SKKN LOP 3 MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP CÁC EM HỌC SINH LỚP 3 GIẢI TỐT BÀI TOÁN LIÊN QUAN ĐẾN RÚT VỀ ĐƠN VỊ CSTĐ 2021 HỖ TRỢ ĐƯỢC GIÁO VIÊN LÀ NIỀM VUI CỦA MÌNH. MÔ TẢ 200 CHỮ QUÁ NHIỀU VỚI MÌNH. tôi xin trình bày một vài quan điểm của bản thân về: “Một số biện pháp giúp các em học sinh lớp 3 giải tốt bài toán liên quan đến rút về đơn vị.”
Trang 1TRƯỜNG ……… Độc lập-Tự do-Hạnh phúc
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Họ và tên người viết: ……….
Đơn vị công tác: Trường ………
Công tác được phân công : Giáo viên chủ nhiệm lớp ……
sở ban đầu cho việc bồi dưỡng và phát triển nhân tài
Ở lớp 3, khi bước sang học kì II, các em bắt đầu được làm quen với các dạng
toán hợp cơ bản, trong đó có dạng “ Bài toán liên quan đến rút về đơn vị” Dạng
toán này có rất nhiều ứng dụng trong thực tế, đòi hỏi các em phải có kĩ năng giảitoán tốt, kĩ năng ứng dụng thực tế trong hàng ngày Đối với dạng toán này yêu cầuhọc sinh phải tư duy một cách tích cực, huy động tích hợp các kiến thức vào tình
huống thích hợp Học sinh phải biết phát hiện dữ kiện, tìm điều kiện chưa được nêu
ra một cách tường minh, nhất là đối với những bài toán có nội dung khó hơn, yêucầu cao hơn,
Là một giáo viên trẻ dạy lớp 3, vốn kinh nghiệm chưa nhiều,việc nghiên cứu
về nội dung và phương pháp dạy học không chỉ là trách nhiệm mà còn là niềm say
mê, sự yêu nghề của tôi Với những phân tích trên đây, tôi nhận thấy các em nắmđược kĩ năng giải toán như là một văn bản lí thuyết, còn áp dụng vào thực hànhgiải toán thì hiệu quả chưa cao Chính vì vậy, tôi xin trình bày một vài quan điểm
của bản thân về: “Một số biện pháp giúp các em học sinh lớp 3 giải tốt bài toán
liên quan đến rút về đơn vị.”
II NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA SÁNG KIẾN
1 Cơ sở
Trang 2a Cơ sở lý luận:
Môn toán cũng có một vị trí rất quan trọng cho việc hình thành nhân cáchcho học sinh, vì môn toán là một môn học mang tính khoa học Bên cạnh đó họcsinh tiểu học qua việc học toán sẽ phát huy tốt trí tưởng tượng, các kĩ năng, kĩ xảo
về tính toán, có tính chính xác cao Qua môn toán giúp các em cảm thụ tốt kiếnthức của các môn học khác Cũng qua môn toán, trong suốt cấp học, các em cũngtích luỹ được những kinh nghiệm để tiếp tục nhận thức thế giới xung quanh, ápdụng một cách thành thạo, chính xác kiến thức đã được trang bị vào trong thực tiễncuộc sống, cũng như sự sáng tạo trong hoạt động học tập của các cấp học cao hơn
Từ trước đến nay, việc giải toán đã trở thành hoạt động trí tuệ sáng tạo, hấpdẫn Vấn đề cốt lõi để giải được bài toán là nhận dạng bài toán, hiểu và tóm tắtđược bài toán, lựa chọn được phương pháp thích hợp để giải bài toán Do đó đòihỏi học sinh phải được trang bị kiến thức cũng như kỹ năng vận dụng các phương
pháp giải toán
b Cơ sở thực tiễn:
Như chúng ta đã biết, căn cứ vào sự phát triển tâm, sinh lí của học sinh Tiểuhọc mà cấu trúc nội dung môn toán phù hợp với từng giai đoạn phát triển của họcsinh Ở lớp 3 sang học kì II, các em bắt đầu được làm quen với các dạng toán hợp
cơ bản, trong đó có dạng toán liên quan đến rút về đơn vị Dạng toán này có rấtnhiều ứng dụng trong thực tế, nó đòi hỏi các em phải có kĩ năng giải toán tốt, kĩnăng ứng dụng thực tế trong cuộc sống
Trong quá trình dạy học, giáo viên cần chủ động tổ chức, hướng dẫn họcsinh hoạt động theo mục đích nhất định để mỗi cá nhân học sinh tự khám phá, tựphát hiện và tự giải quyết bài toán thông qua việc biết thiết lập mối quan hệ giữakiến thức mới với các kiến thức liên quan đã học cùng với kinh nghiệm sẵn có củabản thân Đó là các cơ sở để các em giải tốt dạng toán rút về đơn vị nói riêng, cácdạng toán hợp nói chung
Trong quá trình giảng dạy, tôi nhận thấy các em nắm được kĩ năng giải toáncủa giáo viên truyền đạt tới như là một văn bản của lí thuyết, khi ứng dụng vàothực tế thì chưa đạt hiệu quả cao Các em thực hiện việc giải toán chưa cẩn thận,chưa thật sự hiểu việc áp dụng vào thực tế
2 Thực trạng:
2.1 Thuận lợi:
a/ Giáo viên:
- Giáo viên được tập huấn kĩ về các phương pháp, kĩ thuật dạy học mới Nhà
trường rất quan tâm và thường xuyên nhắc nhở giáo viên trong việc thực hiện côngtác đổi mới phương pháp dạy học Giáo viên luôn không ngừng học hỏi, đổi mới
Trang 3phương pháp dạy học phù hợp mục tiêu dạy và học để dẫn dắt rèn luyện học sinh
kĩ năng giải toán Giáo viên thường xuyên nghiên cứu kĩ kế hoạch bài dạy để lựachọn và tổ chức những hình thức luyện tập sao cho phù hợp với đối tượng họcsinh Giáo viên nhiệt tình trong công tác, tận tụy với học sinh; luôn tích cực vậndụng phương pháp mới và sáng tạo trong hoạt động giảng dạy Giáo viên luôn có ýthức tự học, tự bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, cùng traođổi, góp ý để cùng nhau nghiên cứu tài liệu, thiết kế hoạt động dạy, giáo dục tíchhợp vào bài dạy
b) Học sinh:
- Đa số học sinh ở địa bàn gần trường, các em có ý thức học tập tốt Họcsinh đều chăm ngoan, ham tìm hiểu và có thái độ chủ động tích cực trong học tập.Học sinh đọc kĩ đề toán, biết phân tích đề toán, nắm vững kiến thức, nhận biết tốtdạng toán giải có lời văn Đây là cơ sở giúp các em học tốt môn Toán lớp 3 Họcsinh chăm ngoan, tích cực phối hợp cùng giáo viên Các em có kĩ năng làm việctheo nhóm, khá mạnh dạn nêu các thắc mắc trong quá trình học tập
b/ Học sinh:
- Trình độ nhận thức của học sinh không đồng đều
- Một số học sinh còn chậm, kĩ năng tóm tắt bài toán còn hạn chế, chưa cóthói quen đọc và tìm hiểu kĩ bài toán
- Kĩ năng tính nhẩm với các phép tính còn hạn chế Một số em tiếp thu bàimột cách thụ động, ghi nhớ bài còn máy móc nên hay chóng quên các dạng bàitoán, vì thế phải có phương pháp khắc sâu kiến thức
- Do đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi, các em nhanh nhớ nhưng cũng chóngquên, mức độ tập trung thực hiện các yêu cầu của bài học chưa cao
c) Phụ huynh:
Trang 4- Đa số gia đình các em là gia đình lao động chưa thực sự quan tâm đến việchọc của các em Một số em thiếu sự quan tâm, hỗ trợ động viên của phụ huynh
2.3 Đánh giá nguyên nhân các vấn đề khó khăn gặp phải:
- Học sinh còn đọc đề bài chưa kĩ, sau đó giải bài toán ngay, làm xongkhông cần kiểm tra lại kết quả, Đối với dạng bài toán liên quan đến rút về đơn vị( gồm có 2 kiểu bài) , ở kiểu bài 1, các em làm bài khá tốt, ít nhầm lẫn, nhưng cònsai nhiều trong tính toán Khi GV giảng dạy bài kiểu bài 2, các em làm bài thườngnhầm lẫn, khó nhận biết giữa hai dạng toán
* Ví dụ: Để nắm được thực trạng học sinh lớp 3 giải dạng toán này cụ thể
như thế nào, tôi đã tiến hành ra hai bài toán, thuộc hai kiểu bài của dạng toán nàynhư sau nắm được kết quả
+ Bài toán 1: Một cửa hàng có 6 bao gạo chứa được 36 kg gạo Hỏi 4 bao
gạo như thế có thể chứa được bao nhiêu ki lô gam gạo? ( Kiểu 1)
+ Bài toán 2: Có 42 lít dầu đựng vào 6 can Hỏi có 84 lít dầu thì cần có bao
nhiêu can như thế để đựng?( Kiểu 2)
Sau khi chấm bài, tôi nhận thấy kết quả các em làm bài như sau:
- Đa số em làm đúng cả 2 bài
- Một số em làm nhầm ở bước 2 từ kiểu bài 1 sang kiểu bài 2 và ngược lại
- Một số em có phép tính sai
- Còn một vài em sai cả hai bài
Nguyên nhân có kết quả như vậy là do phần lớn các em còn chủ quan khilàm bài, chưa nhớ kĩ các phương pháp giải dạng toán này Mặt khác, các em chưađược củng cố, khắc sâu kiến thức về 2 kiểu bài trong dạng toán này nên dẫn đến sựsai sót Bên cạnh đó đây là các bài toán áp dụng rất thực tế nhưng các em khôngthực hiện phương pháp thử lại nên kết quả chưa đạt hiệu quả trong việc giải toán.Các em cần chủ động thực hiện giải toán qua tư duy, phân tích tổng hợp dựa trênphương pháp giải và thực tế đề bài
3 Các biện pháp đã tiến hành
3.1 Giải pháp 1: Phân loại đối tượng để nắm rõ trình độ, nhận thức của từng học sinh trong lớp
3.1.1 Mục tiêu của biện pháp: giúp học sinh phát huy được năng lực của
các em qua việc lựa chọn các phương pháp giáo dục phù hợp với từng đối tượng
3.1.2 Nội dung của biện pháp:
Muốn tiến hành dạy học hiệu quả thì người dạy cần phải hiểu được trình độnhận thức của người học, nhằm hướng các hoạt động của học sinh vào mục đích
Trang 5chung của tập thể, phân loại đối tượng và lựa chọn nội dung, phương pháp truyềnđạt phù hợp Nếu giáo viên dạy không hiểu được tính cách, khí chất, năng khiếucủa học sinh dẫn đến quá trình dạy học khó phát huy được sở trường và nhữngtiềm năng vốn có của các em, dẫn đến các em sẽ bị mệt mỏi, nhàm chán Trongmột tập thể học sinh luôn có những cá nhân với đặc điểm tâm lý riêng, có người rụt
rè, nhút nhát; có người mạnh dạn, năng nổ, nhiệt tình, cần cù, chịu khó; có ngườirất mạnh về mặt này, yếu về mặt khác… Nếu nắm vững được đặc điểm trên thìtrong dạy học, GV sẽ thực hiện tốt quá trình cá biệt hóa, nhất là đối với số học sinh
có đặc điểm tính cách, khí chất khác biệt Hơn nữa, hiểu rõ tính cách, khí chất,năng khiếu học sinh sẽ giúp GV biết cách tổ chức lớp học, xây dựng lực lượngnòng cốt, cá nhân điển hình tiên tiến thúc đẩy tập thể lớp phát triển Ngoài ra, GVquan tâm đến hoàn cảnh, đặc điểm tâm lý của mỗi học sinh và nhất là học sinh cóhoàn cảnh khó khăn, từ đó lựa chọn liệu pháp tâm lý phù hợp để dẫn dắt, hướngcác em phát triển theo chiều hướng tích cực
Căn cứ vào chất lượng học sinh của lớp, tôi có thể phân loại như sau:
- Nhóm 1: Những học sinh có khả năng giải toán ( 16 em)
- Nhóm 2: Những học sinh giải toán chậm (22 em)
Việc phân loại học sinh giúp giáo viên định hướng cho các hoạt động dạyhọc phát huy tính tích cực của mỗi em
*Ví dụ: Khi tổ chức hoạt động nhóm, nếu giáo viên muốn kèm riêng cho
một số học sinh yếu trong lớp thì sẽ chia các em vào một nhóm
Khi học nhóm cần sự hợp tác, chia sẻ giáo viên chia nhóm có nhiều đốitượng học sinh để các em giúp đỡ nhau để hoàn thành công việc (bài tập)
Giáo viên có thể tổ chức nhiều “cặp đôi” “Đôi bạn cùng tiến” trong lớp cócùng sở thích (đôi bạn gần nhà, đôi bạn cùng bàn,…) để giúp nhau trong học tập
Hàng tuần giáo viên có sự kiểm tra và tuyên dương kịp thời nếu mỗi họcsinh có sự tiến bộ, đồng thời phối hợp với gia đình tạo điều kiện cho các em họctập
* Hiệu quả: Qua việc vận dụng các phương pháp dạy học phù hợp với từng
đối tượng , giáo viên chủ nhiệm có thể phát huy được sự tích cực, chủ động củahọc sinh Các em sẽ mạnh dạn nêu ý kiến của bản thân, rèn được kĩ năng hợp tác,
kĩ năng giải quyết vấn đề
* Lưu ý: Để góp phần vào việc nâng cao hiệu quả việc dạy toán, GV cần
làm tốt các vấn đề sau:
+ Trong quá trình giảng dạy, GV phải đóng vai trò là người định hướng,hướng dẫn học sinh hứng thú – tự giác, tích cực trong học tập, phát huy được mọikhả năng học tập của HS
Trang 6+ GV phải tạo ra nhiều cơ hội để thu hút tất cả các đối tượng HS trong lớptham gia học tập một cách sáng tạo.
+ Khi đặt câu hỏi, GV phải đưa ra hệ thống câu hỏi phù hợp với các đốitượng HS trong lớp
+ GV không làm thay, không áp đặt mà chỉ đưa ra những câu hỏi gợi ý đểhọc sinh suy nghĩ rồi làm
+ GV cùng HS xây dựng nội dung trọng tâm một cách linh hoạt, không ápđặt một cách máy móc, dập khuôn
3.2 Giải pháp 2: Hướng dẫn học sinh nắm vững phương pháp chung để thực hiện giải các bài toán có lời văn.
3.2.1 Mục tiêu của biện pháp: Giúp học sinh rèn luyện, nhận biết tốt các
dạng toán để lựa chọn phương pháp giải thích hợp
3.2.2 Nội dung của biện pháp:
Muốn cho học sinh giải tốt “Bài toán liên quan đến rút về đơn vị”, trước
tiên tôi đã hướng dẫn các em nắm chắc được những bước cần thực hiện khi giải tất
cả các dạng toán Mỗi bài toán các em có làm tốt được hay không đều phụ thuộcvào phương pháp giải toán được vận dụng ở mỗi bước giải bài toán đó Vì thế, tôi
đã hướng dẫn học sinh nắm chắc các bước giải toán như sau:
- Bước 1: Đọc kĩ đề toán
- Bước 2: Tóm tắt bài toán
- Bước 3: Tự phân tích đề toán
- Bước 4: Thực hiện trình bày bài giải
- Bước 5: Kiểm tra lời giải và đánh giá cách thực hiện.
Cụ thể yêu cầu đối với học sinh như sau:
1/ Đọc kĩ đề toán: Học sinh đọc ít nhất 3 lần đề toán , mục đích để giúp các
em nắm được ba yếu tố cơ bản Những “ dữ kiện” là những cái đã cho, đã biếttrong đầu bài, “những ẩn số” là những cái chưa biết và cần tìm và những “điềukiện” là quan hệ giữa các dữ kiện với ẩn số GV cần thường xuyên luyện tập chohọc sinh có thói quen và từng bước có kĩ năng suy nghĩ trên các yếu tố cơ bản củabài toán, phân biệt và xác định được các dữ kiện và điều kiện cần thiết liên qua đếncái cần tìm, gạt bỏ các tình tiết không liên quan đến câu hỏi, phát hiện được các
dữ kiện và điều kiện không tường minh để diễn đạt một cách rõ ràng hơn, tránh
thói quen xấu là vừa đọc xong đề đã làm ngay
2 / Phân tích - Tóm tắt đề toán: Mục đích của "tóm tắt" bài toán là phân tích
đề toán để làm rõ giả thiết (bài toán cho biết gì ? và kết luận bài toán hỏi gì ? ) của
Trang 7bài toán, thu gọn bài toán theo giả thiết, kết luận của bài toán, làm rõ mối quan hệgiữa "cái đã cho" và "cái phải tìm" rồi từ đó tìm ra cách giải bài toán một cách hợp
lí Vì vậy việc dạy tóm tắt bài toán trước khi giải bài toán là điều rất cần thiết Tuyvậy, không nhất thiết bắt buộc phải viết "tóm tắt" vào phần trình bày bài giải Thực
tế có rất nhiều cách tóm tắt bài toán, nếu các em càng nắm được nhiều cách tóm tắtthì các em sẽ càng giải Toán giỏi Vì vậy, khi dạy tôi đã truyền đạt các cách sau tớihọc sinh:
* Lưu ý: ở dạng toán liên quan đến rút về đơn vị, tóm tắt bằng lời được lựa
chọn nhiều hơn Trong khi tóm tắt, học sinh cần lưu ý đến tên của mỗi đơn vị (đạilượng), có mấy đơn vị, mối quan hệ giữa các đơn vị đó
Ví dụ 1: Một cửa hàng có 6 bao gạo chứa được 36 kg gạo Hỏi 4 bao gạo
như thế có thể chứa được bao nhiêu ki lô gam gạo?
Tóm tắt: 6 bao gạo: 36 kg hoặc: 36 kg
4 bao gạo: kg ? / / / / / / / ? kg
Ví dụ 2: Có 42 lít dầu đựng vào 6 can Hỏi có 84 lít dầu thì cần có bao
nhiêu can như thế để đựng ? ( biết số dầu ở mỗi can như nhau )
Tóm tắt: 42 l dầu : 6 can hoặc:
84 l dầu : can ? 48 l dầu
- Bài toán cho biết gì?
Trang 8- Bài toán hỏi gì?
- Muốn tìm cái chưa biết ta cần biết gì?
- Muốn tìm cái chưa biết ta cần dựa vào đâu? Làm như thế nào?
- GV hướng dẫn học sinh phân tích xuôi rồi tổng hợp ngược lên, từ đó các
em nắm bài kĩ hơn, tự các em giải được bài toán
GV cần tạo điều kiện cho học sinh được rèn luyện khả năng diễn đạt bằnglời nói và bằng chữ viết khi phải giải thích các vấn đề liên quan đến phân tích đềtoán, tìm cách giải bài toán và nhất là khi diễn tả câu trả lời, trình bày bài giải củabài toán Có thể lúc đầu học sinh tự thực hiện các hoạt động diễn đạt này còn khókhăn, nhưng đây là "cơ hội" thuận lợi để các em được phát triển tư duy, khả nănggiải quyết vấn đề
4/ Trình bày lời giải: Dựa vào sơ đồ phân tích, quá trình tìm hiểu bài, các
em sẽ dễ dàng viết được bài giải một cách đầy đủ, chính xác Giáo viên chỉ việcyêu cầu học sinh trình bày đúng, đẹp, cân đối ở vở là được, chú ý câu trả lời ở cácbước phải đầy đủ, không viết tắt, chữ và số phải đẹp
5/ Kiểm tra lời giải và đánh giá cách giải: Qua quá trình quan sát học sinhgiải Toán, chúng ta dễ dàng thấy rằng học sinh thường xem bài toán đã giải xongkhi tính ra đáp số hay tìm được câu trả lời Vì vậy việc kiểm tra , đánh giá kết quả
là không thể thiếu khi giải Toán và phải trở thành thói quen đối với học sinh.Chính vì vậy khi dạy giải Toán, chúng ta cần hướng dẫn các em thông qua cácbước:
- Đọc lại lời giải
- Kiểm tra các bước giải xem đã hợp lí yêu cầu của bài chưa, các câu văndiễn đạt trong lời giải đúng chưa
- Thử lại các kết quả vừa tính từ bước giải đầu tiên
- Thử lại kết quả đáp số xem đã phù hợp với yêu cầu của đề bài
* Lưu ý: Đối với học sinh giỏi, giáo viên có thể hướng dẫn các em nhìn lại
toàn bộ bài giải, tập phân tích cách giải, động viên các em tìm các cách giải khác, tạo điều kiện phát triển tư duy linh hoạt, sáng tạo, suy nghĩ độc lập của học sinh
* Hiệu quả: Học sinh được phát huy tính tích cực, chủ động, cố gắng tự bản
thân chiếm lĩnh kiến thức dưới sự hướng dẫn, gợi mở của giáo viên Học sinh đượcnắm vững hơn về các bước khi thực hiện giải toán bài toán có lời văn, rèn tính cẩnthận hơn khi làm bài
3.3 Giải pháp 3: Hướng dẫn học sinh tìm hiểu đề bài nhận dạng bài toán liên quan đến rút về đơn vị (kiểu 1), vận dụng những phương pháp, kĩ thuật nhằm phát huy năng lực cho học sinh.
Trang 93.3.1 Mục tiêu của biện pháp: giúp học sinh nắm rõ yêu cầu bài, xác định
chính xác dạng toán và nắm vững cách thực hiện
33.2 Nội dung của biện pháp:
a Đối với bài hình thành kiến thức mới: GV cần chú ý lựa chọn phương
pháp, kĩ thuật phù hợp vào tiết dạy: phương pháp dạy học kiến tạo, phương phápdạy học hợp tác, phương pháp dạy học tích hợp, phương pháp dạy học phát hiện vàgiải quyết vấn đề, phương pháp dạy học dự án và một số kĩ thuật dạy học nhằmphát huy năng lực của học sinh
Khi tiến hành giải bài toán có lời văn việc đầu tiên phải làm là đọc và tìmhiểu kĩ đề bài Song trình độ ngôn ngữ của các em còn hạn chế hơn nữa để hiểuđúng các thuật ngữ, khái niệm toán học lại càng khó hơn nên các em thường bịlúng túng dẫn đến việc tìm hiểu đề bài còn mơ hồ sai lệch không đúng bản chất củadạng toán Vì vậy khi hướng dẫn học sinh giải toán cần hướng dẫn đọc kĩ đề bàihiểu được cách diễn đạt bằng lời của bài toán, xác định được các yếu tố đã cho vàyêu cầu cần tìm
* Tìm hiểu đề bài:
Đối với tiết hình thành kiến thức mới tôi đã hướng dẫn học sinh tìm hiểu đềnhư sau: ( sử dụng phương pháp dạy học hợp tác, phương pháp dạy học tích hợp,phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề)
* Ví dụ: Bài toán 1: (trang128 SGK Toán3)
“Có 35 lít mật ong chia đều vào 7 can Hỏi mỗi can có mấy lít mật ong?”
Đây là bài toán đơn học sinh đã biết cách làm ở các tiết học trước nên khihọc sinh đã đọc đề bài nhiều lần, tôi yêu cầu học sinh diễn đạt bài toán bằng lờitheo cách hiểu của mình.( năng lực giao tiếp toán học được phát huy)
Bước tiếp theo cần làm sau khi các em tìm hiểu đề bài là cho các em hiểu rõmột số khái niệm, thuật ngữ là “mấu chốt” để giải bài toán Nếu học sinh chưa hiểuđúng được khái niệm này tôi sẽ giải thích để các em rõ “chia đều”ở bài toán này làchia vào các can mà mỗi can có số lượng mật ong như nhau, “mỗi can” ở đây cầnhiểu là một can
Tương tự, khi cho học sinh giải các bài tập trong tiết hình thành kiến thứcmới hoặc các bài toán cùng dạng nhưng nội dung câu hỏi khác nhau tôi đều chohọc sinh tự giải thích để hiểu rõ thêm về các khái niệm, thuật ngữ có trong bài Sau
đó các em sẽ họp nhóm để tìm ra cách giải ( có thể sử dụng kĩ thuật khăn phủ bànthay cho phương pháp họp nhóm để phát huy năng lực giải quyết vấn đề toán học,năng lực giao tiếp toán học, năng lực sử dụng công cụ, phương tiện học toán.)
* Tóm tắt bài toán
Trang 10Nhiều giáo viên khi dạy học sinh giải toán có lời văn thường xem nhẹ hoặckhông chú ý đến việc hướng dẫn học sinh tóm tắt đề Có nhiều cách tóm tắt nộidung bài toán: tóm tắt bằng lời, tóm tắt bằng hình vẽ, tóm tắt bằng sơ đồ đoạnthẳng,…
Đối với dạng toán liên quan đến việc rút về đơn vị, tôi thường hướng dẫnhọc sinh thực hiện tóm tắt bằng lời
Ở bài toán 1 phần hình thành kiến thức mới tôi hướng dẫn học sinh tóm tắtnhư sau:
* Lưu ý: Học sinh khi tóm tắt bằng lời thì các giá trị của cùng một đại lượng
phải trình bày thẳng cột Với bài toán 1, bài toán 2 phần luyện tập của tiết hìnhthành kiến thức mới, các bài toán này không có tóm tắt mẫu nên sau khi tìm hiểu
đề bài xong tôi yêu cầu học sinh tự tóm tắt bài toán
Đối với những em học sinh chậm, sau khi tóm tắt xong, tôi yêu cầu các emdiễn đạt lại nội dung bài toán thông qua tóm tắt để các em nắm vững hơn nội dungbài toán
* Hướng dẫn học sinh giải bài toán
Sau khi học sinh đã tìm hiểu và nắm vững các khái niệm, thuật ngữ trong đềbài, tóm tắt được bài toán tôi cho học sinh giải bài toán 1 vào giấy nháp và gọi 1học sinh lên bảng trình bày bài giải
Bài giải :
Số lít mật ong trong mỗi can là :
35 : 7 = 5 ( l ) Đáp số : 5 l mật ongBài toán này là bước đệm để các em giải bài toán 2 trong tiết học nên khihọc sinh giải xong tôi hỏi lại để củng cố cách giải Giáo viên nhấn mạnh: Muốntìm mỗi can hay một can có bao nhiêu lít mật ong ta phải thực hiện phép tính chia
Sau khi học sinh giải xong bài toán thứ nhất tôi yêu cầu cả lớp đọc và giảibài toán thứ hai
Trang 11Do đã được hiểu rõ các khái niệm, các bước giải ở bài toán 1 nên khi tìmhiểu bài toán 2 tôi đã yêu cầu các em thực hiện họp nhóm để giải quyết vấn đề Sau
đó đại diện nhóm trình bày, các nhóm khác nhận xét và bổ sung Sau đó, giáo viênkhẳng định trình tự giải bài toán:
Sau khi hướng dẫn học sinh giải xong bài toán 2 giáo viên củng cố cho họcsinh về dạng toán bằng cách cho học sinh thực hiện thêm bài tập ứng dụng để họcsinh khắc sâu kiến thức Giáo viên nhấn mạnh :
Các bài toán có liên quan đến rút về đơn vị thường được giải bằng 2 bước:
+ Bước 1: Tìm giá trị một đơn vị( giá trị một phần trong các phần bằng
nhau) Thực hiện phép chia
+ Bước 2: Tìm giá trị của nhiều đơn vị cùng loại (giá trị của nhiều phần
bằng nhau) Thực hiện phép nhân
+ Học sinh nhẩm thuộc, nêu lại các bước
b Đối với tiết luyện tập:
Khi học sinh đã hình thành được cách giải bài toán liên quan đến việc rút vềđơn vị ở tiết hình thành kiến thức mới, sang tiết luyện tập học sinh tiếp tục đượcluyện tập củng cố để các em nắm vững hơn về cách giải dạng toán này Cụ thể:
Khi tiến hành hướng dẫn học sinh luyện tập qua từng bài, giáo viên cần thayđổi hình thức luyện tập Cụ thể: Đối với các bài tập phần luyện tập trang 128 củatiết hình thành kiến thức mới:
Bài 1: Có 24 viên thuốc chứa đều trong 4 vỉ Hỏi 3 vỉ thuốc có bao nhiêu viên thuốc?
Trang 12Bài 2: Có 28 kg gạo đựng đều trong 7 bao Hỏi 5 bao đó bao nhiêu kg gạo?
Khi cho học sinh làm các bài toán trên , tôi vận dụng phương pháp dạy họctích hợp, phát hiện và giải quyết vấn đề để vận dụng kiến thức đã học tích hợp nộimôn để thực hiện việc giải toán
d/ Củng cố dặn dò:
Đến phần củng cố bài tôi cho học sinh nhắc lại một lần nữa cách giải dạngtoán này như sau:
- Học sinh tự nêu các bước, cách thực hiện giải bài toán có liên quan đến rút
về đơn vị ( kiểu bài 1)
- Qua mỗi lần luyện tập xen kẽ, giáo viên đều củng cố cách làm ở kiểu bài 1là:
+ Bài giải được thực hiện qua 2 bước:
Bước 1: (Bước rút về đơn vị) Tìm giá trị 1 đơn vị (Giá trị 1 phần) (phép
chia)
Bước 2: Tìm nhiều đơn vị (từ 2 đơn vị trở lên - phép nhân).
- Nhấn mạnh cốt chính của kiểu bài 1 là tìm giá trị của nhiều đơn vị (nhiều
* Hiệu quả: Từ đó học sinh sẽ hiểu bài, nắm vững hơn về cách giải bài toán
liên quan đến rút về đơn vị ( kiểu 1), từ đó các em sẽ nắm được các bước thực hiệndạng toán này và thường xuyên luyện tập thì sẽ thực hiện thành thạo
3.4 Giải pháp 4: : Hướng dẫn học sinh tìm hiểu đề bài nhận dạng bài toán liên quan đến rút về đơn vị ( kiểu 2) theo hướng phát triển năng lực cho học sinh.
3.4.1 Mục tiêu của biện pháp: giúp học sinh nắm rõ yêu cầu bài, xác định
chính xác dạng toán liên quan đến rút về đơn vị kiểu 2 và nắm vững cách thựchiện
3.4.2 Nội dung của biện pháp: