1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Kết quả ban đầu chẩn đoán và xử trí nhóm triệu chứng sau đi tiểu ở bệnh nhân nam giới trên 40 tuổi tại Bệnh viện Nhân dân Gia Định

7 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 354,14 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Triệu chứng đường tiết niệu dưới là vấn đề thường gặp và gây ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân, ICS 2002 cũng đã xếp các triệu chứng sau đi tiểu thành nhóm riêng biệt. Bài viết trình bày khảo sát các triệu chứng sau khi đi tiểu ở bệnh nhân nam giới trên 40 tuổi có triệu chứng đường tiết niệu dưới.

Trang 1

Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021

KẾT QUẢ BAN ĐẦU CHẨN ĐOÁN VÀ XỬ TRÍ NHÓM

TRIỆUCHỨNG SAU ĐI TIỂU Ở BỆNH NHÂN NAM GIỚITRÊN 40 TUỔI

TẠIBỆNH VIỆN NHÂN DÂN GIA ĐỊNH

Nguyễn Xuân Toàn 1 , Ngô Xuân Thái 2 , Tô Quốc Hãn 2 , Lê Trung Trực 1 , Trần Đoàn Thiên Bảo 1 ,

Lê Trường Giang 1

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Triệu chứng đường tiết niệu dưới là vấn đề thường gặp và gây ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân, ICS 2002 cũng đã xếp các triệu chứng sau đi tiểu thành nhóm riêng biệt Các nghiên cứu về triệu chứng đường tiết niệu dưới nói chung và triệu chứng sau đi tiểu nói riêng ở Việt Nam chưa nhiều Để mang lại kết quả điều trị và cải thiện chất lượng cuộc sống cho người bệnh, các triệu chứng sau đi tiểu cần được quan tâm đúng mực

Mục tiêu: Khảo sát các triệu chứng sau khi đi tiểu ở bệnh nhân nam giới trên 40 tuổi có triệu chứng đường tiết niệu dưới

Đối tượng - Phương pháp nghiên cứu: đây là nghiên cứu mô tả loạt ca, tiến cứu Có 384 trường hợp có triệu chứng đường tiết niệu dưới BN được trả lời bảng câu hỏi triệu chứng và chất lượng cuộc sống Biến số nghiên cứu chính là tỉ lệ triệu chứng tiểu không hết và nhỏ giọt sau đi tiểu Các biến số nghiên cứu phụ là tỉ lệ các triệu chứng đường tiết niệu dưới, điểm chất lượng cuộc sống Phân tích số liệu bằng STATA 14

Kết quả: tỉ lệ triệu chứng tiểu không hết là 50%, triệu chứng nhỏ giọt sau đi tiểu là 39,6% Triệu chứng tiểu đêm và tiểu nhiều lần được ghi nhận có tỉ lệ cao nhất là 60,7% và 62,5% Các nhóm triệu chứng thường xuất hiện phối hợp với nhau Triệu chứng tiểu không hết ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của 52,1% BN và 46,8 % BN đối với triệu chứng nhỏ giọt sau đi tiểu Tập vật lý trị liệu cơ sàn chậu và mát xa niệu đạo tầng sinh môn có thể cải thiện triệu chứng nhỏ giọt sau đi tiểu

Kết luận: Các triệu chứng sau đi tiểu chiếm tỉ lệ cao trong các triệu chứng đường tiết niệu dưới và xuất hiện phối hợp với các triệu chứng khác Các triệu chứng này gây ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của khoảng một nửa bệnh nhân Vật lý trị liệu tập cơ sàn chậu và mát xa niệu đạo tầng sinh môn là phương pháp không xâm lấn giúp giảm triệu chứng nhỏ giọt sau đi tiểu

Từ khóa: triệu chứng đường tiết niệu dưới, triệu chứng sau đi tiểu, triệu chứng tiểu không hết, triệu chứng nhỏ giọt sau đi tiểu, tập cơ sàn chậu

ABSTRACT

EVALUATION OF DIAGNOSIS AND TREATMENT OF POST MICTURITION SYMPTOMS

IN MALE PATIENTS OVER 40 YEARS OLD AT NHAN DAN GIA DINH HOSPITAL

Nguyen Xuan Toan, Ngo Xuan Thai, To Quoc Han, Le Trung Truc, Tran Doan Thien Bao,

Le Truong Giang * Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol 25 - No 1 - 2021: 200 - 206

Background: Lower urinary tract symptoms (LUTS) are common problems and affect to the quality of life, The ICS has divided LUTS into three groups: storage, voiding and post‐micturition symptoms (ICS 2002 has also classified post‐micturition symptoms into third groups) In general, there are lack of research on lower urinary tract symptoms and post‐micturition symptoms To improve the quality of life for the patients and give a better healthcare for patients, the symptoms should be considered properly

1 BV Nhân dân Gia Định 2 Bộ môn Tiết Niệu Học, Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh

Tác giả liên lạc: ThS.BS Nguyễn Xuân Toàn ĐT: 0914038922 Email: toanxn@gmail.com

Trang 2

Objectives: To evaluate the post‐micturition symptoms in male patients over 40 years old with low urinary tract symptoms

Methode: this was a prospective, observational study There were 384 cases included Patients were given a symptom and quality of life questionnaire The main research variable was the prevalence of a feeling of incomplete emptying following urination and post‐micturition dribble The sub‐study variables were the incidence of lower urinary tract symptoms and quality of life score Data was analysed by STATA 14

Results: prevalence of incomplete emptying symptom is 50%, post micturition dribble is 39.6% Nocturia and frequency were reported with the highest rates at 60.7% and 62.5% LUTS symptoms of voiding, storage and post‐micturition are usually in the same patient 52.1% of patients had incomplete emptying and 46.8% patient had post‐micturition dribble was feeling bad and decrease of quality of life Pelvic muscles exercise and urethral massage may improve post‐urination dribble symptom

Conclusion: Post‐micturition symptoms account for a high proportion of lower urinary tract symptoms and combination with other symptoms These symptoms affect the quality of life of about half of the patients Pelvic muscles exercise and urethral massage are non‐invasive methods that help patient to relieve the post micturition dribbles symptom

Keywords: lower urinary tract symptoms (LUTS), post micturition symptom, feeling of incomplete emptying, post micturition dribble symptom, pelvic muscles exercise

ĐẶT VẤN ĐỀ

Theo định nghĩa của Hiệp hội tự chủ quốc tế

(ICS), triệu chứng đường tiết niệu dưới

(TCĐTND) bao gồm ba nhóm triệu chứng: chứa

đựng, tống xuất, và nhóm triệu chứng sau khi đi

tiểu(1) Một số nghiên cứu dịch tể học lớn đã cho

thấy triệu chứng đường tiết niệu dưới là vấn đề

thường gặp ở cả nam và nữ, lên đến 60% ở cả hai

giới và do nhiều nguyên nhân gây ra ảnh hưởng

cả về thể chất lẫn tinh thần(2) Nhìn chung, các

nghiên cứu tiết niệu cho đến nay tập trung vào

các triệu chứng tống xuất (ví dụ như tiểu ngắt

quãng, tiểu yếu, tiểu rặn) hoặc các triệu chứng

chứa đựng (ví dụ như tiểu gấp, tiểu nhiều

lần,tiểu đêm), trong khi đó nhóm triệu chứng

sau khi đi tiểu (bao gồm cảm giác tiểu không hết

sau khi đi tiểu và tiểu nhỏ giọt sau khi đi tiểu) ít

được chú ý đến

Khi chăm sóc y tế hướng đến lấy người bệnh

làm trung tâm và cá thể hóa điều trị đang được

đề cao, dẫn đến việc tiếp cận một bệnh nhân có

các triệu chứng đường tiết niệu dưới nói chung

và các triệu chứng sau đi tiểu nói riêng cần phải

quan tâm đúng mực hơn

Mục tiêu

Xác định tỉ lệ các triệu chứng sau khi đi tiểu

ở bệnh nhân nam giới trên 40 tuổi có triệu chứng đường tiết niệu dưới

Mô tả mối liên quan giữa nhóm triệu chứng sau đi tiểu và các nhóm triệu chứng chứa đựng, triệu chứng tống xuất qua thang điểm IPSS

Mô tả mối liên quan giữa nhóm triệu chứng sau đi tiểu và chất lượng cuộc sống

Đánh giá sự cải thiện của triệu chứng tiểu nhỏ giọt sau đi tiểu sau khi tập sàn chậu và mát

xa niệu đạo tầng sinh môn

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu

Nam giới từ 40 tuổi trở lên và có triệu chứng của đường tiết niệu dưới đi khám tại bệnh viện Nhân Dân Gia Định

Tiêu chuẩn chọn mẫu

Nam giới từ 40 tuổi trở lên và có triệu chứng của đường tiết niệu dưới được khảo sát theo Điểm triệu chứng tuyến tiền liệt quốc tế (International Prostate Symptom Score, IPSS)

Tiêu chuẩn loại trừ

Các trường hợp có phẫu thuật hoặc xạ trị vùng châu, tiền sử ung thư bàng quang, ung thư tuyến tiền liệt, tiểu máu và nhiễm khuẩn đường tiết niệu, hẹp niệu đạo, chấn thương cột sống,

Trang 3

Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021

bệnh nhân không đủ thông tin nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu cắt ngang mô tả, tiến cứu

Cỡ mẫu

Có 384 trường hợp (TH) được chọn

Tiến hành nghiên cứu

Các trường hợp bệnh nhân (BN) nam giới từ

40 tuổi trở lên đến khám tại phòng khám Bệnh

viện Nhân Dân Gia Định, được cung cấp thông

tin về triệu chứng đường tiết niệu dưới và triệu

chứng sau đi tiểu Khi BN đồng ý tham gia

nghiên cứu sẽ kí bản đồng thuận và trả lời bảng

câu hỏi đính kèm

Đối với BN có triệu chứng nhỏ giọt nước

tiểu sau đi tiểu ở mức độ nhiều và cảm thấy

phiền lòng, BN được hướng dẫn mát xa niệu

đạo tầng sinh môn và tập vật lý trị liệu cơ sàn

chậu Sau 3 tháng, BN được đánh giá lại việc

tuân thủ phương pháp tập và trả lời các câu

hỏi để đánh giá mức độ cải thiện triệu chứng

nhỏ giọt sau đi tiểu

Biến số nghiên cứu

Các triệu chứng đường tiết niệu dưới theo

định nghĩa của Hội tự chủ Quốc tế (ICS) và

Điểm triệu chứng tuyến tiền liệt quốc tế (IPSS)

cho các triệu chứng: tiểu nhiều lần, tiểu ngắt

quãng, tiểu gấp, tiểu yếu, tiểu rặn Các triệu

chứng sau đi tiểu được đánh giá bằng câu hỏi:

Cảm giác tiểu không hết nước tiểu ngay sau

khi ông vừa đi tiểu xong? Cho triệu chứng tiểu

không hết

Ông có bị nhỏ giọt nước tiểu sau khi đi tiểu

không? Và mức độ của nhỏ giọt nước tiểu đối

với triệu chứng nhỏ giọt nước tiểu sau đi tiểu

Câu hỏi về chất lượng cuộc sống: Ông nghĩ

sao nếu phải sống mãi với các triệu chứng trên?

(theo IPSS) và Câu hỏi về sự phiền lòng của triệu

chứng sau đi tiểu (gồm tiểu không hết và nhỏ

giọt nước tiểu sau đi tiểu) với các mức độ không

khó chịu, có một chút, có mức độ trung bình và

rất khó chịu

Thu thập và xử lý số liệu

Số liệu được thu thập bằng phần mềm Excel và xử lý bằng phần mềm thống kê STATA 14.0 Các biến số định lượng gồm tuổi, tần suất tiểu đêm, tổng điểm IPSS, điểm chất lượng cuộc sống Biến thứ bậc: điểm tiểu không hết, điểm tiểu nhiều, điểm tiểu ngắt quãng, điểm tiểu gấp, điểm tiểu yếu, điểm tiểu rặn, mức độ nhỏ giọt nước tiểu sau đi tiểu Nhóm biến số điểm IPSS: tiểu không hết, tiểu nhiều, tiểu ngắt quãng, tiểu gấp, tiểu yếu, tiểu rặn, tần suất tiểu đêm Nhóm biến số các triệu chứng đường tiết niệu dưới: tống xuất; chứa đựng; sau đi tiểu; tống xuất và chứa đựng; tống xuất và sau đi tiểu; chứa đựng và sau đi tiểu; tống xuất chứa đựng và sau đi tiểu; Nhóm biến số mối liên quan giữa độ nặng của TCĐTND và điểm chất lượng cuộc sống: điểm chất lượng cuộc sống trung bình, tỉ lệ bệnh nhân hài lòng về chất lượng cuộc sống theo độ nặng của TCĐTND Test χ2 dùng để so sánh

sự khác biệt giữa các tỉ lệ giữa các nhóm Đánh giá mối liên quan dùng Test χ2 và tỉ số chênh (OR) Test Kruskal Wallis để kiểm định sự khác biệt giá trị trung bình Nhận định có sự khác biệt khi p<0,05

Y đức

Nghiên cứu đã được Hội đồng Đạo đức trong nghiên cứu Y sinh học bệnh viện Nhân dân Gia Định chấp thuận theo giấy chứng nhận

số 38/CN-HĐĐĐ ngày 29/5/2020

KẾT QUẢ Nghiên cứu đã chọn được 384 TH có triệu chứng đường tiết niệu dưới theo ICS 2002 Trong

đó các nhóm tuổi 40-49 tuổi, 50-59 tuổi và trên 60 tuổi lần lượt là 7%, 29,4% và 63,5%

Bảng 1: Sự phân bố mức độ nặng của triệu chứng theo tổng điểm IPSS

Trang 4

Các triệu chứng sau đi tiểu

Trong 384 BN tỉ lệ bệnh nhân có các tri

chứng tiểu không hết, nhỏ giọt sau đi ti

Bảng 2: Tỉ lệ bệnh nhân có triệu chứng sau đi ti

Triệu chứng sau đi tiểu

Tiểu không hết (≥1 điểm)

Nhỏ giọt sau đi tiểu (≥1 điểm)

Có bất kỳ triệu chứngsau đi tiểu

Chỉ có triệu chứng sau đi tiểu

Tương quan giữa nhóm triệu ch

tiểu và các nhóm triệu chứng đường ti

dưới khác

Hình 1: Phân bố các triệu chứng của đườ

dưới theo ICS 2002

Các triệu chứng sau đi tiểu chiế

hơn bất kì triệu chứng đơn lẻ nào c

triệu chứng tống xuất

Hình 2: Tỉ lệ các nhóm triệu chứng đườ

dưới theo ICS 2002

nh nhân có các triệu

t sau đi tiểu và có

triệu chứng sau đi tiểu bất kỳ là 50,0%;

60,7% Chỉ có 5,0% bệnh nhân trong nhóm này chỉ có triệu chứng sau đi tiểu độ

ng sau đi tiểu theo tuổi (N=384)

u chứng sau đi

ng tiết niệu

ờng tiết niệu

ếm tỉ lệ cao nào của nhóm

ờng tiết niệu

Kết quả cho thấy ở các nhóm tri độc lập nhóm bệnh nhân chỉ có tri đựng chiếm tỉ lệ cao nhất với 20,6% và bệnh nhân chỉ có triệu chứng tố

lệ thấp nhất với 1,9% Ở nhóm các tri phối hợp, nhóm bệnh nhân có c tống xuất, chứa đựng và sau đi ti cao nhất với 34,0% và nhóm bệ chứng tống xuất và sau đi tiểu chi nhất với 3,1%

Tương quan giữa triệu chứng sau đi ti chất lượng cuộc sống của bệnh nhân

Bảng 3: Mức độ hài lòng về chất lư

độ nặng của triệu chứng tiểu không h

Mức độ hài lòng chất lượng cuộc sống

Độ nặng của tri chứng tiểu không hết

TB: Trung bình Bảng 4: Mức độ hài lòng về chất lư

độ nặng của triệu chứng nhỏ giọt sau đi ti

Mức độ hài lòng chất lượng cuộc sống

Độ nặng của tri chứng nhỏ gi

đi tiểu

TB: Trung bình

là 50,0%; 39,6% và

nh nhân trong nhóm này

ộc lập

các nhóm triệu chứng

có triệu chứng chứa

i 20,6% và nhóm ống xuất chiếm tỉ nhóm các triệu chứng

nh nhân có cả ba triệu chứng

ng và sau đi tiểu chiếm tỉ lệ

ệnh nhân có triệu

u chiếm tỉ lệ thấp

ng sau đi tiểu và

nh nhân

t lượng cuộc sống với

u không hết (n=192)

a triệu

t lượng cuộc sống với

t sau đi tiểu (n=156)

a triệu giọt sau

u

Tổng

Trang 5

Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021

Sự cải thiện của triệu chứng tiểu nhỏ giọt sau

đi tiểu sau khi tập sàn chậu và mát xa niệu đạo

tầng sinh môn

Có 35 TH bệnh nhân tham gia tập vật lý trị

liệu, trong đó 29 TH bệnh nhân tập được đến

sau 3 tháng, 6 TH còn lại bệnh nhân bỏ cuộc

không tập

Bảng 5: Sự cải thiện triệu chứng nhỏ giọt sau đi tiểu

sau khi tập sàn chậu và mát xa niệu đạo tầng sinh môn

BÀN LUẬN

Chúng tôi thu thập được 384 TH bệnh nhân

có triệu chứng đường tiết niệu dưới theo tiêu

chuẩn ICS 2002 (điểm số IPSS ≥1) Phân chia mức

độ nặng theo điểm IPSS tỉ lệ mắc TCĐTND ở các

mức độ nhẹ (1-7đ), trung bình (8-19đ) và nặng

(≥20đ) lần lượt là 57,3%; 34,1% và 8,6% Đa số

bệnh nhân có triệu chứng đường tiết niệu dưới ở

mức độ nhẹ với tỉ lệ 57,3%

Đặc điểm chung của triệu chứng sau đi tiểu

Các triệu chứng sau đi tiểu đã được khảo sát

trong nghiên cứu là tiểu không hết và nhỏ giọt

sau đi tiểu với giá trị ≥1 điểm được xác định là có

triệu chứng

Tỉ lệ bệnh nhân có các triệu chứng tiểu

không hết và nhỏ giọt sau đi tiểu lần lượt là 50%

và 36,9%; trong đó triệu chứng tiểu không hết

chiếm tỉ lệ cao hơn Chỉ có 5,4% BN chỉ có triệu

chứng sau đi tiểu độc lập không kèm theo các

triệu chứng khác

Theo nghiên cứu tác giả Lê Đình Khánh(3):

cảm giác tiểu không hết chiếm 82,4% cao hơn

của chúng tôi, nhỏ giọt nước tiểu sau đi tiểu

chiếm tỉ lệ 22,5% Theo Chapple C(4), có 26% cảm

giác tiểu không hết và 7% nhỏ giọt nước tiểu sau

đi tiểu Theo Coyne K(5) nghiên cứu cũng báo cáo

tỷ lệ hiện mắc của tiểu không hết và nhỏ giọt sau

khi đi tiểu trong cộng đồng nam giới Tỷ lệ hiện

mắc của tiểu không hết là 22,7% Nhỏ giọt sau

khi đi tiểu cũng thường thấy ở nam giới và có tỉ

lệ 29,7%

Triệu chứng tiểu không hết Cảm giác tiểu không hết được mô tả ngay trong câu hỏi đầu tiên của IPSS, đây là cảm giác chủ quan của bệnh nhân sau khi đi kết thúc việc

đi tiểu Cảm giác tiểu không hết cần phân biệt rõ ràng có phải là do lượng nước tiểu tồn lưu sau đi tiểu còn lại cao (bằng cách siêu âm hoặc đặt thông niệu đạo để đo lượng nước tiểu trong bàng quang sau khi đi tiểu) Có một số trường hợp bệnh nhân cảm thấy cảm giác tiểu không hết mặc dù lượng nước tiểu tồn lưu trong bàng quang sau đi tiểu rất thấp, thường có kèm theo các triệu chứng của TCĐTND Nghiên cứu của chúng tôi, triệu chứng tiểu không hết đứng thứ

ba trong số các TCĐTND, và tỉ lệ triệu chứng này cao hơn các nghiên cứu khác, và sự khác biệt của triệu chứng này ở các nhóm tuổi khác nhau không có ý nghĩa thống kê

Triệu chứng nhỏ giọt nước tiểu sau đi tiểu

So sánh với tác giả Trần Lê Linh Phương(6)

30% BN có triệu chứng nhỏ giọt nước tiểu sau đi tiểu So với kết quả của chúng tôi cao hơn, có thể

vì đối tượng BN chúng tôi có độ tuổi cao hơn và

BN khám tại phòng khám tiết niệu So sánh với các tác giả khác, nghiên cứu dựa trên thực hành với hơn 1.500 nam giới ≥18 tuổi ở Đông Nam Á,

tỷ lệ hiện mắc là 55,0%(7) Tác giả Kobayashi

K(8)nghiên cứu về TCĐTND tại Nhật Bản cho thấy tần suất nhỏ giọt nước tiểu sau đi tiểu lần lượt là 13,6%, 39%, 44,2% và 41,2 % trong các khoảng tuổi 40, 50, 60, 70 của đàn ông Tác giả Jeong HC(9) nghiên cứu trên 2134 BN tại Hàn quốc, trong đó tỉ lệ triệu chứng nhỏ giọt nước tiểu sau đi tiểu là 51% Tỉ lệ triệu chứng nhỏ giọt nước tiểu sau đi tiểu trong nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn tại Hàn quốc và gần bằng các tác giả ở Nhật bản, châu Âu Triệu chứng nhỏ giọt nước tiểu sau đi tiểu chiếm hơn một phần

ba tổng số bệnh nhân có TCĐTND Điều này cho thấy nhỏ giọt nước tiểu sau đi tiểu cũng là một trong những triệu chứng khá phổ biến, đặc biệt

Trang 6

trong bệnh cảnh bệnh nhân có những triệu

chứng của đường tiết niệu dưới

Về cơ chế của nhỏ giọt nước tiểu sau đi tiểu

mặc dù chưa được biết rõ, nhiều tác giả cho rằng

vì còn sót nước tiểu trong niệu đạo tuyến tiền liệt

và niệu đạo hành sau khi đi tiểu, tuy nhiên sinh

lý bệnh của việc đọng nước tiểu vẫn chưa được

hiểu rõ Một số giả thuyết cho rằng do sự yếu

của cơ sàn chậu, điều này dẫn tới không tống

xuất được hết nước tiểu Chúng tôi cho rằng, BN

lớn tuổi có thể tích tuyến tiền liệt tăng, dẫn đến

kéo dài niệu đạo tuyến tiền liệt, kèm theo sự suy

yếu của cơ sàn chậu; cả hai yếu tố này cùng xảy

ra trên bệnh nhân lớn tuổi dẫn đến xuất hiện

triệu chứng nhỏ giọt nước tiểu nhiều hơn ở

người trẻ trong nghiên cứu của chúng tôi

Mối liên quan của các triệu chứng sau đi tiểu

và các triệu chứng chứa đựng, tống xuất

Dựa vào kết quả nghiên cứu chúng tôi thấy

rằng nhóm triệu chứng chứa đựng chiếm tỉ lệ

cao nhất trong các nhóm triệu chứng của đường

tiết niệu dưới Tỉ lệ bệnh nhân có 2 nhóm triệu

chứng phối hợp dao động từ 49,4 đến 56% Số

lượng bệnh nhân có cả 3 nhóm triệu chứng phối

hợp chiếm tỉ lệ cao nhất đến 63,1% Đối với các

triệu chứng đường tiết niệu dưới, ta có thể thấy

rằng các triệu chứng ít khi nào xuất hiện độc lập

riêng lẻ, các nhóm triệu chứng thường đi kèm

với nhau Mặc dù các triệu chứng được khai thác

chủ quan, nhưng sự biểu hiện nhiều triệu chứng

cùng một lúc có thể phản ảnh được tình trạng

bất thường của đường tiết niệu dưới Chính vì

vậy khi xét đến triệu chứng trên mỗi cá thể

người bệnh, bác sĩ cần đánh giá đầy đủ và chính

xác nhằm tránh bỏ sót các triệu chứng kèm theo

mà chỉ chú ý một vài triệu chứng nổi bật làm

bệnh nhân đến phòng khám tiết niệu Bên cạnh

đó, việc điều trị cũng nên đặt trong một bức

tranh chung nhằm phối hợp điều trị cho kết quả

cao nhất Đặc biệt chú trọng đến nhóm triệu

chứng sau đi tiểu

Nhóm triệu chứng sau đi tiểu và chất lượng

cuộc sống

Theo tác giả Maserejian NN(10) triệu chứng

tiểu không hết là một trong những yếu tố ảnh hưởng nhiều lên tinh thần và thể chất của bệnh nhân có TCĐTND Tuy nhiên việc các triệu chứng phối hợp với nhau cũng gây chồng lấp kết quả và làm tăng gánh nặng cho BN Trong nghiên cứu của chúng tôi trên một nửa BN thấy phiền lòng với các triệu chứng sau đi tiểu, và một phần ba trong số đó cảm thấy khó chịu ở mức độ trên trung bình

Điều trị triệu chứng sau đi tiểu khi tập sàn chậu và mát xa niệu đạo, tầng sinh môn

Điều trị triệu chứng tiểu không hết sau đi tiểu cần phải tìm nguyên nhân rõ ràng (tăng sinh tuyến tiền liệt, hẹp niệu đạo, hay là các nguyên nhân khác như bàng quang thần kinh, bàng quang giảm trương lực,…) Điều trị có thể bằng cách đặt thông tiểu nếu có bế tắc nhiều, hoặc dùng thuốc bethanechol chloride, hoặc các phương pháp kích thích thần kinh cùng cụt Đối với triệu chứng nhỏ giọt nước tiểu sau đi tiểu mát xa niệu đạo và tập sàn chậu được cho sẽ làm giảm triệu chứng Cả hai phương pháp này

có thể áp dụng riêng biệt hoặc kết hợp Tập cơ sàn chậu đặc biệt tập trung vào cơ hành hang, cơ chậu cụt(11) Động tác này giúp tạo áp lực lên niệu đạo hành và tống xuất hết nước tiểu còn đọng lại Khi cơ sàn chậu càng yếu thì việc tập càng tỏ ra có hiệu quả Tập cơ sàn chậu không có kết quả ngay lập tức, sau khoảng 3 đến 6 tháng mới có thể có hiệu quả(11) Bên cạnh đó việc hướng dẫn để tập đúng và duy trì tập luyện trong thời gian dài cũng là một khó khăn, tốt nhất là BN được hướng dẫn tập tại khoa Vật lý trị liệu, và sau đó tiếp tục tập lâu dài tại nhà KẾT LUẬN

Nghiên cứu cho thấy các triệu chứng sau đi tiểu chiếm tỉ lệ cao trong các TCĐTND, cao hơn nhóm triệu chứng tống xuất và thường phối hợp với các nhóm triệu chứng khác gây ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của người bệnh Vật lý trị liệu tập cơ sàn chậu và mát xa niệu đạo tầng sinh môn là phương pháp không xâm lấn giúp giảm triệu chứng nhỏ giọt sau đi tiểu Tuy nhiên

Trang 7

Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021

nghiên cứu còn điểm hạn chế chưa khảo sát các

nguyên nhân của triệu chứng (bằng siêu âm, các

phép đo niệu động học) để có thể đánh giá sâu

hơn về các triệu chứng tiểu không hết và nhỏ

giọt nước tiểu sau đi tiểu

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Abrams P, Cardozo L, Fall M, et al (2003) The standardisation

of terminology in lower urinary tract function: report from the

standardisation sub-committee of the International Continence

Society Urology, 61(1):37-49

2 Irwin DE, Milsom I, Kopp Z (2009) Prevalence, severity, and

symptom bother of lower urinary tract symptoms among men

in the EPIC study: impact of overactive bladder Eur Urol,

56(1):14-20

3 Lê Đình Khánh (2018) Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm

sàng và khảo sát nguyên nhân của các triệu chứng đường tiết

niệu dưới Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 22(4):159-165

4 Chapple C, Castro-Diaz D, Chuang YC, et al (2017) Prevalence

of Lower Urinary Tract Symptoms in China, Taiwan, and South

Korea: Results from a Cross-Sectional, Population-Based Study

Adv Ther, 34(8):1953-1965

5 Coyne K, Coyne KS, Sexton CC, Thompson CL, et al (2009) The

prevalence of lower urinary tract symptoms in the USA, the UK

and Sweden: results from the Epidemiology of LUTS (EpiLUTs)

study BJU Int, 104(3):352-360

6 Trần Lê Linh Phương, Huỳnh Đắc Nhất (2016) Đặc điểm về triệu chứng, mức độ than phiền và độ hài lòng của nam giới có

triệu chứng đường tiết niệu dưới tại BVĐHYD TP HCM.Y học

Thành phố Hồ Chí Minh, 20(2):101-104

7 Ho LY, Chu PS, Consigliere DT, et al (2018) Symptom prevalence, bother, and treatment satisfaction in men with lower urinary tract symptoms in Southeast Asia: a

multinational, cross-sectional survey World J Urol, 36(1):79-86

8 Kobayashi K, Fukuta F, Masumori N (2019) Prevalence of post-micturition dribble in Japanese men and its relationship with

benign prostatic hyperplasia/lower urinary tract symptoms Low

Urinary Tract Symptoms, 11(2):38-41

9 Jeong HC, Ko KT, Yang DY, et al (2019) Development and validation of a symptom assessment tool for postmicturition dribble: A prospective, multicenter, observational study in

Korea PLoS One, 14(10):e0223734

10 Maserejian NN, Kupelian V, McVary KT, Doshi M, Link CL, McKinlay JB (2011) Prevalence of post-micturition symptoms in association with lower urinary tract symptoms and

health-related quality of life in men and women BJU International,

108(9):1452-1458

11 Dorey G (2002) Prevalence, Aetiology and Treatment of

Post-Micturition Dribble in Men: Literature review Physiotherapy,

88(4):225-234.

Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 20/02/2021

Ngày đăng: 10/04/2021, 11:18

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w