1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá rối loạn Tic ở trẻ em bằng thang điểm mức độ nặng tổng thể Yale

8 66 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 328,8 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Rối loạn Tic thường gặp ở trẻ em. YGTSS (Yale Global Tic Severity Scale) là công cụ để đánh giá mức độ nặng của rối loạn Tic, cần thiết cho chẩn đoán và giúp theo dõi diễn tiến bệnh. Mục tiêu: Đánh giá mức độ nặng của rối loạn Tic bằng thang điểm YGTSS và khảo sát các yếu tố liên quan đến tổng điểm.

Trang 1

ĐÁNH GIÁ RỐI LOẠN TIC Ở TRẺ EM BẰNG THANG ĐIỂM MỨC ĐỘ NẶNG TỔNG THỂ YALE

Nguyễn Lê Trung Hiếu 1,2 , Phạm Hải Uyên 2

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Rối loạn Tic thường gặp ở trẻ em YGTSS (Yale Global Tic Severity Scale) là công cụ để đánh giá mức độ nặng của rối loạn Tic, cần thiết cho chẩn đoán và giúp theo dõi diễn tiến bệnh

Mục tiêu: Đánh giá mức độ nặng của rối loạn Tic bằng thang điểm YGTSS và khảo sát các yếu tố liên quan đến tổng điểm

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả tiến cứu trên 75 trẻ dưới 16 tuổi được chẩn đoán rối loạn Tic theo tiêu chuẩn của DSM-5, tại bệnh viện Nhi Đồng 2 từ tháng 2 đến tháng 6 năm 2020 Kết quả: Điểm trung bình về độ nặng của Tic, mức độ tổn hại và YGTSS lần lượt là 20,3; 21,2; 41,5 thuộc nhóm trung bình Các yếu tố liên quan đến tổng điểm YGTSS gồm: kiểu phối hợp vận động và âm thanh, thời gian kéo dài của triệu chứng trên 12 tháng, tuổi xuất hiện triệu chứng xấu nhất, Tourette và bệnh tăng động kém chú ý (ADHD) đồng mắc Nhóm rối loạn Tourette có điểm trung bình độ nặng, mức độ tổn hại và YGTSS lần lượt là 28,2; 23,3; 51,5 thuộc nhóm nặng; các yếu tố liên quan đến tổng điểm YGTSS là tuổi, tuổi xuất hiện triệu chứng xấu nhất và ADHD đồng mắc

Kết luận: Tổng điểm YGTSS thuộc nhóm trung bình Tuổi xuất hiện triệu chứng, rối loạn Tourette và ADHD đồng mắc là các yếu tố có liên quan tổng điểm YGTSS

Từ khóa: rối loạn tic, rối loạn Tourette, YGTSS

ABSTRACT

ASSESSMENT OF TIC DISORDER IN CHILDREN BY THE YALE GLOBAL TIC SEVERITY SCALE

Nguyen Le Trung Hieu, Pham Hai Uyen

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol 25 - No 2 - 2021: 33 - 40

Background: Tic disorders are common in children The YGTSS (Yale Global Tic Severity Scale) is a tool to assess the severity of Tic disorders, necessary for diagnosis and help monitor disease progression

Objectives: To evaluate the severity of Tic disorder using the YGTSS scale and investigate the factors related to the total score

Methods: Cross descriptive case series on 75 children under 16 years old diagnosed with Tics disorder according to the standards of DSM-5, at Children's Hospital 2 from February to June 2020

Results: Global Tic severity, impairment and YGTSS score were 20.3 respectively; 21.2; 41.5 belongs to the medium group Factors related to the total score of YGTSS were complex pattern, duration of symptom over 12 months, age of worst symptom onset, Tourette disorder and ADHD co-morbidity Tourette disorder group had global Tic severity, impairment and YGTSS score 28.2 respectively; 23.3; 51.5 belongs to the heavy group; factors related to the total score of YGTSS were age, age with worst symptoms and ADHD co-mobility

Conclusion: The total score of YGTSS was moderate Age of symptom onset, Tourette disorder and ADHD co-mobility were factors related to the total score of YGTSS

Keywords: tic disorder, Tourette disorder, YGTSS

1 Bộ môn Thần kinh, Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh 2 Khoa Thần kinh, BV Nhi Đồng 2

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Rối loạn Tic được định nghĩa là những cử

động vận động hoặc âm thanh bất ngờ, nhanh,

lặp lại và không có nhịp điệu, thường gặp ở trẻ

em và là triệu chứng cơ bản của rối loạn

Tourette(1,2,3) Theo DSM-5, rối loạn Tic được chia

thành 3 thể lâm sàng chính là rối loạn Tic tạm

thời, rối loạn Tic mạn tính và rối loạn Tourette

Rối loạn Tic tạm thời gặp nhiều nhất với tỉ lệ lên

đến 20%

Mức độ nặng của các rối loạn Tic được đánh

giá bằng thang điểm Yale Global Tic Severity

Scale (YGTSS)(4) Đây là bảng đánh giá toàn diện

thông qua thang tổng điểm mức độ nặng của Tic

(gồm 5 mục riêng biệt là số kiểu Tic, tần suất,

cường độ, độ phức tạp, và mức độ ảnh hưởng)

và thang điểm mức độ tổn hại dựa trên mức độ

ảnh hưởng của rối loạn Tic lên lòng tự trọng,

cuộc sống gia đình và sự hòa nhập xã hội(5)

YGTSS là công cụ hiệu quả đánh giá mức độ

nghiêm trọng Tic một cách toàn diện, đáng tin

cậy và hợp lý nhất liên quan đến các rối loạn Tic,

đã được chứng minh qua nhiều nghiên cứu(6)

Chúng tôi áp dụng YGTSS để đánh giá rối loạn

Tic ở trẻ em

Mục tiêu

- Đánh giá mức độ nặng của rối loạn Tic

bằng thang điểm YGTSS

- Khảo sát các yếu tố liên quan đến tổng

điểm YGTSS

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Trẻ từ 4 – 16 tuổi đến phòng khám tại phòng

khám, bệnh viện Nhi Đồng 2, TP Hồ Chí Minh

từ tháng 2 năm 2020 đến hết tháng 6 năm 2020 vì

các triệu chứng Tic

Tiêu chuẩn chọn vào

Trẻ từ 4 tuổi đến dưới 16 tuổi, có video hoặc

biểu hiện rối loạn Tic ngay lúc khám, thỏa tiêu

chuẩn chẩn đoán rối loạn Tics theo DSM-5

Không có chậm phát triển tâm thần vận động

Không có bệnh lý não kèm theo

Tiêu chẩn loại ra

Không khảo sát được các đặc điểm về dịch tễ học, tiền căn, lâm sàng

Không hoàn tất được thang điểm YGTSS Thân nhân và/hoặc bệnh nhân muốn ngừng tham gia nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu báo cáo hàng loạt ca

Phương pháp thực hiện Các bước tiến hành

Bệnh nhi đến khám thuộc dân số nghiên cứu, thỏa tiêu chuẩn chọn và loại trừ được khảo sát các đặc điểm chung của rối loạn Tic và đánh giá bằng thang điểm YGTSS, ghi vào bệnh án nghiên cứu

Các biến nghiên cứu

Khai thác các yếu tố tuổi, giới, tiền sử nhẹ cân, sanh khó/sanh ngạt, cha/mẹ đã từng hay hiện mắc, anh/chị/em đã từng hay hiện mắc, triệu chứng Tic gồm tuổi xuất hiện triệu chứng Tic đầu tiên, thời gian bắt đầu có triệu chứng đến nay, tuổi xuất hiện triệu chứng Tic xấu nhất, loại Tic, bệnh tăng động kém chú ý (ADHD) đồng mắc để khảo sát yếu tố liên quan tổng điểm YGTSS

ADHD đồng mắc được chẩn đoán bởi chuyên viên tâm lí khoa Tâm lí bệnh viện Nhi Đồng 2

Khảo sát thang điểm YGTSS ( 5 )

Gồm 5 mục riêng biệt là số kiểu Tic, tần suất, cường độ, độ phức tạp, từ đó tính tổng điểm mức độ nặng cho từng loại rối loạn Tic Khảo sát điểm mức độ tổn hại Sau cùng là tính tổng điểm YGTSS = điểm mức độ nặng + điểm mức độ tổn hại

Các đị nh nghĩa chính Tiêu chuẩn chẩn đoán rối loạn Tourette (Tourette disorder, TD) theo DSM-5

A Tồn tại một lúc nhiều Tic vận động và một hoặc nhiều Tic âm thanh trong thời gian

Trang 3

bệnh, không cần xảy ra đồng thời

B Tic có thể tăng hoặc giảm về tần số nhưng

kéo dài hơn 1 năm kể từ thời điểm khởi phát

C Khởi phát trước 18 tuổi

D Rối loạn xảy ra không phải do ảnh hưởng

sinh lý của chất gây nghiện hoặc những tình

trạng bệnh lý khác (bệnh Huntington’s, viêm

não hậu nhiễm)

Rối loạn Tic vận động hoặc âm thanh kéo dài (mạn

tính) theo DSM-5

A Tồn tại Tic vận động hoặc âm thanh đơn

giản hay nhiều kiểu, nhưng không đồng thời

xuất hiện Tic vận động và âm thanh

B Tic có thể tăng hoặc giảm về tần số nhưng

kéo dài hơn 1 năm kể từ thời điểm khởi phát

C Khởi phát trước 18 tuổi

D Rối loạn xảy ra không phải do ảnh hưởng

sinh lý của chất gây nghiện hoặc những tình

trạng bệnh lý khác

E Không đủ tiêu chuẩn chẩn đoán rối loạn

Tourette

Rối loạn Tic tạm thời theo DSM-5

A Tic âm thanh và/hoặc vận động đơn giản

hoặc nhiều kiểu

B Tic tồn tại ít hơn 1 năm kể từ thời điểm

khởi phát

C Khởi phát trước 18 tuổi

D Rối loạn xảy ra không phải do ảnh hưởng

sinh lý của chất gây nghiện hoặc những tình

trạng bệnh lý khác

E Không đủ tiêu chuẩn chẩn đoán rối loạn

Tourette’s hoặc rối loạn Tic vận động hoặc âm

thanh kéo dài (mạn tính)

Phân tích số liệu

Số liệu thu thập được sẽ được nhập liệu

bằng phần mềm Epidata 3.1 và xử lý bằng phần

mềm SPSS 20.0

Các biến định tính sẽ được phân nhóm và

tính phần trăm

Các biến định lượng sẽ được tính bằng trung

bình và độ lệch chuẩn hoặc trung vị và khoảng

tứ phân vị khi giá trị của biến không có phân

phối chuẩn

Dùng phép kiểm Chi bình phương (χ2) đối với các biến định tính Khi so sánh sự khác biệt giữa 2 nhóm thì dùng phép kiểm t với các biến định lượng

Dùng phân tích phương sai ANOVA khi so sánh khác biệt từ 3 nhóm trở lên

Y đức

Nghiên cứu này được thông qua bởi Hội đồng Đạo đức trong nghiên cứu Y sinh học bệnh viện Nhi Đồng 2, số 1658/NĐ2-CDT, ngày 24/12/2019

KẾT QUẢ Trong thời gian nghiên cứu từ tháng 2/2020 đến hết tháng 6/2020, chúng tôi thu thập được 75 bệnh nhi bị rối loạn Tic Tỉ lệ nam/nữ chung là 4,7 Có 74/75 (98,7%) bệnh nhân có biểu hiện Tics vận động Có 34/75 bệnh nhân có biểu biện Tics

âm thanh, trong số này chỉ có 1/34 bệnh nhân chỉ biểu hiện Tic âm thanh đơn thuần Có 33/75 bệnh nhân đủ tiêu chuẩn chẩn đoán rối loạn Tourette

Mức độ nặng Tất cả 75 bệnh nhi rối loạn Tic trong đó có 33 bệnh nhi đủ tiêu chuẩn chẩn đoán rối loạn Tourette được khảo sát số kiểu cơn, tần xuất, cường độ, độ phức tạp và ảnh hưởng khi đánh giá bằng YGTSS trên từng nhóm rối loạn Tic vận

động, Tic âm thanh (Bảng 1) Tổng điểm mức độ

nặng của rối loạn Tic là 20,3 và của rối loạn Tourette là 28,2

Rối loạn Tic vận động: đa số có nhiều kiểu Tic cơn rời rạc kết hợp với ít nhất một kiểu phối hợp, xuất hiện thường xuyên, cường độ trung bình, độ phức tạp nhẹ - trung bình và độ ảnh

hưởng nhẹ

Rối loạn Tic âm thanh cũng đa số là kiểu cơn đơn giản nhiều kiểu cơn rời rạc, 1/3 trường hợp luôn luôn xuất hiện, cường độ trung bình, độ phức tạp ranh giới, mức độ ảnh hưởng nhẹ - trung bình, không bệnh nhân nào bị ảnh hưởng mức độ nặng

Nhóm rối loạn Tourette: rối loạn Tic vận

Trang 4

động và âm thanh đa số là phức tạp, xuất hiện

thường xuyên, gần như luôn luôn, cường độ

trung bình và đáng kể, độ phức tạp trung bình, mức độ ảnh hưởng nhẹ - trung bình

Bảng 1: Đặc điểm mức độ nặng (n = 75)

Rối loạn Tic (n = 75) Rối loạn Tourette (n = 33) Vận động Âm thanh Vận động Âm thanh

Số kiểu cơn

Nhiều kiểu rời rạc (2-5 kiểu) 13 (17,6%) 16 (47,1%) 2 (6,1%) 16 (48,5%) Nhiều kiểu rời rạc (>5 kiểu) 5 (6,8%) 1 (2,9%) 4 (12,1%) 0 (0,0%) Nhiều kiểu Tic rời rạc kết hợp với ít nhất một kiểu là phối hợp 37 (50,0%) 4 (11,8%) 20 (60,6%) 4 (12,1%) Nhiều Tic rời rạc kết hợp với nhiều kiểu (>2) là phối hợp 18 (24,3%) 1 (2,9%) 7 (21,2%) 1 (3,0%)

Tần suất

Cường độ

Độ phức tạp

Ảnh hưởng

(7,0 - 25,0)

12,3 ± 3,9 (5,0 - 20,0)

15,8 ± 3,1 (9,0 – 25,0)

12,4 ± 3,9 (5,0 – 20,0)

Các giá trị là trung bình ± độ lệch chuẩn hoặc trung vị (25,75) hoặc n (%)

Liên quan giữa mức độ nặng của rối loạn Tic

vận động và rối loạn Tourette

Điểm trung bình mức độ nặng của rối loạn

Tic vận động của nhóm bệnh nhi không đủ tiêu

chuẩn chẩn đoán rối loạn Tourette (42 bệnh

nhân) và rối loạn Tourette (33 bệnh nhân) lần

lượt là 14,2 và 15,8, khác biệt không có ý nghĩa

thống kê

Phân tích riêng các đặc điểm về mức độ

nặng giữa hai nhóm ghi nhận khác biệt về cường

độ và độ phức tạp của Tic vận động giữa nhóm không đủ tiêu chuẩn chẩn đoán Tourette và rối loạn Tourette có ý nghĩa thống kê, với p <0,05

Bảng 2: Liên quan giữa mức độ nặng của rối loạn Tic vận động và rối loạn Tourette (n = 75)

Nhóm không Tourette (n=42)

Rối loạn Tourette (n=33)

Giá trị

pa

Số kiểu cơn của Tic vận động

3,6 ± 1,2 4,0 (2,0 - 5,0)

4,0 ± 0,8 4,0 (4,0 - 4,0) 0,45 Tần suất của Tic

vận động

3,9 ± 1,0 4,0 (3,0 - 5,0)

3,8 ± 1,1 4,0 (3,0 - 5,0) 0,57

Trang 5

Nhóm không Tourette (n=42)

Rối loạn Tourette (n=33)

Giá trị

pa Cường độ của

Tic vận động

2,7 ± 0,7 3,0 (2,0 - 3,0)

3,2 ± 0,8 3,0 (3,0 - 4,0) 0,005

Độ phức tạp của

Tic vận động

2,0 ± 0,8 2,0 (1,0 - 3,0)

2,5 ± 1,0 3,0 (2,0 - 3,0) 0,010 Ảnh hưởng của

Tic vận động

2,0 ± 0,8 2,0 (1,0 - 2,0)

2,3 ± 0,9 2,0 (2,0 - 3,0) 0,15 Tổng điểm Tic

vận động

14,2 ± 3,2 14,0 (12,0 - 17,0)

15,8 ± 3,1 16,0 (14,0 - 17,0)

0,056

trung v (25,75)

a Phép kiểm Wilcoxon ranksum (Mann-Whitney)

Mức độ tổn hại

Điểm trung bình về mức độ tổn hại của rối

loạn Tic và rối loạn Tourette lần lượt là 21,2 và

23,3 (Bảng 3)

Bảng 3: Mức độ tổn hại của rối loạn Tics (n = 75)

Điểm mức độ

tổn hại

Rối loạn Tic (n = 75)

Rối loạn Tourette (n = 33)

Tối thiểu 21 (28,0%) 6 (18,2%)

Trung bình 14 (18,7%) 7 (21,2%)

Điểm trung bình

mức độ tổn hại

21,2 ± 8,9 20,0 (0,0 - 40,0)

23,3 ± 9,6 20,0 (20,0 - 30,0)

Các giá trị là trung bình± độ lệch chuẩn hoặc trung vị

(25,75) hoặc n (%)

Điểm mức độ tổn hại chủ yếu là nhẹ 40,0%

trong nhóm rối loạn Tic chung, và 45,5% trong

nhóm rối loạn Tourette.Không có bệnh nhi nào

có điểm tổn hại nặng

Mức độ nặng tổng thể Tổng điểm YGTSS được khảo sát trên cả 3 nhóm rối loạn Tic, nhóm không đủ tiêu chuẩn chẩn đoán rối loạn Tourette và rối loạn Tourette Bằng phép kiểm Mann Whitney chúng tôi ghi nhân có sự khác biệt có ý nghĩa về tổng điểm mức độ nặng và tổng điểm YGTSS giữa 3 nhóm,

có ý nghĩa với p <0,001 (Bảng 4)

Các yếu tố liên quan đến tổng điểm YGTSS Các yếu tố tuổi, giới tính, tiền sử nhẹ cân, sinh khó sinh ngạt, rối loạn Tic vận động hai

âm thanh, tuổi xuất hiện triệu chứng đầu tiên, tuổi xuất hiện triệu chứng xấu nhất, thời gian bệnh, chẩn đoán rối loạn Tic và ADHD đồng mắc được khảo sát trên nhóm rối loạn Tic và rối loạn Tourette

Khi phân tích mô hình hồi qui tuyến tính đơn biến, các đặc điểm về tuổi xuất hiện triệu chứng đầu tiên, giới tính, nhẹ cân, tiền sử sinh khó/sinh ngạt không liên với tổng điểm YGTSS trong nhóm rối loạn Tic và rối loạn Tourette Các

yếu tố còn lại trong Bảng 5

Chúng tôi ghi nhận các đặc điểm liên quan đến tổng điểm YGTSS gồm 5 yếu tố: kiểu phối hợp rối loạn Tic vận động và âm thanh, thời gian kéo dài của triệu chứng Tic trên 12 tháng, tuổi xuất hiện triệu chứng Tic xấu nhất, rối loạn Tourette và có bệnh ADHD phối hợp

Phân tích riêng nhóm rối loạn Tourete, ghi nhận 3 yếu tố liên quan đến tổng điểm YGTSS là ghi nhận thêm tuổi, tuổi xuất hiện triệu chứng Tic xấu nhất và ADHD đồng mắc

Bảng 4: Tổng điểm mức độ nặng tổng thể (n = 75)

Rối loạn Tic (n=75)

Nhóm không Tourette (n=42)

Rối loạn Tourette (n=33) Giá trị p

a

Tổng điểm Tic vận động 14,9 ± 3,3 (7,0 - 25,0) 14,2 ± 3,2

14,0 (12,0 - 17,0)

15,8 ± 3,1 16,0 (14,0 - 17,0) 0,056 Tổng điểm Tic âm thanh 12,3 ± 3,9 (5,0 - 20,0) 11,0 ± NA

11,0 (11,0 - 11,0)

12,4 ± 3,9 12,0 (10,0 - 14,0) 0,65 Tổng điểm độ nặng của Tic 20,3 ± 8,1 (7,0 - 37,0) 14,0 (11,2 - 16,8) 14,1 ± 3,2 28,0 (23,0 - 33,0) 28,2 ± 5,0 <0,001 Điểm mức độ tổn hại 21,2 ± 8,9

20,0 (0,0 - 40,0)

19,5 ± 10,1 20,0 (10,0 - 27,5)

23,3 ± 9,6 20,0 (20,0 - 30,0) 0,089 Tổng điểm mức độ nặng tổng

thể của Tic

41,5 ± 15,1 (10,0 - 75,0)

33,6 ± 11,4 34,0 (24,0 - 39,0)

51,5 ± 13,1 50,0 (42,0 - 63,0) <0,001

Các giá trị là trung bình± độ lệch chuẩn hoặc trung vị (25,75) a Phép kiểm Wilcoxon ranksum (Mann-Whitney)

Trang 6

Bảng 5: Các yếu tố liên quan đến tổng điểm mức độ nặng tổng thể của Tic (n = 75)

Rối loạn Tic (n = 75) Rối loạn Tourette (n = 33)

Hệ số Beta KTC 95% Giá trị p Hệ số Beta KTC 95% Giá trị p

Giới tính

Kiểu Tic

Thời gian bắt đầu có triệu chứng đến nay

Tuổi xuất hiện triệu chứng Tic xấu nhất 2,1 0,34; 3,8 0,019 3,4 1,2; 5,6 0,004

Chẩn đoán Tic

Kèm theo ADHD

BÀN LUẬN

Mức độ nặng

Không có nhiều nghiên cứu khảo sát đặc

điểm mức độ nặng của các rối loạn Tic, chủ yếu

các nghiên cứu tập trung vào khảo sát mức độ

nặng của rối loạn Tourette Tổng điểm mức độ

nặng của rối loạn Tic vận động, Tic âm thanh,

điểm mức độ tổn hại và tổng điểm YGTSS trong

nghiên cứu của chúng tôi khá tương đồng với

nghiên cứu của Leckman JF (1989) chọn trẻ 5-15

tuổi; Specht MW (2011) chọn trẻ 9-17 tuổi,

Mcguire JF 2018 chọn trẻ 3-18 tuổi(5,7,8) (Bảng 6)

Liên quan giữa mức độ nặng của rối loạn Tic

vận động và rối loạn Tourette

Chúng tôi ghi nhận sự khác biệt về cường độ

và độ phức tạp của Tic vận động có ý nghĩa

thống kê giữa 2 nhóm rối loạn Tourette và không Tourette Specht MW (2011) ghi nhận không có sự khác biệt giữa các đặc điểm của thang điểm độ nặng Tic vận động (số kiểu cơn, tần số, cường độ, độ phức tạp và độ ảnh hưởng) giữa nhóm rối loạn Tourette và không Tourette(8) Sự khác biệt này có thể lý giải do đặc điểm bệnh nhân Tourette trong nhóm nghiên cứu của chúng tôi có điểm YGTSS mức độ nặng Kết quả này cũng đóng góp thêm một số lưu ý khi khảo sát về rối loạn Tic, chúng ta cần chú ý thêm về đặc điểm cường độ và độ phức tạp của Tic vận động, có thể là yếu tố nguy cơ diễn tiến của rối loạn Tic mạn thành rối loạn Tourette

Bảng 6: Bảng so sánh thang điểm YGTSS giữa các nghiên cứu

Mcguire JF 2018(7) Leckman JF 1989(5) Specht MW 2011(8) Chúng tôi

Các giá trị là trung bình ± độ lệch chuẩn

Trang 7

Mức độ nặng tổng thể

Chúng tôi ghi nhận có sự khác biệt về tổng

điểm độ nặng của Tic và tổng điểm YGTSS

giữa 3 nhóm rối loạn Tic, rối loạn Tourette và

không đủ tiêu chuẩn chẩn đoán Tourette có ý

nghĩa thống kê, với p <0,05 Rối loạn Tourette

có tổng điểm mức độ nặng và tổng điểm

YGTSS cao hơn

Các yếu tố liên quan đến tổng điểm mức độ

nặng tổng thể của Tic

Đặc điểm tuổi xuất hiện triệu chứng nặng

nhất, kết quả nghiên cứu của chúng tôi phù hợp

với nghiên cứu của của Leckman JF (1998)( 9 );

Pringsheim T 2017(Error! Reference source not

found.) và các nghiên cứu về diễn tiến tự nhiên

của rối loạn Tic, cho thấy mức độ nặng của Tic

tăng dần theo tuổi, và đạt đỉnh ở độ tuổi từ

10-12, và sau đó triệu chứng Tic dần dần cải thiện

đến giai đoạn cuối của tuổi thanh thiếu niên

Hiện có tương đối ít dữ liệu được tìm thấy để so

sánh kết quả tác động giới vào độ nặng Một số

nghiên cứu đã cho thấy giới tính không ảnh

hưởng đến thời gian bắt đầu của các triệu chứng,

cho rằng không có sự khác biệt về mức độ

nghiêm trọng giữa trẻ em gái và trẻ em trai

nhưng trong một mẫu khác, sự khác biệt về giới

được công nhận(11,12) Vai trò của giới tính chủ

yếu trong biểu hiện của các vấn đề liên quan,

những kết quả trên cho thấy giới tính không có

ảnh hưởng đáng kể đến diễn biến và mức độ

nghiêm trọng của rối loạn Tourette nhưng sự

khác biệt cơ bản về giới liên quan đến bệnh lý

tâm thần kinh đi kèm, làm tăng mức độ nặng

của bệnh(1)

KẾT LUẬN

Qua phân tích 75 bệnh nhi mắc rối loạn Tic

chúng tôi ghi nhận: tổng điểm độ nặng của

Tic, tổng điểm mức độ tổn hại, tổng điểm

YGTSS lần lượt là 20,3; 21,2; 41,5 thuộc nhóm

mức độ trung bình Có 5 yếu tố liên quan đến

tổng điểm YGTSS gồm: kiểu phối hợp rối loạn Tic vận động và âm thanh, thời gian kéo dài của triệu chứng Tic trên 12 tháng, tuổi xuất hiện triệu chứng Tic xấu nhất, Tourette và ADHD đồng mắc

Qua phân tích 33 bệnh nhi mắc rối loạn Tourette chúng tôi ghi nhận: tổng điểm độ nặng của Tic, tổng điểm mức độ tổn hại, tổng điểm YGTSS lần lượt là 28,2; 23,3; 51,5 thuộc nhóm mức độ nặng Có 3 yếu tố liên quan đến tổng điểm YGTSS là tuổi, tuổi xuất hiện triệu chứng Tic xấu nhất và ADHD đồng mắc

Tổng điểm cường độ của Tic vận động, độ phức tạp của Tic vận động, tổng điểm độ nặng của Tic và tổng điểm YGTSS cao ở nhóm rối loạn Tourette

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Nagy P, Bognár E, Farkas L, et al (2020) Clinical characteristics of

children with Tourette's Syndrome Psychiatr Hung, 35(1):37-45

2 Phạm Quỳnh Diệp, Đào Trần Thái, Nguyễn Văn Nuôi (2003) Khảo sát các biểu hiện lâm sàng và hiệu quả điều trị ban đầu rối

loạn Tic trên trẻ em Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 7(1):254-260

3 Scahill L, RH Bitsko, SN Visser, et al (2009) Prevalence of diagnosed Tourette syndrome in persons aged 6-17 years - United

States, 2007 MMWR Morb Mortal Wkly Rep, 58(21):581-585

4 Ho CS, Huang JY, Yang CH, Lin YJ, et al (2020) Is the Yale Global Tic Severity Scale a valid tool for parent-reported assessment in the paediatric population? A prospective

observational study in Taiwan BMJ Open, 10(8):e034634

5 Leckman JF, MA Riddle MA, MT Hardin MT, et al (1989) The Yale Global Tic Severity Scale: initial testing of a clinician-rated scale of tic

severity J Am Acad Child Adolesc Psychiatry, 28(4):566-573

6 Martino D, Pringsheim TM, Cavanna AE, et al (2017) Systematic review of severity scales and screening instruments for Tic:

Critique and recommendations Mov Disord, 32(3):467-473

7 Mcguire JF, Piacentini J, Storch EA, et al (2018) A multicenter examination and strategic revisions of the Yale Global Tic

Severity Scale Neurology, 90(19):e1711-e1719

8 Specht MW, Woods DW, Piacentini J, et al (2011) Clinical characteristics of children and adolescents with a primary tic

disorder J Dev Phys Disabil, 23(1):15-31

9 Leckman JF, Zhang H, Vitale A, et al (1998) Course of tic

severity in Tourette syndrome: the first two decades Pediatrics,

102(1 Pt 1):14-19

Trang 8

10 Pringsheim T (2017) Tic Severity and Treatment in Children:

The Effect of Comorbid Attention Deficit Hyperactivity

Disorder and Obsessive Compulsive Behaviors Child Psychiatry

Hum Dev, 48(6):960-966

11 Fahim C, Yoon U, Das S, Lyttelton O, et al (2010)

Somatosensory-motor bodily representation cortical thinning in

Tourette: Effects of tic severity, age and gender Cortex,

46(6):750-760

12 Santangelo SL, Pauls DL, Goldstein JM, et al (1994) Tourette's syndrome: what are the influences of gender and comorbid

obsessive-compulsive disorder? J Am Acad Child Adolesc

Psychiatry, 33(6):795-804

Ngày nhận bài báo: 10/11/2020 Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 01/02/2021 Ngày bài báo được đăng: 10/03/2021

Ngày đăng: 10/04/2021, 11:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w