Kháng kháng sinh là một thách thức quan trọng đối với sức khỏe cộng đồng toàn cầu và đe dọa khả năng điều trị các bệnh truyền nhiễm của chúng ta. Bài viết trình bày xác định tỷ lệ nuôi cấy vi khuẩn dương tính, khảo sát sự phân bố của các vi khuẩn gây bệnh thường gặp và sự đề kháng kháng sinh của chúng.
Trang 1ĐẶC ĐIỂM ĐỀ KHÁNG KHÁNG SINH CỦA CÁC VI KHUẨN GÂY BỆNH THƯỜNG GẶP TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH NINH THUẬN NĂM 2020
Lê Huy Thạch 1 , Lê Văn Thanh 1 , Đỗ Thùy Dung 1 , Ngô Văn Thắng 1
TÓM TẮT
Mục tiêu: Kháng kháng sinh là một thách thức quan trọng đối với sức khỏe cộng đồng toàn cầu và đe dọa khả năng điều trị các bệnh truyền nhiễm của chúng ta
Mục tiêu: Xác định tỷ lệ nuôi cấy vi khuẩn dương tính, khảo sát sự phân bố của các vi khuẩn gây bệnh thường gặp và sự đề kháng kháng sinh của chúng
Đối tượng - Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, thu thập dữ liệu về định danh vi khuẩn từ các loại bệnh phẩm và kết quả kháng sinh đồ tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Thuận từ tháng 1 đến tháng 10/2020 Kết quả: Tổng cộng có 2609 mẫu bệnh phẩm khác nhau của bệnh nhân được chỉ định nuôi cấy và có 442 mẫu cho kết quả dương tính chiếm tỷ lệ chung là 16,9% Vi khuẩn Gram âm chiếm tỷ lệ (68,8%) cao hơn so với
vi khuẩn Gram dương (31,2%) Trong nhóm vi khuẩn Gram âm, thường gặp là E coli (40,1%), Klebsiella spp (19,7%), Acinetobacter spp (10,2%), A baumannii (8,6%), P aeruginasae (8,2%) Trong nhóm vi khuẩn Gram dương nổi trội là S aureus (65,2%) Các vi khuẩn đường ruột đều kháng với các loại kháng sinh mức độ thấp hơn các trực khuẩn Gram âm không lên men đường Không phát hiện chủng S.aureus kháng vancomycin, linezolid và teicoplanin
Kết luận: Cần sử dụng kháng sinh hợp lý để hạn chế sự kháng thuốc của vi khuẩn
Từ khóa: kháng kháng sinh, bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Thuận
ABSTRACT
ANTIBIOTIC RESISTANCE CHARACTERISTICS OF COMMON PATHOGENOUS BACTERIA AT
NINH THUAN PROVINCIAL GENERAL HOSPITAL 2020
Le Huy Thach, Le Van Thanh, Do Thuy Dung, Ngo Van Thang
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol 25 - No 1 - 2021: 178-185
Background: Antibiotic resistance is an important global public health challenge and threatens our ability to treat infectious diseases
Objectives: Determine the rate of culture-positive bacteria, investigate distribution of common pathogenous bacteria and its antibiotic resistance
Methods: A cross-sectional study, data of pathogenic bacteria and antibiogram results were collected at general hospital Ninh Thuan province from January to October 2020
Results: A total of 2609 different patient samples were indicated for culture and 442 samples showed positive results, accounting for an overall rate of 16.9% Gram-negative bacteria accounted for a higher proportion (68.8%) than Gram-positive bacteria (31.2%) In the group of Gram-negative bacteria, common is the
E coli (40.1%), Klebsiella spp (19.7%), Acinetobacter spp (10.2%), A baumannii (8.6%), P aeruginasae (8.2%) In the group of Gram-positive bacteria, S aureus is the dominant (65.2%) The Enterobacteriacae was resistant to other antibiotics with low level than non-fermenting gram-negative bacilli No strains of S aureus
1 Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Thuận
Trang 2resistant to vancomycin, linezolid and teicoplanin were detected
Conclusions: A reasonable antibiotic use were needed to limit resistance of pathogenic bacteria
Keywords: antibiotic resistance, Ninh thuan province general hospital
ĐẶT VẤN ĐỀ
Kháng kháng sinh (KKS) là một thách thức
quan trọng đối với sức khỏe cộng đồng toàn
cầu và đe dọa khả năng điều trị các bệnh
truyền nhiễm của chúng ta Mỗi năm, thế giới
có khoảng 700.000 người chết vì các bệnh liên
quan đến KKS và ước tính đến năm 2050, số
người chết vì KKS sẽ gần bằng với số người
chết do ung thư và GDP quốc gia sẽ giảm từ
2-3,5%, gây thiệt hại cho thế giới khoảng 100
nghìn tỷ đô la Mỹ(1)
Báo cáo của mạng lưới giám sát KKS ở châu
Âu (2018) cho thấy Escherichia coli (E coli) có sự
gia tăng kháng cephalosporin thế hệ thứ 3 từ
14,2% (2014) lên 14,9% (2017) và tỷ lệ kháng
thuốc nói chung ở Klebsiella pneumoniae (K
pneumoniae) cao hơn so với E coli(2) Mặc dù tình
trạng kháng carbapenems vẫn còn hiếm gặp ở E
coli, một số quốc gia đã báo cáo tỷ lệ kháng
carbapenems trên 10% đối với K pneumoniae
Kháng carbapenems đã phổ biến ở Pseudomonas
aeruginosa (P aeruginosa) và Acinetobacter sp với
tỷ lệ cao hơn so với K pneumoniae(2) Đối với
Staphylococcus aureus (S aureus), sự suy giảm các
chủng MRSA, được báo cáo trong những năm
trước vẫn tiếp tục trong năm 2017 Tỷ lệ MRSA ở
các nước Liên Minh châu Âu giảm đáng kể từ
19,6% năm 2014 xuống 16,9% năm 2017 Tuy
nhiên, MRSA vẫn là một mầm bệnh quan trọng,
vì mức độ MRSA vẫn còn cao ở một số quốc gia,
và sự kháng thuốc kết hợp với các nhóm KS
khác là phổ biến(2)
Ở Việt Nam, hầu hết các bệnh viện (BV)
đang phải đối mặt với tốc độ lan rộng các vi
khuẩn (VK) kháng với nhiều loại kháng sinh
(KS) nghiêm trọng hơn so với châu Âu Sự gia
tăng các VK đa kháng trong bối cảnh nghiên cứu
phát triển KS mới ngày càng hạn chế làm cho
việc điều trị các bệnh lý nhiễm khuẩn ngày càng
khó khăn và nguy cơ không còn KS để điều trị
Để hạn chế vấn đề này, Tổ chức Y tế Thế giới đã ban hành Chương trình kế hoạch hành động, nhằm giải quyết tình trạng KKS và đã có nhiều quốc gia tham gia, trong đó có Việt Nam
Tại bệnh viện (BV) Đa khoa Ninh Thuận trong vài năm gần đây cũng đã có các nghiên cứu về vấn đề KKS của vi khuẩn, tuy nhiên các nghiên cứu trước đây, chỉ đề cập đến tình trạng KKS chung của VK, chứ không chỉ ra được đó là
VK gây bệnh hay không gây bệnh, cũng như chưa xác định được tỷ lệ nuôi cấy VK dương tính trên các loại bệnh phẩm (BP) khác nhau của
BN Xuất phát từ thực tiễn việc nghiên cứu sâu hơn về KKS tại BV Đa khoa Ninh Thuận, trên cơ
sở đóng góp vào bản đồ KKS tại Việt Nam và làm cơ sở để BV xây dựng bổ dung, cập nhật phác đồ điều trị KS, đồng thời nâng cao kiến thức vi sinh lâm sàng cho nhân viên xét nghiệm, chúng tôi đã tiến hành thực hiện đề tài “Đặc điểm đề kháng kháng sinh của một số vi khuẩn gây bệnh thường gặp tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Thuận, năm 2020” với hai mục tiêu
Mục tiêu
1 Xác định tỷ lệ nuôi cấy vi khuẩn dương tính và tác nhân vi khuẩn gây bệnh thường gặp phân lập tại Bệnh viện Đa khoa Ninh Thuận, năm 2020
2 Mô tả một số đặc điểm kháng kháng sinh của một số vi khuẩn gây bệnh thường gặp phân lập tại điểm nghiên cứu
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu Gồm 442 chủng VK phân lập từ 2609 mẫu
BP khác nhau như máu, mủ, đàm, nước tiểu, dịch vô trùng và phân của BN được chỉ định nuôi cấy từ tháng 1/2020 đến hết tháng 09/2020 tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Thuận
Tiêu chuẩn chọn vào
Tất cả các vi khuẩn gây bệnh phân lập được
Trang 3ở những bệnh phẩm khác nhau của BN được chỉ
định nuôi cấy từ tháng 1/2020 đến hết tháng
09/2020
Tiêu chuẩn loại ra
Các loại BP dương tính với VK không gây
bệnh Các VK giống nhau phân lập trên cùng 1
BN ở những BP khác Các bệnh phẩm nuôi cấy
dương tính đối với nấm Candida spp
Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu
Mô tả cắt ngang
Phương pháp thực hiện
Phân lập, định danh VK gây bệnh dựa trên
hướng dẫn của Bộ Y tế năm 2017(3)
Biện luận kết quả kháng sinh đồ theo hướng dẫn của CLSI (Hoa kỳ) 2019 Thu nhập và nhập
dữ liệu vào mẫu “Phiếu nghiên cứu’’ cho từng
loại vi khuẩn
Xử lý và phân tích số liệu
Số liệu được nhập bằng Excel, phân tích bằng R Những số thống kê cần tính bao gồm: Tần số; tỷ lệ % và khoảng tin cậy 95% các tỷ lệ nghiên cứu
KẾT QUẢ
Tỷ lệ nuôi cấy vi khuẩn dương tính và sự phân
bố của vi khuẩn gây bệnh Tổng cộng có 2609 mẫu BP khác nhau được chỉ định nuôi cấy và có 442 mẫu (16,9%) cho kết quả dương tính với VK gây bệnh
Bảng 1: Tỷ lệ nuôi cấy vi khuẩn dương tính từ các mẫu bệnh phẩm (N=2609)
Bảng 2: Tỷ lệ các vi khuẩn gây bệnh phân lập từ các mẫu bệnh phẩm lâm sàng
Staphylococcus coagulase (-) 33 23,9 17,2 - 32,1
Bảng 3: Tỷ lệ vi khuẩn gây bệnh phân lập ở bệnh phẩm máu (n=101)
VK Gram âm (n=70)
Escherichia coli 32 45,7 33,9 - 58,0
Klebsiella spp 18 25,7 16,3 - 37,8
Acinetobacter baumannii 8 11,4 5,4 - 21,8
Trang 4Nhóm VK Tên vi khuẩn Tần số % KTC95%
Pseudomonas aeruginasae 5 7,1 2,6 - 16,6
Acinetobacter spp 2 2,9 0,50 - 10,9
Pseudomonas spp 2 2,9 0,50 - 10,9
Burkhoderia cepacia 2 2,9 0,50 - 10,9
Proteus spp 1 1,4 0,07 - 8,8
VK Gram dương (n=31)
Staphylococcus aureus 15 48,4 30,5 - 66,6
Staphylococcus coagulase (-) 10 32,3 17,3 - 51,5
Enterococcus spp 3 9,7 2,5 – 26,9
Streptococcus spp 2 6,5 1,1 - 22,8
Streptococcus pneumoniae 1 3,2 0,2 - 18,5
Bảng 4: Tỷ lệ vi khuẩn gây bệnh phân lập ở bệnh phẩm mủ (n=188)
VK Gram âm (n=95)
Escherichia coli 39 41,1 31,2 - 51,6
Klebsiella spp 21 22,1 14,5 - 32,0
Pseudomonas aeruginasae 12 12,6 7,0 - 21,4
Klebsiella pneumoniae 8 8,4 4,0 - 16,4
Proteus spp 6 6,3 2,6 - 13,8
Acinetobacter spp 5 5,3 1,9 - 12,4
Pseudomonas spp 3 3,2 0,8 - 9,6
Acinetobacter baumannii 1 1,1 0,05 - 6,6
VK Gram dương (n=93)
Staphylococcus aureus 67 72,0 61,6 - 80,6
Staphylococcus coagulase (-) 21 22,6 14,8 - 32,6
Enterococcus spp 5 5,4 1,9 - 12,7
Bảng 5: Tỷ lệ vi khuẩn gây bệnh phân lập ở bệnh phẩm đàm (n=96)
VK Gram âm(n=86)
Acinetobacter spp 21 24,4 16,1 - 35,1
Klebsiella spp 19 22,1 14,1 - 32,6
Acinetobacter baumannii 17 19,8 12,2 - 30,0
Escherichia coli 11 12,8 6,9 - 21,1
Klebsiella pneumoniae 10 11,6 6,0 - 20,8
Pseudomonas aeruginasae 6 7,0 2,9 - 15,1
Pseudomonas spp 1 1,2 0,06 - 7,2
Proteus spp 1 1,2 0,06 - 7,2
VK Gram dương (n=10)
Staphylococcus aureus 8 80,0 44,2 - 96,4
Staphylococcus coagulase (-) 1 10,0 0,5 - 45,9
Enterococcus spp 1 10,0 0,5 - 45,9
Bảng 6: Tỷ lệ vi khuẩn gây bệnh phân lập ở bệnh phẩm nước tiểu (n=51)
Trang 5Đặc điểm kháng kháng sinh của một số vi khuẩn gây bệnh thường gặp
Bảng 7: Tỷ lệ kháng kháng sinh của các vi khuẩn Gram âm gây bệnh thường gặp
Kháng sinh E coli (n=108) Klebsiella spp (n=71) Acinetobacter spp (n=49) P aeruginosae (n=24)
Kháng % kháng Kháng % kháng Kháng % kháng Kháng % kháng
Tetracyclin 32 71,1 11 28,9
Bảng 8: Tỷ lệ kháng kháng sinh của các vi khuẩn
Gram dương gây bệnh thường gặp
Kháng sinh
S aureus (n=82) Sta coagulase (-) (n=30)
Số đĩa
KS đặt
Số kháng
% kháng
Số đĩa
KS đặt
Số kháng
% kháng Penicillin 81 78 96,3 30 30 100,0
Erythromycin 81 74 91,4 29 18 62,1
Azithromycin 78 71 91,0 29 15 51,7
Clindamycin 81 72 88,9 29 13 44,8
Oxacillin 82 58 70,7 29 19 65,5
Tetracyclin 78 42 53,8 28 9 32,1
Gentamycin 80 30 37,5 25 13 52,0
Ciprofloxacin 78 26 33,3 29 15 51,7
Levofloxacin 75 24 32,0 19 9 47,4
Doxycyclin 78 20 25,6 29 3 10,3
Teicoplanin 82 0 0,0 30 0 0,0
Linezolid 82 0 0,0 30 0 0,0
*Kháng sinh đồ Vancomycin thực hiện bằng phương pháp
xác định nồng độ ức chế tối thiểu (MIC)
BÀN LUẬN
Tỷ lệ nuôi cấy vi khuẩn dương tính và sự phân
bố của vi khuẩn gây bệnh
Qua nuôi cấy phân lập VK, kết quả cho thấy
tỷ lệ (+) chung với VK là 16,9% Trong đó, tỷ lệ
(+) cao nhất là BP mủ (57,7%) và thấp nhất lần lượt là BP máu (6,7%), dịch vô trùng (3,7%), không phát hiện các VK gây bệnh (0,0%) trong các mẫu phân Nghiên cứu tại BV Đại học Y dược TP HCM, tỷ lệ nuôi cấy VK (+) chung là 39,56%, trong đó, cấy mủ (+) chiếm 59,57%, cấy phân cũng có tỷ lệ 0,0%(4) Alnami cấy máu (+) là 8,71%(5) Khanam cấy mủ (+) là 61,8%(6) Huang cấy đàm (+) là 22,5%(7) Kiều Chí Thanh, tỷ lệ cấy nước tiểu (+) chiếm 27,5%(8), tương tự với chúng tôi (21,8%)
Hiện nay, VK Gram âm là các tác nhân gây bệnh hay gặp nhất, đặc biệt là các trực khuẩn
đường ruột (E coli, K pneumonia, Enterobacter )
có vai trò gây bệnh quan trọng Kết quả của chúng tôi phù hợp với báo cáo sử dụng KS và KKS tại 15 bệnh viện Việt Nam của Bộ Y tế, VK Gram âm chiếm đa số (78,5%), VK đường ruột
chủ yếu là E coli và Klebsiella Hai loại VK Gram
âm không lên men đường thường gặp là P
Trang 6aeruginosa và Acinetobacter spp S aureus là vi
khuẩn Gram dương thường gặp nhất(9)
Đặc điểm kháng kháng sinh của một số vi
khuẩn gây bệnh thường gặp
Tỷ lệ kháng kháng sinh của vi khuẩn đường
ruột thường gặp
Kết quả nghiên cứu cho thấy E coli có tỷ lệ
kháng rất cao với cephalosporin thế hệ 3 Vấn đề
này luôn được quan tâm vì đây là nhóm KS
đường tiêm được sử dụng nhiều trong BV Tỷ lệ
kháng cephalosporin thế hệ 3 khác nhau giữa các
khu vực trên thế giới, cao nhất ở Đông Nam Á
(20-61%) và thấp hơn ở Châu âu (3-43%)(10)
Carbapenem được lựa chọn để điều trị các
chủng kháng cephalosporin thế hệ 3 Mặc dù
một số nơi đã báo cáo tỷ lệ E coli kháng với
carbapenem, tuy nhiên tại BV Ninh Thuận tỷ lệ
này rất thấp (2,8% kháng meropenem), tương tự
với Cao Minh Nga, E coli kháng thấp với
amikacin (10,45%), meropenem (4,73%) và
imipenem (0,0%), kháng cao với levofloxacin
(67,57%) và cephalosporin thế hệ 3 (cefotaxime,
ceftriaxone) lần lượt là 58,56% và 60,22%(4)
Klebsiella spp trong thời gian gần đây đã nổi
lên với khả năng kháng với nhiều loại KS, kể cả
carbapenem Rất may mắn, tại BV Ninh Thuận,
tỷ lệ KKS của chúng thấp hơn so với E coli
Trương Anh Dũng, Klebsiella spp có tỷ lệ đề
kháng với cephalosporin thế hệ 3 thấp hơn so
với E coli, đề kháng với ceftriaxone, cefotaxime
và ceftazidime lần lượt là 29%, 31% và 26% Đề
kháng với imipenem là 0,0% và meropenem là
1,0%(11) Tương tự, tại BV Đa khoa khu vực Củ
Chi, Klebsiella spp đề kháng thấp với imipenem
(7%) và meropenem (4,0%)(12) Giống với
imipenem và meropenem, Klebsiella spp cũng đề
kháng thấp với amikacin, tương tự với các
nghiên cứu trong nước(4,11,12)
Tỷ lệ kháng kháng sinh của các vi khuẩn
không lên men đường thường gặp
Các VK không lên men đường như
Acinetobacter spp., P aeruginosa đã trở nên bất trị,
đặc biệt là Acinetobacter spp Mai Nguyệt Thu
Huyền, Acinetobacter spp đề kháng với
imipenem và meropenem là 66,7% và 67,4%, kháng với cephalosporin thế hệ 3 với tỷ lệ trên 70%, kháng với ciprofloxacin và levofloxacin là 72,2% và 66,1% Đề kháng thấp với ampicillin+sulbactam (32,4%) và doxycyclin (30,8%)(13) Tại BV Đa khoa tỉnh Ninh Thuận, Lê
Huy Thạch (2019) cho thấy A baumannii đề
kháng 100% với các loại KS như ceftazidime, cefotaxime, gentamycin, cefepime, kháng trên 90% với ceftriaxone, imipenem, amikacin, ciprofloxacin, bactrim và levofloxacin, kháng với ampicillin+sulbactam (47,3%) và doxycyclin (30,3%)(14) Với những kết quả nêu trên, có thể thấy rằng mô hình đề kháng kháng sinh của
Acinetobacter spp tại BV Đa khoa tỉnh Ninh
Thuận cũng tương tự các BV khác trong nước
Trước đây, P aeruginosae được biết đến như
là tác nhân gây nhiễm khuẩn bệnh viện hàng đầu và khả năng đề kháng cao với carbapenem
Kết quả nghiên cứu cho thấy P aeruginosae đề
kháng thấp với carbapenem (imipenem 8,7%, meropenem 13,0%), kháng amikacin và gentamycin là 13,0% và 16,7%, kháng với ciprofloxacin và levofloxacin là 26,1% và 27,3% Nhóm cephalosporin thế hệ 3 đại diện là ceftazidime cũng có tỷ lệ đề kháng thấp (17,4%)
Tại BV Phạm Ngọc Thạch, P aeruginosae kháng
imipenem là 27,9%, meropenem 29,3%, kháng ceftazidime là 34,6%, kháng amikacin và gentamycin là 20,6% và 30,7%, kháng ciprofloxacin và levofloxacin là 33,4% và 36,8%(13), tương tự với kết quả của chúng tôi
Tỷ lệ kháng kháng sinh của các vi khuẩn Gram dương thường gặp
Tại Việt Nam, tỷ lệ MRSA khác nhau giữa các BV Kết quả nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ MRSA là 70,7%, tương tự Lê Huy Thạch, MRSA dao động từ 65,9% đến 69,89%(15,16) và tại BV Phạm Ngọc Thạch (2018), MRSA chiếm 80,5%(13)
Tỷ lệ MRSA tăng cao đòi hỏi phải thay đổi chỉ định các KS nhóm B và nhóm C Các KS nhóm B
và nhóm C khuyến cáo thì đắt hơn và cần theo dõi sát hơn trong quá trình điều trị cũng đồng
Trang 7nghĩa là tỷ lệ tử vong do MRSA tăng cao hơn và
gánh nặng chi phí điều trị cũng nặng nề hơn
Erythromycin, clindamycin là những KS được
chỉ định thay thế khi bệnh nhân bị dị ứng với
beta-lactam Tuy nhiên, đã có một tỷ lệ lớn
MRSA là đa kháng với gentamicin,
erythromycin, ciprofloxacin, làm cho việc điều
trị gặp hết sức khó khăn Kết quả nghiên cứu cho
thấy, các KS báo cáo nhóm A, S aureus có tỷ lệ
kháng cao với erythromycin (91,4%),
clindamycin (88,9%) Chưa có chủng kháng
vancomycin (0%) và linezolid (0%)
Ciprofloxacin là KS thuộc nhóm báo cáo C với tỷ
lệ kháng 33,3%, gentamicin kháng 37,5%
Staphylococcus coagulase negative một VK
thuộc nhóm cầu khuẩn Gram dương cùng nhóm
với S aureus Trước đây được xem là VK không
gây bệnh, nhưng hiện nay đã nổi lên là một
trong những vi khuẩn gây nhiễm trùng huyết
bệnh viện Tuy nhiên, so với S aureus,
Staphylococcus coagulase negative đề kháng với KS
thấp hơn Kết quả nghiên cứu của Singh (2016),
cho thấy một tỷ lệ cao đề kháng với các KS
không phải β-lactam bao gồm clindamycin
(69,4%), erythromycin (62,7%), ciprofloxacin
(45,7%) và cotrimoxazole (40,7%) Tất cả các
dòng phân lập đều nhạy với vancomycin,
teicoplanin và linezolid(17)
KẾT LUẬN
Tỷ lệ nuôi cấy dương tính chung với VK gây
bệnh tại BV Đa khoa tỉnh Ninh Thuận là 16,9%,
trong đó, tỷ lệ dương tính cao nhất là bệnh phẩm
mủ (57,7%), tiếp đến là đàm (34,4%), nước tiểu
(21,8%), máu (6,7%) và thấp nhất là dịch vô
trùng (3,7%), không có trường hợp dương tính
với mẫu bệnh phẩm phân (0,0%)
VK Gram âm chiếm tỷ lệ (68,8%) cao hơn so
với VK Gram dương (31,2%) Trong nhóm VK
Gram âm, thường gặp là E coli (40,1%), Klebsiella
spp (19,7%), Acinetobacter spp (10,2%), A
baumannii (8,6%), P aeruginasae (8,2%) Trong
nhóm VK Gram dương nổi trội là S aureus
(65,2%)
E coli đề kháng rất cao với cepalosporin thế
hệ 3, Klebsiella spp có tỷ lệ kháng thấp hơn
E coli và Klebsiella spp đều kháng thấp với
amikacin và nhóm cabapenem
Acinetobacter spp đề kháng với hầu hết các
loại KS được sử dụng với tỷ lệ trên 70%, kháng thấp với ampicillin+sulbactam (23,8%) và
doxycyclin (34,2%) P aeruginosae kháng cao nhất
là levofloxacin và ciprofloxacin lần lượt là 27,3%
và 26,1%, kháng thấp với piperacillin+tazobactam (0,0%) và imipenem (8,7%)
S aureus và Staphylococcus coagulase âm đều
có tỷ lệ kháng 0,0% với vancomycin, linezolid và teicoplanin Tỷ lệ MRSA là 70,7%
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 O’neill JIM (2014) “Antimicrobial resistance: tackling a crisis
for the health and wealth of nations” Rev Antimicrob Resist,
20:1-16
2 European Centre for Disease Prevention and Control (2018)
“Surveillance of antimicrobial resistance in Europe 2017” Annual Report of the European Antimicrobial Resistance Surveillance Network (EARS-Net)
3 Bộ Y tế (2017) Hướng dẫn thực hành kỹ thuật xét nghiệm Vi
sinh lâm sàng Quyết định số 1539/QĐ-BYT
4 Cao Minh Nga, Nguyễn Ngọc Lân và Nguyễn Thanh Bảo (2012) “Sự đề kháng kháng sinh của các vi khuẩn gây bệnh
thường gặp tại bệnh viện Đại học Y Dược TP HCM” Y học
Thành phố Hồ Chí Minh, 16(1):215-220
5 Alnami AY, Aljasser AA, Almousa RM, et al (2015) “Rate of blood culture contamination in a teaching hospital: A single
center study” Journal of Taibah University Medical Sciences,
10(4):432-436
6 Khanam RA, Islam MR, Sharif A, et al (2018) “Bacteriological Profiles of Pus with Antimicrobial Sensitivity Pattern at a
Teaching Hospital in Dhaka City” Bangladesh Journal of
Infectious Diseases, 5(1):10-14
7 HuangWY, Lee MS, Lin LM, et al (2020) “Diagnostic performance of the Sputum Gram Stain in predicting sputum culture results for critically ill pediatric patients with
pneumonia” Pediatrics & Neonatology, 61(4):420-425
8 Kiều Chí Thanh, Lê Thu Hồng, Nguyễn Văn An (2017)
“Nghiên cứu tỷ lệ và tính kháng kháng sinh của các vi khuẩn gây nhiễm khuẩn tiết niệu tại bệnh viện Quân Y 103
(2014-2016)” Thời sự Y học, pp.20-25
9 GARP Việt Nam (2009) “Báo cáo sử dụng kháng sinh và kháng kháng sinh tại 15 bệnh viện Việt Nam năm 2008-2009”
Dự án Hợp tác toàn cầu về kháng kháng sinh GARP Việt Nam
và Đơn vị Nghiên cứu Lâm sàng Đại học Oxford, pp.12
10 Wang J, Stephan R, Power K, et al (2014) “Nucleotide sequences of 16 transmissible plasmids identified in nine
multidrug-resistant Escherichia coli isolates expressing an ESBL
phenotype isolated from food-producing animals and healthy
Trang 8humans” Journal of Antimicrobial Chemotherapy,
69(10):2658-2668
11 Trương Anh Dũng, Nguyễn Văn Mười, Huỳnh Thị Bích Thùy
(2018) “Khảo sát tình hình đề kháng kháng sinh trên hệ vi
khuẩn phân lập thường quy tại Bệnh viện Quận Bình Tân TP
HCM” Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 22(5):219-226
12 Đinh Thị Xuân Mai và Đặng Nguyễn Đoan Trang (2017)
“Khảo sát tình hình sử dụng kháng sinh và đề kháng kháng
sinh tại Bệnh viện Đa khoa Khu vực Củ Chi” Y học Thành phố
Hồ Chí Minh, 21(5):214-220
13 Mai Nguyệt Thu Huyền, Nguyễn Đình Duy và Nguyễn Hữu
Lân (2018) “Các vi khuẩn thường gặp và tính đề kháng kháng
sinh của chúng tại bệnh viện Phạm Ngọc Thạch từ 11/2016 -
11/2017” Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 22(5):196-200
14 Lê Huy Thạch, Lê Văn Thanh và Đỗ Thùy Dung (2019) “Tình
hình đề kháng kháng sinh của A baumannii phân lập tại Bệnh
viện Đa khoa tỉnh Ninh Thuận, năm 2018” Y học Thực hành,
1118(11):53-56
15 Lê Huy Thạch, Lê Văn Thanh và cộng sự (2016) “Tình hình đề
kháng kháng sinh của Staphylococcus aureus tại Bệnh viện Ninh Thuận năm 2015” Y học Thực hành, 1028(11):12-15
16 Lê Huy Thạch, Lê Văn Thanh và Đỗ Thùy Dung (2017) “Nồng
độ ức chế tối thiểu (MIC50 và MIC90) của vancomycin đối với
các chủng MRSA tại Bệnh viện Ninh Thuận 2017” Thời sự Y
học, pp.47-50
17 Singh S, Dhawan B, Kapil A, et al (2016) “Coagulase-negative
staphylococci causing blood stream infection at an Indian
tertiary care hospital: prevalence, antimicrobial resistance and
molecular characterisation” INDIAN Journal of Medical
Microbiology, 34(4):500-505
Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 20/02/2021