Ung thư cổ tử cung là bệnh ung thư phổ biến thứ 3 ở phụ nữ trên toàn thế giới. Nhiễm các type HPV nguy cơ cao là yếu tố nguy cơ quan trọng nhất gây ung thư cổ tử cung. Việc phát hiện và định type HPV ngày càng trở nên quan trọng trong việc sàng lọc ung thư cổ tử cung và điều trị tiền ung thư.
Trang 1NGHIÊN CỨU TỶ LỆ NHIỄM HPV VÀ SỰ PHÂN BỐ CÁC TYPE HPV
Ở BỆNH NHÂN KHÁM PHỤ KHOA TẠI BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y DƯỢC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Hữu Huy 1 , Lê Minh Khôi 1,2 , Nguyễn Thị Băng Sương 1,2 , Nguyễn Hoàng Bắc 1,2
TÓM TẮT
Mục tiêu: Ung thư cổ tử cung là bệnh ung thư phổ biến thứ 3 ở phụ nữ trên toàn thế giới Nhiễm các type HPV nguy cơ cao là yếu tố nguy cơ quan trọng nhất gây ung thư cổ tử cung Việc phát hiện và định type HPV ngày càng trở nên quan trọng trong việc sàng lọc ung thư cổ tử cung và điều trị tiền ung thư Xác định tỷ lệ nhiễm và sự phân bố các type HPV ở các bệnh nhân khám phụ khoa tại Bệnh viện Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả trên 715 bệnh nhân đến khám phụ khoa tại Bệnh viện Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh Các đối tượng tham gia nghiên cứu được khám phụ khoa, xét nghiệm định type HPV bằng kỹ thuật lai phân tử Reverse Dot Blot
Kết quả: Tỷ lệ nhiễm HPV ở các bệnh nhân khám phụ khoa tại bệnh viện Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh
là 16,5% Tỷ lệ nhiễm 1 type HPV chiếm 58,47%, đồng nhiễm 2 type chiếm 18,64%, nhiễm ≥3 type trở lên chiếm 11,02%, dương tính nhưng không định được type chiếm 11,86% Trong nhóm HPV nguy cơ cao, type HPV 16 dương tính chiếm tỷ lệ cao nhất 23,72% sau đó là HPV 52 chiếm tỷ lệ 13,46%
Kết luận: Tỷ lệ nhiễm HPV của bệnh nhân đến khám phụ khoa ở Bệnh viện Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh là 16,5%, sự phân bố tỷ lệ nhiễm các type HPV tương tự các nơi khác ở trong nước và trên thế giới
Từ khóa: HPV, ung thư cổ tử cung, HPV genotyping
ABSTRACT
STUDY ON HPV PREVALENCE AND DISTRIBUTION OF HPV TYPES IN PATIENTS AT
UNIVERSITY MEDICAL CENTER HO CHI MINH CITY
Nguyen Huu Huy, Le Minh Khoi, Nguyen Thi Bang Suong, Nguyen Hoang Bac
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol 25 - No 1 - 2021: 270 - 274
Objective: The goal of this study was to determine HPV prevalence and distribution of HPV types in patients at University Medical Center Ho Chi Minh City
Methods: In A cross-sectional study was conducted on 715 patients at University Medical Center Ho Chi Minh City All subjects have taken an pelvic examination to get clinical findings, a sample for examining HPV infection by Reverse Dot Blot hybridization assay
Results: The prevalence of HPV infection on patients at University Medical Center Ho Chi Minh City was 16.5% Infection by 1 type was 58.47%, coinfection with 2 types is 18.64%; co-infection of ≥ 3 types was 11.02% and 11.86 % positive but can not typing In the high risk HPV group, HPV type of 16 was highest (22.73%), the second were type 52 (13.46%)
Conclusions: The prevalence of HPV infection in patients at University Medical Center Ho Chi Minh City was 16.5% and there is similarity in HPV types distribution in Vietnam and in an other regions
Keywords: HPV, cervical cancer, HPV genotyping
Trang 2ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư cổ tử cung (CTC) là bệnh ung thư
phổ biến thứ 3 ở phụ nữ trên toàn thế giới, ước
tính có 569.847 trường hợp mắc mới và 311.365
ca tử vong trong năm 2018 Khoảng 4.177 trường
hợp ung thư cổ tử cung mới được chẩn đoán
hằng năm và khoảng 2.420 ca tử vong do ung
thư này hàng năm tại Việt Nam (dữ liệu
GLOBOCAN 2018)(1) Ung thư CTC có liên quan
chặt chẽ với nhiễm các type Human papilloma
virus (HPV) nguy cơ cao đường sinh dục Có
hơn 150 type Human Papilloma virus được phát
hiện, trong đó, type 16, 18, 31, 33, 35, 45, 52 và 58
là nhóm týp nguy cơ cao thường gặp ở cổ tử
cung(2) Virus xâm nhập vào biểu mô cổ tử cung
tạo nên các biến đổi của tế bào và diễn tiến này
kéo dài từ 10 đến 20 năm với biểu hiện từ tổn
thương viêm nhiễm đơn giản đến tân sinh trong
biểu mô, ung thư tại chỗ và xâm lấn Do đó, việc
phát hiện sớm bằng tế bào học, xét nghiệm
Human papilloma virus là cần thiết, giúp tăng khả
năng dự phòng, điều trị sớm tổn thương cổ tử
cung nhằm giảm tỷ lệ tử vong của bệnh và
nghiên cứu triển khai vaccine phòng ngừa
Human papilloma virus ở phụ nữ trẻ tuổi(3)
Nghiên cứu cộng đồng ghi nhận tỷ lệ nhiễm
Human papilloma virus khoảng 10% nhưng kết
quả này khác nhau tùy theo từng vùng, miền,
từng quốc gia trên thế giới như tỷ lệ tại Châu Phi
là 22,12%, Châu Mỹ chiếm 12,95%, Châu Âu và
Châu Á vào khoảng 8%(4).Tại Việt Nam có tỷ lệ
mắc HPV tương đối cao, theo nghiên cứu của
Lục Thị Vân Bích (2011) tại khu vực TP Hồ Chí
Minh ghi nhận tỷ lệ nhiễm HPV là 19,97%(5)
Theo nghiên cứu của Lê Quang Vinh (2015) tại
khu vực Hà Nội ghi nhận tỷ lệ nhiễm HPV là
9,73%(6) Do đó, việc phát hiện và xác định các
type HPV có vai trò vô cùng quan trọng trong
việc đánh giá nguy cơ ung thư cổ tử cung và một
số ung thư đường sinh dục khác Xuất phát từ
thực tế đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Nghiên cứu tỷ lệ nhiễm và sự phân bố các type
Human papilloma virus ở bệnh nhân khám phụ
khoa tại bệnh viện Đại học Y Dược TP Hồ Chí
Minh” có nghĩa và giá trị rất lớn cho việc xây dựng bản đồ dịch tể học chủng HPV ở Việt Nam làm cơ sở cho chương trình phòng chống ung thư cổ tử cung hiệu quả hơn, với mục tiêu là xác định tỷ lệ nhiễm HPV sinh dục, các type HPV ở bệnh nhân đến khám tại Bệnh viện Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu
Trong khoảng thời gian từ tháng 01 năm
2019 đến tháng 11 năm 2020, chúng tôi thu thập (khảo sát) được 715 bệnh nhân đến khám phụ khoa tại bệnh viện Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh đưa vào nhóm nghiên cứu
Tiêu chuẩn chọn
Phụ nữ đã có quan hệ tình dục
Hiện tại không có thai
Không thụt rửa âm đạo trước khi xét nghiệm Không đặt thuốc điều trị phụ khoa trước đó
ít nhất 7 ngày
Khi xét nghiệm không trong thời kỳ hành kinh Không quan hệ tình dục trước xét nghiệm
3 ngày
Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu cắt ngang mô tả
Cỡ mẫu
Cỡ mẫu được tính theo công thức cho nghiên cứu mô tả là ước lượng tỷ lệ:
n ≥
d
q p z
2
2 2 / ) 1
với p= 10%, d=0,05 nên tính được cỡ mẫu là
139 ca bệnh
Quy trình thực hiện định type HPV
Thu nhận bệnh phẩm: dịch phết cổ tử cung Tách chiết DNA tổng số bằng phương pháp Phenol- chloroform
Thực hiện phản ứng Real-time PCR trên máy Agilent AriaMx
Sản phẩm PCR dương tính được sử dụng để
Trang 3định type HPV bằng kỹ thuật lai phân tử
Reverse Dot Blot với các Probe lai đặc hiệu cho
16 type nguy cơ cao (16, 18, 31, 33, 35, 39, 45, 51,
52, 53, 56, 58, 59, 66, 68, 82) và 8 type nguy cơ
thấp (6, 11, 42, 43, 61, 70, 71, 81) đã được cố định
sẵn trên màng lai Biodyne C Tín hiệu dương
tính được phát hiện qua phản ứng hiện màu
Xử lý và phân tích số liệu
Sử dụng phần mềm SPSS version 20.0 cho
các phân tích thống kê
Y đức
Nghiên cứu này được thông qua bởi Hội
đồng Đạo đức trong nghiên cứu Y sinh học Đại
học Y Dược TP HCM, số 55/GCN-HĐĐĐ, ngày
5/12/2020
KẾT QUẢ
Tỷ lệ nhiễm HPV
Hình 1: Tỷ lệ HPV- DNA (+) của bệnh nhân đến
khám tại Bệnh viện Đại học Y Dược TPHCM
Qua khảo sát 715 phụ nữ trong độ tuổi từ 19
đến 78 tuổi, chúng tôi ghi nhận có 118 trường
hợp dương tính với HPV, chiếm tỷ lệ 16,5% Có
83,5% trường hợp âm tính với HPV (Hình 1)
Tỷ lệ nhiễm HPV theo nhóm tuổi
Bảng 1: Liên quan giữa tình trạng nhiễm HPV với
nhóm tuổi
Tuổi HPV dương
tính n (%)
HPV âm tính
n (%)
Tổng
n (%)
≤ 25 8 (21,6) 29 (78,4) 37 (100)
26– 35 34 (16,9) 167 (83,1) 201 (100)
> 35 76 (15,9) 401 (84,1) 477 (100)
Tổng 118 (16,5) 597 (83,5) 715 (100)
Bảng 1 cho thấy phụ nữ có độ tuổi dưới 25
tuổi có tỷ lệ nhiễm HPV cao hơn so các nhóm tuổi khác, kế đến là nhóm tuổi 26 - 35 tuổi; thấp nhất ở nhóm phụ nữ trên 35 tuổi nhưng sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê, p >0,05
Tỷ lệ nhiễm HPV đơn type và đa type
Bảng 2: Tỷ lệ nhiễm HPV đơn type và đa type
Kết quả định type Số lượng Tỷ lệ %
≥ 3 type 13 11,02 Không định type 14 11,86
Bảng 2 cho thấy: nhiễm 1 type HPV chiếm
đa số với 69/118 ca (58,47%), đồng nhiễm 2 type có 22/118 ca (18,64%), nhiễm ≥3 type trở lên có 14/118 ca (11,02%), 14/118 ca (11,86%) dương tính nhưng không định được type do thuộc các type ngoài 24 type có thể xác định được bằng xét nghiệm
Bảng 3: Tỷ lệ nhiễm các type HPV (n = 156)
Type HPV được xác định Số type HPV HPV đuợc xác dịnh Tỷ lệ (%)/ số type
Từ Bảng 3, chúng tôi đã phát hiện được 22
type HPV trong số 24 type có thể xác định được
Trang 4bằng kỹ thuật này Trong nhóm HPV nguy cơ
cao, type HPV 16 dương tính chiếm tỷ lệ cao
nhất 23,72% sau đó là HPV 52 chiếm tỷ lệ 13,46%
còn trong nhóm HPV nguy cơ thấp thì HPV type
6 và HPV type 11 cùng chiếm tỷ lệ 5,13%
BÀN LUẬN
Trong nghiên cứu của chúng tôi đã phát hiện
được 16,5% trường hợp bị nhiễm HPV qua kỹ
thuật Reverse Dot Blot, kết quả này phù hợp với
tần suất nhiễm HPV trong nước, các nước khu
vực và trên thế giới Theo nghiên cứu của Lục
Thị Vân Bích (2011) tại khu vực TP Hồ Chí Minh
ghi nhận tỷ lệ nhiễm HPV là 19,97%(5) Theo
nghiên cứu của Lê Quang Vinh (2015) tại khu
vực Hà Nội ghi nhận tỷ lệ nhiễm HPV là
9,73%(6) Tham khảo nghiên cứu trên thế giới,
chúng tôi ghi nhận tỷ lệ nhiễm HPV của phụ nữ
khu vực Châu Á dao động khoảng 10%, trong
đó theo nghiên cứu của tác giả Liu SS (2011) thì
tỷ lệ nhiễm HPV ở Trung Quốc là 10% và theo
nghiên cứu của tác giả Johnson DC (2014) thì tỷ
lệ nhiễm HPV ở Nepal là 9,6%(7,8) Kết quả của
khu vực này dao động không cao là do các quốc
gia ở Châu Á có điều kiện sống, sinh hoạt, tình
trạng kinh tế tương đồng nhau, có chịu ảnh
hưởng văn hóa Phương Đông, có hành vi quan
hệ tình dục, lối sống tương đối lành mạnh, tình
trạng kinh tế xã hội đang phát triển, điều kiện
chăm sóc y tế không khác nhau nhiều, cũng như
tình trạng tổn thương cổ tử cung được phát hiện
Tỷ lệ nhiễm HPV phụ thuộc vào độ tuổi, các
quốc gia khác nhau, tùy vào vùng miền trong
cùng quốc gia, trên thế giới cũng như đối tượng
tham gia nghiên cứu, địa điểm thực hiện, kỹ
thuật sinh học phân tử để xác định tình trạng
nhiễm HPV, điều kiện trang thiết bị xét nghiệm
hiện đại, kỹ thuật viên lành nghề và kỹ thuật lấy
mẫu bệnh phẩm
Khi phân tích tỷ lệ nhiễm HPV theo độ tuổi
thì ở độ tuổi <25 (độ tuổi còn có thể tiêm vắc xin
phòng HPV) thì tỷ lệ dương tính với HPV trong
nghiên cứu này là 8/37 (21,6%) Có kết quả này
có thể đây là lứa tuổi quan hệ tình dục nhiều mà
lây nhiễm HPV được xem là bệnh lây truyền qua
đường tình dục, rất dễ lây nhiễm, kể cả tiếp xúc
da kề da Do vậy, khuyến nghị xét nghiệm định type HPV trước khi quyết định tiêm phòng cho
nữ giới dưới 25 tuổi đã có quan hệ tình dục Tuổi
<35, tỷ lệ dương tính với HPV là 34/201 (16,9%) Theo Remi Catabelle (Pháp), có đến 80% bệnh nhân ở nhóm tuổi này, HPV được đào thải tự nhiên nhờ hệ miễn dịch (được gọi là khỏi tự nhiên hay nhiễm trùng tạm thời) Tuổi >35, tỷ lệ dương tính là 76/477 (15,9%) Theo Remi Catabelle (Pháp) nếu tồn tại nhiễm trùng trên 1 năm thì có khoảng 10-20% ca nhiễm, sau 2 – 5 năm có thể tiến triển từ một tổn thương CTC lành tính thành tổn thương trong biểu mô Malpighi mức độ thấp (CIN 1) Sau đó, 3 đến 5 năm tiến triển thành tổn thương trong biểu mô Malpighi mức độ cao (CIN 2-3) Sau đó 4 đến
10-15 năm thành ung thư(9)
Về tỷ lệ nhiễm HPV đơn type và đa type thì nhiễm 1 type HPV chiếm đa số với 69/118 ca (58,47%) Tham khảo nghiên cứu Lê Trung Thọ
có 72,72% nhiễm đơn type HPV(10) Kết quả của Nguyễn Thị Tuyết Vân có tỷ lệ nhiễm đơn type
là 69,4%; đa type là 30,6%(11) Tham khảo kết quả nghiên cứu nước ngoài cho thấy tỷ lệ nhiễm đơn type chiếm đa số như Martín P thực hiện tại Madrid, phụ nữ nhiễm đơn týp là 65,5% trường hợp(12) Vaccine chỉ có thể dự phòng các type HPV thường gặp nên phụ nữ nhiễm đa type cần được quan tâm vì vaccine dự phòng ung thư CTC không thể có tác dụng cho các type HPV không có trong phổ của vaccine
Về tỷ lệ nhiễm các type HPV thì nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận trong nhóm HPV nguy
cơ cao, type HPV 16 dương tính chiếm tỷ lệ cao nhất 23,72% sau đó là HPV 52 chiếm tỷ lệ 13,46% còn trong nhóm HPV nguy cơ thấp thì HPV type
6 và HPV type 11 cùng chiếm tỷ lệ 5,13% Kết quả này cũng tương đồng với các nghiên cứu khác như kết quả type HPV trên bệnh nhân bị tiền ung thư, ung thư CTC tại Cần Thơ của Lâm Đức Tâm là type HPV 16, 52, 18(13), kết quả của
Võ Văn Kha là type HPV 16, 18, 52, 58(14) Tuy các type HPV được phân lập có phụ thuộc vào vùng
Trang 5địa lý, vùng miền và khu vực khác nhau trên
cùng một quốc gia (Việt Nam) nhưng nhìn
chung các type HPV 16, 18, 52 thường gặp ở
cộng đồng Việt Nam
KẾT LUẬN
Tỷ lệ nhiễm HPV ở các bệnh nhân khám phụ
khoa tại Bệnh viện Đại học Y Dược TP Hồ Chí
Minh là 16,5% Phụ nữ có độ tuổi dưới 25 tuổi có
tỷ lệ nhiễm HPV cao hơn so các nhóm tuổi khác
Tỷ lệ nhiễm 1 type HPV chiếm 58,47%, đồng
nhiễm 2 type chiếm 18,64%, nhiễm ≥3 type trở
lên chiếm 11,02%, dương tính nhưng không
định được type chiếm 11,86% Trong nhóm HPV
nguy cơ cao, type HPV 16 dương tính chiếm tỷ
lệ cao nhất 23,72% sau đó là HPV 52 chiếm tỷ lệ
13,46%
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Bray F, Ferlay J, Soerjomataram I, Siegel RL, Torre LA, Jemal A
(2018) Global cancer statistics 2018: GLOBOCAN estimates of
incidence and mortality worldwide for 36 cancers in 185
countries A Cancer Journal for Clinicians, 68(6):394-424
2 Lagheden C, Eklund C, Lamin H, Kleppe SN, Lei J, Elfström
KM, Dillner J (2018) Nationwide comprehensive human
papillomavirus (HPV) genotyping of invasive cervical cancer
British Journal of Cancer, 118(10):1377-1381
3 Harper DM, DeMars LR (2017) HPV vaccines–a review of the
first decade Gynecologic Oncology, 146(1):196-204
4 Bosch FX, Burchell AN, Schiffman M, Giuliano AR, de Sanjose
S, Bruni L, et al (2008) Epideminology and Natural History of
Human Papilloma virus Infection and Týp-Specific Implications
in Cervical Neoplasia Vaccine, 26(10):K1- K16
5 Lục Thị Vân Bích, Cao Minh Nga, Hồ Lê Ân, Huỳnh Ngọc
Phương Thảo (2011) Khảo sát tình hình nhiễm HPV và các
genotýp HPV (Human Papilloma virus) ở phụ nữ Việt Nam
trong độ tuổi từ 18- 69 bằng kỹ thuật sinh học phân tử Y học
Thành phố Hồ Chí Minh, 15(2):190-194
6 Lê Quang Vinh, Phạm Thị Thanh Yên, Nguyễn Khánh Dương,
Lê Hoàng Linh, Đào Duy Quân và cộng sự (2015) Nghiên cứu
tỷ lệ nhiễm Human Papilloma virus ở cán bộ nữ Bệnh viện Phụ
Sản Trung ương Phụ Sản, 13(2):9-11
7 Liu SS, Chan KYK, Leunh RCY, Chan KKL, Tam KF, et al (2011) Prevalence and Risk Factors of Human Papollomavirus (HPV) Infection in Southern Chinese Women- A Population- Base
Study Plos ONE, 6(5):e19244
8 Johnson DC, Bhatta MP, Smith JS, Kempf MC, Broker TR, et al (2014) Assessment of High Risk Human Papilloma virus Infection Using Clinician and Self- Collected Cervical Sampling
Methods in Rural Women from Far Western Nepal Plos One,
9(6):e101255
9 Remi Catabelle Chẩn đoán, điều trị, dự phòng ung thư cổ tử cung Bài giảng cho bác sỹ sản phụ khoa 23/05/2016 Đại học y Hải Phòng
10 Lê Trung Thọ, Trần Văn Hợp (2009) Nghiên cứu tỷ lệ nhiễm HPV ở cộng đồng phụ nữ Hà Nội, tìm hiểu một số yếu tố liên
quan Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 13(1):185- 189
11 Nguyễn Thị Tuyết Vân, Nguyễn Hoàng Quân, Cao Minh Nga (2010) Nhiễm các týp Human Papilloma virus ở phụ nữ sinh
đẻ Y học Thành phố Hồ Chí Minh, chuyên đề Vi sinh, 14(1):504-
508
12 Martín P, Linah K, Diego G, Ana MLGM, et al (2011) Human Papilloma virus genotýp distribution in Madrid and Correlation
with cytological data BMC Infectious Diseases, 11:316- 321
13 Lâm Đức Tâm, Nguyễn Vũ Quốc Huy (2013) Nghiên cứu tỷ lệ nhiễm Human Papilloma virus và các yếu tố liên quan tổn
thương tiền ung thư cổ tử cung ở phụ nữ từ 18- 60 tuổi Y học
Thành phố Hồ Chí Minh, 17(1):213- 220
14 Võ Văn Kha, Huỳnh Quyết Thắng (2011) Tỷ lệ nhiễm HPV trên bệnh nhân ung thư cổ tử cung tại Bệnh viện Ung bướu Cần
Thơ Y học Thành phố Hồ Chí Minh, Chuyên đề Giải phẫu bệnh,
15(2):168-173
Ngày nhận bài báo: 10/11/2020 Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 06/02/2021 Ngày bài báo được đăng: 10/03/2021