Hàng rào thượng bì (HRTB) có vai trò quan trọng trong việc ngăn chặn sự mất nước của cơ thể; tuy nhiên, tác dụng của chất dưỡng ẩm đối với HRTB ở người khỏe mạnh vẫn chưa được hiểu rõ. Mục tiêu: Khảo sát động học độ ẩm lớp sừng thượng bì (SCH) và độ mất hơi nước qua thượng bì (TEWL). So sánh SCH và TEWL giữa vùng da có dưỡng ẩm và vùng da không dưỡng ẩm; giữa nam và nữ.
Trang 1HIỆU QUẢ CỦA DƯỠNG ẨM DA LÊN ĐỘ ẨM VÀ ĐỘ MẤT NƯỚC QUA THƯỢNG BÌ TRÊN SINH VIÊN ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Hoàng Kim Hân 1 , Nguyễn Bùi Trọng Tín 1 , Huỳnh Trường Thịnh 1 , Lê Nguyễn Khánh Hoà 1 ,
Phạm Lê Duy 2
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Hàng rào thượng bì (HRTB) có vai trò quan trọng trong việc ngăn chặn sự mất nước của cơ thể; tuy nhiên, tác dụng của chất dưỡng ẩm đối với HRTB ở người khỏe mạnh vẫn chưa được hiểu rõ
Mục tiêu: Khảo sát động học độ ẩm lớp sừng thượng bì (SCH) và độ mất hơi nước qua thượng bì (TEWL)
So sánh SCH và TEWL giữa vùng da có dưỡng ẩm và vùng da không dưỡng ẩm; giữa nam và nữ
Đối tượng - Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả thực hiện trên 60 sinh viên Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh có làn da khoẻ mạnh SCH và TEWL được đo đạc và theo dõi trong 180 phút bằng thiết
bị GPSkin Barrier Pro
Kết quả: Về động học, giá trị SCH tăng dần và TEWL giảm dần theo thời gian kể từ sau khi rửa tay Vùng da có dưỡng ẩm ghi nhận SCH cao hơn (p <0,05) và TEWL thấp hơn (p <0,05) so với vùng da không dưỡng ẩm SCH của nam cao hơn SCH của nữ (p <0,05) trong khi TEWL không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai giới
Kết luận: Chất dưỡng ẩm có hiệu quả khôi phục HRTB bằng cách làm tăng SCH và giảm TEWL nhanh và nhiều hơn Nữ có làn da khô hơn nam, do đó nhu cầu sử dụng chất dưỡng ẩm cao hơn
Từ khoá: hàng rào thượng bì, dưỡng ẩm, độ ẩm lớp sừng thượng bì, độ mất nước qua thượng bì
ABSTRACT
EFFECT OF SKIN MOISTURIZING ON STRATUM CORNEUM HYDRATION
AND TRANSEPIDERMAL WATER LOSS
IN STUDENTS OF UNIVERSITY OF MEDICINE AND PHARMACY AT HO CHI MINH CITY
Nguyen Hoang Kim Han, Nguyen Bui Trong Tin, Huynh Truong Thinh, Le Nguyen Khanh Hoa,
Pham Le Duy * Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol 25 - No 1 - 2021: 211 - 217
Background: The skin barrier plays an essential role in preventing dehydration of the body However, the moisturizer's effects on the skin barrier in healthy people are not well understood
Objectives: We examined the kinetic of stratum corneum hydration (SCH) and transepidermal water loss (TEWL) after bathing Comparing the difference of SCH and TEWL between the moisturized and non-moisturized skins; as well as males and females
Methods: This is a cross-sectional study with 60 students of University of Medicine and Pharmacy at Ho Chi Minh City SCH and TEWL levels are measured and monitored for 180 minutes using the GPSkin Barrier Pro® device
Results: SCH levels were increased and TEWL were decreased over time after hand washing Moisturized skins recorded higher SCH (p <0.05) and lower TEWL (p <0.05) compared to non-moisturized skins The SCH levels of males were significantly higher than that of females (p <0.05), while TEWL levels were not different
1 Khoa Y, Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh
2 Bộ môn Sinh Lý – Sinh Lý Bệnh Miễn Dịch, Khoa Y, Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh
Trang 2between the two genders
Conclusion: Moisturizer should be recommended as a primary skincare step for everyone, including healthy people, to improve SCH and reduce TEWL more effectively Women's skin was generally drier than men's skin, and moisturizer would help the skin to achieve optimal moisture in both sexes
Keyword: stratum corneum hydration, transepidermal water loss, moisturizing
ĐẶT VẤN ĐỀ
Da đóng vai trò như một hàng rào ngăn chặn
sự mất nước của cơ thể, chủ yếu nhờ vào kết cấu
gạch – vữa của lớp thượng bì, trong đó các tế bào
sừng là những viên gạch còn lipid liên bào là
vữa Kết cấu này giúp duy trì độ ẩm cần thiết và
tính toàn vẹn của da(1) Sự tổn thương hàng rào
thượng bì có thể gây tăng độ mất hơi nước qua
thượng bì (TEWL), giảm độ ẩm lớp sừng thượng
bì (SCH) và biểu hiện trên lâm sàng là tình trạng
khô da, sần sùi, bong tróc(2) Theo khuyến cáo
của các tổ chức da liễu và dị ứng trên thế giới,
các bệnh nhân viêm da cơ địa và vảy nến nên
được bôi dưỡng ẩm thường xuyên như một
bước cơ bản trong việc chăm sóc da để điều trị
và phòng ngừa các đợt bùng phát(3) Tuy nhiên,
kiến thức về tác dụng của chất dưỡng ẩm đối với
hàng rào thượng bì ở người khỏe mạnh vẫn
chưa được hiểu rõ Vì vậy, chúng tôi thực hiện
nghiên cứu này nhằm hiểu rõ hơn về sinh lý cân
bằng độ ẩm và độ mất nước qua da, tạo tiền đề
để xây dựng phác đồ chăm sóc da phù hợp cho
người Việt Nam
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
60 sinh viên Việt Nam (30 nam, 30 nữ) trong
độ tuổi từ 18 đến 25 đang học tại Đại học Y Dược
TP Hồ Chí Minh có làn da khỏe mạnh, không có
sang thương da ở hai cánh tay tại thời điểm thực
hiện nghiên cứu, chưa từng được chẩn đoán các
bệnh da tính đến thời điểm thực hiện nghiên cứu
Tiêu chuẩn loại trừ
Các đối tượng có tiền sử phản ứng quá mẫn
với các loại thuốc hoặc mỹ phẩm bôi tại chỗ;
Các đối tượng hút thuốc lá, uống rượu bia,
sử dụng cà phê hoặc các chất kích thích trong
vòng 24 giờ trước khi tiến hành nghiên cứu;
Các đối tượng có tắm, rửa tay, bôi dưỡng
ẩm, chất chống nắng vùng da cánh tay trong vòng 3 giờ trước khi tiến hành nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu
Mô tả cắt ngang
Quy trình nghiên cứu
Bôi dưỡng ẩm ở ½ dưới cẳng tay phải ngay sau khi rửa tay (dưỡng ẩm sớm), bôi dưỡng ẩm
ở ½ trên cẳng tay phải sau rửa tay 30 phút (dưỡng ẩm muộn), không bôi dưỡng ẩm ở cẳng
tay trái (Hình 1)
Hình 1: Quy trình nghiên cứu
Các giá trị SCH và TEWL được đo tại mức nền, ngay trước khi bôi dưỡng ẩm và các thời điểm 30 phút, 60 phút, 120 phút, 180 phút sau khi bôi dưỡng ẩm Các đối tượng được đo SCH và TEWL tại cùng một địa điểm, trong phòng kín gió, ánh sáng đèn huỳnh quang, có điều kiện nhiệt độ và độ ẩm được kiểm soát (nhiệt độ 25±2oC, độ ẩm tương đối 50-60%) Mỗi thời điểm và mỗi vị trí được tiến hành đo
3 lần, và các chỉ số TEWL và SCH trung bình của 3 lần đo được sử dụng cho phân tích thống
kê sau đó
Trang 3Thiết bị đo
Thiết bị GPSkin Barrier Pro đo đồng thời hai
giá trị SCH và TEWL SCH sử dụng phương
pháp đo điện dung(4), TEWL sử dụng phương
pháp đo buồng kín(5)
Phương pháp phân tích số liệu
Dữ liệu thô được nhập bằng phần mềm
Microsoft Excel 2016 Tất cả các phân tích thống
kê được thực hiện bằng phần mềm SPSS, phiên
bản 22.0 (SPSS Inc., Chicago, IL, US)
Giá trị p <0,05 được coi là có ý nghĩa thống
kê Đồ thị được vẽ bằng phần mềm Microsoft
Excel 2016
Y đức
Nghiên cứu này được thông qua bởi Hội
đồng Đạo đức trong nghiên cứu Y sinh học Đại
học Y Dược TP HCM, số 380/ĐHYD-HĐĐĐ,
ngày 02/6/2020
KẾT QUẢ
Đặc điểm dịch tễ học của dân số nghiên cứu
Trong 60 sinh viên tham gia nghiên cứu có
30 sinh viên nam (chiếm 50%) và 30 sinh viên
nữ (chiếm 50%) Tuổi trung bình của dân số
nghiên cứu là 22,5±1,50, trong đó tuổi nhỏ nhất
là 18, tuổi lớn nhất là 25 Có 5 sinh viên (8,33%)
có tiền căn sử dụng rượu bia trong 1 tháng gần đây và không có sinh viên nào hút thuốc lá Có
4 sinh viên (6,67%) có người thân trực hệ bị viêm da cơ địa
Động học độ ẩm lớp sừng thượng bì (SCH) và
độ mất hơi nước qua thượng bì (TEWL) Các giá trị SCH theo thời gian của 3 vùng da không dưỡng ẩm, dưỡng ẩm sớm và dưỡng ẩm
muộn được thể hiện trong Hình 2 Chúng tôi
nhận thấy xu hướng chung của SCH là tăng dần theo thời gian kể từ sau khi rửa tay SCH mức nền và SCH thời điểm ngay trước khi bôi dưỡng
ẩm (T0) có giá trị khoảng 20 a.u Ở vùng da không dưỡng ẩm, SCH tăng dần và đạt đến mức
có khác biệt có ý nghĩa thống kê ở thời điểm 60’ (T60) Trong khi đó, các vùng da có dưỡng ẩm ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ngay
từ thời điểm 30’ (T30) sau khi bôi dưỡng ẩm
Hình 2: Sự thay đổi của SCH (a.u) tại các vùng da theo thời gian
Các giá trị TEWL theo thời gian của 3 vùng
da không dưỡng ẩm, dưỡng ẩm sớm và dưỡng
ẩm muộn được thể hiện trong Hình 3 Chúng tôi
nhận thấy xu hướng chung của TEWL là giảm
dần theo thời gian kể từ sau khi rửa tay TEWL
mức nền và TEWL thời điểm ngay trước khi bôi
dưỡng ẩm (T0) có giá trị khoảng 6 (g/m2/giờ), giá
trị này giảm dần và có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê từ thời điểm 30’ sau khi bôi dưỡng ẩm
So sánh SCH và TEWL giữa vùng da có dưỡng
ẩm và vùng da không dưỡng ẩm Khi so sánh SCH trung bình tại từng thời điểm giữa 3 nhóm không bôi dưỡng ẩm, dưỡng
ẩm sớm và dưỡng ẩm muộn, kết quả kiểm định
Trang 4ANOVA cho thấy SCH ở mức nền và ngay trước
thời điểm bôi dưỡng ẩm không có sự khác biệt
có ý nghĩa thống kê giữa 3 nhóm Sau khi bôi
dưỡng ẩm, SCH tại vùng da có bôi dưỡng ẩm
cao hơn có ý nghĩa thống kê so với vùng da
không bôi dưỡng ẩm (p <0,05) (Bảng 2)
Khi so sánh TEWL trung bình từng thời
điểm giữa 3 nhóm không bôi dưỡng ẩm, dưỡng
ẩm sớm và dưỡng ẩm muộn, kết quả kiểm định ANOVA cho thấy TEWL của 3 vùng da không khác biệt có ý nghĩa thống kê trước khi bôi dưỡng ẩm Sau khi bôi dưỡng ẩm, TEWL ở vùng
da có bôi dưỡng ẩm sớm và muộn thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với vùng da không bôi dưỡng
ẩm (p <0,05) (Bảng 3)
Hình 3: Sự thay đổi của TEWL (g/m 2 /giờ) tại các vùng da theo thời gian Bảng 2: So sánh SCH trung bình giữa các vùng da theo thời gian
SCH (a.u.) Không dưỡng ẩm Dưỡng ẩm sớm Dưỡng ẩm muộn P
T30 19,2 (8,83) 49,6 (5,08) 52,1 (5,29) <0,001 T60 21,7 (8,87) 49,1 (5,36) 50,8 (5,84) <0,001 T120 21,4 (8,93) 48,3 (5,73) 49,3 (6,42) <0,001 T180 22,0 (9,37) 47,8 (5,35) 49,4 (6,75) <0,001
Số liệu trong bảng được mô tả dưới dạng: Trung bình (độ lệch chuẩn)
Giá trị P được so sánh bằng phép kiểm one-way ANOVA
Bảng 3: So sánh TEWL trung bình giữa các vùng da theo thời gian
TEWL (g/m2/giờ) Không dưỡng ẩm Dưỡng ẩm sớm Dưỡng ẩm muộn P
T30 5,16 (1,97) 3,91 (1,92) 3,75 (1,80) <0,001 T60 5,21 (2,44) 3,66 (1,73) 3,56 (1,55) <0,001 T120 4,62 (1,73) 3,43 (1,61) 3,57 (1,84) <0,001 T180 4,78 (1,84) 3,57 (1,74) 3,44 (1,57) <0,001
Số liệu trong bảng được mô tả dưới dạng: Trung bình (độ lệch chuẩn)
Giá trị P được so sánh bằng phép kiểm one-way ANOVA
Trang 5So sánh SCH và TEWL giữa nam và nữ ở vùng
da không dưỡng ẩm
Ở vùng da không bôi dưỡng ẩm, SCH tại tất
cả các thời điểm ở nam giới cao hơn có ý nghĩa
thống kê so với nữ giới (p <0,05) TEWL nhìn chung không có sự khác biệt giữa nam và nữ
(Bảng 4)
Bảng 4: So sánh TEWL và SCH giữa nam và nữ ở vùng da không dưỡng ẩm
Nam (n = 30) Nữ (n = 30) P Nam (n = 30) Nữ (n = 30) P Mức nền 6,87 (2,96) 6,06 (2,84) 0,284 21,9 (9,38) 16,6 (7,49) 0,019 T0 6,89 (2,46) 5,80 (2,01) 0,065 22,0 (8,84) 17,0 (5,93) 0,013 T30 5,70 (1,79) 4,62 (2,02) 0,032 21,9 (9,91) 16,4 (6,70) 0,015 T60 5,32 (2,18) 5,10 (2,71) 0,730 24,6 (9,19) 18,7 (7,61) 0,009 T120 5,16 (1,83) 4,08 (1,45) 0,014 24,5 (8,88) 18,4 (8,01) 0,007 T180 4,88 (1,77) 4,68 (1,94) 0,678 25,5 (8,70) 18,5 (8,80) 0,003
Số liệu trong bảng được mô tả dưới dạng: Trung bình (độ lệch chuẩn)
Giá trị P được so sánh bằng phép kiểm Student’s t test
BÀN LUẬN
Động học SCH và tác động của chất dưỡng ẩm
lên SCH
Chúng tôi nhận thấy xu hướng chung của
SCH là tăng dần theo thời gian kể từ sau khi rửa
tay đến hết 180 phút của quá trình nghiên cứu
Khi lấy vùng da không bôi dưỡng ẩm làm nhóm
chứng, SCH trung bình của vùng da bôi dưỡng
ẩm sớm và bôi dưỡng ẩm muộn cao hơn có ý
nghĩa thống kê so với vùng da không bôi dưỡng
ẩm (p <0,05) Như vậy, mặc dù SCH đều tăng ở
cả 3 nhóm, mức độ tăng của nhóm có bôi dưỡng
ẩm cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm
không bôi dưỡng ẩm Kết quả này phù hợp với
các nghiên cứu trước đây, chứng minh rằng chất
dưỡng ẩm có hiệu quả trong việc gia tăng độ ẩm
lớp sừng thượng bì, từ đó cải thiện hàng rào bảo
vệ da và duy trì sự toàn vẹn của da(6)
Vùng da có bôi dưỡng ẩm có tốc độ tăng
SCH nhanh hơn so với vùng da không bôi
dưỡng ẩm, thời điểm đầu tiên ghi nhận SCH cao
hơn có ý nghĩa thống kê so với SCH mức nền là
30 phút (p <0,05), trong khi vùng da không bôi
dưỡng ẩm cần đến 60 phút để đạt được sự khác
biệt có ý nghĩa thống kê Sự khác biệt này xuất
phát từ việc các chất dưỡng ẩm nhân tạo có hiệu quả ngay tức thì sau khi bôi, giúp lấp đầy các khoảng trống giữa các tế bào sừng, tạo nên một lớp màng bảo vệ trên da, giúp tăng độ ẩm lớp sừng thượng bì và giảm sự mất nước qua thượng bì(7) Ngược lại, vùng da không được bôi dưỡng ẩm cần thời gian dài hơn để các cơ chế làm ẩm tự nhiên phục hồi lại độ ẩm của da(2) Tốc
độ tăng nhanh của SCH ở vùng da có bôi dưỡng
ẩm phù hợp với kết quả nghiên cứu của Spada
F(8), ghi nhận SCH tăng nhanh nhất và đạt đỉnh trong 2 giờ đầu sau khi bôi dưỡng ẩm, giữ mức SCH ổn định trong 4 giờ tiếp theo, sau đó SCH giảm dần cho tới thời điểm 24 giờ, nhưng vẫn cao hơn đáng kể về mặt thống kê so với mức nền được đo ban đầu
Mức độ gia tăng SCH ở vùng da có bôi dưỡng ẩm cao hơn so với vùng da không bôi dưỡng ẩm, từ mức SCH nền tương đương nhau
ở cả 3 vùng da, sau 180 phút, SCH tăng hơn 300% ở vùng da bôi dưỡng ẩm sớm và bôi dưỡng ẩm muộn, nhưng chỉ tăng 115% ở vùng
da không bôi dưỡng ẩm Kết quả này phù hợp với một nghiên cứu về động học độ ẩm da theo thời gian(6) Tuy nhiên, nghiên cứu này ghi nhận một đỉnh SCH ngắn hạn ở thời điểm 5 phút ngay
Trang 6sau khi dưỡng ẩm và SCH tại vùng da dưỡng
ẩm tăng dưới 200% so với mức nền Sự khác biệt
này có khả năng là do phép đo SCH có thể bị
nhiễu bởi các ion trong nước hoặc các chất làm
mềm còn lại trên bề mặt da khi tiến hành đo
ngay sau khi bôi dưỡng ẩm Điều này được giảm
thiểu trong nghiên cứu của chúng tôi bằng cách
lau khô sau khi rửa tay và đợi 30 phút để chất
dưỡng ẩm có thời gian được hấp thu trước khi
tiến hành đo(6)
Động học TEWL và tác động của chất dưỡng
ẩm lên TEWL
Chúng tôi nhận thấy xu hướng chung của
TEWL là giảm dần theo thời gian kể từ sau khi
rửa tay đến hết 180 phút của quá trình nghiên
cứu Khi lấy vùng da không bôi dưỡng ẩm làm
nhóm chứng, TEWL từng thời điểm từ 30 phút
kéo dài đến hết 180 phút của nhóm bôi dưỡng
ẩm sớm và bôi dưỡng ẩm muộn thấp hơn có ý
nghĩa thống kê so với nhóm không bôi dưỡng
ẩm (p <0,05) Như vậy, mặc dù TEWL đều giảm
ở cả 3 nhóm, mức độ giảm của nhóm có bôi
dưỡng ẩm là nhiều hơn có ý nghĩa thống kê so
với nhóm không bôi dưỡng ẩm Kết quả tương
tự cũng được ghi nhận trong nghiên cứu của
Santoro F(9) thực hiện năm 2018 trên 20 người
khỏe mạnh, cho thấy TEWL giảm nhiều hơn ở
vùng da có dưỡng ẩm so với không dưỡng ẩm
(p <0,05)
Tốc độ giảm TEWL ở cả 3 nhóm là tương
đương nhau, thời điểm đầu tiên ghi nhận TEWL
cao hơn có ý nghĩa thống kê (p <0,05) so với
TEWL mức nền là 30 phút ở cả 3 nhóm Tốc độ
giảm nhanh của TEWL ở vùng da có bôi dưỡng
ẩm phù hợp với kết quả nghiên cứu của
Lueangarun S(10) cho thấy TEWL giảm nhanh
nhất trong 2 giờ đầu sau khi bôi dưỡng ẩm, duy
trì trong 6 giờ tiếp theo và tăng dần từ thời điểm
8 giờ sau khi bôi dưỡng ẩm Xét riêng nhóm
không bôi dưỡng ẩm, trong khi SCH cần 60 phút
sau khi rửa tay để gia tăng có ý nghĩa thống kê
so với SCH mức mền, TEWL chỉ cần 30 phút để
giảm xuống có ý nghĩa thống kê so với TEWL
nền Điều này gợi ý rằng trong quá trình phục
hồi độ ẩm tự nhiên của da, TEWL là chỉ số thay đổi sớm hơn SCH, có thể lý giải do sự gia tăng các chất giữ ẩm tự nhiên của da làm giảm lượng hơi nước thoát ra qua lớp thượng bì, kéo theo sự gia tăng độ ẩm lớp sừng da(2)
Mức độ giảm của TEWL ở vùng da có bôi dưỡng ẩm nhiều hơn so với vùng da không bôi dưỡng ẩm Từ mức TEWL nền tương đương nhau ở cả 3 vùng da, sau 180 phút, TEWL ở vùng da dưỡng ẩm sớm và dưỡng ẩm muộn giảm 40% so với TEWL nền, trong khi đó, TEWL
ở vùng da không dưỡng ẩm giảm 20% so với TEWL nền Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu trước đây, chứng minh rằng chất dưỡng ẩm
có hiệu quả trong việc giảm độ mất nước qua thượng bì (TEWL), từ đó cải thiện hàng rào bảo
vệ da và duy trì sự toàn vẹn của da(6,10)
So sánh SCH và TEWL giữa nam và nữ ở vùng
da không dưỡng ẩm Nghiên cứu của Luebberding S và cộng sự(11)
thực hiện tại Đức, trên 300 người khỏe mạnh, cho thấy SCH luôn cao hơn ở nam giới khi so sánh với nữ giới cùng độ tuổi cho đến 40 tuổi, từ
40 tuổi trở đi, SCU của nam giảm theo tuổi tác, trong khi đó SCH ở nữ vẫn ổn định hoặc thậm chí gia tăng Trong nghiên cứu của chúng tôi, với dân số nghiên cứu có độ tuổi trung bình là 22,5 1,50, ghi nhận SCH của nam cao hơn SCH của nữ tại tất cả các thời điểm ở vùng da không dưỡng ẩm (p <0,05)
TEWL nhìn chung không có sự khác biệt có
ý nghĩa thống kê giữa nam và nữ Nhiều nghiên cứu khác cũng không quan sát thấy nhiều sự khác biệt về TEWL giữa các giới tính(12,13) Trong khi đó một số nghiên cứu chỉ ra TEWL có sự khác biệt giữa nam và nữ (11,14) Như vậy, mối liên quan giữa TEWL và giới tính là không rõ ràng
Do đó, cần có thêm nghiên cứu tiếp theo với cỡ mẫu lớn hơn, thời gian theo dõi dài hơn và khảo sát chi tiết hơn về TEWL giữa nam và nữ để khẳng định lại kết quả này
KẾT LUẬN Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy động học
Trang 7SCH tăng dần và TEWL giảm dần theo thời gian
từ sau khi rửa tay đến hết 180' của nghiên cứu
Chất dưỡng ẩm có hiệu quả trong việc tăng độ
ẩm lớp thượng bì (SCH) và giảm độ mất nước
qua thượng bì (TEWL), từ đó cải thiện hàng rào
bảo vệ da và duy trì sự toàn vẹn của da SCH ở
nam cao hơn nữ, trong khi TEWL không có sự
khác biệt giữa hai giới Dựa trên các kết luận
trên, chúng tôi đề nghị chất dưỡng ẩm nên được
sử dụng ngay cả cho người có làn da khỏe mạnh,
đặc biệt là nữ giới
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Dimitriades VR, Wisner E (2015) Treating pediatric atopic
dermatitis: current perspectives Pediatr Health Med Ther, 6:93–
99
2 Verdier-Sévrain S, Bonté F (2007) Skin hydration: a review on
its molecular mechanisms J Cosmet Dermatol, 6(2):75–82
3 Sethi A, Kaur T, Malhotra S, et al (2016) Moisturizers: The
slippery road Indian J Dermatol, 61(3):279
4 Darlenski R, Sassning S, Tsankov N, et al (2009) Non-invasive
in vivo methods for investigation of the skin barrier physical
properties Eur J Pharm Biopharm, 72(2):295–303
5 Mündlein M, Valentin B, Chabicovsky R, et al (2008)
Comparison of transepidermal water loss (TEWL)
measurements with two novel sensors based on different
sensing principles Sens Actuators Phys, 142(1):67–72
6 Chiang C, Eichenfield LF (2009) Quantitative assessment of
combination bathing and moisturizing regimens on skin
hydration in atopic dermatitis Pediatr Dermatol, 26(3):273–278
7 Lynde CW (2001) Moisturizers: what they are and how they
work Skin Ther Lett, 6(13):3–5
8 Spada F, Lui AH, Barnes TM (2019) Use of formulations for sensitive skin improves the visible signs of aging, including
wrinkle size and elasticity Clin Cosmet Investig Dermatol, 12:415–
425
9 Santoro F, Teissedre S (2018) A Novel Night Moisturizer Enhances Cutaneous Barrier Function in Dry Skin and
Improves Dermatological Outcomes in Rosacea-prone Skin J
Clin Aesthetic Dermatol, 11(12):11–17
10 Lueangarun S, Tragulplaingam P, Sugkraroek S, et al (2019) The 24-hr, 28-day, and 7-day post-moisturizing efficacy of ceramides 1, 3, 6-II containing moisturizing cream compared with hydrophilic cream on skin dryness and barrier disruption
in senile xerosis treatment Dermatol Ther, 32(6):e13090
11 Luebberding S, Krueger N, Kerscher M (2013) Skin physiology
in men and women: in vivo evaluation of 300 people including TEWL, SC hydration, sebum content and skin surface pH Int J
Cosmet Sci, 35(5):477–483
12 Firooz A, Sadr B, Babakoohi S, et al (2012) Variation of Biophysical Parameters of the Skin with Age, Gender, and Body
Region Sci World J, 2012:1–5
13 Chilcott RP, Farrar R (2000) Biophysical measurements of human forearm skin in vivo: effects of site, gender, chirality and
time: Biophysical measurements of forearm skin Skin Res
Technol, 6(2):64–69
14 Mehta HH, Nikam VV, Jaiswal CR, et al (2018) A cross-sectional study of variations in the biophysical parameters of
skin among healthy volunteers Indian J Dermatol Venereol Leprol,
84(4):521
Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 20/02/2021