1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

Đề xuất giải pháp xác định bộ tham số mới để tính chuyển tọa độ giữa hệ quy chiếu VN 2000 và WGS 84

7 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 339,53 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên cơ sở phân tích các yêu cầu của bài toán tính chuyển tọa độ giữa hai hệ, bài viết đề xuất lựa chọn hệ quy chiếu trái đất quốc tế ITRS với các triển khai là khung quy chiếu trái đất quốc tế ITRF làm yếu tố trung gian trong bài toán liên kết giữa VN 2000 và WGS 84. Bài toán kết nối giữa VN 2000 và WGS 84 sẽ được giải gián tiếp thông qua mối liên hệ giữa khung ITRF với VN 2000 và WGS 84.

Trang 1

ĐỀ XUẤT GIẢI P HÁP XÁC ĐỊNH BỘ THAM SỐ MỚI

ĐỂ TÍNH CHUYỂN TỌA ĐỘ GIỮA HỆ QUY CHIẾU

VN 2000 VÀ WGS 84

Phạm Thị Hoa, Trịnh Thị Hoài Thu

Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội

Tóm tắt

Tháng 7 năm 2000, Hệ quy chiếu và hệ tọa độ quốc gia VN 2000 được chính thức đưa vào sử dụng, thay thế cho hệ quy chiếu cũ HN 72 Tiếp theo đó, năm 2007,

Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố tham số tính chuyển giữa VN 2000 với hệ tọa

độ quốc tế WGS 84 Tuy nhiên, hiện nay hệ quy chiếu WGS 84 đã được nâng cấp lên phiên bản mới nên cần thiết phải cập nhật lại bộ tham số này Trên cơ sở phân tích các yêu cầu của bài toán tính chuyển tọa độ giữa hai hệ, bài báo đề xuất lựa chọn

hệ quy chiếu trái đất quốc tế ITRS với các triển khai là khung quy chiếu trái đất quốc tế ITRF làm yếu tố trung gian trong bài toán liên kết giữa VN 2000 và WGS

84 Bài toán kết nối giữa VN 2000 và WGS 84 sẽ được giải gián tiếp thông qua mối liên hệ giữa khung ITRF với VN 2000 và WGS 84.

Từ khóa: VN 2000; WGS 84; ITRS; ITRF; Tính chuyển tọa độ

Abstract

The recommendation solution for determining new coordinate transformation parameters between Vietnam geodetic system (VN2000) and world geodetic

system 84 (WGS84)

In July 2000, Hanoi 72 Vietnamese Geodetic Datum was replaced by the Vietnamese Geodetic Datum, namely as VN 2000 as an offi cial geodetic background system in Vietnam Ministry of Natural Resources and Environment of the Socialist Republic of Vietnam has reported the transformation parameters between VN 2000 and WGS 84, which was adopted across Vietnam on January 1, 2007 However, there is a need to estimate a new prameter set because WGS 84 has been updated

In this paper, International Terrestrial Reference Fame (ITRF) is proposed for calculating the transformation parameters to convert coodinates between VN 2000 and WGS 84 The link between the two systems is implemented indirectly via the relationship between ITRF and each system.

Keywords: VN 2000; WGS 84; ITRS; ITRF; The transformation parameters

1 Giới thiệu

Tháng 7 năm 2000, chính phủ Việt

Nam đã quyết định sử dụng hệ quy

chiếu và hệ tọa độ VN 2000 thay thế

cho hệ quy chiếu HN 72 trước đó [2]

VN 2000 là hệ quy chiếu tĩnh do đó tọa

độ không thay đổi theo thời gian Ngược

lại, hệ quy chiếu WGS 84 được thiết lập

năm 1984 có tính động [15] nên tọa độ

của cùng một điểm xét là hàm số của

thời gian Khái niệm về hệ quy chiếu tĩnh như VN 2000 đã được sử dụng phổ biến ở Việt Nam cũng như nhiều quốc gia khác nhau bởi ưu điểm dễ dàng sử dụng và duy trì hơn hệ quy chiếu động Tuy nhiên hệ quy chiếu động có ưu điểm vượt trội là cho phép theo dõi và

mô hình hóa sự thay đổi vị trí điểm xét theo thời gian

Về nguyên tắc toán học, để đảm

Trang 2

bảo yêu cầu độ chính xác cao, bộ tham

số tính chuyển giữa hệ quy chiếu tĩnh và

hệ quy chiếu động không được xem là

hằng số Do đó, đối với việc tính chuyển

tọa độ giữa hai hệ VN 2000 và WGS 84,

mỗi một thời điểm cần có một bộ tham

số tính chuyển tương ứng

Ngày 01 tháng 7 năm 2007, Bộ Tài

nguyên và Môi trường đã công bố bộ

tham số tính chuyển giữa hệ VN 2000

và WGS 84 như sau [1]:

- Tham số dịch chuyển gốc tọa độ:

X = -191,90441429 m;

Y= -39,30318279 m;

Z= -111,45032835 m

- Góc xoay trục tọa độ:

 = -0,00928836”;

= 0,01975479”;

=-0,00427372”

- Hệ số tỷ lệ chiều dài:

k = 1,000000252906278

Bộ tham số này đã được sử dụng

phổ biến từ đó cho đến nay Trong mười

năm qua, hệ quy chiếu WGS 84 đã được

nâng cấp lên phiên bản mới [18] Do đó,

yêu cầu tính lại các tham số tính chuyển

giữa WGS 84 với VN 2000 là hết sức

cần thiết

Thông thường, các tham số tính

chuyển giữa hai hệ quy chiếu được xác

định dựa vào các điểm có tọa độ chính

xác cao trong hai hệ trên cơ sở nguyên

lý số bình phương nhỏ nhất Theo đó,

để xác định các tham số tính chuyển tọa

độ giữa VN 2000 và WGS 84, cần thiết

phải có các điểm có tọa độ chính xác cao

trong cả hai hệ Tại Việt Nam, tọa độ với

độ chính xác cao trong hệ VN 2000 có

thể dễ dàng xác định được Ngược lại,

việc xác định tọa độ với độ chính xác

cao trong hệ WGS 84 khó khả thi [5]

Đây chính là thách thức chủ yếu của bài

toán xác định, cập nhật lại các tham số tính chuyển giữa VN 2000 và WGS 84

Để giải quyết được khó khăn này, chúng tôi đề xuất giải pháp sử dụng hệ quy chiếu thứ ba làm yếu tố trung gian

là ITRS [6] Kết nối giữa VN 2000 và WGS 84 sẽ được thực hiện gián tiếp thông qua mối liên hệ giữa ITRS (cụ thể hóa bằng các khung quy chiếu ITRF) với VN 2000 và WGS 84 Đây được xem là lựa chọn tốt nhất bởi các lý do sẽ phân tích chi tiết trong mục 2

2 Hệ quy chiếu VN 2000, WGS

84 và ITRS

2.1 VN 2000

Trước năm 2000, Việt Nam sử dụng hệ tọa quy chiếu quốc gia Hà Nội

72 (HN 72) Tuy nhiên HN 72 có yếu điểm là:

- Ellipsoid thực dụng chưa được định vị tại Việt Nam

- Thiếu tính thống nhất và độ chính xác không đồng đều

Vì thế, từ những năm 90 của thế kỷ trước, vấn đề thiết lập một hệ quy chiếu mới đảm bảo sự phù hợp và thống nhất cho lãnh thổ Việt Nam đã được đặt ra

Để thống nhất các mạng lưới toạ độ đã

có ở trong nước và thuận lợi cho xu thế hội nhập quốc tế, năm 1996, Tổng cục Địa chính (cũ) đã đo lưới GPS hạng “0” phủ trùm cả nước Trên cơ sở tập hợp

số liệu của các mạng lưới trên toàn lãnh thổ được xây dựng qua nhiều thời kỳ, từ năm 1998 đến 1999, Tổng cục Địa chính

đã triển khai công trình “Xây dựng hệ quy chiếu và hệ tọa độ quốc gia” (VN 2000) [3] Ngày 12/07/2000, VN 2000

đã chính thức được đưa vào sử dụng thay thế cho hệ quy chiếu HN 72 [2]

Hệ tọa độ VN 2000 được thiết lập trên ellipsoid WGS 84 (được định vị tại Việt

Trang 3

Nam Để biết thêm thông tin chi tiết về

VN 2000 có thể tham khảo thêm [3]

2.2 WGS 84

WGS 84 là hệ quy chiếu Trái đất

quy ước, được thiết lập năm 1987 Hệ

WGS 84 được xác định với gốc tọa độ

khá gần với trọng tâm trái đất (xét cả

phần đại dương và khí quyển quanh Trái

đất) [18] Hệ WGS 84 được đảm bảo bởi

khung quy chiếu WGS 84 với các trạm

trong đoạn điều khiển của hệ thống GPS

và một số trạm quan sát của các tổ chức

khác [18]

Hệ tọa độ đề các sử dụng trong WGS 84 có các trục tọa độ như sau [18]:

- Trục OZ hướng về Cực Bắc (thời điểm 1984.0) với sai số cỡ 0.005”;

- Trục OX xác định trên mặt phẳng kinh tuyến gốc (thời điểm 1984.0) với sai số cỡ 0.005”;

- Trục OY tạo với OX, OZ thành một tam diện thuận

Các tham số kích thước và hình dạng Ellipsoid tham chiếu của hệ quy chiếu WGS 84 được cho trong bảng 1

Bảng 1 Các tham số kích thước và hình dạng trong hệ WGS 84 [18]

Hằng số Ký hiệu Đơn vị Giá trị

Kể từ khi thiết lập, hệ WGS 84 đã trải qua 6 lần cập nhật với thông tin chi tiết được cho trong bảng 2

Bảng 2 Độ chính xác các phiên bản trong hệ quy chiếu WGS 84 [20]

STT Phiên bản

Thời điểm thực hiện

Thời điểm tham chiếu

Độ chính xác

vị trí điểm

Lịch vệ tinh quảng bá

Lịch vệ tinh chính xác

Thông tin chi tiết về WGS 84 có trong tài liệu [18]

2.3 Hệ quy chiếu ITRS

Vào năm 1994, các nhà khoa học

thuộc Liên đoàn Trắc địa Quốc tế (IAG)

đã nhận thấy hệ quy chiếu cũng như hệ

toạ độ trái đất phải là một hệ động mới

có thể mô tả được đầy đủ các biến động

của thế giới thực Ý tưở ng hì nh thà nh

hệ quy chiế u quố c tế (ITRS) có tí nh

đế n sự thay đổ i củ a cá c yế u gố c (gố c toạ độ , trụ c toạ độ , ) do hiệ n tượ ng tuế sai, chương độ ng, chuyể n dị ch cự c trá i

đấ t và chuyể n độ ng kiế n tạ o đã thà nh

Trang 4

hiệ n thự c Các thông số liên quan tới

hệ quy chiếu cần phải được xác định

gồ m: điểm gốc, hướng, hệ số tỉ lệ và

thời gian Hiệ n thự c hoá hệ quy chiế u

ITRS tạ i mộ t thờ i điể m cụ thể đượ c gọ i

là khung quy chiếu ITRF ITRF được

thiết lập bởi Cơ quan quố c tế về chuyể n

độ ng quay củ a trá i đấ t và hệ quy chiế u

[17] trên cơ sở kết hợp các tệp tọa độ

các trạm đo (Sets of Station Coordinates

- SSC) và vận tốc được xác định từ

các quan trắc của các phương pháp

trắc địa không gian như VLBI (Very

Long Baseline Interferometry), LLR

(Lunar Laser Ranging), SLR (Satellite

Laser Ranging), GPS (từ năm 1991) và

DORIS (Radiopositioning Integrated by

Satellite, từ 1994) Các trạm SSC được

quan trắc và tính toán liên tục nên toạ độ

và vậ n tố c của chúng biế n thiên theo thờ i

gian và do đó sẽ có nhiề u sả n phẩ m ITRF

khá c nhau, gọ i chung là ITRFxy (XY có

ý nghĩ a về dấ u mố c thờ i gian, toà n bộ

số liệ u từ năm XY trở về trướ c đượ c sử

dụ ng để xá c đị nh ra ITRFxy) Cho đế n

nay đã có các phiên bản khác nhau của

ITRF như ITRF1992 [12], ITRF1996

[11], ITRF1997 [13], ITRF2000 [10],

ITRF2005 [8], ITRF2008 [7] và gần

đây nhất là ITRF2014 [9] Tính chuyển

toạ độ giữa các phiên bản ITRF được

thực hiện dựa trên 14 tham số công bố

trên trang Web “http://itrf.ensg.ign.fr/”

Tổ chứ c dị ch vụ GPS trong nghiên

cứ u đị a độ ng lự c (IGS) do IAG thà nh lậ p

gồ m khoảng 200 cơ quan đo đạc trên thế

giới tham gia đã thiết lập lướ i trắ c đị a

quố c tế IGS gồ m trên 300 trạ m GPS (ban

đầ u 140 điể m) có má y thu đượ c đặ t cố

đị nh, liên tụ c thu tí n hiệ u củ a hệ thố ng

GNSS IGS cung cấp các số liệu nhằm

nâng cao chất lượng ITRF Từ khi bắt

đầu hoạt động, các trung tâm phân tích

của IGS đã sử dụng ITRF để tính toán

quỹ đạo trên một số lưới thành phần

Lị ch vệ tinh chí nh xá c củ a IGS đượ c xá c

đị nh trong hệ thố ng toạ độ ITRF Hiện nay khu vực Châu Á - Thái Bình Dương cũng đã hình thành lưới toạ độ khu vực

mà mỗi nước đều có điểm tham gia mạng lưới Các trị đo của lưới đều được chỉnh

lý về lưới IGS và hệ thống toạ độ ITRF ITRF được coi là tiêu chuẩn chung nhằm đảm bảo sự tích hợp giữa các hệ thống thông tin không gian vì các lý do sau đây:

- Hiện nay, hầu hết các hệ tọa độ toàn cầu và khu vực đều tương thích hoặc có mối liên hệ với ITRF [6]

- Nhiều quốc gia đang trên tiến trình hiện đại hóa hệ tọa độ quốc gia theo hướng tương thích với ITRF [6]

- Các hệ thống định vị vệ tinh toàn cầu đều sử dụng hệ tọa độ tương thích với ITRF [6]

- Các trạm của mạng lưới GNSS trên toàn thế giới dễ dàng có được tọa

độ trong khung ITRF trên cơ sở sử dụng các sản phẩm của IGS [6]

3 Đề xuất phương pháp xác định

bộ tham số mới để tính chuyển tọa độ giữa VN 2000 và WGS 84

Do khó khăn trong việc xác định tọa độ WGS 84 với độ chính xác cao cho các điểm trên phạm vi lãnh thổ và lãnh hải Việt Nam [5] nên bài báo đề xuất giải bài toán tính chuyển tọa độ giữa VN 2000 và WGS 84 trên cơ sở sử dụng ITRF làm yếu tố trung gian Theo

đó, mối liên hệ giữa VN 2000 và WGS

84 được xác định theo sơ đồ:

VN2000 → WGS84 = (VN2000 →

ITRF) + (ITRF → WGS84) Theo sơ đồ trên, để xác định các tham số tính chuyển giữa VN 2000 và

WGS 84, cần thực hiện ba bước:

Trang 5

- Bước 1: Xác định các tham số

tính chuyển giữa hệ VN 2000 và ITRF

- Bước 2: Xác định các tham số

tính chuyển giữa ITRF và WGS 84

- Bước 3: Xác định các tham số

tính chuyển giữa VN 2000 và WGS 84

dựa trên hai bộ tham số được xác định

trong bước 1 và bước 2

Các tham số tính chuyển giữa

ITRF và WGS 84 đã được công bố

trên trang Web [https://confl uence

q p s n l / p a g e s / v i e w p a g e a c t i o n ?

pageId=29855173#WorldGeodetic_

S y s t e m 1 9 8 4 ( W G S 8 4 ) -

WGS84andITRF] Do đó, bài báo này chủ

yếu trình bày giải pháp xác định các tham

số tính chuyển giữa VN 2000 và ITRF

Tọa độ trong hệ VN 2000 độc lập

với thời gian Ngược lại, tọa độ ITRF

phụ thuộc vào thời gian Do đó để tính

chuyển tọa độ giữa hai hệ cần sử dụng 14

tham số tính chuyển, bao gồm 7 tham số gốc và 7 tham số vận tốc tương ứng [15] Cách tiếp cận này đang được nhiều nơi trên thế giới áp dụng như Châu âu [19],

Úc [15, 16], Mỹ, Canada, Mexico [19] Công thức chung để chuyển đổi tọa

độ từ khung ITRF sang VN 2000, được biểu diễn theo phương trình sau:

) 1 ( )

2

Trong đó, X(2) là véc tơ tọa độ trong

hệ VN 2000, X(1) là véc tơ tọa độ trong ITRF; T là véc tơ chuyển dịch gốc tọa

độ, D là hệ số tỉ lệ dài, R là ma trận góc xoay (biểu diễn theo radian) [15]:

1 1 1

1 2

1 3

2 3

R R

R R

R R

R T

(2)

Vì D là đại lượng nhỏ nên có thể bỏ qua số hạng bậc 2, do đó (1) có thể biểu diễn thành:

(3)

Bảy tham số chuyển đổi T1, T2, T3, R1, R2, R3 và D có đặc tính biến thiên theo thời gian, do đó phương trình có thể biểu diễn dưới dạng [15]:

(4)

Trong đó t là thời điểm tính, t0 là thời điểm ban đầu (thời điểm 7 tham số chuyển đổi gốc được áp dụng) và:

Tương ứng tại hai thời điểm khác

nhau, sẽ có hai phương trình dạng (1)

Trừ hai phương trình và bỏ qua số hạng

bậc cao, ta sẽ có [15]:

(5)

Trong đó tương ứng là vận tốc của X2,X1,T,D,R

Vì D và R rất nhỏ, nên phương trình (5) có thể viết lại thành [15]:

(6)

Trang 6

Mười bốn tham số chuyển đổi tọa

độ được xác định dựa trên phương pháp

số bình phương nhỏ nhất, trong đó yêu

cầu cần có một số điểm có tọa độ trong

cả hai hệ Các phương trình (1) và (6)

được viết lại thành [15]:

(7) (8) Với:

T1 ,T2 ,T3 ,D,R1 ,R2 ,R3

Phương pháp số bình phương nhỏ

nhất có:

) ( ) (A P A 1A T P x X2 X1

x

(10) Trong đó PX và Pv tương ứng là

các ma trận trọng số của tọa độ và vận

tốc trạm

Sai số trung phương trọng số đơn

vị được xác định theo công thức [15]:

, / ) )) ( (

)) (

1 2 1

1 2

x

T

X

Trong đó n là số bậc tự do

Để xác định được mối quan hệ

giữa VN 2000 và ITRF theo thuật toán

trên cần có ít nhất 05 điểm trên phạm

vi lãnh thổ Việt Nam có tọa chính xác

cao trong cả hai hệ Xác định tọa độ

trong hệ VN 2000 với độ chính xác cao

trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam là bài

toán không quá phức tạp Tuy nhiên,

để có tọa độ trong ITRF, cần có các

điểm đo GNSS với độ chính xác cao và

xử lý với quy trình chặt chẽ Khá c vớ i

công tá c xử lý số liệ u GNSS củ a nhiệ m

vụ đo đạ c điề u tra cơ bả n thườ ng đượ c

thự c hiệ n bằ ng phầ n mề m thương mạ i,

số liệu đo GNSS trong bài toán này

cần đượ c xử lý bằ ng phầ n mề m chuyên

dụ ng cho mụ c đí ch nghiên cứ u khoa

họ c BERNESE vì đây là một trong bốn

phần mềm có độ ổn định và đã được

kiểm nghiệm bởi nhiều nhà khoa học

[4, 14, 16] Lướ i GNSS đượ c xử lý trên

cơ sở kế t nố i vớ i cá c trạ m của trong mạng lưới IGS trong khu vự c

Với ít nhất năm điểm song trùng (có tọa độ trong cả hai hệ) sẽ xác định được mối liên hệ giữa VN 2000 và ITRF Độ chính xác đạt được của các tham số tính chuyển tọa độ phụ thuộc vào độ chính xác của tọa độ của các điểm song trùng

và số lượng cùng với sự phân bố các điểm song trùng Số lượng điểm song trùng càng lớn thì độ chính xác của kết quả xác định các tham số càng cao Sau khi xác định được các tham số cần tiến hành kiểm tra, đánh giá chất lượng dựa vào các điểm kiểm tra theo các bước sau:

- Bước 1: Xác định các trạm có tọa

độ trong cả hai hệ và vận tốc trong ITRF;

- Bước 2: Xác định các tham số tính chuyển tương ứng tại thời điểm tính chuyển;

- Bước 3: Đánh giá độ chính xác của các tham số trên cơ sở so sánh tọa độ tính chuyển được so với tọa độ đã biết Sau khi xác định được mối quan

hệ giữa VN 2000 và ITRF, mối quan hệ giữa VN 2000 và WGS 84 sẽ được xác lập trên cơ sở coi ITRF là yếu tố trung gian Đây là cơ sở khoa học cho việc xác định bộ tham số mới để tính chuyển giữa VN 2000 và WGS 84 Kết quả tính toán thực nghiệm sẽ được tập thể tác giả công bố trong các bài báo tiếp theo

4 Kết luận

Sau mười năm công bố, bộ tham số tính chuyển tọa độ giữa WGS 84 và VN

2000 nên được cập nhật lại bởi WGS 84

đã được nâng cấp lên phiên bản mới

Do việc xác định tọa độ WGS 84 với chính xác cao không dễ dàng thực hiện trong điều kiện Việt Nam nên bài báo đã

đề xuất giải pháp sử dụng hệ quy chiếu ITRS (cụ thể hóa bằng các khung quy chiếu ITRF) làm yếu tố trung gian Bộ tham số tính chuyển giữa VN 2000 và WGS 84 được xác định gián tiếp thông qua xác định các bộ tham số tính chuyển giữa ITRF với từng hệ

Trang 7

Bài báo tập trung phân tích nguyên

nhân và đề xuất giải pháp khoa học để

xác định bộ tham số mới để tính chuyển

giữa VN 2000 và WGS 84 Trong các

công trình tiếp theo, tập thể tác giả sẽ

công bố kết quả tính toán thực nghiệm

Lờ i cả m ơn: Tậ p thể tá c giả xin

chân thà nh cả m ơn sự hỗ trợ nghiên cứ u

củ a Đề tà i khoa họ c cấ p cơ sở:“Nghiên

cứ u kết nối tọa độ theo quan điểm động

giữa các hệ quy chiếu trắc địa”, mã số

13.01.17.O.06 của Trường Đại học Tài

nguyên và Môi trường Hà Nội

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Quyết định số 05/2007/QĐ-BTNMT,

ngày 27 tháng 2 năm 2007 về sử dụng hệ thống

tham số tính chuyển giữa hệ tọa độ quốc tế

WGS84 và hệ tọa độ quốc gia VN 2000”.

[2] Quyết định số 83/2000/QĐ-TTg,

ngày 12 tháng 7 năm 2000 của Thủ tướng

chính phủ về sử dụng hệ quy chiếu và hệ tọa

độ quốc gia Việt Nam.

[3] Trần Bạch Giang (2003) Giới thiệu

hệ quy chiếu và hệ tọa độ quốc gia Việt Nam.

[4] Vy Quốc Hải, Kang Joon Mook

(2001) Some results of examination on

duration of measuring session by the Static

GPS method Journal of Geology, series B,

No 17-18/2001, pp.111-120, Hà Nội.

[5] Don Abbey (1994) WGS84, ITRF

& GDA94: What’s the difference?.

[6] Altamimi Z., (2012) Role and

importance of the International Terrestrial

Reference Frame for sustainable development

https://unstats.un.org/unsd/geoinfo/RCC/

docs/rccap19/Side%20events/IAG-GGOS-ITRF-report2UNRRC-10Oct2012.pdf.

[7] Altamimi Z., Collilieux X.,

Métivier L (2011) ITRF2008: an improved

solution of the International Terrestrial

Reference Frame Journal of Geodesy,

85(8):457-473.

[8] Altamimi Z., Collilieux X.,

Legrand J., Garayt B and Boucher C

(2007) ITRF2005: A new release of the

International Terrestrial Reference Frame

based on time series of station positions

and Earth Orientation Parameters Journal

of Geophysical Research, 112, B09401.

[9] Altamimi Z., Rebischung R.,

Métivier L., Collilieux X (2016) ITRF2014:

A new release of the International Terrestrial Reference Frame modeling nonlinear station motions, Journal of Geophysical Research Journal of Geophysical Research,

121 (8), 6109–6131.

[10] Altamimi Z., Sillard P., and

Boucher C (2002) ITRF2000: A new

release of the International Terrestrial Reference Frame for Earth science application J Geophys Res.

[11] Boucher C., Altamimi Z., P and

Sillard (1998) Results and analysis of the

ITRF96, Technical Note 24 Central Bureau of

the IERS, Observatoire de Paris, Paris, France [12] Boucher C., Altamimi Z.,

and Duhem L (1993) ITRF 92 and its

associated velocity fi eld, Technical Note 15

Central Bureau of the IERS, Observatoire

de Paris, Paris, France.

[13] Boucher C., Altamimi Z.,

Sillard P (1999) The 1997 International

Terrestrial Reference Frame (ITRF97)

Technical Note 27 Central Bureau of the IERS, Observatoire de Paris, Paris, France [14] Dach R., Hugentober U., Walser

P (2008) Bernese GPS Software Version 5.0

Astronomical Institute, University of Bern.

[15] Graeme Blick et al (2014)

Reference Frames in Practice Manual

Commission 5 Working Group 5.2 Reference Frames, FIG Guide 2014.

[16] Gurtner G., Estey L (2009)

RINEX: The Receiver Independent Exchange Format Version 3.01 www.ngs.

noaa.gov/CORS/”.

[17] IERS Conventions (2010) Gérard

Petit and Brian Luzum (eds.) (IERS Technical Note; 36) Frankfurt am Main: Verlag des Bundesamts für Kartographie und Geodäsie,

2010 179 pp., ISBN 3-89888-989-6”.

Geospatial-Intelligence Agency (NGA) (2014) World

geodetic System 1984 Its Defi nition and Relationships with Local Geodetic Systems.

[19] Toma´s Soler, Richard A Snay

(2004) Transforming Positions and Velocities

between the International Terrestrial Reference Frame of 2000 and North American Datum of 1983 Journal of Surveying

engineering © Asce, 130, No.2, 49-55.

BBT nhận bài: 22/01/2018; Phản biện

xong: 14/02/2018

Ngày đăng: 10/04/2021, 09:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w