Cũng như bao tôn giáo khác, khi du nhập vào Việt Nam, Thiên Chúa giáo sẽ có tác động hai mặt đến đời sống con người: Đạo Thiên Chúa góp phần làm phong phú cho xã hội về mặt tôn giáo tâm
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THỰC PHẨM
Biên soạn: Nhóm học 01 Nhóm thực hiện: 09
TP Hồ Chí Minh, 12- 2011
Trang 3MỤC LỤC
Trang
LỜI MỞ ĐẦU………04
I/ KHÁI QUÁT VỀ THIÊN CHÚA GIÁO Ở VIỆT NAM:………05
1 Sơ lược về Thiên Chúa giáo: ……… 05
2 Đặc điểm nổi bật: ……….08
3 Sự phát triển của Thiên Chúa giáo: ……… 09
3.1 Thời kỳ cổ đại: ……….…09
3.2 Thời trung cổ: ……… 09
3.3 Thời kỳ cận – hiện đại: ……….… 09
4 Thiên Chúa giáo ngày nay: ……… 09
II ẢNH HƯỞNG CỦA THIÊN CHÚA GIÁO ĐẾN ĐỜI SỐNG CỦA CON NGƯỜI VIỆT NAM:………12
1 Tích cực: ……… 12
1.1 Văn hóa, tinh thần: ……….12
1.2 Sự tạo thành chữ “Quốc ngữ” ……… 14
1.3 Sự du nhập công nghệ in hiện đại và sự phát triển của báo chí Việt Nam đầu thế kỷ XX : ……… 18
1.4 Sự du nhập của nghệ thuật kiến trúc nhà thờ :………19
2 Hạn chế: ………22
III MỘT SỐ HÌNH ẢNH: ……….,24
IV PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN TRONG TƯƠNG LAI: ………28
V TRÁCH NHIỆM CỦA HỌC SINH – SINH VIÊN: ……… 29
KẾT LUẬN ……… 30
THAM KHẢO THÊM: ……… 31
TÀI LIỆU THAM KHẢO: ……… 32
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Một tôn giáo, một học thuyết hay một tổ chức xã hội đều có một khuynh hướng đạo đức riêng Ví dụ, tiêu đề của Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam hiện nay là Cần – Kiệm – Liêm – Chính - Chí Công - Vô Tư; kính chúa, yêu người của giáo hội Công giáo Việt Nam; Từ Bi Hỷ Xả của Phật Giáo Nói chung, đó là tiêu chuẩn hàm ẩn một sự lợi ích chung Tuy mỗi tôn giáo mang một đức tín khác nhau nhưng đều xuất phát từ một điểm chung là đáp ứng niềm tin, điểm tựa về tinh thần, tâm linh cho con người Thiên Chúa giáo lần đầu tiên đến Việt Nam trong thế kỷ 16 và phát triển mạnh từ thế kỷ 19 sau khi Pháp đánh chiếm Việt Nam Thiên Chúa giáo là tôn giáo lớn thứ hai ở Việt Nam, sau Phật giáo (Công giáo chiếm 7% và Tin lành 1% dân số)
Đạo Thiên Chúa thường được miêu tả với một mong muốn duy nhất là truyền bá một cách hòa bình phúc âm và thông điệp của tình thương Cũng như bao tôn giáo khác, khi du nhập vào Việt Nam, Thiên Chúa giáo sẽ có tác động hai mặt đến đời sống con người: Đạo Thiên Chúa góp phần làm phong phú cho
xã hội về mặt tôn giáo tâm linh và những nét đẹp văn hóa của đất nước; nhưng Thiên Chúa giáo cũng mang lại những mặt hạn chế trong đời sống Nhóm chúng em sẽ đi vào phân tích sâu hơn để làm rõ hơn tác động của Thiên Chúa giáo đối với con người Việt Nam
Chúng em xin chân thành cảm ơn giảng viên Phan Thị Thúy phụ trách giảng dạy bộ môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác- Lênin
và đã hướng dẫn, tạo điều kiện giúp chúng em thực hiện bài tiểu luận này
Vì thời gian có hạn nên chắc chắn trong quá trình làm không thể tránh sai sót, mong Cô thông cảm cũng như những đóng góp ý kiến để giúp cho bài tiểu luận hoàn thiện hơn
Chúng em xin chân thành cảm ơn
Trang 5I/ KHÁI QUÁT VỀ THIÊN CHÚA GIÁO Ở VIỆT NAM:
1 Sơ lược về Thiên Chúa giáo:
Đạo Thiên Chúa (còn được gọi là đạo Kitô giáo) truyền bá vào Việt Nam
từ khá sớm, khoảng nửa đầu thế kỷ XVI
Không ai biết rõ Thiên Chúa giáo đã đến Việt Nam như thế nào Nhưng hoạt động truyền đạo Thiên Chúa chỉ thực sự có kết quả từ đầu thế kỷ XVII Cho đến nay, Thiên Chúa giáo đã có lịch sử trên 400 năm ở Việt Nam
Ngay từ thế kỷ XVI đã có một vài giáo sĩ Tây phương đến xứ ta; nhưng cũng chỉ đến, rồi ở ít lâu lại cùng đi với các tàu đó Bước sang đầu thế kỷ thứ XVII, số giáo sĩ sang nước ta mới càng ngày càng nhiều, việc truyền giáo mỗi ngày mỗi thịnh và số giáo dân trong nước ở Bắc Kỳ cũng như ở trong Nam càng ngày càng nhiều thêm Trong số các giáo sĩ không những là người Âu châu mà lại
có cả các giáo sĩ và các thầy giáo lý người Nhật Bản… vì đạo Thiên Chúa bắt đầu truyền từ giữa thế kỷ XVI và đã có hồi rất thịnh hành ở xứ đó
Thiên Chúa giáo là tôn giáo có đông tín hữu nhất, với những con số ước tính từ 1,5 tỉ đến 2,1 tỉ nguoi; theo sau là Hồi giáo với 1,3 tỉ; số người theo Phật giáo là 1,2 tỉ người và số người vô thần là 1,1 tỉ; Ấn Độ giáo là 900 triệu; tôn giáo
cổ truyền Trung Hoa là 394 triệu
Ngoài ra, Thiên Chúa giáo cũng thường được sử dụng bởi những người ngoài Kitô giáo để chỉ Công giáo nói riêng và Kitô giáo nói chung
Ngày nay một người, như là một công dân tự do, có quyền bất đồng với giáo hội của mình về các vấn đề khác nhau và có quyền rời bỏ giáo hội tuỳ thích Trong thực tế, nhiều người đã bỏ giáo hội và phát triển các hệ thống đạo giáo khác như Thần giáo, Duy nhất thần giáo, nhiều người khác chọn lựa trở nên vô thần hay bất khả tri hoặc là nhân bản
Theo kinh thánh, Thiên Chúa là đấng đã sáng tạo ra vũ trụ, muôn loài trong 6 ngày và ngày thứ 7 Ngài nghỉ ngơi Ông Adam và bà Êva là tổ phụ của loài người, không nghe lời Thiên Chúa đã ăn trái của "cây biết điều thiện điều ác" (trái cấm) nên bị Thiên Chúa đuổi khỏi Vườn địa đàng Hai người này truyền tội lỗi (gọi là tội tổ tông, nguyên tội) cho con cháu là loài người Thấy loài người
Trang 6mang tội, Thiên Chúa lại giáng sinh cứu rỗi cho loài người để loài người được về lại thiên đàng cùng Thiên Chúa
Có thể nói, quá trình truyền bá Thiên Chúa giáo ra phạm vi toàn thế giới
đã gắn bó chặt chẽ như “hình với bóng” với sự bành trướng xâm lược của chủ nghĩa thực dân phương Tây Vì lẽ đó mà “Sự truyền bá đạo Thiên Chúa vào Việt Nam trong các thế kỷ từ XV đến XIX, một bộ phận của sự truyền bá đạo Thiên Chúa ra phạm vi toàn thế giới trong các thế kỷ nói trên, đương nhiên cũng phải tuân thủ những quy luật lịch sử, thời đại đã chi phối cuộc truyền giáo đó” Do đó, cũng thật dễ hiểu khi chúng ta thường nói đến vai trò “công cụ” của Thiên Chúa giáo trong quá trình xâm lược của chủ nghĩa thực dân phương Tây Nhưng theo các nhà tôn giáo học và văn hoá học thì “tôn giáo là một phương diện của văn hoá
và mọi sự tiếp xúc tôn giáo đều có thể được coi là tiếp xúc văn hoá Và sự truyền
bá các tôn giáo lớn sang các vùng đất mới, như trường hợp Thiên Chúa giáo thời cận đại, ngoài những chức năng nào khác, còn được coi là có chức năng chuyển tải văn hoá, đương nhiên là văn hoá phương Tây” Và trong sự chuyển tải văn hoá đó, những yếu tố tích cực, góp phần phát triển nền văn hoá bản địa cần phải được chúng ta nhìn nhận là những đóng góp của tôn giáo nói chung, của Thiên Chúa giáo nói riêng đối với văn hoá Việt Nam
Vào thế kỷ XVI, Thiên chúa giáo được truyền vào Việt Nam do các giáo
sĩ Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và sau là Pháp Sự truyền đạo giai đoạn đầu ít gặp trở ngại do tính khoan dung của người Việt Nam và tính không đối dầu của tôn giáo bản địa, nhưng sự truyền đạo đạt kết quả không cao Sau đó Pháp vận động Giáo Hoàng cho phép độc quyền truyền đạo tại Việt Nam Hội truyền giáo Pa-ri được thành lập năm 1660 cùng nhà nước Pháp tuyển chọn, đào tạo giáo sĩ, cử sang hoạt động ở Việt Nam và một số nước khác
Cuối thế kỷ XVIII, Giáo hội Công giáo Việt Nam đã có ba địa phận (Đàng trong, Đàng ngoài và Tây đàng ngoài) với khoảng 3 vạn giáo dân và 70 linh mục Việt Nam Dưới triều Nguyễn, lúc đầu sự truyền giáo được nhà Nguyễn tạo nhiều điều kiện thuận lợi, nhưng sau đó thấy những hoạt động của giáo sĩ vừa
Trang 7đã cấm đạo nhất là từ khi thực dân Pháp bộc lộ rõ ý đồ thôn tính Việt Nam Việc cấm đạo gay gắt tạo sự chia rẽ nhất định trong nhân dân
Trong hơn 100 năm dưới chế độ thực dân, Thiên chúa giáo được dùng để duy trì sự thống trị của Pháp, đồng thời chèn ép các tôn giáo khác gây chia rẽ giữa các tín đồ tôn giáo khác nhau hoặc với người không có đạo Giáo hội Công giáo được nhiều đặc quyền, đặc lợi, những tổ chức, giáo sĩ theo chúng được ưu đãi Tuy thế , giáo hội Thiên Chúa giáo ở Việt Nam vẫn bị coi là giáo hội thuộc địa Có thể thấy điều đó rất rõ sau gần 400 năm truyền đạo vào nước ta, mãi đến năm 1933 mới có một giáo sĩ Việt Nam được phong làm giám mục
Sau 1975, với thắng lợi vĩ đại của sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và những tác động của sự chuyển đổi của Công đồng Vaticăng II từ sau năm 1975, Giáo hội Thiên chúa giáoViệt Nam có nhiều sự biến đổi Năm 1976, Giáo hoàng phong chức Hồng y đầu tiên cho một Giám mục Việt Nam Năm 1980, các Giám mục trong cả nước đã họp hội nghị để thống nhất đường lối của giáo hội Hội nghị đã thành lập Hội đồng giám mục Việt Nam và ra thư chung 1980 với phương châm "sống phúc âm trong lòng dân tộc để phục vụ hạnh phúc đồng bào"
Số tín đồ Công giáo nước ta hiện nay khoảng 5 triệu, hiện nay đang có cuộc sống ổn định theo chính sách tôn giáo của Đảng theo đúng phương châm "tốt đời, đẹp đạo", "kính Chúa yêu nước" đắn và đầy đủ về tầm quan trọng của sứ vụ loan báo Tin Mừng trong bối cảnh xã hội hôm nay; cần phải ý thức rõ ràng sứ vụ chỉ được thực thi trong môi trường xã hội hiện nay với tất cả những vấn đề của nó Tin Mừng không thể đâm chồi nơi những gì hư ảo, không thực; nơi những gì trừu tưởng chung chung mà từ môi trường xã hội cụ thể, từ những con người và cảnh huống cụ thể Thửa ruộng để Chúa và Giáo hội Việt Nam gieo hạt giống Tin Mừng chính là xã hội và con người Việt Nam ngày nay Giáo Hội Công Giáo Việt Nam phải chứng tỏ mình là sự hiện thân của tình yêu Chúa cho con người, cho đất nước và cho dân tộc Việt Nam
Trang 82 Đặc điểm nổi bật:
Kitô giáo là tôn giáo lớn nhất thế giới và đang duy trì bộ máy truyền giáo khổng lồ, lại không đạt được mức tăng trưởng như các tôn giáo khác cũng như không theo kịp tốc độ gia tăng dân số thế giới Trong khi dân số toàn cầu tăng 1,25% mỗi năm thì mức tăng trưởng của Kitô giáo chỉ khoảng 1,12%
Từ sau phát kiến địa lý (thế kỷ XV) cho đến thế kỷ XIX, có thể nói, quá trình truyền bá Thiên Chúa giáo ra phạm vi toàn thế giới đã gắn bó chặt chẽ như
“hình với bóng” với sự bành trướng xâm lược của chủ nghĩa thực dân phương Tây Vì lẽ đó mà “Sự truyền bá đạo Thiên Chúa vào Việt Nam trong các thế kỷ từ
XV đến XIX, một bộ phận của sự truyền bá đạo Thiên Chúa ra phạm vi toàn thế giới trong các thế kỷ nói trên, đương nhiên cũng phải tuân thủ những quy luật lịch
sử, thời đại đã chi phối cuộc truyền giáo đó”
Do đó, cũng thật dễ hiểu khi chúng ta thường nói đến vai trò “công cụ” của Thiên Chúa giáo trong quá trình xâm lược của chủ nghĩa thực dân phương Tây Nhưng theo các nhà tôn giáo học và văn hoá học thì “tôn giáo là một phương diện của văn hoá và mọi sự tiếp xúc tôn giáo đều có thể được coi là tiếp xúc văn hoá Và sự truyền bá các tôn giáo lớn sang các vùng đất mới, như trường hợp Thiên Chúa giáo thời cận đại, ngoài những chức năng nào khác, còn được coi là có chức năng chuyển tải văn hoá, đương nhiên là văn hoá phương Tây”
Trong sự chuyển tải văn hoá đó, những yếu tố tích cực, góp phần phát triển nền văn hoá bản địa cần phải được chúng ta nhìn nhận là những đóng góp của tôn giáo nói chung, của Thiên Chúa giáo nói riêng đối với văn hoá Việt Nam
Như chúng ta đã biết, Thiên Chúa giáo ra đời ở Palextin, thuộc Trung Cận Đông nhưng Người Việt Nam ta vốn tính tình nhã nhặn, trung hậu, không hề có ý
ác cảm với người ngoài như các giáo sĩ và các người Tây phương đầu tiên đã công nhận Vì thế mà khi các giáo sĩ mới vào nước ta đều được dân ta tỏ vẻ hoan nghênh Cả đến các vua quan nước ta, trong hồi bấy giờ cũng có ý muốn thân thiện với người ngoại dương, để bắt chước những điều khôn ngoan của họ, để mở mang việc buôn bán trong nước và có khi cũng để lợi dụng sức mạnh và sự tài giỏi của
Trang 9người vào việc mình Nhưng về sau chỉ vì nhiều sự hiểu lầm đáng tiếc mà gây nên một mối nghi kỵ giữa người ngoài và người Việt Nam ta
Đạo Thiên Chúa thì bị coi lầm là một tà đạo, có thể làm hại đến thuần phong mỹ tục và những tập quán cổ truyền trong nước; còn những kẻ theo đạo thì cũng bị người khác cho là những kẻ đã đi ngược với luân thường đạo lý, có thể làm đảo lộn trật tự cựu truyền và lay chuyển cả nền tảng luân lý và có thể đưa nước nhà đến sự nguy vong Một ít việc bất ngờ xảy ra và một số người ghen ghét,
đố kỵ hoặc cạnh tranh về vấn đề tôn giáo lại càng giúp cho mối ngờ vực đó tăng thêm, để đến nỗi đã phải gây ra bao cảnh thê thảm, bao cuộc xung đột lưu huyết như ta đã thấy
Cũng do mối nghi kỵ đó mà sau này gây nên nhiều vấn đề chính trị và tôn giáo có quan hệ đến cuộc giao thiệp của nước ta với các nước Âu châu và đến vận mệnh cả một dân tộc hơn 20 triệu người ở trên bán đảo Ấn độ China này
Với lòng nhân hậu và khôn ngoan,Thiên Chúa tự mạc khải chính mình cho con người.Qua các biến cố và lời nói,Thiên Chúa tự mạc khải chính Ngài cũng như ý định của lòng nhân hậu,mà Ngài đã hoạch định tự muôn đời trong Đức Kitô cho phần phúc của con người.Ý định này nhằm đón nhận tất cả mọi người trở thành nghĩa tử trong Người Con duy nhất của Ngài nhờ ân sủng của Chúa Thánh Thần và cho họ tham dự vào sự sống của Thiên Chúa
Vậy tâm điểm việc cứu rỗi của Kitô giáo là Chúa Giêsu, do đó trọng tâm của cuộc sống Kitô hữu là niềm xác tín rằng Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa giáng trần là Đấng Messiah, và là Chúa Kitô Kitô hữu tin rằng, là Đấng Messiah, Giêsu được Thiên Chúa xức dầu để tể trị và cứu rỗi nhân loại, Giêsu đến để làm ứng nghiệm lời tiên tri về Đấng Messiah trong Cựu Ước Trọng tâm của đức tin Kitô giáo là qua sự chết và phục sinh của Giêsu, con người tội lỗi được phục hòa với Thiên Chúa, nhờ đó mà nhận lãnh sự cứu rỗi và lời hứa được hưởng sự sống đời đời
3 Sự phát triển của Thiên Chúa giáo:
Trang 103.1 Thời kỳ cổ đại:
Đây là thời kỳ Kitô giáo xuất hiện và hoạt động trong cộng đồng người
Do Thái nhưng bị những người theo Do Thái giáo đả kích và chính quyền La Mã đàn áp Sang thế kỷ II, tầng lớp quý tộc dần theo Kitô giáo làm thay đổi vị trí và ảnh hưởng của nó, đến cuối thế kỷ II, Kitô giáo trở thành quốc giáo của Đế chế La
Mã
3.2 Thời trung cổ:
Kitô giáo chi phối mọi mặt đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của nhiều nước phong kiến châu Âu Quá trình mở rộng ảnh hưởng của đạo Kitô đã gây ra nhiều cuộc xung đột, mâu thuẫn gay gắt giữa Kitô giáo với Do Thái giáo và Hồi giáo với những cuộc Thập tự chinh tàn khốc và đẫm máu Ngay trong bản thân trong Kitô giáo cũng nảy sinh mâu thuẫn gay gắt, quyết liệt dẫn đến sự phân hoá Kitô giáo lần thứ nhất vào năm 1054 thành 2 phái: Công giáo – thế lực lớn nhất ở phía Tây La Mã Chính thống giáo ở phía Đông La Mã
3.3 Thời kỳ cận – hiện đại:
Đến thế kỷ XVI, sự ra đời, phát triển của giai cấp tư sản và phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã xuất hiện yêu cầu cải cách Kitô giáo Với những
sự cải cách của Mactin Luthơ (1483 – 1546) và Giăng Canvanh (1509 – 1546) đã làm xuất hiện Giáo hội cải cách gọi là Tin lành Cũng thời kỳ này vua Anh tách Công giáo ở Anh khỏi sự chỉ đạo của Giáo Hoàng và lập ra Anh giáo Ngày nay, Kitô giáo có hơn 400 dòng khác nhau trong đó có 4 nhánh lớn là Công giáo, Chính thống giáo, đạo Tin Lành và Anh giáo
4 Thiên Chúa giáo ngày nay:
Trang 11Nhiều người ngưng thực hành các bổn phận tôn giáo, mỗi năm chỉ đến nhà thờ vài lần vào những dịp lễ hội, hoặc hoàn toàn không bước chân vào nhà thờ Nhiều người trong số họ vẫn nhắc đến lòng sùng đạo của ông bà, nhưng họ lớn lên trong những gia đình, nơi mà các giá trị Thiên Chúa không còn được xem trọng
Bên trong họ là một tình cảm pha trộn đối với niềm tin Thiên Chúa Một mặt họ tiếp tục buộc mình vào các giá trị cổ truyền vì lý do bản sắc, mặt khác ảnh hưởng của tinh thần thế tục phương Tây, áp lực từ cuộc sống hằng ngày và từ những người xung quanh bứt giật họ ra khỏi ảnh hưởng còn sót lại của Kitô giáo truyền thống Hôn nhân giữa người theo đạo và người không theo đạo, từng là điều cấm kỵ, nay đã trở nên phổ biến
Phương tiện truyền thông vẫn xem các nhà thần học tự do như là đại biểu
và phát ngôn nhân cho Kitô giáo, các nhà thờ theo khuynh hướng tự do đang thu hẹp dần Một phần là do những nỗ lực truyền bá Phúc âm, phần khác là vì nhiều người trong số họ đang trở lại với các giá trị Kitô giáo truyền thống
Nhiều nhà thờ và tu viện được trùng tu và được lấp đầy bởi các tín hữu và
tu sĩ Các giáo phái Kháng Cách cũng tìm đến để truyền bá Phúc âm và thành lập giáo hội Giáo hội Công giáo tiết lộ họ đã từng có các giáo phận bí mật và nay đang tiến hành các bước nhằm công khai hỗ trợ các nhà thờ tại đây
Tín hữu Tin Lành nhấn mạnh đến sự cần thiết phải có kinh nghiệm qui đạo của mỗi cá nhân và tin Chúa Giêsu là Cứu Chúa và Thiên Chúa Họ tin vào sự tái lâm của Chúa Kitô, tính chân xác của Thánh Kinh và tin vào phép mầu
Những xác tín căn cốt của Thiên Chúa giáo tập chú vào sự hoá thân thành người, sự đền tội cho nhân loại, sự chết trên thập tự giá và sự sống lại của Chúa Giêsu để cứu chuộc nhân loại khỏi tội lỗi và sự chết
Trang 12Ngày càng có nhiều Kitô hữu tin rằng sự tuyển chọn mà Thiên Chúa dành cho dân Do Thái được ứng nghiệm trọn vẹn qua Chúa Giêsu: Người Do Thái nào không chấp nhận Chúa Giêsu không còn là người được chọn vì họ đã khước từ Ngài như là Đấng Messiah và Con Thiên Chúa Quan điểm này đang được làm giảm nhẹ hay ngay cả loại trừ tại một số giáo hội nơi người Do Thái được thừa nhận là có một địa vị đặc biệt vì cớ giao ước của Thiên Chúa dành cho dân tộc này
Việt Nam cũng đúng vào ngày thánh Giuse, nên hội thánh Việt Nam đã chọn thánh Giuse làm bổn mạng
II ẢNH HƯỞNG CỦA THIÊN CHÚA GIÁO ĐẾN ĐỜI SỐNG CỦA CON NGƯỜI VIỆT NAM:
1 Tích cực:
So với Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo thì Thiên Chúa giáo là một tôn giáo đến muộn, tuy nhiên trải qua thời gian, văn hoá Thiên Chúa giáo vẫn có một chỗ đứng nhất định trong văn hoá Việt Nam Tuy vậy, văn hoá Thiên Chúa giáo đã có vai trò quan trọng trong tiến trình phát triển của văn hoá Việt Nam Những đóng góp của Thiên Chúa giáo đối với văn hoá dân tộc Việt Nam thể hiện trên rất nhiều lĩnh vực: lối sống đạo, ngôn ngữ – chữ viết, báo chí, văn chương, kiến trúc…
1.1 Văn hóa, tinh thần:
Thiên Chúa giáo chứa đựng những giá trị nhân văn, nhân đạo, hướng thiện, nhờ đó đáp ứng một phần nào đó nhu cầu văn hóa tinh thần, đời sống tâm linh của một bộ phận nhân dân, là nơi lưu giữ những giá trị văn hóa của dân tộc
Thiên Chúa giáo đã tồn tại lâu đời trong lịch sử xã hội loài người Tín
ngưỡng Thiên Chúa đã ăn sâu vào đời sống tinh thần, ảnh hưởng khá sâu đậm đến nếp nghĩ, lối sống của một bộ phận nhân dân qua nhiều thế hệ đến mức trở thành một kiểu sinh hoạt văn hóa tinh thần không thể thiếu của cuộc sống Những giá trị
Trang 13đạo đức, văn hóa của tôn giáo đáp ứng được nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân
Dưới chủ nghĩa xã hội, Thiên Chúa giáo cũng có khả năng biến đổi để thích nghi theo xu hướng “đồng hành với dân tộc” sống “tốt đời, đẹp đạo”, “sống phúc âm giữa lòng dân tộc”
Sinh hoạt tín ngưỡng tôn giáo có khả năng đáp ứng ở một mức độ nào đó nhu cầu văn hóa tinh thần và có ý nghĩa nhất định về giáo dục ý thức cộng đồng, đạo đức, phong cách, lối sống
Tín ngưỡng tôn giáo có liên quan đến tình cảm, tư tưởng của một bộ phận dân cư, do đó sự tồn tại của tôn giáo trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội như một hiện tượng xã hội khách quan
Con người luôn tin tưởng Chúa sẽ luôn ở bên mình Điều này không có nghĩa là con người thụ động, trông chờ vào Chúa mà họ xem đấy như một niềm tin
để luôn sống vui và sống khỏe Mọi người tin rằng chỉ cần sống tốt, sống đẹp thì kiếp sau sẽ đựơc sống sung sướng trong vương quốc của Chúa Nghĩa là luôn sống
vì bản thân và sống vì mọi người, bỏ qua những toan tính, ích kỉ, nhỏ nhen để loài người cùng chung sống hòa bình với nhau
Không phân biệt đối xử giữa đồng bào có đạo, không có đạo, tất cả mọi người đều bình đẳng trong xã hội và trước pháp luật
Thiên Chúa giáo còn tuyên truyền cho sự bình đẳng giữa con người và con người, giữa nô lệ và người tự do; phủ nhận trật tự cửa chế độ chiếm hữu nô lệ Trong buổi ban đầu, Thiên Chúa giáo không có những nghi lễ phiền toái, không có những điều kiêng kị nghiêm ngặt và không phân biệt chủng tộc Chúa nói: “Đã là người thì sẽ có phạm tội, đã phạm tội thì sẽ có sám hối.” Sống trong tinh thần bình đẳng, tương thân tương ái, tìm kiếm công ăn việc làm, coi trọng lao động, lên
án bọn giàu có thống trị
Cùng với quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, Thiên Chúa giáo cũng có những biến đổi cùng với sự thay đổi của các điều kiện kinh tế - xã hội Quần chúng nhân dân có đạo đã thực sự trở thành chủ thể của xã hội, đời sống vật chất,
Trang 14tinh thần ngày càng được nâng cao Trên cơ sở đó họ dần được giải thoát khỏi tình trạng mê tín dị đoan, ngày càng có đời sống tinh thần lành mạnh
Đông đảo quần chúng nhân dân theo tôn giáo nói chung và theo đạo Thiên Chúa nói riêng ngày càng có điều kiện tham gia đóng góp vào công cuộc xây dựng đất nước, tinh thần yêu nước xã hội chủ nghĩa được khơi dậy, tạo nên sức mạnh cùng toàn dân xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội
Hôn nhân giữa những người theo đạo ngày càng có những chuyển biến theo chiều hướng tích cực Hầu hết những cặp vợ chồng theo đạo này tổ chức lễ cưới trong nhà thờ một cách trịnh trọng và trang nghiêm Điều này cũng góp phần tạo nên bản sắc văn hóa của con người Việt Nam Hiện tượng kết hôn với người ngoài đạo không còn bị cấm cản nữa Thiên chúa giáo tôn trọng quyền tự do của các tín đồ
Xã hội càng phát triển thì đời sống tin thần của người dân củng phát triển theo Hiện tượng mê tín dị đoan trong đạo có nhiều hạn chế hơn Đại bộ phận người dân theo Thiên Chúa giáo có những thay đổi trong cách nghĩ, cách sống Chẳng hạn, trên bàn thờ Tổ tiên ngoài tôn thờ ông bà Tổ tiên, biểu tượng Thiên Chúa thì những vật mê tín không còn được bày biện như xưa Chứng tỏ rằng có sự chuyển biến tích cực trong đời sống văn hóa, tinh thần của con người Việt Nam Người Việt Nam ngày càng có cách nghĩ khoa học hơn nhưng vẫn không quên những nét đẹp văn hóa của đạo Thiên Chúa
Ngoài ra, Thiên Chúa giáo không chỉ được những người theo đạo sùng bái mà cả những người không theo cũng tôn trọng Đại bộ phận người dân Việt Nam luôn có thái độ tích cực hưởng ứng những ngày lễ của Thiên Chúa giáo Tiêu biểu như ngày lễ Giáng sinh sắp đến đây Đây là ngày lễ dành cho những người theo Thiên Chúa Nhưng nó không còn chỉ là ngày lễ dành cho những người theo đạo mà đã trở thành một trong những ngày lễ được chờ đợi nhất trong năm của nhiều tầng lớp dân cư Việt Nam Bởi không khí Giáng sinh những ngày này đã lan tỏa khắp các đường phố, lan tỏa đến tận nhà của hầu hết người dân Việt Nam
Trang 15Đây là một trong những đóng góp quan trọng nhất của các giáo sĩ đạo Thiên Chúa đối với văn hoá Việt Nam, tất nhiên đóng góp này nằm ngoài ý thức chủ quan của các nhà truyền đạo khi sáng tạo ra chữ Quốc ngữ Động cơ chủ yếu
và trước hết của các giáo sĩ Thừa sai khi sáng tạo ra chữ Quốc ngữ là để phục vụ cho cuộc truyền giáo Xuất phát từ mục đích để hoạt động truyền giáo có hiệu quả nên các Thừa sai đã Latinh hoá tiếng Việt để tạo ra một loại văn tự mới đó là chữ Quốc ngữ Chữ Quốc ngữ ra đời chính xác vào thời gian nào, cho đến nay vẫn chưa xác định được
Lúc đầu, chữ Quốc ngữ là thứ chữ ghi âm nhưng chưa định hình, chưa phản ánh một cách khoa học và trung thực cơ cấu ngữ âm của tiếng Việt, còn chịu ảnh hưởng sâu đậm tiếng nói và chữ viết của người Bồ Đào Nha, người Ý, người Pháp Nhưng dần dần qua nhiều lần cải tiến, chữ Quốc ngữ đã đạt đến dạng hoàn chỉnh như ngày nay
Tóm lại, chữ Quốc ngữ đã trải qua một quá trình liên tục cải tiến để được hoàn chỉnh như ngày nay, song chúng ta không thể phủ nhận công lao đầu tiên sáng tạo ra hình dạng của nó thuộc về các Thừa sai Thiên Chúa giáo, nhất là các thừa sai dòng Tên gốc Bồ Đào Nha
Kể từ lúc ra đời cho tới cuối thế kỷ XIX, chữ Quốc ngữ đã dần dần được hoàn thiện từng bước nhằm phục vụ cho công cuộc truyền giáo như in kinh bổn và các sách giáo lý Nó cũng là phương tiện ghi chép những hoạt động của các giáo sĩ
và giáo dân Như vậy, trải qua hơn hai thế kỷ sau khi ra đời, phạm vi sử dụng của chữ Quốc ngữ chỉ hạn chế trong khuôn khổ nhà thờ và giáo dân
Cùng với việc xâm chiếm Nam Bộ, thực dân Pháp chủ trương mở rộng việc phổ biến chữ Quốc ngữ để đào tạo tay sai thừa hành và đẩy mạnh công cuộc tuyên truyền lừa bịp Sau khi thực dân Pháp đánh chiếm sáu tỉnh Nam Kỳ (1867), chữ Quốc ngữ được chính thức dạy ở các trường “tân học” ở Nam Kỳ Điều này
đã gây ra sự ác cảm của các sĩ phu đối với chữ Quốc ngữ, vì họ cho rằng đấy là
Trang 16“chữ của Tây”, không học “abc” cũng có nghĩa là bất hợp tác với Tây Cụ Đồ Chiểu đã kiên quyết không cho con cái đi học thứ chữ này Trong phong trào Cần Vương và các phong trào khác của văn thân sĩ phu yêu nước, chữ Hán và chữ Nôm được coi là những vũ khí tinh thần lợi hại để chống lại thực dân Pháp
Tuy vậy, vào khoảng cuối thế kỷ XIX đã xuất hiện một số văn bản Quốc ngữ ghi lại các truyện Nôm như Kiều, Lục Vân Tiên, Quốc sử diễn ca và một số bản dịch tiếng Việt các sách kinh điển Nho học như Trung dung, Đại học in bằng chữ Quốc ngữ Cũng trong thời gian này, một số tác phẩm viết bằng chữ Quốc ngữ
đầu tiên đã được lưu hành như Chuyện đời xưa, Chuyện khôi hài,…
Sang đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp tiếp tục đưa chữ Quốc ngữ vào các hoạt động nhà nước và xã hội nhằm phục vụ cho công cuộc bình định và cai trị của
chính quyền thực dân Một viên Thống sứ đã viết trong bản tường trình: “Việc
truyền bá chữ Quốc ngữ chỉ có thể coi là rất có lợi cho sự mở rộng ảnh hưởng của chúng ta trong xứ này và làm cho quan hệ của chúng ta với người bản xứ được dễ dàng…” Tuy nhiên, thực dân Pháp cũng chủ trương không nên xoá bỏ hoàn toàn chữ Nho vì cho rằng chữ Nho sẽ góp phần đắc lực trong việc duy trì tình trạng lạc hậu về mọi mặt của xã hội Việt Nam
Trong khi thực dân Pháp coi chữ Quốc ngữ là một công cụ đào tạo tay sai thì các nhà “duy tân” ở Việt Nam đầu thế kỷ XX đã thấy được ở nó những khả năng to lớn cho việc mở mang dân trí Điều đó được thể hiện qua những vần thơ
cổ động:
“ Trước hết phải học ngay Quốc ngữ
Khỏi đôi đường tiếng, chữ khác nhau
Chữ ta, ta đã thuộc làu,
Nói ra nên tiếng, nên câu, nên lời”