1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Sự tương đồng về lâm sàng, mô học và miễn dịch huỳnh quang trực tiếp trên bệnh nhân bệnh bóng nước tự miễn

6 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 274,38 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bệnh bóng nước tự miễn là bệnh da nặng, có nguy cơ tử vong. Chẩn đoán dựa vào lâm sàng, mô học và miễn dịch huỳnh quang. Tuy nhiên đôi khi các biểu hiện này không phù hợp nhau, gây khó khăn cho chẩn đoán. Bài viết trình bày khảo sát sự tương đồng về lâm sàng (LS), giải phẫu bệnh (GPB), miễn dịch huỳnh quang trực tiếp (MDHQTT) của bệnh nhân bệnh bóng nước tự miễn.

Trang 1

SỰ TƯƠNG ĐỒNG VỀ LÂM SÀNG, MÔ HỌC

VÀ MIỄN DỊCH HUỲNH QUANG TRỰC TIẾP TRÊN BỆNH NHÂN BỆNH BÓNG NƯỚC TỰ MIỄN

Huỳnh Nguyễn Mai Trang 1 , Văn Thế Trung 2

TÓM TẮT

Đặt vấn đề Bệnh bóng nước tự miễn là bệnh da nặng, có nguy cơ tử vong Chẩn đoán dựa vào lâm sàng,

mô học và miễn dịch huỳnh quang Tuy nhiên đôi khi các biểu hiện này không phù hợp nhau, gây khó khăn cho chẩn đoán

Mục tiêu Khảo sát sự tương đồng về lâm sàng (LS), giải phẫu bệnh (GPB), miễn dịch huỳnh quang trực tiếp (MDHQTT) của bệnh nhân bệnh bóng nước tự miễn

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu Nghiên cứu mô tả hàng loạt ca trên bệnh nhân bóng nước tại Bệnh viện Da liễu thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian từ tháng 9/2017 đến tháng 6/2018

Kết quả Có 39 BN được nhận vào nghiên cứu Chẩn đoán trên lâm sàng bao gồm 19 bệnh nhân pemphigus thông thường (PV), 18 bệnh nhân bóng nước dạng pemphigus (BP), 1 bệnh nhân bệnh IgA đường (LAD) và 1 bệnh nhân viêm da dạng herpes (DH) Có 82,05% tương ứng lâm sàng – GPB – MDHQTT

Kết luận Kết hợp lâm sàng-GPB-MDHQTT là công cụ chẩn đoán tốt nhất đối với bệnh lý bóng nước

tự miễn

Từ khóa: bệnh bóng nước tự miễn, miễn dịch huỳnh quang

ABSTRACT

DISCREPANCY OF CLINICAL CHARACTERISTICS, HISTOPATHOLOGY AND DIRECT IMMUNOFLUORESCENCE IN AUTOIMMUNE BULLOUS PATIENTS

Huynh Nguyen Mai Trang, Van The Trung

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol 25 - No 2 - 2021: 01 - 06

Background: Autoimmune bullous diseases are severe, life-threatening skin diseases Diagnosis is mainly based on features of clinical, histopathology and direct immunofluocrescence (DIF) However, in some conditions, there are incompatibilities among them, which may cause difficulties in diagnosis

Objectives: to evaluate the correlation between the clinical features and histopathology – DIF of autoimmune bullous disease

Methods: Case series Consecutive consenting bullous inpatients were recruited in Ho Chi Minh City Hospital of Dermatology and Venereology from Sep 2017 to June 2018

Results: A total of 39 patients were included Clinical diagnosis showed 19 cases of PV, 18 cases of BP, 1 case of LAD and 1 case of DH Of these, 82,05% samples showed strict correlation of clinico-immuno-histopathological results

Conclusions: Clinical, immunological, histopathological examinations should be combined for the best diagnosis of autoimmune bullous diseases

Key words: autoimmune bullous diseases, direct immunofluocrescence

1 Bộ môn Da liễu, Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh bóng nước tự miễn, trong đó hai bệnh

thường gặp là pemphigus thông thường

(pemphigus vulgaris - PV) và bóng nước dạng

pemphigus (bullous pemphigoid - BP), là nhóm

bệnh mạn tính nặng, cơ chế bệnh sinh phức tạp,

thường khởi phát ở lứa tuổi trung niên và người

lớn tuổi, ảnh hưởng nhiều đến chất lượng cuộc

sống và tiên lượng tử vong của bệnh nhân(1)

Trong thực hành một số trường hợp bệnh

bóng nước tự miễn có triệu chứng chồng lấp,

dẫn đến chẩn đoán khó khăn

Xét nghiệm giải phẫu bệnh (GPB) bằng

phương pháp nhuộm thông thường cho thấy

hình ảnh bóng nước và tẩm nhuận tế bào viêm

với độ nhạy cao, nhằm giúp củng cố chẩn đoán

lâm sàng Phương pháp này được sử dụng rộng

rãi ở nhiều nơi, kể cả những nơi có điều kiện y tế

chưa phát triển như nước ta Tuy nhiên, nhược

điểm của phương pháp này không cho thấy hình

ảnh rõ ràng của bóng nước trong một số trường

hợp, cũng như không phát hiện được tự kháng

thể trong bệnh bóng nước tự miễn Miễn dịch

huỳnh quang trực tiếp (MDHQTT) ngoài việc

biểu hiện bóng nước rõ ràng còn cho thấy hình

ảnh kháng thể (KT) lắng đọng khi có phản ứng

miễn dịch trong mô Đây là phương pháp phức

tạp, đòi hỏi kỹ thuật cao và thường được áp

dụng ở những nơi có điều kiện y tế hiện đại Một

số nghiên cứu cho thấy kết quả của MDHQTT

không luôn luôn phù hợp với hình ảnh mô học

thông thường và lâm sàng(2)

Tại Việt Nam, Bệnh viện Da liễu thành phố

Hồ Chí Minh đã sử dụng xét nghiệm MDHQTT

vào chẩn đoán bệnh bóng nước bên cạnh lâm

sàng và mô học thông thường Quan sát trên

thực hành lâm sàng chúng tôi nhận thấy đôi khi

có sự bất tương đồng giữa hình ảnh thương tổn

da trên lâm sàng, giải phẫu bệnh và MDHQTT ở

bệnh lý bóng nước tự miễn

GPB đánh giá cấu trúc mô và tế bào ở mức

độ vi thể, ưu điểm của phương pháp này là rẻ

tiền, dễ ứng dụng, có thể thực hiện ở nhiều bệnh

viện ở nhiều tuyến khác nhau Nhược điểm của

phương pháp GPB mô học là do phép nhuộm không đặc hiệu, do đó có thể cho hình ảnh giống nhau ở những bệnh lý miễn dịch, nhất là các bệnh lý bóng nước tự miễn vốn có các tác nhân kháng nguyên (KN) và KT khác nhau, gây nhầm lẫn trong chẩn đoán và điều trị bệnh

Nguyên lý chung của phương pháp MDHQ là dùng một chất đánh dấu phát huỳnh quang gắn vào KN hoặc KT để phát hiện ra KT hoặc KN tương ứng chưa biết ở tổ chức tế bào các mô, trong các dịch… hoặc định lượng chất đó ở mức vi lượng Phương pháp MDHQTT là phương pháp sử dụng tự KT sẵn

có để phát hiện KN trên bề mặt tế bào và mô

Kỹ thuật này có Se và Sp cao vì KN chỉ kết hợp với KT đặc hiệu tương ứng với nó mà thôi(2) Tuy nhiên, phương pháp này đòi hỏi trang bị phòng xét nghiệm và đào tạo chuyên môn của nhà GPB học, do đó, phương pháp này chưa được sử dụng phổ biến trên LS để chẩn đoán các bệnh lý bóng nước tự miễn

Cho đến nay, đã có một số nghiên cứu đánh giá đặc điểm lâm sàng (LS) và GPB mô học, MDHQTT trên bệnh nhân (BN) bệnh bóng nước tự miễn(3,4) tuy nhiên hiện tại kỹ thuật nhuộm và đánh giá kết quả trên MDHQTT đã có nhiều cải tiến nhằm nâng cao giá trị chẩn đoán của xét nghiệm này Do đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu này để khảo sát sự tương đồng về đặc điểm LS và cận lâm sàng (CLS) của BN bệnh bóng nước tự miễn,

từ đó đánh giá vai trò của GPB mô học – MDHQTT trong chẩn đoán hai bệnh lý này Mục tiêu

Khảo sát sự tương đồng về đặc điểm LS, GPB, MDHQTT của bệnh nhân (BN) bệnh bóng nước tự miễn

ĐỐI TƯỢNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu

BN được chẩn đoán bệnh bóng nước tự miễn nhập viện nội trú tại Bệnh viện Da liễu Thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian từ tháng 9/2017 đến tháng 6/2018

Trang 3

Tiêu chuẩn nhận vào

Bệnh nhân có thương tổn bóng nước hoặc

vết trợt ở da hoặc niêm mạc, có thể có kèm sang

thương mài, dát tăng sắc tố, hồng ban, mày đay,

Nikolsky có thể (+) hoặc (-)

Tiêu chuẩn loại trừ

Bệnh nhân có triệu chứng LS không điển

hình, nghi ngờ dị ứng thuốc, đồng mắc các bệnh

tự miễn khác hoặc không đồng ý tham gia

nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả hàng loạt ca

Các biến số chính

Các đặc điểm giúp xác định chẩn đoán là

biến danh định với 2 giá trị đặc điểm LS và đặc

điểm cận lâm sàng trong đó:

Đặc điểm LS tổn thương da niêm là biến nhị

giá với 2 giá trị có và không

Đặc điểm CLS là biến nhị giá với 2 giá trị CLS

được xem là dương tính khi cả hai GPB mô học

và MDHQTT phù hợp với chẩn đoán lâm sàng

Tiến hành nghiên cứu

BN được đánh giá triệu chứng LS, ghi nhận

thương tổn da: bóng nước, vết trợt, mài, dát tăng

sắc tố, hồng ban, mày đay và thương tổn niêm

mạc: bóng nước, vết trợt

Nếu BN chưa được sinh thiết làm GPB mô

học: sinh thiết bóng nước làm GPB mô học và

MDHQTT

Nếu tra cứu hồ sơ cũ BN đã có GPB mô học -

MDHQTT:

GPB mô học không phù hợp với đặc điểm

LS hiện tại: làm lại GPB mô học và MDHQTT

GPB mô học - MDHQTT phù hợp với đặc

điểm LS hiện tại: ghi nhận chẩn đoán

Phương pháp sinh thiết

Sát khuẩn vùng da cần sinh thiết bằng

Povidin

Sử dụng dao hoặc punch cắt trọn bóng nước

mới nổi trên da, rìa diện cắt cách bờ bóng nước

khoảng 3 - 5 mm

Khâu vết cắt bằng chỉ Nylon 3.0

Mẫu sinh thiết được chia thành 2 mẫu, 1 mẫu bóng nước cố định trong formol 10% để làm GPB mô học, 1 mẫu sang thương da lành rìa bóng nước cố định trong NaCl 0,9% để làm MDHQTT

Bệnh phẩm được bảo quản và xử lý trong ngày tại khoa Giải phẫu bệnh bệnh viện Nhân dân Gia Định, nhuộm hematoxyclin & eosin đối với bệnh phẩm bóng nước để quan sát trên kính hiển vi quang học và nhuộm tự KT IgG, IgM, IgA, C3, C1q gắn huỳnh quang đối với bệnh phẩm da cạnh bóng nước để đánh giá phản ứng MDHQTT

Đặc điểm GPB mô học:

- PV: Bóng nước nằm trong thượng bì, hiện tượng tiêu gai xảy ra ở phần sâu trên màng đáy, dịch bóng nước chứa bạch cầu đa nhân trung tính, lympho bào

- BP: Bóng nước dưới thượng bì, lớp bì thấm nhập nhiều bạch cầu đa nhân trung tính, bạch cầu ái toan, lympho bào

Đặc điểm MDHQTT:

- PV: Lắng đọng IgG, IgM, C3 tại khoảng gian bào tạo thành dạng mạng lưới (tổ ong)

- BP: Lắng đọng IgG thành dải liên tục tại vùng màng đáy

Phân tích số liệu

Thương tổn da niêm, có hoặc không, đánh giá bằng tỉ lệ % Các đặc điểm GPB mô học và MDHQ phù hợp với PV hay BP cũng đánh giá

có - không bằng tỉ lệ % Độ nhạy (Se), độ đặc hiệu (Sp), giá trị tiên đoán dương (PPV), giá trị tiên đoán âm (NPV) của xét nghiệm GPB mô học – MDHQTT đối với bệnh PV và BP dựa theo bảng 2x2 Dùng phép kiểm Fisher để so sánh sự khác biệt giữa 2 tỉ lệ Giá trị p <0,05 được xem có

ý nghĩa thống kê

Y đức

Nghiên cứu này được thông qua bởi Hội đồng Đạo đức trong nghiên cứu Y sinh học Đại

Trang 4

học Y Dược TP HCM, số 138/HĐĐĐ, ngày

26/02/2020

KẾT QUẢ

Có 39 BN được nhận vào nghiên cứu với kết

quả như Bảng 1, 2, 3

Bảng 1: Phân bố tuổi – giới (n = 39)

Trung bình Độ lệch chuẩn Nam (%) Nữ (%) Mẫu 55,3 20,2 17 (43,58) 22 (56,42)

Bảng 2: Phân bố thương tổn da niêm theo chẩn đoán LS

Mẫu nghiên cứu (n = 39) (%)

Nhóm PV (n = 19) (%)

Nhóm BP (n = 18) (%)

Nhóm LAD (n = 1) (%)

Nhóm HD (n = 1) (%) P* Bóng nước ở da 39 (100) 19 (100) 18 (100) 1 (100) 1 (100)

>0,05 Vết trợt ở da 37 (94,87) 19 (100) 17 (94,44) 1 (100) 0 (0)

Bóng nước ở niêm mạc 1 (2,56) 0 (0) 1 (5,55) 0 (0) 0 (0)

<0,05 Vết trợt ở niêm mạc 21 (53,84) 19 (100) 2 (11,11) 0 (0) 0 (0)

Mài 37 (94,87) 19 (100) 16 (88,88) 1 (100) 1 (100) >0,05 Dát tăng sắc tố 31 (79,48) 13 (68,42) 16 (88,88) 1 (100) 1 (100) >0,05 Hồng ban 29 (74,35) 11 (57,89) 18 (100) 0 (0) 0 (0) <0,05

*Phép kiểm chính xác Fisher giữa nhóm PV và nhóm BP

Bảng 3: Tương quan giữa LS và CLS trong chẩn

đoán PV

Lâm sàng (n = 39)

PV (+) PV (-) Cận lâm sàng PV (+) 17 1

3 trường hợp không tương hợp giữa chẩn

đoán PV trên LS và CLS:

2 trường hợp LS chẩn đoán PV (+), GPB mô

học ghi nhận bóng nước dưới thượng bì, tẩm

nhuận nhiều bạch cầu ái toan và bạch cầu đa

nhân trung tính, MDHQTT cho thấy có tẩm

nhuận không đặc hiệu ở lớp bì, không tẩm

nhuận IgG, IgM, IgA, C3, C1q ở lớp thượng bì,

nghĩ hướng bệnh bóng nước do thuốc

1 trường hợp LS chẩn đoán BP, GPB mô học

ghi nhận bóng nước trong thượng bì, tẩm nhuận

bạch cầu đa nhân trung tính, MDHQTT cho thấy

tẩm nhuận IgG dạng tổ ong ở thượng bì, không

tẩm nhuận IgM, IgA, C3, C1q, tẩm nhuận không

đặc hiệu ở lớp bì, nghĩ hướng bệnh pemphigus

Se (PV) = 89,47%; Sp (PV) = 95%

Bảng 4: Tương quan giữa LS và CLS trong chẩn

đoán BP

Lâm sàng (n = 39)

BP (+) BP (-) Cận lâm sàng BP (+) 15 2

5 trường hợp không tương đồng giữa chẩn đoán BP trên LS và CLS:

1 trường hợp LS chẩn đoán PV, GPB mô học – MDHQTT ghi nhận đặc điểm BP (đã nêu phía trên)

1 trường hợp LS chẩn đoán bệnh IgA đường, GPB mô học ghi nhận bóng nước dưới thượng

bì, tẩm nhuận nhiều bạch cầu đa nhân trung tính, bạch cầu ái toan, MDHQTT ghi nhận IgG lắng đọng dạng đường dọc theo màng đáy, không lắng đọng IgA, IgM, C1q, C3 ở thượng bì, lớp bì bắt màu không đặc hiệu, nghĩ bệnh BP

2 trường hợp LS chẩn đoán BP, GPB mô học ghi nhận bóng nước dưới thượng bì, tẩm nhuận nhiều bạch cầu ái toan, MDHQTT ghi nhận tẩm nhuận không đặc hiệu ở lớp bì, không bắt màu IgG, IgM, IgA, C1q, C3 ở thượng bì và màng đáy, nghĩ bệnh bóng nước do thuốc

1 trường hợp LS chẩn đoán BP, GPB mô học ghi nhận mụn nước, bóng nước dưới thượng bì, tẩm nhuận nhiều bạch cầu đa nhân trung tính, bạch cầu ái toan, MDHQTT ghi nhận IgA lắng đọng ở đỉnh nhú bì, không lắng đọng IgG, IgM, IgA, C1q, C3 ở thượng bì và màng đáy, lớp bì bắt màu không đặc hiệu, nghĩ DH

Se (BP) = 83,33%; Sp (BP) = 90,47%

Trang 5

BÀN LUẬN

Về triệu chứng LS, đa số BN PV và BP đều

có sang thương bóng nước, vết trợt ở da, đóng

mài và dát tăng sắc tố Hai nhóm BN khác biệt

không có ý nghĩa thống kê về các đặc điểm này

(p>0,05), chứng tỏ các BN có sự tương đồng về

giai đoạn của bệnh Về sang thương niêm mạc,

hầu hết BN PV đều có tổn thương niêm mạc,

trong khi chỉ có 11,11% BN BP có tổn thương

niêm mạc Sự khác biệt giữa nhóm bệnh nhân

PV và BP có ý nghĩa thống kê (p <0,05) Điều này

phù hợp với cơ chế bệnh sinh của bệnh và phù hợp với các nghiên cứu trước(1,5,1,7,8) Ngoài ra, BN

BP có tổn thương mày đay chiếm >1/3 trường hợp và tất cả BN BP đều có sang thương hồng ban, phù hợp với cơ chế bệnh sinh của BP thông qua các con đường hóa chất trung gian gây viêm

và có thể liên quan IgE và tế bào bạch cầu ái toan(8,9), trong khi ở nhóm PV, con số này lần lượt chỉ là 24,32% và 78,37% (p <0,05) Mô tả LS của nhóm BP cũng phù hợp với nghiên cứu trước đó(10)

Bảng 5: Phân bố thương tổn LS

Mẫu nghiên cứu (n = 39) (%)

Nhóm BP (n = 18) (%)

Nhóm PV (n = 19) (%)

Trần Lan Anh (%)(10)

Phạm Huy Thục (%)(6)

Buch (%)(11) Bóng nước ở da 39 (100) 18 (100) 19 (100)

82 (96,47) 52 (83,9) 95 (95) Bóng nước ở niêm mạc 1 (2,56) 1 (5,55) 0 (0)

Vết trợt ở da 37 (94,87) 17 (94,44) 19 (100)

82 (96,47) 55 (88,7)

73 (73) Vết trợt ở niêm mạc 21 (53,84) 2 (11,11) 19 (100)

Mài 37 (94,87) 16 (88,88) 19 (100) 0 (0) 58 (93,5)

Dát tăng sắc tố 31 (79,48) 16 (88,88) 13 (68,42)

Hồng ban 29 (74,35) 18 (100) 11 (57,89) 2 (2,35) 9 (16,1)

Mày đay 7 (17,94) 7 (38,88) 0 (0)

Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự tương

đồng cao giữa triệu chứng LS điển hình của

bệnh PV, BP và kết quả GPB mô học –

MDHQTT Trong số 19 BN PV được chẩn đoán

LS PV, có 17 BN có kết quả GPB mô học –

MDHQTT (+) điển hình của PV, trong số còn lại

có 3 trường hợp không tương hợp giữa LS và

CLS Kết quả này cho thấy PPV và NPV của xét

nghiệm GPB mô học – MDHQTT khá cao, lần

lượt là 94,44% và 90,47% Tương tự, trong 18 BN

được chẩn đoán LS là BP, chỉ có 5 BN có kết quả

GPB mô học – MDHQTT khác biệt Trong số các

BN này, ghi nhận 2 trường hợp MDHQTT (+)

với các chỉ dấu của một số bệnh bóng nước tự

miễn dưới thượng bì khác như LAD và DH

Điều này có thể là do sự chồng lắp về mặt LS

giữa các bệnh lý này, từ đó thấy được vai trò của

GPB mô học – MDHQTT trong chẩn đoán phân biệt một số bệnh lý bóng nước tự miễn có biểu hiện LS tương tự nhau PPV và NPV của GPB

mô học – MDHQTT trong chẩn đoán BP cũng khá cao, lần lượt là 88,23% và 86,36% Điều này

có thể lý giải là do của chúng tôi đã đặt ra tiêu chuẩn nhận vào khá chặt chẽ và loại trừ những

ca bệnh không điển hình hay nghi ngờ nguyên nhân do thuốc trước khi đưa vào nghiên cứu Điểm cần lưu ý trong nghiên cứu này là chúng tôi đã nhận vào cả những BN chưa và đang điều trị corticosteroid, và sự khác biệt giữa 2 nhóm này về GPB mô học – MDHQTT không có ý nghĩa thống kê (p >0,05) cho thấy điều trị corticosteroid không ảnh hưởng đến biểu hiện GPB mô học – MDHQTT, phù hợp với nghiên cứu trước đây(12)

Bảng 6: So sánh Se, Sp, PPV và NPV của GPB mô học - MDHQTT

Se (%) Sp (%) PPV (%) NPV (%) Se (%) Sp (%) PPV (%) NPV (%) Chúng tôi 89,47 95 94,44 90,47 83,33 90,47 88,23 86,36

Đáng chú ý, trong số BN được đưa vào

nghiên cứu, nhóm BN bệnh bóng nước do thuốc

là nhóm có thể gây nhầm lẫn chẩn đoán, ảnh hưởng tiên lượng và điều trị Những BN này có

Trang 6

thể có triệu chứng LS tương tự PV (n=2) hoặc BP

(n=1), tuy nhiên kết quả MDHQTT lại (-) Điều

này cho thấy nhà thực hành LS cần rà soát kỹ các

yếu tố liên quan trên BN bệnh bóng nước và

thực hiện xét nghiệm GPB mô học – MDHQTT

để xác định lại chẩn đoán LS, thậm chí đôi khi

phải lặp lại GPB mô học – MDHQTT và cả

MDHQ gián tiếp nếu cần để nâng cao giá trị

chẩn đoán và có hướng điều trị phù hợp

Tuy vậy nghiên cứu vẫn còn một số điểm

hạn chế Nghiên cứu được thực hiện trong thời

gian ngắn, với cỡ mẫu nhỏ và chỉ tiến hành khảo

sát giá trị của GPB mô học – MDHQTT trên đối

tượng BN có triệu chứng điển hình của PV và

BP, chưa khảo sát trên các đối tượng BN có triệu

chứng bệnh bóng nước tự miễn khác hoặc các

bệnh lý bóng nước không điển hình, chưa rõ

chẩn đoán Do đó, trong tương lai, có thể tiếp tục

tiến hành các nghiên cứu rộng và sâu hơn, tiến

hành khảo sát giá trị của GPB mô học –

MDHQTT trên cả đối tượng bệnh lý bóng nước

tự miễn và các nhóm bệnh da khác

KẾT LUẬN

Nghiên cứu của chúng tôi một lần nữa

khẳng định vai trò của GPB mô học – MDHQTT

trong chẩn đoán bệnh bóng nước nói chung và

PV, BP nói riêng, do đó, cần xem xét GPB mô

học – MDHQTT như là CLS thường quy trong

chẩn đoán bệnh bóng nước PV và BP, trước khi

tiến hành điều trị cho BN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Giordano CN, Sinha AA (2012) Cytokine networks in

Pemphigus vulgaris: An integrated viewpoint Autoimmunity,

45(6): 427-39

2 Trần Ngọc Ánh (2004), Giá trị của kỹ thuật miễn dịch huỳnh

quang trực tiếp trong chẩn đoán bệnh da bọng nước Y học Thực

hành, 1:6-7

3 Trần Ngọc Ánh (2010) Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và tự kháng thể của một số bệnh da bọng nước tự miễn tại bệnh viện

da liễu Thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học Y Hà Nội

4 Chowdhury J, Pijush KD, Satyendra NC, et al (2016) A Clinicopathological Study of Pemphigus in Eastern India with

Special Reference to Direct Immunofluorescence Indian Journal

of Dermatology, 61(3):288-294

5 Grando SA (2012), Pemphigus autoimmunity: hypotheses and

realities Autoimmunity, 45(1):7-35

6 Phạm Huy Thục, Phạm Văn Thức (2011) Nghiên cứu đặc điểm

lâm sàng và kết quả điều trị bệnh pemphigus bằng corticoide Y

học Thực hành, 6 (711):6-8

7 Trần Lan Anh (2003) Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng bệnh

pemphigus tại Viện Da Liễu Việt Nam Nghiên cứu Y học,

26(6):63-68

8 Hiroko N, Manabu F (2009) Expression of cytokines and

chemokines in bullous pemphigoid Expert Review of

Dermatology, 4(4):321-327

9 Kasperkiewicz M, Zillikens D, Schmidt E (2012) Pemphigoid

diseases: pathogenesis, diagnosis, and treatment Autoimmunity,

45(1):55-70

10 Agnieszka Z, Malgorzata WD, Marian D, et al (2014) Mediators

of Mast Cells in Bullous Pemphigoid and Dermatitis

Herpetiformis Mediators Inflamm, 2014:936545

11 Buch AC, Harsh K, Sonali M, et al (2014) A Cross-sectional Study of Direct Immunofluorescence in the Diagnosis of

Immunobullous Dermatoses Indian Journal of Dermatology,

59(4):364-368

12 Minz RW, Chhabra S, Singh S, et al (2010) Direct immunofluorescence of skin biopsy: perspective of an

immunopathologist Indian J Dermatol Venereol Leprol,

76(2):150-157

Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 01/02/2021

Ngày đăng: 10/04/2021, 11:35

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w