoảng 150 HU)
Dữ liệu của bệnh nhân được lấy từ hệ thống
dữ liệu của Bệnh viện Chợ Rẫy và được lưu vào đĩa với định dạng DICOM Từ đĩa lưu trữ, dữ liệu được nhập vào hệ thống PACS của trường Đại học Y dược Hồ Chí Minh, sau đó sử dụng ứng dụng VesselIQTM Xpress để tiến hành phân tích, tái tạo hình ảnh mạch máu qua các kỹ thuật: phóng chiếu cường độ tối đa (MIP), tái tạo đa mặt phẳng (MPR), tái tạo mặt phẳng cong (CPR)
và tạo khối thể tích (VRT) để thu thập số liệu Đánh giá tổn thương theo hướng dẫn của Hiệp hội xuyên Đại Tây Dương (Trans Atlantic Inter Society – TASC)(2,3) về tổn thương động mạch chi dưới ở tầng chủ chậu, tầng đùi khoeo
và tầng dưới gối
Đánh giá tình trạng vôi hóa theo ba mức độ: C0: Không có vôi hóa
C1: Vôi hóa nhẹ (vôi hóa chiếm <50% chu vi thành mạch)
C3: Vôi hóa nặng (vôi hóa chiếm >50% chu vi thành mạch)
Hình 1: Hình ảnh mô phỏng đánh giá mức độ vôi hóa thành mạch
Thu thập và xử lý số liệu
Số liệu được nhập, phân tích và xử lý bằng
phần mềm SPSS 26.0 để tính ra các thông số
thống kê như: Biến số định tính được mô tả bằng
tần số và tỷ lệ %, biến số định lượng được mô tả
bằng trung bình ± độ lệch chuẩn, kiểm định sự
khác biệt có ý nghĩa thống kê khi p <0,05
Y đức
Nghiên cứu này được thông qua bởi Hội đồng Đạo đức trong nghiên cứu Y sinh học Đại học Y Dược TP HCM, số 731/HĐĐĐ-ĐHYD, ngày 6/12/2019
Trang 4KẾT QUẢ
Trong nghiên cứu của chúng tôi, số bệnh
nhân nam chiếm tỷ lệ 81,8%; gấp trên 4 lần số
bệnh nhân nữ (chiếm tỷ lệ 18,2%) Độ tuổi trung
bình trong nhóm nghiên cứu là 69,8 tuổi, đa số
bệnh nhân tập trung ở nhóm tuổi trên 60 (chiếm
tỷ lệ 77,3%) Bệnh nhân nhập viện phần lớn ở
giai đoạn trễ khi đã có biến chứng loét và hoại tử
chi (54,5%)
Bảng 1: Đặc điểm vị trí động mạch bị tổn thương
Trong số 44 bệnh nhân được đưa vào nghiên
cứu, vị trí tổn thương gặp nhiều nhất là ở động
mạch đùi nông (17,3%), tiếp theo là động mạch
khoeo (12,7%) và động mạch chày trước (12,5%)
Tổn thương ít gặp ở động mạch chủ bụng
(1,4%), động mạch đùi sâu (5,7%) (Bảng 1)
Bảng 2: Đặc điểm về hình thái tổn thương trên chụp
CTA
Vị trí tổn
thương
Hẹp trên 50%
Tắc hoàn
Tầng đùi khoeo 32 18,6 45 26,2 77 44,7 >0,05
Trong số 44 bệnh nhân được đưa vào nghiên
cứu, tổn thương gặp nhiều nhất ở tầng đùi
khoeo (44,7%), sau đó là tầng dưới gối (39%),
thấp nhất ở tầng chủ chậu (16,3%) Ở tầng dưới
gối, tổn thương tắc nhiều hơn tổn thương hẹp và
có ý nghĩa thống kê (p <0,05) Ở tầng chủ chậu
và tầng đùi khoeo, sự khác biệt giữa tổn thương
hẹp và tắc không có ý nghĩa thống kê (p >0,05)
(Bảng 2)
Trong số 44 bệnh nhân được đưa vào nghiên cứu, hình thái tổn thương TASC B chiếm tỷ lệ cao nhất trên cả 3 tầng (27,9%), tổn thương ít gặp
nhất trên 3 tầng là TASC A (22,6%) (Bảng 3)
Bảng 3: Phân loại hình thái tổn thương theo TASC
TASC
Tầng chủ chậu
Tầng đùi khoeo
Tầng dưới gối
Tổng các tầng
Bảng 4: Tỷ lệ vôi hóa thành mạch theo tầng giải phẫu
Vôi hóa Tầng
giải phẫu
Không vôi hóa
Có vôi hóa
Tổng
hóa
Đùi khoeo
Toàn bộ chi dưới
Trong số 44 bệnh nhân được đưa vào nghiên cứu, tỷ lệ số đoạn mạch có vôi hóa (68,4%) chiếm
tỷ lệ cao hơn gấp đôi so với số đoạn mạch không
có vôi hóa (31,6%); số trường hợp vôi hóa nặng ở tầng đùi khoeo chiếm tỷ lệ cao nhất (28,5%)
(Bảng 4)
Bảng 5: Tỷ lệ số các tầng có vôi hóa thành mạch
Trong số 44 bệnh nhân được đưa vào nghiên cứu, tình trạng vôi hóa lan tỏa trên cả ba tầng chiếm tỷ lệ cao nhất (72,7%), không có trường hợp nào chỉ vôi hóa một tầng đơn độc (0%)
(Bảng 5)
Trang 5
Hình 2: Bệnh nhân Trần Văn Đ 70 tuổi, vào viện vì loét ngón chân, hình ảnh tổn thương vôi hóa lan tỏa ở cả 3
tầng động mạch với các mức độ vôi hóa khác nhau được xác định dựa trên hệ thống PACS
BÀN LUẬN
Trong nghiên cứu của chúng tôi, vị trí động
mạch tổn thương hay gặp nhất là ở động mạch
đùi nông, thường gặp ngay sau vị trí phân chia
hoặc tại ống cơ khép (17,3%), tiếp theo là động
mạch kheoo (12,7%) và động mạch chày trước
(12,5%) Kết quả này khá tương tự với kết quả
của Trần Đức Hùng(4), trong đó tổn thương ở
động mạch đùi nông là hay gặp nhất (24,9%),
sau đó là động mạch chày trước (20,6%) và chày
sau (20,4%) Điều này có thể giải thích như sau:
động mạch đùi nông là đoạn động mạch có
chiều dài lớn nhất, có độ uốn cong đáng kể và
đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp máu
cho vùng chi dưới Những thay đổi về hướng
cũng như tốc độ dòng chảy tạo điều kiện cho
huyết khối hình thành gây tắc động mạch, đặc
biệt là ở đoạn trong ống cơ khép Do đó khu vực
động mạch đùi nông và động mạch khoeo (hay
còn gọi là đoạn đùi khoeo) là khu vực thường
gặp tổn thương nhất trong bệnh lý động mạch
ngoại vi(5) Đối với tầng dưới gối, tổn thương
tầng này chiếm tỷ lệ cao có thể giải thích là do
trong BĐMCD tổn thương thường xuất phát trước tiên từ các động mạch nhỏ ở ngoại vi phía ngọn chi và lan lên các động mạch lớn ở gốc chi Trên cả ba tầng tổn thương tắc nhiều hơn tổn thương hẹp (p <0,05), càng ra phía ngoại biên tổn thương ở mức độ nặng càng tăng Kết quả trong nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với kết quả trong nghiên cứu của các tác giả khác Trong nghiên cứu của Trần Đức Hùng được đăng trên tạp chí Y học Việt Nam năm 2015(4), trên ba tầng tổn thương tắc cũng nhiều hơn tổn thương hẹp (p <0,05), trong đó tổn thương tầng đùi khoeo chiếm tỷ lệ cao nhất (43,8%) sau đó đến tổn thương ở dưới gối (39%), thấp nhất là tổn thương ở tầng chủ chậu (17,2%) Trong nghiên cứu của Dương Văn Nghĩa năm 2018(6), tổn thương tầng đùi khoeo chiếm tỷ lệ cao nhất (43,7%), sau đó là tầng dưới gối (37,3%), cuối cùng là tầng chậu (19%), tổn thương tắc chiếm tỷ
lệ cao ở tầng đùi khoeo và tầng dưới gối Khẩu kính động mạch tầng dưới gối nhỏ hơn đáng kể
so với hai tầng còn lại nên sự bù trừ bằng cách tăng chu vi của lòng mạch sẽ kém hiệu quả hơn,
Vôi hóa nặng (động mạch chủ bụng)
Vôi hóa nhẹ (động mạch chậu ngoài phải)
Không vôi hóa (động mạch chày trước trái)
Trang 6do đó tổn thương ở tầng này thường có xu
hướng nặng nề hơn
Trong nghiên cứu của chúng tôi, hình thái
tổn thương hay gặp nhất trên 3 tầng là tổn
thương TASC D (27,9%), tổn thương TASC A
chiếm tỷ lệ thấp nhất (22,6%) Kết quả này có sự
khác biệt so với kết quả của các tác giả khác
Trong nghiên cứu của Trần Đức Hùng(4), tổn
thương TASC D chiếm tỷ lệ 59,9%, tổn thương
TASC A chỉ chiếm 4,8% Trong nghiên cứu của
Dương Văn Nghĩa(6), tổn thương TASC D chiếm
56%, tổn thương TASC A chỉ chiếm 1% Sự khác
biệt này chủ yếu đến từ tầng dưới gối, trong
nghiên cứu của chúng tôi, tổn thương trên động
mạch chày đích được mô tả theo phân loại mới
được cập nhật vào năm 2015 cho tầng dưới gối(2),
với chiều dài tổn thương phân theo mức hẹp
hoặc tắc từ 3 đến 10 cm Trong nghiên cứu của
Trần Đức Hùng(4) và Dương Văn Nghĩa(6), tổn
thương tầng dưới gối được phân loại theo TASC
II (2007)(3) Ở bảng phân loại này, mức độ tổn
thương của từng tầng nhẹ hơn (chiều dài tổn
thương tương ứng là 1, 2 và 4 cm) Ví dụ tổn
thương tắc có độ dài 3 cm được phân loại là
TASC D theo phân loại năm 2007, nhưng lại
được phân loại là TASC B theo phân loại mới
năm 2015 Hệ thống phân loại TASC cập nhật
năm 2015 đại diện cho sự thay đổi lớn trong
phân loại tổn thương ở tầng dưới gối, thu hẹp
phạm vi phẫu thuật và có tính chính xác cao hơn
trong mô tả các tổn thương phức tạp ở tầng này
so với phân loại cũ
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tổng số
đoạn mạch có vôi hóa chiếm 68,4% Kết quả này
tương tự với kết quả của Rahul JS năm 2015(7),
nghiên cứu vai trò của MSCT trong đánh giá tổn
thương động mạch chi dưới thấy có 43/70 (71%)
trường hợp gặp vôi hóa trên MSCT Trong
nghiên cứu của Phạm Hồng Đức và Nguyễn Thị
Cẩm Nhung đăng trên tạp chí Y học Việt Nam
năm 2016(8), trên 45 bệnh nhân đái tháo đường bị
bệnh lý động mạch chi dưới, tổng số đoạn mạch
vôi hóa là 536/890 đoạn mạch (60%) Tình trạng
vôi hóa thành mạch chiếm tỷ lệ cao vì hầu hết
bệnh nhân vào viện ở giai đoạn muộn Bên cạnh
đó, tình trạng vôi hóa động mạch cũng có liên quan với tuổi và bệnh lý đái tháo đường, trong nhóm nghiên cứu của chúng tôi, độ tuổi trên 60 tuổi chiếm tỷ lệ cao (77,3%), và tỷ lệ bệnh nhân
bị đái tháo đường cũng khá lớn (47,7%) Tình trạng vôi hóa động mạch liên quan tới tiên lượng bệnh và hiệu quả điều trị Tình trạng vôi hóa thành mạch 100% là yếu tố dự báo tốt nhất cho
sự thất bại của điều trị can thiệp nội mạch đối với hẹp tắc ở đoạn động mạch đùi khoeo(9) Hầu hết các bệnh nhân có tình trạng vôi hóa trên nhiều tầng động mạch với vôi hóa trên 3 tầng chiếm tỷ lệ 72,7%, tổn thương một tầng chiếm tỷ lệ 0% Kết quả này tương tự với kết quả của Phạm Hồng Đức và Nguyễn Thị Cẩm Nhung(8), vôi hóa một tầng chỉ chiếm tỷ lệ 4,5%, vôi hóa cả ba tầng chiếm tỷ lệ cao nhất là 65,9% Tình trạng tổn thương thành động mạch do xơ vữa và vôi hóa thường có tính chất lan tỏa và hệ thống, gây khó khăn cho các nhà lâm sàng trong điều trị nội mạch bệnh lý động mạch chi dưới Hạn chế của đề tài
Cỡ mẫu trong nghiên cứu của chúng tôi không đủ lớn (44 bệnh nhân), hơn nữa được lấy tại khoa phẫu thuật mạch máu, hầu hết bệnh nhân vào điều trị khi triệu chứng lâm sàng đã tiến triển sang giai đoạn nặng nên kết quả có thể không bao quát cho tất cả các trường hợp hẹp tắc động mạch chi dưới trong dân số
KẾT LUẬN Qua nghiên cứu 44 bệnh nhân được chẩn đoán hẹp tắc động mạch chi dưới được điều trị tại khoa Phẫu thuật Mạch máu Bệnh viện Chợ Rẫy từ tháng 9/2019 đến tháng 4/2020, kết quả cho thấy:
Vị trí tổn thương tầng đùi khoeo hay gặp nhất, sau đó là tổn thương tầng dưới gối và ít gặp nhất ở tầng chủ chậu, càng ra ngoại biên mức độ nặng của tổn thương càng tăng Trên cả
ba tầng, hình thái tổn thương hay gặp nhất là TASC D, ít gặp là tổn thương TASC A Vị trí tổn thương động mạch hay gặp là động mạch đùi
Trang 7nông đùi nông, động mạch khoeo và động mạch
chày trước; ít gặp ở động mạch chủ bụng đoạn
dưới thận, động mạch đùi sâu Số đoạn mạch có
vôi hóa trên toàn bộ chi dưới chiếm tỷ lệ cao và
chủ yếu là vôi hóa lan tỏa ba tầng
KIẾN NGHỊ
Chụp CTA là một phương pháp chẩn đoán
không xâm nhập, đáng tin cậy, có thể thay thế
DSA, trở thành phương tiện chẩn đoán đầu tay ở
các tuyến có đầy đủ trang thiết bị trong chẩn
đoán và lập kế hoạch điều trị các tổn thương
hẹp, tắc động mạch chi dưới
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Gerhard-Herman MD, Gornik HL, Barrett C, et al (2017) 2016
AHA/ACC Guideline on the Management of Patients with
Lower Extremity Peripheral Artery Disease Circulation,
135(12):726-779
2 Michael RJ, Christopher JW (2015) An Update on Methods for
Revascularization and Expansion of the TASC Lesion
Classification to Include Below-the-Knee Arteries: A
Supplement to the Inter-Society Consensus for the Management
of Peripheral Arterial Disease (TASC II) Journal of Endovascular
Therapy, 20(5):465-478
3 Norgren L, Hiatt WR, Dormandy JA, et al (2007) Inter-Society Consensus for the Management of Peripheral Arterial Disease
(TASC II) Journal of Vascular Surgery, 45(1):5-67
4 Trần Đức Hùng, Đoàn Văn Đệ, Tạ Tiến Phước (2015) Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và chụp động mạch cản quang ở bệnh
nhân bệnh động mạch chi dưới mãn tính Y học Việt Nam,
7(2):128 - 130
5 Nishtha S, Abhishek O (2018) Peripheral Arterial Disease: A
Practical Approach, 1st ed, pp.4-8 IntechOpen, London UK
6 Dương Văn Nghĩa, Phan Kim Toàn (2018) Nghiên cứu một số đặc điểm cận lâm sàng ở bệnh nhân bệnh động mạch chi dưới
mạn tính Y - Dược học Quân sự, 6(43):73-79
7 Rahul JS, Aathish S, Chethan TK (2015) Role of MDCT in Evaluation of Peripheral Vascular Disease of the Lower Limb
Arteries and Comparison with Colour Doppler Journal of
Evolution of Medical and Dental Sciences, 4(54):9336-9346
8 Phạm Hồng Đức, Nguyễn Thị Cẩm Nhung (2016) Vai trò của siêu âm trong đánh giá hẹp động mạch chi dưới ở bệnh nhân
đái tháo đường Y học Việt Nam, 1(1):44-48
9 Nathan KI, Tanner K, Anna MS, et al (2017) Lower extremity computed tomography angiographymcan help predict technical success of endovascular revascularization in the superficial
femoral and popliteal artery Journal of Vascular Surgery,
3(66):835-842
Ngày nhận bài báo: 30/11/2020 Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 20/02/2021 Ngày bài báo được đăng: 10/03/2021