1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Luận văn thạc sĩ phát triển tổ hợp tác và hợp tác xã trong sản xuất kinh doanh chè tại TP thái nguyên

125 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 125
Dung lượng 360,67 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

: Tổ hợp tác: Hợp tác xã: Uỷ ban nhân dân: Thực hành sản xuất nông nghiệp tốt tại Việt Nam: Thực hành nông nghiệp tốt toàn cầu: Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc: Chươn

Trang 1

NGUYỄN THỊ VÂN

PHÁT TRIỂN TỔ HỢP TÁC VÀ HỢP TÁC XÃ TRONG SẢN XUẤT KINH DOANH CHÈ TẠI

THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG

Ngành: QUẢN LÝ KINH TẾ

THÁI NGUYÊN - 2018

Trang 2

NGUYỄN THỊ VÂN

PHÁT TRIỂN TỔ HỢP TÁC VÀ HỢP TÁC XÃ TRONG SẢN XUẤT KINH DOANH CHÈ TẠI

THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN

Ngành: QUẢN LÝ KINH TẾ

Mã số: 8.34.04.10

LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS TRẦN CHÍ THIỆN

THÁI NGUYÊN - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ “Phát triển tổ hợp tác và hợp tác xã trong sản xuất kinh doanh chè tại Thành phố Thái Nguyên” là công trình nghiên cứu

độc lập của riêng tôi, không sao chép bất kỳ một công trình nghiên cứu nào của cáctác giả khác Các số liệu, kết quả nêu trong đề tài này là trung thực, các tài liệu thamkhảo có nguồn gốc trích dẫn rõ ràng

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Vân

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ, động viên khích lệcủa nhiều tổ chức, cá nhân, của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình

Tôi xin bày lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới:

PGS.TS Trần Chí Thiện - Người hướng dẫn khoa học đã tận tình chỉ bảo,hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu trường Đại học Kinh tế và Quản trịKinh doanh, Bộ phận Quản lý Đào tạo Sau Đại học - Phòng Đào tạo, các Thầy Cô giáoKhoa Quản lý - Luật Kinh tế thuộc Trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh đãtạo điều kiện giúp đỡ tôi về mọi mặt trong suốt quá trình hoàn thành luận văn

Tôi xin gửi lời cảm ơn tới Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn TỉnhThái Nguyên, Cục Thống kê tỉnh Thái Nguyên, Sở Khoa học và Công nghệ TỉnhThái Nguyên, UBND, Liên minh Hợp tác xã Thái Nguyên, các cán bộ của Tổ hợptác, Hợp tác xã và các hộ dân thuộc Thành phố Thái Nguyên đã tạo điều kiện chotôi tiến hành nghiên cứu

Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, khích

lệ, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này

Xin trân trọng cảm ơn!

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Vân

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC BẢNG, ĐỒ THỊ vii

MỞ ĐẦU 1

1 Sự cần thiết nghiên cứu đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Đối tượng nghiên cứu 3

4 Phạm vi nghiên cứu 3

5 Ý nghĩa khoa học và đóng góp của luận văn 3

6 Kết cấu của luận văn 4

Chương 1 LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN TỔ HỢP TÁC VÀ HỢP TÁC XÃ TRONG SẢN XUẤT KINH DOANH CHÈ 5

1.1 Lý luận về phát triển tổ hợp tác và hợp tác xã 5

1.1.1 Lý luận về tổ hợp tác và hợp tác xã 5

1.1.2 Khái niệm và vai trò của phát triển tổ hợp tác và hợp tác xã trong sản xuất kinh doanh chè 13

1.1.3 Nội dung phát triển tổ hợp tác và hợp tác xã trong sản xuất kinh doanh chè.19 1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển tổ hợp tác và hợp tác xã trong sản xuất kinh doanh chè 22

1.2 Kinh nghiệm quốc tế và trong nước về phát triển hợp tác xã trong sản xuất kinh doanh 25

1.2.1 Kinh nghiệm quốc tế về phát triển tổ hợp tác và hợp tác xã trong sản xuất kinh doanh trên thế giới 25

1.2.2 Kinh nghiệm về phát triển tổ hợp tác và hợp tác xã trong sản xuất kinh ở Việt Nam 29

1.2.3 Những bài học kinh nghiệm đối với TP Thái Nguyên 35

Trang 6

Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 39

2.1 Câu hỏi nghiên cứu 39

2.2 Phương pháp tiếp cận 39

2.2.1 Phương pháp tiếp cận hệ thống 39

2.2.2 Phương pháp tiếp cận từ dưới lên 39

2.2.3 Phương pháp tiếp cận từ trên xuống 39

2.2.4 Phương pháp tiếp cận liên kết theo chiều ngang 39

2.3 Phương pháp nghiên cứu 40

2.3.1 Phương pháp thu thập thông tin 40

2.3.2 Phương pháp tổng hợp số liệu, xử lý số liệu 41

2.3.3 Phương pháp phân tích thông tin 41

2.4 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu sự phát triển tổ hợp tác, hợp tác xã trong sản xuất kinh doanh chè tại TP Thái Nguyên 45

2.4.1 Nhóm các chỉ tiêu phản ánh sự phát triển của tổ hợp tác, hợp tác xã 45

2.4.2 Các chỉ tiêu phản ánh kết quả kinh doanh của tổ hợp tác, hợp tác xã 45

2.4.3 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh của tổ hợp tác, hợp tác xã 46

2.4.4 Các chỉ tiêu phản ánh các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển tổ hợp tác, hợp tác xã trong sản xuất kinh doanh chè tại TP Thái Nguyên 48

Chương 3 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN TỔ HỢP TÁC VÀ HỢP TÁC TRONG SẢN XUẤT KINH DOANH CHÈ TẠI TP THÁI NGUYÊN 49

3.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của thành phố Thái Nguyên 49

3.1.1 Đặc điểm tự nhiên 49

3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội của TP Thái Nguyên 52

3.1.3 Đặc điểm kinh tế - xã hội của các vùng chè TP Thái Nguyên 58

3.2 Tình hình phát triển tổ hợp tác và hợp tác xã trong sản xuất kinh doanh chè tại TP Thái Nguyên 59

3.2.1 Khái quát quá trình phát triển tổ hợp tác, hợp tác xã trong sản xuất kinh doanh chè tại Thái Nguyên 59

3.2.2 Sự phát triển của tổ hợp tác, hợp tác xã trong sản xuất kinh doanh chè được điều tra tại TP Thái Nguyên 62

Trang 7

3.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất, kinh doanh của tổ hợp

tác, HTX 77

3.4 Đánh giá chung về phát triển tổ hợp tác và hợp tác xã trong sản xuất kinh doanh chè tại TP Thái Nguyên 80

3.4.1 Những thành tựu đạt được 80

3.4.2 Những khó khăn, hạn chế 82

3.4.3 Nguyên nhân của những hạn chế 83

Chương 4 GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH PHÁT TRIỂN TỔ HỢP TÁC VÀ HỢP TÁC XÃ TRONG SẢN XUẤT KINH DOANH CHÈ TẠI TP THÁI NGUYÊN 85

4.1 Quan điểm, định hướng và mục tiêu về phát triển tổ hợp tác, hợp tác xă trong sản xuất kinh doanh chè tại TP Thái Nguyên 85

4.1.1 Quan điểm, định hướng về phát triển tổ hợp tác, hợp tác xã chè tại TP Thái Nguyên 85

4.1.2 Mục tiêu cụ thể 87

4.1.3 Mục tiêu phát triển tổ hợp tác, hợp tác xã trong thời gian tới 88

4.2 Giải pháp để phát triển tổ hợp tác và hợp tác xã trong sản xuất kinh doanh chè tại TP Thái Nguyên 89

4.2.1 Giải pháp về tuyên truyền, vận động cán bộ và các hộ sản xuất kinh doanh chè tham gia phát triển HTX 89

4.2.2 Tăng cường sự chỉ đạo của Nhà nước đối với tổ hợp tác, hợp tác xã 89

4.2.3 Giải pháp về phát triển thị trường tiêu thụ 90

4.2.4 Giải pháp quản lý tài chính hợp tác xã tại các vùng chè 91

4.2.5 Giải pháp về đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn cho cán bộ quản lý THT, HTX, cán bộ chuyên môn nghiệp vụ và các thành viên, tổ viên THT, hợp tác xã tại các vùng chè trên địa bàn Thành phố 91

4.3 Một số đề xuất và kiến nghị 92

4.3.1 Đối với trung ương 92

4.3.2 Đối với địa phương 92

KẾT LUẬN 96

TÀI LIỆU THAM KHẢO 98

PHIẾU ĐIỀU TRA 100

Trang 8

: Tổ hợp tác: Hợp tác xã: Uỷ ban nhân dân: Thực hành sản xuất nông nghiệp tốt tại Việt Nam: Thực hành nông nghiệp tốt toàn cầu

: Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc: Chương trình phát triển bền vững cho Cà phê, Cacao

và Chè, hợp tác cùng các thương hiệu hiện có: Chi phí nguyên liệu

: Thể dục thể thao: Trung cấp, Cao đẳng: Đại học

: Bình quân: Khoa học, Công nghệ: Sản xuất kinh doanh

Trang 9

DANH MỤC BẢNG, ĐỒ THỊ Bảng:

Bảng 2.1 Mô tả tên biến sử dụng trong mô hình hàm sản xuất CD 43Bảng 3.1 Bảng tổng hợp diện tích chè của các xã thuộc TP Thái Nguyên 58Bảng 3.2 Số lượng THT, HTX chè trên địa bàn TP Thái Nguyên 62Biểu 3.3 Số lượng và trình độ của các hộ thành viên (xã viên), tổ viên tham

gia THT, HTX năm 2016 63Bảng 3.4 Diện tích chè của THT, HTX trên địa bàn TP Thái Nguyên 64Bảng 3.5 Số lượng và giá trị tài sản sử dụng cho sản xuất chè của THT,

HTX chè TP Thái Nguyên 66Bảng 3.6 Tình hình sử dụng lao động tại các THT, HTX chè năm 2016 67Bảng 3.7 Quy mô vốn của hộ thành viên tham gia THT, HTX trên địa bàn

TP Thái Nguyên 68Biểu 3.8 Năng suất chè búp tươi của hộ tham gia THT, HTX 69Biểu 3.9 Sản lượng chè búp tươi của THT, HTX trên địa bàn TP Thái Nguyên

70Bảng 3.10 Một số chỉ tiêu phản ánh kết quả SXKD của THT, HTX chè của

TP Thái Nguyên năm 201671Bảng 3.11 Một số chỉ tiêu khác phản ánh kết quả sản xuất kinh doanh của các

hộ tổ viên THT và hộ thành viên HTX chè ở TP Thái Nguyên (%) 73Bảng 3.12 Một số chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sản xuất kinh doanh của THT,

HTX chè trên địa bàn Thành phố Thái Nguyên 75Bảng 3.13 Kết quả chạy mô hình hàm sản xuất COBB-DOUGLAS 78

Đồ thị:

Đồ thị 3.1 Diện tích chè theo giống chè của các tổ viên THT và các thành

viên HTX 65

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết nghiên cứu đề tài

Nước ta đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp,mang nặng tính tự cung tự cấp Trong nông nghiệp, các đơn vị kinh tế phần lớn làcác hộ nông dân nhỏ lẻ, sản xuất manh mún, năng lực cạnh tranh yếu kém, nhất làtrong bối cảnh mở cửa và hội nhập quốc tế Phát triển tổ hợp tác, hợp tác xã củanhững người sản xuất kinh doanh riêng lẻ là xu thế tất yếu khách quan không chỉnhằm mục tiêu nâng cao hiệu quả kinh tế và sức cạnh tranh trên thị trường cho sảnxuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ mà thông qua hợp tác xã, nhànước còn có thể dễ dàng thực hiện các chính sách hỗ trợ cho nông nghiệp, nôngthôn thực hiện giảm nghèo, công bằng và tiến bộ xã hội, doanh nghiệp còn có thể dễdàng hợp tác với người sản xuất nhỏ để nâng cao chất lượng sản phẩm, hiệu quảkinh tế và khả năng cạnh tranh của sản phẩm

Từ khi Luật Hợp tác xã ra đời, đặc biệt là sự đổi mới của Luật Hợp tác xã năm

2012, với hệ thống hành lang pháp lý rõ ràng hơn trước, đã làm cho bản chất hợptác xã thay đổi theo hướng tích cực, nhờ đó tạo điều kiện cho các loại hình hợp tác

xã ngày càng phát triển Xuất phát từ đặc thù của từng địa phương, sự vận dụngsáng tạo đường lối đổi mới các tổ hợp tác, hợp tác xã của chính quyền các cấp, việcchuyển đổi các tổ hợp tác, hợp tác xã đã diễn ra hết sức đa dạng và phong phú.Đáng chú ý là đã xuất hiện nhiều mô hình hợp tác xã hoạt động rất hiệu quả, đápứng nguyện vọng và lợi ích của các thành viên

Ở các vùng chè trong cả nước, nhất là các vùng chè trên địa bàn tỉnh TháiNguyên, do đặc trưng của sản phẩm chè mang tính hàng hóa rất cao, để đáp ứng cácđòi hỏi ngày càng khắt khe của thị trường trong nước và quốc tế, các tổ hợp tác, hợptác xã sản xuất, chế biến, tiêu thụ và dịch vụ đã ra đời và phát huy ngày càng tốt hơnvai trò của mình Các tổ hợp tác, hợp tác xã đã trở thành nòng cốt trong xây dựngnông thôn mới ở các xã vùng chè Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động, các tổ hợptác, hợp tác xã ở các vùng chè tỉnh Thái Nguyên còn bộc lộ nhiều hạn chế, bất cậpnhư: quy mô còn nhỏ, cơ sở vật chất thiếu thốn, trình độ kỹ thuật, máy móc thiết bịcòn lạc hậu, nguồn vốn còn hạn hẹp, sản phẩm hàng hóa chưa phong phú đa

Trang 11

dạng, chất lượng chưa cao, chưa thực sự đảm bảo an toàn, vệ sinh thực phẩm.Những hạn chế, yếu kém đó tồn tại do ảnh hưởng của nhiều nguyên nhân, trong đó

có cả nguyên nhân khách quan và chủ quan đã tác động đến sự phát triển của các tổhợp tác, hợp tác xã

Việc tìm ra nguyên nhân cụ thể ảnh hưởng đến sự phát triển của THT, HTX vàcách khắc phục để THT và HTX ngày càng phát triển là một yêu cầu cấp thiết hiệnnay THT và HTX phát triển sẽ tác động đến sự phát triển cả về đời sống kinh tế và

xã hội của người dân trên địa bàn

Đã có một số công trình nghiên cứu về hiệu quả kinh tế hợp tác xã trên địa bàntỉnh Thái Nguyên và cũng có một số công trình đưa ra giải pháp hỗ trợ phát triển tổ hợptác, hợp tác xã của huyện Đồng Hỷ; nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu về pháttriển tổ hợp tác và hợp tác xã trong sản xuất kinh doanh chè tại TP Thái Nguyên

Vì vậy, “Phát triển tổ hợp tác và hợp tác xã trong sản xuất kinh doanh chè

tại TP Thái Nguyên” là một đề tài Luận văn Thạc sỹ có tính cấp thiết cao, có ý

nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu chung

Cung cấp những bằng chứng khoa học về hiệu quả của phát triển THT, HTXtrong sản xuất kinh doanh chè trên địa bàn TP Thái Nguyên để THT, HTX ngàycàng được quan tâm và phát triển bền vững

- Tìm ra những hạn chế và nguyên nhân trong phát triển tổ hợp tác và hợp tác

xã trong sản xuất kinh doanh chè tại TP Thái Nguyên

- Đề xuất giải pháp nhằm phát triển tổ hợp tác và hợp tác xã trong sản xuất kinh doanh tại TP Thái Nguyên

Trang 12

3 Đối tượng nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Các vấn đề liên quan đến phát triển tổ hợp tác, hợp tác xã tại các hộ thànhviên, tổ viên trong sản xuất kinh doanh chè tại TP Thái Nguyên

3.2 Đối tượng thu thập thông tin

Đối tượng thu thập thông tin của đề tài nghiên cứu là các tổ hợp tác, hợp tác

xã, các tổ viên tổ hợp tác, các thành viên hợp tác xã tại các vùng chè trên địa bàn TPThái Nguyên

4 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu tại các tổ hợp tác, hợp tác xã, các hộ sản xuất kinh doanhchè trên địa bàn TP Thái Nguyên (chưa bao gồm những xã mới sát nhập từ huyệnPhú Lương và Đồng Hỷ)

Số liệu thứ cấp: thu thập trong giai đoạn 2014 - 2017

Số liệu sơ cấp: Thông tin về tình hình sản xuất kinh doanh chè của THT, HTX trong sản xuất kinh doanh chè tại TP Thái Nguyên giai đoạn năm 2014 - 2016

Đề xuất các phương hướng, nhiệm vụ đến năm 2025

Đề tài nghiên cứu thực trạng và giải pháp phát triển tổ hợp tác và hợp tác xã trong sản xuất kinh doanh chè tại TP Thái Nguyên

5 Ý nghĩa khoa học và đóng góp của luận văn

5.1 Ý nghĩa khoa học của luận văn

Nghiên cứu góp phần xây dựng

cơ HTX trong sản xuất kinh doanh chè

ở chung theo hướng bền vững

sở khoa học cho định hướng phát triển THT,

TP Thái Nguyên nói riêng và Việt Nam nói

Kết quả nghiên cứu là những bằng chứng khoa học để khẳng định hiệu quảkinh tế xã hội cũng như sự cần thiết phát triển THT, HTX trong sản xuất kinh doanhchè tại TP Thái Nguyên

Trang 13

5.2 Những đóng góp của luận văn

- Nghiên cứu đã góp phần hệ thống hoá một số lý luận cơ bản về phát triển tổhợp tác và hợp tác xã trong sản xuất kinh doanh chè gồm một số khái niệm cơ bản,vai trò của THT, HTX; nội dung phát triển THT, HTX, và các nhân tố ảnh hưởngđến phát triển THT, HTX trong sản xuất kinh doanh chè; có chú trọng đến tính đặcthù của ngành chè

- Luận văn đã phân tích rõ tình hình phát triển THT, HTX chè ở Thành phố TháiNguyên, hiệu quả kinh doanh của THT, HTX chè; phân tích tác động của một số nhântố ảnh hưởng chủ yếu đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của các THT, HTX

- Một số giải pháp đề xuất nhằm tiếp tục phát triển tổ hợp tác, hợp tác xãtrong sản xuất kinh doanh chè tại TP Thái Nguyên đã được đề xuất, làm căn cứ cho

địa phương trong công tác quản lý sự phát triển của kinh tế tập thể trong sản xuất,kinh doanh chè trên địa bàn, góp phần đưa cây chè thực sự là cây làm giầu chủ lựctrên địa bàn

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, nội dung của luận văn được kết cấuthành bốn chương:

Chương 1: Lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về phát triển tổ hợp tác và hợp

tác xã trong sản xuất kinh doanh chè

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu.

Chương 3: Thực trạng phát triển tổ hợp tác và hợp tác xã trong sản xuất kinh

doanh chè tại TP Thái Nguyên

Chương 4: Giải pháp nhằm đẩy mạnh phát triển tổ hợp tác và hợp tác xã trong

sản xuất kinh doanh chè tại TP Thái Nguyên

Trang 14

để đáp ứng được nhu cầu này đòi hỏi sản phẩm làm ra phải đa dạng, chất lượng cao,giá cả hợp lý Mà người quyết định giá cả thường là những người có hoạt động sảnxuất kinh doanh với quy mô rộng lớn, điều này sẽ gây thiệt thòi cho những người cóquy mô hoạt động nhỏ lẻ (theo nền kinh tế thị trường thì những người này là ngườichấp nhận giá) Với quy mô nhỏ lẻ của các hộ gia đình, điều này sẽ gây thiệt hại vềlợi ích kinh tế, đòi hỏi phải có sự hợp tác trong các khâu của quá trình sản xuất cũngnhư phục vụ sản xuất Chính lẽ đó các hộ gia đình cần phải hợp tác với nhau để tạo

ra năng lực sản xuất lớn hơn, để mang lại hiệu quả kinh tế chung cao hơn

Đại đa số người nông dân, vì nhiều lý do khách quan và chủ quan, không thểhoặc không đủ khả năng tham gia cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường đầy biếnđộng Chính vì vậy, để có thể tồn tại và phát triển được, nông dân chúng ta cần liên kết,hợp tác với nhau dựa trên những nguyên tắc hoàn toàn tự nguyện, bình đẳng, tự chủ vàcùng có lợi Trong quá trình phát triển của các hình thức hợp tác, từ hình thức hợp tácmang tính ngẫu nhiên, thời vụ đến việc hình thành sự liên kết giữa người sản xuất vớingười phân phối, hay dựa trên cơ sở chuyên môn hoá và phân công lao động ngày càngcao mà có sự liên kết, hợp tác giữa các khâu của quá trình sản xuất Qua đó sẽ tiết kiệmđược rất nhiều chi phí sản xuất, thời gian, công sức của người lao động Hơn nữa, khinền kinh tế ngày càng chuyên môn hóa cao thì kinh tế hộ ngày càng gặp nhiều khókhăn, nhất là trong sản xuất nông nghiệp Để giải quyết những khó khăn trên thì các hộkinh tế phải hợp tác với nhau và cũng chính lúc này tổ hợp tác ra đời

Trang 15

Theo nhóm chuyên gia Socencoop phát triển với sự hỗ trợ kỹ thuật và tàichính của Chính phủ Australia và Quỹ Châu Á thì “ Tổ hợp tác được hình thành trên

cơ sở hợp đồng hợp tác có chứng thực của ủy ban nhân dân phường, xã, thị trấn, của

từ ba cá nhân trở lên cùng đóng góp tài sản, công sức để thực hiện những công việcnhất định, cùng hưởng lợi và cùng chịu trách nhiệm là chủ thể trong mối quan hệdân sự”

Theo Bộ luật dân sự 2005 thì Tổ hợp tác là chủ thể trong quan hệ dân sựđược hình thành trên cơ sở hợp đồng hợp tác có chứng thực của ủy ban nhân dâncấp cơ sở (xã, phường, thị trấn) giữa ba cá nhân trở lên, cùng góp tài sản, công sức

để thực hiện những công việc nhất định, cùng hưởng lợi và chịu trách nhiệm Tổhợp tác là chủ thể của quan hệ dân sự trong những hoạt động đó (Điều 120 - Bộ luậtdân sự)

Điều 1 Nghị định 151/2007 quy định: “Nghị định này quy định về tổ chức vàhoạt động của tổ hợp tác được hình thành trên cơ sở hợp đồng hợp tác có chứngthực của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là Ủy ban nhândân cấp xã) của từ ba cá nhân trở lên, cùng đóng góp tài sản, công sức để thực hiệnnhững công việc nhất định, cùng hưởng lợi và cùng chịu trách nhiệm”

Bộ luật dân sự và Nghị định 151/2007/NĐ-CP đều không đưa ra khái niệm tổhợp tác mà chỉ đưa ra các tiêu chí, điều kiện để trở thành tổ hợp tác: Khi 3 cá nhântrở lên cùng đóng góp tài sản, công sức để thực hiện những công việc nhất định,cùng hưởng lợi, cùng chịu trách nhiệm và việc hợp tác được xây dựng trên cơ sởhợp đồng hợp tác có chứng thực của UBND cấp, xã phường thị trấn Vậy chúng ta

có thể hiểu khái quát:

Vậy, tổ hợp tác là một hình thức kinh tế hợp tác phổ biến ở Việt Nam, baogồm tối thiểu ba cá nhân có điều kiện sản xuất, kinh doanh tương đồng, cùng nhucầu, phương hướng sản xuất hợp tác với nhau để phát triển sản xuất kinh doanh trên

cơ sở hợp đồng hợp tác được Ủy ban nhân dân cấp xã, phường, thị trấn chứng thực.Các cá nhân trong tổ hợp tác cùng đóng góp tài sản, công sức để thực hiện nhữngcông việc nhất định, cùng hưởng lợi và cùng chịu trách nhiệm Tổ chức và hoạtđộng của tổ hợp tác dựa trên nguyên tắc sau: tự nguyện, bình đẳng, dân chủ và cùng

Trang 16

có lợi; thống nhất các vấn đề liên quan thông qua biểu quyết theo đa số; được tự chủtài chính, tự trang trải các chi phí hoạt động và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của

tổ và các tổ viên

* Khái niệm về hợp tác xã

Một trong những hình thức hợp tác giữa các chủ thể sản xuất kinh doanh làthành lập HTX HTX được tổ chức trên cơ sở đóng góp cổ phần và sự tham gia laođộng trực tiếp của xã viên, phân phối theo kết quả lao động, mức độ sử dụng dịch

vụ và theo vốn cổ phần Mỗi xã viên có quyền như nhau đối với công việc chung.HTX là phương thức tất yếu trong lao động sản xuất và các hoạt động kinh tế, gắnliền với sự phát triển kinh tế, bị ràng buộc và quy định bởi sự tiến triển trong quátrình xã hội hoá của hoạt động kinh tế của con người và phải thích ứng với tiến trìnhphát triển kinh tế đó HTX phải tạo ra xung lực tăng năng suất lao động và đạt hiệuquả kinh tế cao

Xuất phát từ thực tiễn nước ta kinh tế HTX sẽ tồn tại và phát triển dưới nhiềuhình thức đa dạng, từ thấp đến cao Chẳng hạn, có những HTX trở thành lĩnh vựchoạt động chính của các thành viên Có những HTX chỉ nhằm đáp ứng nhu cầuchung về một hay một số dịch vụ trong quá trình sản xuất hoặc chuyên sản xuấtkinh doanh một sản phẩm nhất định, thành viên tham gia chỉ đóng góp một phầnvốn và lao động, hộ gia đình vẫn là đơn vị kinh tế tự chủ HTX là kết quả liên kếttheo chiều dọc, chiều ngang hoặc hỗn hợp, không bị giới hạn bởi địa giới hànhchính và lĩnh vực kinh doanh Mỗi người lao động, mỗi hộ gia đình có thể tham giađồng thời vào nhiều loại hình hợp tác HTX có tư cách pháp nhân có thể nhân danhmình huy động vốn, lao động… ở bên ngoài dưới nhiều hình thức khác nhau đểphục vụ sản xuất, kinh doanh

Có nhiều tổ chức và các nhà kinh tế đã đưa nhiều khái niệm về Hợp tác xã,

cụ thể:

Theo Luật Đương Gia thì hợp tác xã là một tổ chức kinh tế hoạt động với vaitrò chủ yếu là tạo công ăn việc làm cho người lao động

Hợp tác xã là một tổ chức kinh tế nhưng không hoạt động với vai trò chủ yếu

là phát triển kinh tế mà là tạo công ăn việc làm cho người lao động góp phần ổnđịnh chính trị-xã hội Do vậy mà mô hình hợp tác xã càng trở nên được ưu tiên

Trang 17

khuyến khích phát triển ở Việt Nam Trải qua quá trình áp dụng các cơ chế quản lýhợp tác xã theo Luật hợp tác xã năm 2003, tình hình kinh tế-xã hội nước ta đã cónhững bước tiến đáng kể song vẫn còn gặp nhiều hạn chế Chính vì thế Luật hợp tác

xã năm 2012 ra đời đã đánh dấu những bước tiến quan trong để hoàn thiện hơnnhững quy định về hợp tác xã cho đúng với bản chất của nó

Khái niệm Hợp tác xã theo Luật Hợp tác xã 2003:"Hợp tác xã là tổ chức kinh

tế tập thể do các cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân (sau đây gọi chung là xã viên) cónhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của Luậtnày để phát huy sức mạnh tập thể của từng xã viên tham gia hợp tác xã, cùng giúpnhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh và nâng cao đời sốngvật chất, tinh thần, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Hợp tác xã hoạt động như một loại hình doanh nghiệp, có tư cách pháp nhân,

tự chủ,tự chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ tài chính trong phạm vi vốn điều lệ, vốntích luỹ và các nguồn vốn khác của hợp tác xã theo quy định của pháp luật”

- Theo Luật Hợp tác xã 2012 thì khái niệm này đã được thay đổi như sau:

"Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất 07thành viên tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất,kinh doanh, tạo việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu chung của thành viên, trên cơ sở tự chủ,

tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý hợp tác xã

Liên hiệp hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách phápnhân, do ít nhất 04 hợp tác xã tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhautrong hoạt động sản xuất, kinh doanh nhằm đáp ứng nhu cầu chung của hợp tác xãthành viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản

lý Liên hiệp hợp tác xã"

Còn Tổ chức Lao động quốc tế cho rằng: “Hợp tác xã là sự liên kết củanhững người đang gặp phải những khó khăn kinh tế giống nhau, tự nguyện liên kếtnhau lại trên cơ sở bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ, sử dụng tài sản mà họ đãchuyển giao vào hợp tác xã phù hợp với các nhu cầu chung và giải quyết những khókhăn đó chủ yếu bằng sự tự chủ chịu trách nhiệm và bằng cách sử dụng các chứcnăng kinh doanh trong tổ chức hợp tác phục vụ cho lợi ích vật chất và tinh thầnchung”

Trang 18

Từ các khái niệm về HTX ở trên chúng ta có thể khái quát một số đặc điểm

cơ bản về HTX như sau:

Hợp tác xã là một tổ chức kinh tế tập thể Các xã viên là chủ của Hợp tác xã,

có toàn quyền quyết định những vấn đề của tổ chức, hoạt động và phân phối lợi íchtrên cơ sở những quy định của Luật HTX và những văn bản có liên quan

HTX có thể được thành lập khi có số lượng xã viên từ 7 trở lên, được đăng

ký và hoạt động tất cả các ngành nghề mà pháp luật không cấm

HTX có tư cách pháp nhân, hoạt động như một lọai hình doanh nghiệp, bìnhđẳng với các doanh nghiệp khác HTX tự chủ tự chịu trách nhiệm về các nghĩa vụtài chính trong phạm vi vốn điều lệ, vốn tích lũy và các nguồn vốn khác của hợp tác

xã theo quy định của pháp luật

Hợp tác xã là hình thức thực hiện các quá trình hợp tác trong hoạt động kinh

tế Mục tiêu của HTX là phát triển được sức sản xuất xã hội, tiết kiệm lao động,tăng hiệu quả kinh tế, phải thích hợp với các mối quan hệ kinh tế mới trong điềukiện mới

1.1.1.2 Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của tổ hợp tác, hợp tác

xã * Tổ hợp tác

+ Cơ cấu tổ chức của tổ hợp tác gồm các loại hình sau

- Có tổ trưởng, tổ phó và kế toán (đây là loại hình có bộ máy hoàn chỉnh)

- Chỉ có tổ trưởng và kế toán

- Chỉ có tổ trưởng và tổ phó

+ Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của tổ hợp tác

Tại Điều 2 Nghị định số 151/2007/NĐ-CP về Tổ chức và hoạt động của Tổ hợp tác, quy định các nguyên tắc như sau:

- Tự nguyện, bình đẳng, dân chủ và cùng có lợi

- Biểu quyết theo đa số

- Tự chủ tài chính, tự trang trải các chi phí hoạt động và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của tổ và các tổ viên

Tổ hợp tác họp theo định kì quy định, ngoài ra có thể họp bất thường khi cóphát sinh vướng mắc cần phải giải quyết, có ý kiến họp từ đa số các thành viên của

tổ, của tổ trưởng, tổ phó

Trang 19

* Hợp tác xã

Đối với việc tổ chức hoạt động của HTX, nhiều quan điểm của các nhà kinh

tế và chính trị đều tập trung vào một số nguyên tắc cơ bản như sau:

Đầu tiên là nguyên tắc dân chủ và tự nguyện Đây là nguyên tắc quan trọng

nhất vì dựa trên tinh thần tự nguyện các hộ nông dân cá thể nhận thấy lợi ích củaviệc gia nhập vào các HTX họ sẽ quyết định tham gia và nhiệt tình đóng góp để xâydựng phát triển HTX, không chỉ vì lợi ích cá nhân mà còn vì lợi ích của các thànhviên khác Tuy vậy, để đảm bảo duy trì nguyên tắc này thì điều cần thiết là phảithực hiện dân chủ trong quản lý và phân chia lợi ích

Hợp tác xã là tổ chức kinh tế dân chủ, do đó các thành viên tự nguyện liênhợp lại vì mục tiêu lợi ích chung vì thế họ bình đẳng, cùng đồng tham gia quyếtđịnh mọi hoạt động kinh tế chung Để cùng có lợi, họ vào HTX là để tăng sức sảnxuất chung lên, tiết kiệm và ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ cao, chia sẻ rủi

ro, do đó tăng hiệu quả kinh tế lên, lợi ích này sẽ là của chung và sẽ được phân bổtuỳ thuộc vào sự tham gia đóng góp của từng chủ thể kinh tế tự chủ trong hợp tác

Thứ hai, việc xây dựng và phát triển HTX: Theo quan điểm của Các Mác và

Ăng-ghen thì “Hợp tác xã phải tiến hành từng bước có tính đến bước đi và sự chờđợi và cần phải lôi cuốn được nông dân, cùng với giai cấp công nhân đi lên chủnghĩa xã hội Bên cạnh đó, việc xây dựng các hợp tác xã phải có sự giúp đỡ của Nhànước chuyên chính vô sản để đảm bảo tính pháp lý cho sự ra đời của kinh tế hợp tác

xã Đồng thời, Nhà nước sẽ giúp đỡ các hợp tác xã về tài chính, khoa học kỹ thuật,lao động… thông qua các chính sách phát triển kinh tế, xã hội” [5]

Thứ ba, về cách thức tổ chức sản xuất kinh doanh: theo quan điểm của Các

Mác và Ăng-ghen thì “Hình thức và biện pháp thực hiện hợp tác phải thiết thực cụthể, hết sức tránh những biện pháp và hình thức thiếu thực tế, mơ hồ Hợp tác đượcthực hiện ở nhiều lĩnh vực, hình thức và biện pháp, trong mỗi lĩnh vực lại khácnhau Trong lĩnh vực nông nghiệp, loại hình đất đai khác nhau, cây trồng, vật nuôikhác nhau, quan hệ thị trường khác nhau… ngoài ra phải tính đến nhiều yếu tố khácnhư phong tục, tập quán của mỗi vùng” [5] Vì vậy, biện pháp và hình thức hợp tácphải thiết thực, cụ thể phù hợp với điều kiện cụ thể

Trang 20

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra: sản xuất cũng phải hợp tác với nhau thì mớithành sức mạnh, mới khắc phục được khó khăn để phát triển Người nông dân khôngthể tiến lên ấm no, hạnh phúc nếu làm ăn cá thể, riêng rẽ: “Nếu chúng ta đứng riêng rẽ,thì sức nhỏ làm không nên việc” [5] Do đó, những cá nhân hợp sức, hợp vốn với nhau

để xây dựng hợp tác xã Nhưng để ngôi nhà chung đó ngày càng to, đẹp hơn thì Báccũng dạy: “Mỗi hợp tác xã cần có phương hướng sản xuất đúng đắn, phù hợp với tìnhhình kinh tế trong hợp tác xã và phù hợp với tình hình và yêu cầu chung của nền kinh tếquốc dân” và “Kế hoạch sản xuất của hợp tác xã phải đưa ra bàn bạc một cách dân chủvới xã viên Phải tuyên truyền giáo dục cho xã viên hiểu, xã viên tự nguyện làm, tuyệtđối không được dùng cách gò ép, mệnh lệnh, quan liêu” [5]

Đây là những tư tưởng quản lý kinh tế rất tiến bộ không chỉ phù hợp vớihoạt động sản xuất kinh doanh của loại hình HTX lúc đó mà còn đúng đến ngày nayvới mọi tổ chức sản xuất kinh doanh

Khâu cuối cùng của trong hoạt động của các HTX là phân phối thành quảcho các xã viên Tư tưởng của Người là: “Sản xuất được nhiều, đồng thời phải chú ýphân phối cho công bằng, cán bộ phải chí công, vô tư thậm chí có khi cán bộ vì lợiích chung mà phải chịu thiệt thòi phần nào Chớ nên cái gì tốt thì giành về chomình, xấu để người khác” [5]

Theo Điều 7 Luật Hợp tác xã 2012 quy định về nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Hợp tác xã như sau:

Thứ nhất: Tự nguyện: mọi cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân có đủ điều kiện theo quy định của Luật này, tán thành Điều lệ HTX đều có quyền gia nhập hợp tác

xã; xã viên có quyền ra HTX theo quy định của Điều lệ HTX

Thứ hai: Dân chủ, bình đẳng và công khai: xã viên có quyền tham gia quản

lý, kiểm tra, giám sát HTX và có quyền ngang nhau trong biểu quyết; thực hiệncông khai phương hướng sản xuất, kinh doanh, tài chính, phân phối và những vấn

đề khác quy định trong Điều lệ HTX

Thứ ba: Tự chủ, tự chịu trách nhiệm và cùng có lợi: HTX tự chủ và tự chịu

trách nhiệm về kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh; tự quyết định về phân phốithu nhập

Trang 21

Sau khi thực hiện xong nghĩa vụ nộp thuế và trang trải các khoản lỗ củaHTX, lãi được trích một phần vào các quỹ của HTX, một phần chia theo vốn góp vàcông sức đóng góp của xã viên, phần còn lại chia cho xã viên theo mức độ sử dụngdịch vụ của HTX.

Thứ tư: Hợp tác và phát triển cộng đồng: xã viên phải có ý thức phát huy tinh

thần xây dựng tập thể và hợp tác với nhau trong HTX, trong cộng đồng xã hội; hợptác giữa các HTX trong nước và ngoài nước theo quy định của pháp luật [16]

Như vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh về hợp tác xã phù hợp với lý luận chung vàkinh nghiệm quốc tế về hợp tác xã, cần phải được quán triệt sâu sắc trong Đảng vàtrong xã hội ta Từ tư tưởng ấy chúng ta đúc rút được triết lý sâu sắc: hợp tác- hiệuquả - tăng cường sức mạnh và sức cạnh tranh; góp phần xây dựng xã hội hợp tác,đoàn kết, cùng thịnh vượng và quản lý một cách dân chủ

1.1.1.3 Các loại hình tổ hợp tác, hợp tác xã

* Các loại hình tổ hợp tác

- Theo tính chất hoạt động: tổ hợp tác chuyên khâu(như tổ thủy nông, tổ bảo

vệ, tổ vận tải…) và tổ hợp tác tổng hợp (nhiều khâu)

- Theo mức độ liên kết: tổ hợp tác góp sức, góp vốn hoặc tổ hợp tác cả góp sức và góp vốn

- Theo hình thức pháp lý: tổ hợp tác đăng kí hoạt động và tổ hợp tác chưa đăng kí hoạt động

* Các loại hình hợp tác xã

- Hợp tác xã nông nghiệp

Hợp tác xã nông nghiệp là tổ chức kinh tế tập thể do nông dân, hộ gia đìnhnông dân và pháp nhân (sau đây gọi chung là xã viên) có nhu cầu, lợi ích chung, tựnguyện góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của Luật Hợp tác xã để phát huy sứcmạnh tập thể của từng xã viên tham gia hợp tác xã, cùng giúp nhau thực hiện cóhiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh nông nghiệp và nâng cao đời sống vật

chất, tinh thần, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

- Hợp tác xã phi nông nghiệp Cũng theo phân loại ngành nghề kinh tế quốcdân của Chính phủ và Bộ Kế hoạch đầu tư, đồng thời qua việc phân tích nêu trên, cóthể hiểu Hợp tác xã phi nông nghiệp là những hợp tác xã mang đầy đủ khái niệm

Trang 22

chung về Hợp tác xã và hoạt động trong các ngành nghề không phải là các ngànhnghề nông, lâm nghiệp, thuỷ sản và nghề muối [19].

1.1.2 Khái niệm và vai trò của phát triển tổ hợp tác và hợp tác xã trong sản xuất kinh doanh chè

1.1.2.2 Vai trò của phát triển tổ hợp tác, hợp tác xã trong sản xuất kinh doanh chè

Điều cốt yếu của tổ hợp tác và hợp tác xã trong sản xuất kinh doanh chè ngàynay không phải là đưa ruộng đất và tư liệu sản xuất riêng thành tài sản chung màmỗi nông dân vẫn làm chủ mảnh vườn, thửa ruộng và tư liệu sản xuất của mình Tổhợp tác và hợp tác xã trong sản xuất kinh doanh chè phát triển dựa trên quyền tự chủcủa các nông hộ, các xã viên, tổ viên và vì mục đích tiếp sức cho kinh tế hộ pháttriển “Thực vậy, các hình thức THT và nhóm sở thích đã thu hút được sự tham giacủa nhiều hộ nông dân, phù hợp với yêu cầu phát triển đa dạng ngành nghề trongnông nghiệp, phù hợp với từng cây trồng vật nuôi, với từng ngành nghề và sảnphẩm, thực sự khuyến khích cuộc chạy đua tìm phương kế sinh nhai phù hợp nhấtcho người nông dân (Đào Văn Toàn, 2010) Bên cạnh đó, theo Stevens vàTerblanché (2004) cho rằng THT nông dân là một trong những hình thức giúp nôngdân trao đổi và chia sẻ thông tin với nhau một cách hiệu quả, cải thiện sự liên kếtgiữa những người nông dân với nhau và nâng cao được năng lực sản xuất cho nôngdân Tổ hợp tác là một mô hình lý tưởng để giúp nông dân dễ dàng thay đổi phươngthức sản xuất ở cấp độ nông hộ cũng như đối với sự thay đổi hệ thống canh tác nóichung (Roling, 1987) Ngoài ra, theo Kofman và Senge (1993) thì việc tham gia vàoTHT còn giúp nông dân dễ tiếp cận khoa học kỹ thuật mới, và những nông này sẽ

dễ chấp nhận áp dụng các tiến bộ kỹ thuật mới vào trong sản xuất hơn đối vớinhững nông dân bên ngoài Theo Ninh Văn Hiệp (2011) cho

Trang 23

rằng, THT trong nông nghiệp, nông thôn hiện nay là một hình thức tự nguyện và tựphát của người dân nhưng đã chứng minh được hướng đi đúng đắn về phương cáchmưu sinh bền vững và đã tỏ ra có ưu thế trong việc cải thiện đời sống kinh tế nôngthôn” [22].

* Vai trò của phát triển tổ hợp tác trong sản xuất kinh doanh chè

Trong thời gian qua, kinh tế hộ đã có đóng góp to lớn vào nền kinh tế quốcdân nhưng kinh tế hộ ngày càng gặp nhiều khó khăn, nhất là trong sản xuất kinhdoanh chè nói riêng và các sản phẩm nông nghiệp nói chung Một vài ví dụ sau đâychứng tỏ rằng hình thành các tổ hợp tác của nông dân là việc làm cần thiết và gópphần cho kinh tế hộ phát triển

Thứ nhất, trong sản xuất kinh doanh chè, người nông dân cần mua vật tư

nông nghiệp như phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, máy móc, thiết bị, Chắc chắnrằng từng nông dân vẫn có thể đến các đại lý hoặc cửa hàng gần nhà để mua Tuynhiên, với việc mua 1 vài bao phân NPK, ½ chai thuốc trừ sâu… thì sẽ khó tránhkhỏi trường hợp mua với giá cao, phân bón không đủ số cân như ghi trên bao bì vàchất lượng không đảm bảo như phân bón kém chất lượng, thuốc trừ sâu giả Vậy thì,thay vì mỗi hộ phải tự đi mua vật tư nông nghiệp, không có hợp đồng mua bán bảođảm chất lượng và chi phí vận chuyển cao thì nông dân liên kết và thành lập tổ hợptác Đại diện tổ hợp tác sẽ tập hợp nhu cầu và tìm nguồn cung cấp có uy tín, ký hợpđồng mua số lượng lớn với giá bán sỉ và giảm chi phí vận chuyển Sau đó họ cùngphân phối lại cho từng hộ để mỗi hộ chủ động sử dụng trên đồng ruộng của mình.Giảm chi phí đầu vào là một trong những cách tăng thu nhập của nông dân

Thứ hai, với quy mô canh tác nhỏ lẻ mỗi hộ vài công đất hay vài hécta và khả

năng đầu tư hạn hẹp thì từng hộ nông dân khó có thể tự mua sắm và sử dụng hiệu quảcác loại máy móc phục vụ trong sản xuất kinh doanh chè như: máy sao chè, máy đónggói, hệ thống sấy,… Giả dụ mỗi hộ có đủ khả năng đầu tư thì cũng không nên trang bịcác loại máy móc này vì sẽ không sử dụng hết công suất của chúng trừ khi các hộ nàymua để làm dịch vụ kinh doanh Nhưng nếu một vài hộ nông dân có cùng nhu cầu hùnvốn mua chung hệ thống sản xuất kinh doanh chè liên hợp, họ là người đồng sở hữuchiếc máy và họ sẽ dùng chiếc máy trước hết và chủ yếu trên những

Trang 24

thửa ruộng, mảnh vườn của mình Như vậy, mục đích tối thượng của hợp tác là đểthoả mãn nhu cầu của chính thành viên trong tổ, sau đó thì mới nghĩ đến việc làmdịch vụ cho nông dân khác để kiếm thêm lợi nhuận.

Thứ ba, ngày càng có nhiều công nghệ và tiến bộ khoa học kỹ thuật để nâng

cao chất lượng và năng suất cây trồng vật nuôi Từng người nông dân khó có thểtiếp cận các nhà khoa học, các trại thực nghiệm, các trung tâm nghiên cứu, cán bộkhuyến nông để tìm hiểu và học hỏi những kiến thức và kỹ năng canh tác và chănnuôi mới Một thí dụ từ thực tế, một nhóm 12 hộ nông dân người Khơme ở ấp TràKháo, xã Hoà Ân, huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh không phải có nhiều đất đai, thế mà

họ hùn tiền “thuê” một thạc sĩ nông học trả lương hàng tháng Điều kiện hợp đồnglà dạy cách trồng rau màu theo mùa vụ thích hợp, bán hàng ra chợ được giá Liệutừng nông dân với quy mô canh tác trung bình thì có thể làm được những việc trênhay không? Câu trả lời là mỗi nông dân không thể và không nên làm những việcnhư vừa kể trên

Thứ tư, ngày nay một bộ phận không nhỏ người tiêu dùng quan tâm đến việc

an toàn thực phẩm Họ muốn mua thực phẩm có đăng ký nhãn hiệu hàng hoá và cóthể truy tìm nguồn gốc Nếu nông dân chúng ta mong muốn chè của mình vượt quakhỏi phạm vi của chợ quê, đến các siêu thị trong những thành phố lớn và thậm chíxuất khẩu ra nước ngoài thì nông dân cần thay đổi nếp nghĩ và thói quen canh tác.Tâm lý của người tiểu nông, sản xuất tự phát và dựa vào kinh nghiệm… không cònphù hợp trong bối cảnh hội nhập kinh tế thế giới Với quy mô nhỏ lẻ, manh múm vàsản xuất chủ yếu dựa vào kinh nghiệm bản thân nên sản phẩm nông dân làm ra vừa

ít về số lượng, vừa không đồng nhất về chất lượng và màu sắc… thì làm sao có thểđăng ký thương hiệu, làm sao đăng ký chứng nhận Global GAP hay VietGap để tiêuthụ với giá cao? Để làm được điều này, nông dân rất cần hợp tác với nhau Cácthành viên tổ hợp tác bàn bạc và thống nhất về giống, quy trình canh tác, thời điểmgieo trồng… thì khi thu hoạch họ sẽ có lượng chè nhiều về số lượng, bảo đảm antoàn vệ sinh thực phẩm và đồng nhất về chất lượng Lúc này tổ hợp tác sẽ có nănglực đàm phán tiêu thụ sản phẩm ổn định với các doanh nghiệp hay các thương lái.Hợp đồng tiêu thụ sản phẩm sẽ quy định rõ: số lượng, chất lượng, quy cách, thời

Trang 25

điểm giao hàng, giá cả và điều kiện thanh toán Việc kế tiếp là tổ hợp tác cần bànbạc và thống nhất kế hoạch tổ chức sản xuất Sau đó mỗi thành viên trong tổ sẽ tựchủ canh tác thửa ruộng của mình theo quy trình kỹ thuật nhất định, sử dụng thuốcbảo vệ thực vật theo 4 đúng, bảo đảm an toàn cho người sản xuất, người sử dụngnông sản và bảo vệ môi trường cho chính gia đình, hàng xóm của họ Điều này cónghĩa rằng nông dân “BÁN” (ký hợp đồng) trước khi “SẢN XUẤT”.

Hẳn nhiên, một nông dân sản xuất trên quy mô trang trại lớn thì có thể tựmình tìm đối tác và ký kết hợp đồng tiêu thụ sản phẩm Nhưng đa số nông dân ViệtNam sản xuất với quy mô nhỏ, cần cù, chăm chỉ và sản xuất giỏi nhưng thiếu khảnăng đàm phán, thương lượng trong buôn bán Chính vì vậy, nông dân cần hợp táclại để sản xuất, cùng xây dựng và nuôi dưỡng thương hiệu cho nông sản của mình.Đây là sức mạnh của hợp tác Sự hợp tác sẽ làm được những điều mà từng cá thểđơn lẻ không thể làm được

Thứ năm, tổ chức hợp tác của nông dân cũng là mong muốn của những doanh

nghiệp chế biến và xuất khẩu chè Việc ký hợp đồng với từng nông dân với lượng hànghoá ít ỏi sẽ tạo ra chi phí rất lớn Thay vào đó các doanh nghiệp mong muốn ký mộthợp đồng với tổ hợp tác thì họ sẽ giảm đầu mối và giảm chi phí ký kết và giám sát thựchiện hợp đồng Tức là doanh nghiệp có thể giảm được chi phí giao dịch

* Vai trò của phát triển hợp tác xã trong sản xuất kinh doanh chè

- HTX đã giúp cho kinh tế hộ những việc mà kinh tế hộ không làm được

Sự xuất hiện, tồn tại và phát triển của HTX là một tất yếu khách quan Những

hộ nông dân cá thể không thể không liên kết lại trước những diễn biến phức tạp, bấtngờ của điều kiện tự nhiên; trước sự chèn ép của các doanh nghiệp lớn trong lĩnhvực cung ứng vật tư kỹ thuật và tiêu thụ sản phẩm… Sự liên kết tự nhiên đó đã gắn

bó những người sản xuất nhỏ trong các tổ chức HTX tùy theo yêu cầu sản xuất của

họ Khi nông dân vượt ra khỏi kinh tế nửa tự cung tự cấp thì họ bắt đầu cảm thấy sựchật hẹp của mảnh đất riêng và sự cần thiết của tín dụng, kỹ thuật và công nghệ tiến

bộ Nhưng mặt khác các quá trình thuần túy sinh học trong trồng trọt cũng nhưtrong chăn nuôi lại đòi hỏi sự chăm sóc của từng cá nhân Điều đó hạn chế sự pháttriển theo chiều rộng của kinh tế hộ nông dân HTX ra đời và phát triển

Trang 26

không phá vỡ kinh tế gia đình mà tách dần một số công việc, một số lĩnh vực mà nếu làm ở gia đình thì không có lợi bằng HTX.

Như vậy có thể thấy HTX có vai trò rất quan trọng trong việc hỗ trợ nông dân phát triển, cụ thể là:

(1) Với chức năng là người đại diện cho nhà sản xuất, là nơi tiếp cận thịtrường để thu thập và phân tích các thông tin thị trường, Từ đó đưa ra các dự báo thờigian, số lượng, giá cả và xu hướng vận động của thị trường, đưa ra các định

hướng sản xuất sát với nhu cầu thị trường nhằm cung ứng hàng hóa với hiệu quả cao nhất

(2) Địa bàn sản xuất hàng chè thường xa thị trường trường tiêu thụ, lúc nàyHTX với vai trò là đầu mối đảm nhận khâu thu mua và đưa hàng hóa đến các thị trường

sẽ tiết kiệm được chi phí lưu thông, do đó lợi nhuận mang lại cho người sản xuất chè sẽcao hơn

(3) Là trung gian giữa người sản xuất và người tiêu dùng, HTX có đủ tư cáchpháp nhân Sự am hiểu pháp luật, tiềm lực tài chính nhằm xây dựng và bảo vệthương hiệu hàng nông sản Việt Nam Đồng thời HTX còn là tổ chức đứng ra bảođảm ổn định được các nguồn cung nguyên liệu cho các doanh nghiệp chế biến trên

cơ sở quan hệ cùng có lợi

Là tổ chức trung gian có thể tập trung được một khối lượng hàng hóa lớn đểđáp ứng nhu cầu của thị trường Theo quy luật giá trị ai là người cung ứng đại bộphận hàng hóa trên thị trường thì người đó có quyền định giá thị trường mặt khác,khi có một khối lượng hàng nông sản trong tay, các HTX có tiềm lực vật chất đủmạnh để giành chiến thắng trong cạnh tranh

- Phát triển kinh tế của HTX trong sản xuất kinh doanh chè, góp phần vào việc phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn nước ta

HTX là một tổ chức kinh tế hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận Điều này không

hề mâu thuẫn với mục tiêu tương trợ xã viên của HTX Bởi vì

Phát triển kinh tế là mục tiêu mà mọi tổ chức kinh tế đều hướng tới HTX

NN cũng là một tổ chức kinh tế nên cũng phải hướng tới mục tiêu này Như ta đãbiết, mục đích kinh doanh của các doanh nghiệp luôn là tìm kiếm lợi nhuận để bù

Trang 27

đắp chi phí sản xuất, để tồn tại và phát triển Nếu không có lợi nhuận, doanh nghiệpkhông thể trả công cho người lao động, duy trì việc làm lâu dài của họ, cũng nhưkhông thể cung cấp hàng hóa, dịch vụ lâu dài cho khách hàng và cộng đồng Tuynhiên, khác với các loại hình doanh nghiệp luôn tối ưu hóa lợi nhuận, lợi nhuận củaHTX là phương tiện, động cơ để HTX có thể hỗ trợ, tương trợ cho xã viên của mìnhmột cách lâu dài, toàn diện và tốt hơn

Như vậy sự phát triển kinh tế HTX là một tất yếu, là một điều kiện để duy trì

và phát triển bản thân các HTX Mặt khác, HTX sản xuất kinh doanh chè cũng làmột chủ thể của nền kinh tế sự phát triển kinh tế HTX còn góp phần quan trọng vàoviệc phát triển kinh tế nông nghiệp và nông thôn, đặc biệt là nông nghiệp, nông thônnước ta hiện nay

- Là tổ chức trung gian tiếp nhận sự hỗ trợ của nhà nước đối với nông dân HTX sản xuất kinh doanh chè không chỉ hỗ trợ kinh tế hộ nông dân trên cơ

sở các tính chất của nó mà còn là trung gian tiếp nhận sự hỗ trợ của nhà nước đốivới nông dân Việc hỗ trợ của nhà nước đối với người nông dân thông qua tổ chứcnày rất đa dạng, có thể là các khoản đầu tư hoặc các cơ chế chính sách, định hướngcủa nhà nước đối với khu vực này Về cơ chế, chính sách, định hướng, nhà nước cóthể thông qua HTX để điều tiết giá trên thị trường từ đó hỗ trợ người nông dân…

Về chính sách đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn, mỗi nước có những chính sáchkhác nhau và phương thức khác nhau đa dạng và phong phú Nhà nước có thể đầu

tư các hệ thống cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật khác phục vụ cho sự pháttriển của nông nghiệp, nông thôn như hệ thống điện, hệ thống kênh mương… vàgiao cho HTX sản xuất khai thác, sử dụng để phát triển kinh tế cũng như phục vụdân sinh trên địa bàn

Mặt khác, nhiều hộ gia đình làm kinh tế nhỏ, chưa thể tiếp cận với đăng kýkinh doanh, mã số thuế và hoá đơn chứng từ tiêu thụ hàng hoá nông sản, do đóthường bị thua thiệt trong việc tiếp cận các chính sách kinh tế hỗ trợ Bởi vậy rất ítkinh tế hộ được hưởng lợi thông qua những chính sách hỗ trợ lãi suất, kích cầu đầu

tư và tiêu dùng hiện nay Ở đâu có HTX, ở đó hộ xã viên dễ dàng tiếp cận hơn vớinhững chủ trương, chính sách của đảng và nhà nước, và do đó sẽ có lợi hơn trongsản xuất, kinh doanh nói chung, tiêu thụ hàng nông sản nói riêng

Trang 28

1.1.3 Nội dung phát triển tổ hợp tác và hợp tác xã trong sản xuất kinh doanh chè

1.1.3.1 Phát triển số lượng các tổ hợp tác, hợp tác xã

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề cập đến việc xây dựng các HTX nông nghiệpcần phải đi lên từ những tổ đổi công Người cho rằng: “ Gốc của thắng lợi là tổchức, trước hết là tổ đổi công cho tốt rồi tiến dần lên hợp tác xã nông nghiệp”

Muốn hợp tác xã phát triển và củng cố tốt, cần luôn luôn ghi nhớ và ra sức

thực hiện khẩu hiệu cần kiệm xây dựng Hợp tác xã Không nên có hiện tượng làm

chăm cái vườn riêng của mình hơn là ruộng của hợp tác xã, vì như thế là không

3. Phải dựa trên cơ sở hiệu quả kinh tế Người viết: “Cần phải nêu cao tínhhơn hẳn của HTX bằng những kết quả thiết thực và gọi là HTX bậc cao thì phảiđoàn kết cao, sản xuất phải cao, thu nhập chung của HTX phải cao, thu nhập riêngcủa xã viên phải cao”[20]

4. Để HTX tồn tại và phát triển thì cần phải có sự hỗ trợ của Nhà nước TheoChủ tịch Hồ Chí Minh, nhà nước phải giúp HTX về vốn, về tiêu thụ sản phẩm

Người nêu: “HTX còn nghèo, thường thường Chính phủ phải giúp đỡ, phải cho vayvốn” “Chính phủ phải cố gắng phục vụ lợi ích HTX” và “cái gốc trong việc lãnhđạo HTX vẫn là Chi bộ Đảng ở cơ sở”[20]

Thực tiễn hiện nay cho thấy, địa phương nào được cấp ủy quan tâm lãnh đạo,chính quyền quan tâm hỗ trợ, cán bộ HTX nhiệt tình, có tâm huyết, có năng lựcquản lý, các nguyên tắc tự nguyện dân chủ trong HTX được phát huy thì địaphương đó có sự phát triển mạnh và có hiệu quả rõ rệt về số lượng và chất lượngcủa các tổ HT, HTX

Trang 29

Phát triển số lượng THT, HTX còn thể hiện qua số THT, HTX qua các năm.Số lượng tăng lên càng nhiều hay tỷ lệ bình quân qua các năm cao chứng tỏ việcphát triển THT, HTX đang rất tốt và ngược lại Để đánh gia sự phát triển của THT,HTX thì ngoài xét về số lượng THT, HTX tăng thêm còn xét thêm quy mô củaTHT, HTX Quy mô của THT, HTX được thể hiện trên một số chỉ tiêu cơ bản: số

hộ thành viên, diện tích chè, vốn sử dụng, tài sản sử dụng, số lao động…

1.1.3.2 Phát triển quy mô bình quân của các tổ hợp tác, hợp tác xã

- Vốn là yếu tố quyết định cho các THT, HTX chè trong việc đầu tư côngnghệ, mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh của hộ nói chung và của THT, HTX chènói riêng Đặc biệt, trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, cạnh tranh khốc liệttrên thị trường đòi hỏi các THT, HTX chè phải có lượng vốn lớn đầu tư công nghệ,đổi mới trang thiết bị ở một số công đoạn sản xuất phù hợp để thay thế lao động thủcông, tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng, đáp ứng nhu cầu mở rộng thịtrường Tại các THT, HTX lượng vốn chủ yếu do các tổ viên THT hoặc do cácthành viên HTX đóng góp, số lượng vốn vay rất thấp Đặc biệt là đối với nguồn vốntín dụng, các THT, HTX có thể vay nhưng thủ tục cho vay phức tạp, lượng vốn chovay ít, thời gian vay ngắn nên thực tế của nguồn vốn này thấp so với nhu cầu về vốncho THT, HTX trong việc mở rộng quy mô sản xuất và ứng dụng khoa học côngnghệ vào sản xuất

- Diện tích chè: thể hiện mức độ sản xuất chè của các hộ thành viên, các tổviên tham gia sản xuất kinh doanh chè

- Tài sản sử dụng: Phản ánh công nghệ sản xuất kinh doanh chè

- Số hộ thành viên tham gia: Phản ánh quy mô phát triển của THT, HTX

- Lao động sử dụng: phản ánh trình độ và nguồn lực lao động của THT, HTX

1.1.3.3 Mở rộng hoạt động kinh doanh của các tổ hợp tác, hợp tác xã

Kinh tế của tổ hợp tác và HTX hiện nay chưa phát triển mạnh Không ít ýkiến nhìn nhận rằng, việc các HTX sản xuất kinh doanh với quy mô nhỏ lẻ, cơ sởvật chất thiếu thốn, thiết bị máy móc cũ kỹ… và đội ngũ cán bộ quản lý rất thụ độngtrong khâu tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm cho nhà nông được xem là nhữngnguyên nhân cơ bản khiến việc hoạt động của mô hình này còn quá nhiều hạn chế,

Trang 30

chưa thu hút được đông đảo nông dân tham gia Bên cạnh đó, vấn đề ứng dụng cáctiến bộ kỹ thuật vào quá trình sản xuất cũng lắm khó khăn Đặc biệt, sự liên kết giữa

“4 nhà” (nhà nước - nhà nông - nhà khoa học - nhà doanh nghiệp) còn rất lỏng lẻo,dẫn đến người dân phải “tự bơi” trong biển lớn của cơ chế thị trường với sự cạnhtranh ngày càng khốc liệt Trong khi đó, năng lực của phần lớn cán bộ ở các HTXchưa bắt kịp với xu thế phát triển, nhất là khả năng lập kế hoạch sản xuất kinhdoanh, tìm hiểu nhu cầu của thị trường và tìm kiếm đầu ra cho sản phẩm Vì vậy đểtạo tiền đề cho tổ hợp tác, HTX ra đời và phát triển thì chúng ta cần chú trọnghướng dẫn tổ chức các phong trào thi đua ở các tổ hợp tác, HTX, liên hiệp HTX.Tập trung ưu tiên xây dựng một số mô hình tổ hợp tác, HTX, liên hiệp HTX tiêu thụsản phẩm chè an toàn của Việt Nam, thí điểm ở một số vùng, miền có khu đô thị,khu đông dân cư có quy mô hàng hoá lớn Đồng thời, tập trung tổ chức các hoạtđộng hỗ trợ, tư vấn, cung cấp dịch vụ (pháp lý, thông tin, tài chính, tín dụng, thịtrường, khoa học công nghệ, ), đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực của các thànhviên tổ hợp tác, HTX Khuyến khích mở rộng quy mô và địa bàn hoạt động củaHTX, liên hiệp HTX, để làm đầu kéo, đầu mối dẫn dắt hỗ trợ khoa học công nghệ,bảo quản, thu mua, chế biến, tiêu thụ, tái cấu trúc kinh tế nông nghiệp

1.1.3.4 Nâng cao kết quả, hiệu quả dịch vụ của tổ hợp tác, hợp tác xã

Kết quả thể hiện quy mô, khối lượng sản phẩm chè cụ thể và được thể hiệnbằng ba chỉ tiêu chủ yếu là: doanh thu, chi phí, lợi nhuận

Hiệu quả kinh tế của các tổ hợp tác và các hợp tác xã chè là quan hệ so sánhgiữa kết quả thu được từ quá trình sản xuất và kinh doanh chè với toàn bộ chi phícác yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất (đất đai, vốn, lao động, kỹ thuật, quảnlý…) Hiệu quả là đại lượng đánh giá kết quả đó được tạo ra như thế nào, mức chiphí cho một đơn vị kết quả đó có chấp nhận được không Hiệu quả luôn gắn liền vớikết quả Trong sản xuất chè, luôn có môi quan hệ giữa sử dụng yếu tô đầu vào vàkết quả đầu ra hay chính là chi phí bỏ ra và doanh thu đạt được

Tuy nhiên, trong sản xuất nông nghiệp thường gặp khó khăn khi lượng hóacác yếu tô này để tính toán hiệu quả Ví dụ, với các yếu tô đầu vào như tài sản côđịnh (đất nông nghiệp, vườn cây lâu năm, máy móc thiết bị…) được sử dụng cho

Trang 31

nhiều chu kỳ sản xuất, trong nhiều năm nhưng không đều Mặt khác, giá trị hao mònkhó xác định chính xác nên việc tính khấu hao tài sản cố định và phân bổ chi phí đểtính hiệu quả chỉ có tính chất tương đối Sự biến động của giá cả nguyên vật liệuđầu vào cũng gây khó khăn cho việc xác định chính xác các loại chi phí sản xuấtchè Điều kiện tự nhiên, có ảnh hưởng thuận lợi hoặc gây khó khăn cho quá trìnhsản xuất, nhưng mức độ tác động cũng khó có thể lượng hóa Đối với các yếu tố đầu

ra, chỉ lượng hóa được kết quả thể hiện bằng vật chất, còn kết quả thể hiện dướidạng phi vật chất như tạo công ăn việc làm, tăng khả năng cạnh tranh trên thịtrường, bảo vệ môi trường… không thể lượng hóa được ngay

Vì vậy để nâng cao kết quả, hiệu quả dịch vụ của tổ hợp tác, hợp tác xã thìchúng ta cần xây dựng phương án cụ thể và có sự liên hệ chặt chẽ giữa các khâutrong quá trình sản xuất kinh doanh Qua đó chi phí đầu vào sẽ được tiết kiệm tối đa

và doanh thu đạt được cũng ở mức cao nhất

1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển tổ hợp tác và hợp tác xã trong sản xuất kinh doanh chè

Theo các tư tưởng triết học của chủ nghĩa duy vật biện chứng, sự tồn tại vàphát triển của mỗi sự vật, hiện tượng điều do hai nhóm nhân tố tác động: nhóm nhântố bên trong và nhóm nhân tố bên ngoài Trong đó, nhóm nhân tố bên trong là nhómnhân tố tác động đến những mối liên hệ bên trong sự vật, hiện tượng có tác độngtrực tiếp và quyết định đến sự tồn tại và phát triển của hiện tượng Bên cạnh đó, cácnhân tố bên ngoài là các nhân tố thuộc về ngoại cảnh, về môi trường xung quanh sựvật, hiện tượng, giữ vai trò quan trọng, là những chất xúc tác cho sự phát triển củacác mối liên hệ bên trong của sự vật, hiện tượng.[23]

Theo Trần Chí Thiện, Vũ Quỳnh Nam (2017), "Các nhân tố ảnh hưởng đến khả

năng tham gia hợp tác xã của hộ dân trong các làng nghề chè tỉnh Thái Nguyên", Tạp chí Kinh tế và Dự báo, ISSN 0866-7120 số 12, có những nhân tố sau tác động đến sự

phát triển của các THT, HTX chè: Năng lực của xã viên, tổ viên, bộ máy quản lý, điềuhành THT, HTX, chi phí nguyên liệu sử dụng trong sản xuất kinh doanh, vốn sử dụng,tài sản sử dụng, chủ trương, chính sách và pháp luật của Nhà nước, nhận thức xã hội về

tổ hợp tác, HTX, thị trường tiêu thụ của THT, HTX, sự hợp tác của

Trang 32

các tổ chức kinh tế, các DN và trách nhiệm của chính quyền địa phương với tổ hợp tác, HTX.

1.1.4.1 Các nhân tố bên trong

- Năng lực của xã viên, tổ viên trong việc cùng hình thành nhu cầu về cácdịch vụ cần được đáp ứng Các thành viên HTX, tổ viên THT đóng vai trò quan

trọng cho sự tồn tại và phát triển của HTX, THT Họ vừa là thành viên, tổ viên vừa

là nhà cung cấp sản phẩm cho HTX, THT và dịch vụ của HTX, THT Năng lực của

xã viên, tổ viên thể hiện ở trình độ học vấn khi tham gia HTX và còn thể hiện ở cácnăng lực về sản xuất, về kinh doanh, khả năng nhận thức và nắm bắt khoa học côngnghệ, thông tin thị trường của các thành viên Như vậy, nếu thành viên tham giaHTX, tổ viên tham gia THT có nhận thức tốt sẽ biết mình cần gì và phải làm gì đểđạt hiệu quả tốt nhất trong sản xuất kinh doanh chè, từ đó đem lại kết quả tốt choHTX, THT

- Năng lực của bộ máy quản lý, điều hành THT, HTX trong tổ chức, triểnkhai các hoạt động dịch vụ theo nhu cầu xã viên Phần lớn các THT, HTX chè giámđốc HTX hoặc tổ trưởng tổ THT đều là hộ dân làm chè có trình độ học vấn thấp,không qua đào tạo, hoạt động sản xuất kinh doanh chè theo kinh nghiệm Do vậy,hiệu quả từ công tác quản lý THT, HTX chưa cao Trình độ quản lý của tổ trưởngTHT, Ban giám đốc HTX được thể hiện thông qua các cấp học và thông qua số lớphọc bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ mà họ tham gia, và khả năng ứng dụngnhững kiến thức đã học vào thực tế quản lý THT, HTX chè

- Năng lực của bộ máy quản lý, điều hành THT, HTX trong huy động vốn,tài sản và các loại tư liệu, công cụ để phục vụ triển khai thành công các hoạt động dịch

vụ mà THT, HTX quyết định làm: Việc nắm bắt các công nghệ hiện đại tiên tiến trên thếgiới còn ít; điều này sẽ làm giảm sự đầu tư vào tài sản, tư liệu sản xuất hiện đại, vẫn phụthuộc nhiều vào các công cụ thủ công Đồng thời mối quan hệ của cán bộ quản lý cònhạn chế tạo nên sự khó khan trong việc huy động vốn, kêu gọi

đầu tư

- Chi phí nguyên liệu sử dụng trong sản xuất kinh doanh của THT, HTX:Chi phí nguyên liệu sử dụng trong sản xuất kinh doanh chè chủ yếu là giống, phân

Trang 33

bón, thuốc trừ sâu,… đến chi phí thu hái chè và chi phí mua chè xanh và chè bánthành phẩm của các hộ là thành viên THT, HTX và các hộ dân trong vùng Việcquản lý tốt những chi phí này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến giá thành sản xuất và lợinhuận của THT, HTX Sử dụng tiết kiệm, hợp lý chi phí nguyên liệu sẽ làm tăng lợinhuận của THT, HTX và ngược lại.

- Vốn sử dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh chè của THT, HTX: Tạicác THT, HTX lượng vốn chủ yếu do các tổ viên THT hoặc do các thành viên HTX đónggóp, số lượng vốn vay rất thấp Đặc biệt là đối với nguồn vốn tín dụng, các THT, HTX

có thể vay nhưng thủ tục cho vay phức tạp, lượng vốn cho vay ít, thời gian vay ngắn nênthực tế của nguồn vốn này thấp so với nhu cầu về vốn cho THT, HTX trong việc mở rộngquy mô sản xuất và ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất Lượng vốn tại các hộthành viên, tổ viên chủ yếu là tự có và đi vay họ hang, bạn bè, số lượng vốn được vay ưuđãi tín dụngrất thấp

- Tài sản sử dụng của THT, HTX: phản ánh mức độ áp dụng khoa học kỹthuật, công nghệ chế biến vào sản xuất kinh doanh Máy móc và công nghệ sản xuất sảnphẩm của các THT, HTX sản xuất chè hiện nay rất lạc hậu, công nghệ bán thủ công lạchậu do các hộ thành viên góp vốn Mặc dù được sự quan tâm của nhà nước trong việc hỗtrợ công nghệ sản xuất, song công nghệ sản xuất vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu sảnxuất kinh doanh của các THT, HTX sản xuất chè

Các nhân tố trên đây hình thành, phát triển từng bước trong quá trình hoạtđộng của mỗi tổ hợp tác, HTX, từ thấp lên cao, từ ít đến nhiều Các xã viên là chủthể tạo ra, không ai thay thế được Tổ hợp tác, HTX chỉ có thể tổ chức hoạt độngsản xuất kinh doanh thành công khi hội tụ đầy đủ các nhân tố bên trong

1.1.4.2 Các nhân tố bên ngoài

Đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của tổ hợp tác, HTX thì nhân tố bênngoài bao gồm tất cả những nhân tố hình thành bên ngoài tổ hợp tác, HTX, khôngphụ thuộc vào ý chí chủ quan của các xã viên Các nhân tố này tạo ra môi trườngbên ngoài tổ hợp tác, HTX, ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến kết quả hoạtđộng sản xuất kinh doanh của tổ hợp tác, HTX cho xã viên, thường bao gồm:

- Chủ trương, chính sách và pháp luật của Nhà nước: Là những chính sách hỗtrợ của trung ương và địa phương đối với THT, HTX như: chính sách tín dụng, hỗ trợvốn, khoa học, công nghệ, tổ chức tập huấn nâng cao trình độ

Trang 34

- Nhận thức xã hội về tổ hợp tác, HTX: là nhận thức của các hộ thành viên, tổviên, các nông hộ về tầm quan trọng khi tham gia THT, HTX, những lợi ích thuđược về mặt kinh tế và xã hội khi tham gia THT, HTX So sánh được sự khác nhaukhi tham gia hay không tham gia THT, HTX.

- Thị trường tiêu thụ của THT, HTX: Thị trường tiêu thụ sản phẩm chè là yếutố quyết định đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của các THT, HTX chè Khi hộ

thành viên sản xuất chè đáp ứng nhu cầu thị trường, và các THT, HTX chè tìm kiếmđược thị trường đầu ra thì sẽ đảm bảo lượng sản phẩm của các hộ thành viên đượctiêu thụ ổn định Tuy nhiên, thị trường tiêu thụ sản phẩm chè hiện nay của các THT,HTX chè chủ yếu là tiêu thụ trong nước, một số ít các HTX xuất khẩu thông qualiên kết với doanh nghiệp

- Sự hợp tác của các tổ chức kinh tế, các DN trong nền kinh tế với THT,HTX: Các THT, HTX chè hiện nay hoạt động độc lập, chưa có sự liên kết chặt chẽ vớinhau Cần khuyến khích các hình thức liên kết ngang và liên kết dọc, nhằm hỗ trợ để ổnđịnh các yếu tố đầu vào cho các THT, HTX chè với chất lượng và giá cả hợp lý, mở rộnghơn thị trường tiêu thụ sản phẩm chè Liên kết ngang giữa các THT, HTX với nhau vàliên kết dọc giữa THT, HTX với các tổ chức kinh tế trong và ngoài nước, với doanhnghiệp qua đó sẽ thúc đẩy được sự phát triển của THT, HTX, các tổ chức kinh tế và cácDN

- Trách nhiệm của chính quyền địa phương với tổ hợp tác, HTX trên địa bàn:Chính quyền địa phương tạo điều kiện về cơ sở vật chất để THT, HTX có điều kiện

để phát triển vì hầu hết các THT, HTX đang thiếu mặt bằng để làm trụ sở của mình;

hỗ trợ tư vấn pháp lý khi THT, HTX có nhu cầu Phần lớn người tham gia THT,HTX chưa hiểu rõ những ưu đãi được hưởng từ địa phương khi tham gia THT, HTXnên chính quyền địa phương cần tích cực tuyên truyền hơn nữa

1.2 Kinh nghiệm quốc tế và trong nước về phát triển hợp tác xã trong sản xuất kinh doanh

1.2.1 Kinh nghiệm quốc tế về phát triển tổ hợp tác và hợp tác xã trong sản xuất kinh doanh trên thế giới

Ở những nước tư bản phát triển, HTX càng phát triển và trong nhiều lĩnhvực, các HTX đã và đang chiếm những vị trí hàng đầu Ở Canada và Nauy cứ ba

Trang 35

người dân thì có một người là xã viên HTX; Anh chiếm 20% dân số, Singaporechiếm 50% dân số, còn ở Mỹ, cứ 10 người có 4,2 người là xã viên HTX Theothống kê của Liên hiệp quốc, phong trào HTX thế giới tạo ra công ăn việc làm vàđảm bảo cuộc sống của 3 tỷ người Riêng trong lĩnh vực nông nghiệp, HTX đóngvai trò đặc biệt quan trọng ở nhiều quốc gia với việc thu hút sự tham gia của đại bộphận nông dân, từ những người nông dân với 2,5 - 3 ha canh tác như ở Nhật, HànQuốc, đến các chủ trang trại với quy mô bình quân 30 - 40 ha như ở Châu Âu, Bắc

Âu, và quy mô lớn nữa là ở Bắc Mỹ đều tham gia HTX [6] Ở các nước này, HTXnông nghiệp đảm nhận phần lớn các dịch vụ phục vụ sản xuất và tiêu thụ nông sản.Với sự hỗ trợ của HTX, sản xuất nông nghiệp được thuận lợi hơn, hiệu quả hơn,chất lượng sản phẩm cao hơn, nông dân cùng mua chung nguyên liệu đầu vào vớigiá rẻ hơn và bán nông sản với giá cao hơn, ổn định hơn Bên cạnh đó, HTX còn cótrách nhiệm chăm lo đời sống văn hoá, tinh thần, an sinh xã hội của nông dân vàthúc đẩy sự phát triển của các cộng đồng nông thôn

Ở Nhật Bản, 98% nông dân là thành viên của hơn 850 HTX nông nghiệp đachức năng Ở khu vực nông thôn, các HTX nông nghiệp đa chức năng đóng vai tròquan trọng với nhiệm vụ cung cấp hầu hết các dịch vụ phục vụ sản xuất và đời sốngcho nông dân với khẩu hiệu “từ cái nôi cho đến nấm mồ”, như cung cấp nguyên liệuđầu vào, máy móc, thiết bị nông nghiệp, xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạchsản xuất, hướng dẫn kỹ thuật, thu mua, chế biến và tiêu thụ nông sản, cung cấp cácdịch vụ ngân hàng, tín dụng, bảo hiểm, y tế, tổ chức các cửa hàng bán lẻ, cung cấp

đồ gia dụng, xây dựng nhà tang lễ, tổ chức các hoạt động văn hoá, thể thao, du lịch,các câu lạc bộ sinh hoạt cộng đồng, Hệ thống các HTX nông nghiệp được tổ chức

từ cấp cơ sở cho đến các liên hiệp HTX cấp tỉnh và liên hiệp trung ương các HTXnông nghiệp Nhật Bản, trong đó Liên minh HTX nông nghiệp Nhật Bản là tổ chứccấp cao nhất mang tính đại diện cho nông dân, cho phong trào HTX và triển khaicác hoạt động chính trị, tham gia xây dựng chính sách pháp luật, hướng dẫn về tổchức và quản lý, cung cấp các hoạt động thông tin, đào tạo, kiểm toán, [6]

Ngoài ra, ở Nhật Bản còn có các liên đoàn HTX nông nghiệp chuyên ngànhvới chức năng hỗ trợ các HTX nông nghiệp triển khai các hoạt động kinh tế trong

Trang 36

từng lĩnh vực hay chăm lo đến đời sống tinh thần của nông dân, như Liên đoàn cungtiêu quốc gia các HTX nông nghiệp, Liên đoàn bảo hiểm tương hỗ quốc gia cácHTX nông nghiệp, Ngân hàng Trung ương các HTX nông - lâm - ngư nghiệp, Liênđoàn phúc lợi quốc gia các HTX nông nghiệp, Liên đoàn thông tin báo chí quốc giacác HTX nông nghiệp, các cơ sở khám chữa bệnh, chăm sóc sức khoẻ, Nông dânNhật Bản có mức thu nhập không kém người dân thành thị Bên cạnh đó, để đảmbảo phục vụ nhu cầu đời sống, nhu cầu văn hoá, tinh thần của người dân nông thôn

và xã viên, Liên minh HTX nông nghiệp Nhật bản còn có cả một hệ thống thông tin,báo chí riêng, như tờ báo hàng ngày - Tin tức nông nghiệp Nhật Bản, hệ thống chămsóc sức khoẻ và y tế riêng với hàng trăm bệnh viện và phòng khám chữa bệnh nhỏ,hàng nghìn giường bệnh,

Tại Hàn Quốc, phong trào HTX phát triển rất mạnh trong lĩnh vực nông nghiệp,tín dụng và nghề cá Trên toàn lãnh thổ có khoảng 1.239 HTX nông nghiệp (bao gồmcác HTX dịch vụ nông nghiệp, sản xuất cây lương thực, chăn nuôi gia súc), và hơn 88HTX chuyên trồng cây ăn quả, hoa, rau, nhân sâm, thu hút 100% nông dân tham gialàm xã viên (2,4 triệu người) Tất cả các HTX này đều là thành viên của Liên đoànHTX nông nghiệp Hàn Quốc, tạo thành một hệ thống thống nhất triển khai các dịch vụ

hỗ trợ nông dân từ khâu lập kế hoạch và hướng dẫn kỹ thuật sản xuất, cung ứng nguyênvật liệu đầu vào, chế biến và tiêu thụ nông sản cho đến cung cấp các dịch vụ ngân hàng

và bảo hiểm Hệ thống HTX nông nghiệp hiện có 4600 các chợ và cửa hàng bán nôngsản trên cả nước giúp tiêu thụ sản phẩm cho nông dân với tổng doanh số đạt 37 ngày tỷwon/năm; 5.041 văn phòng, các điểm giao dịch phục vụ các hoạt động ngân hàng trêntoàn quốc với 36 triệu khách hàng, chiếm 67% dân số Hàn quốc [6] Dưới sự hỗ trợ củaLiên đoàn quốc gia, các HTX nông nghiệp được xây dựng thành những trung tâm tàichính, văn hoá và phúc lợi của địa phương, đáp ứng các nhu cầu đa dạng của nông dân

và người dân nông thôn

Hiện nay, tại Mỹ có 3.140 HTX nông nghiệp với 2,8 triệu xã viên (chiếm đại

bộ phận nông dân và các chủ trang trại chăn nuôi gia súc của nước Mỹ) tạo ra giá trịsản lượng thuần hàng năm là 111 tỷ USD, giúp quốc gia này trở thành một trongnhững nước sản xuất nông nghiệp hàng đầu trên thế giới Ngoài ra, các HTX nông

Trang 37

nghiệp có một hệ thống tín dụng nông nghiệp rất lớn, bao gồm 101 HTX tín dụngnông nghiệp với tổng tài sản khoảng 125 tỷ USD và tổng dư nợ là 96 tỷ USD [6]

Tại Pháp, trong lĩnh vực nông nghiệp, trên toàn quốc có hơn 3.500 HTX với400.000 xã viên (chiếm 90% tổng số nông dân) Các HTX nông nghiệp sản xuấthơn 95% sản phẩm rượu vang, 60% nông sản và chiếm 40% hoạt động chế biếnlương thực của nước Pháp

Là một quốc gia nông nghiệp, HTX nông nghiệp đóng vai trò quan trọngtrong nền kinh tế Thái Lan và trong việc nâng cao vị thế xã hội của người nông dân.Hiện nay, ở Thái Lan có khoảng 4.137 HTX nông nghiệp với 5.950.809 xã viênnông dân Các HTX nông nghiệp triển khai các hoạt động kinh doanh khác nhaunhằm đáp ứng nhu cầu của xã viên, trong đó tập trung chính vào 5 lĩnh vực, cho vaytín dụng với lãi suất ưu đãi, gửi tiền tiết kiệm và ký quỹ, bán hàng tiêu dùng và cungcấp đầu vào cho sản xuất nông nghiệp với mức giá hợp lý, hỗ trợ nâng cao giá trịgia tăng và tìm kiếm thị trường đầu ra cho sản phẩm nông nghiệp, hỗ trợ phát triểnnông nghiệp thông qua các hoạt động khuyến nông và dịch vụ [6]

Theo đánh giá của Liên hợp quốc, HTX là công cụ giúp người nghèo nângcao vị thế kinh tế xã hội, là công cụ hữu hiệu trong tạo việc làm, nâng cao thu nhập,xoá đói giảm nghèo, nâng cao vị thế kinh tế - xã hội của người nghèo, các nhóm yếuthế, là những tổ chức trách nhiệm xã hội, có vai trò quan trọng trong bảo vệ môitrường, phát triển cộng đồng, thúc đẩy bình đẳng giới, xoá bỏ các hình thức bóc lột,tăng cường hội nhập xã hội, góp phần phát triển, lưu giữ các giá trị văn hoá truyềnthống Đây cũng chính là những vấn đề mà nông nghiệp, nông thôn và nông dânViệt Nam đang phải đối mặt

Vấn đề quan trọng nhất ở đây là nhận thức như thế nào về vai trò HTX trongphát triển nông nghiệp, nông thôn, nông dân và từ đó có những giải pháp thật phùhợp Kinh nghiệm quốc tế và bài học thành công về HTX trong nông nghiệp, nôngthôn ở nhiều nước như đã nêu ở trên là chứng minh sinh động rằng HTX chính làcon đường thúc đẩy sản xuất ở nông nghiệp, nông thôn phát triển, đấy chính là conđường mà các hộ sản xuất, hộ nông dân, hộ tiểu chủ, những đối tượng chiếm sốđông nhưng lại có tiềm lực yếu, năng lực cạnh tranh thấp, dễ bị tổn thương trong

nền kinh tế thị trường cần lựa chọn (Báo điện tử Đảng cộng sản Việt Nam, 2015).

Trang 38

1.2.2 Kinh nghiệm về phát triển tổ hợp tác và hợp tác xã trong sản xuất kinh ở Việt Nam

1.2.2.1 Huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên

Năm 2016, toàn huyện Đồng Hỷ có 9 HTX và 11 THT tham gia sản xuất kinhdoanh chè Với tổng diện tích là 113,15 ha Những năm qua, người dân trồng chècủa huyện Đồng Hỷ đã được UBND huyện chú trọng đưa cây chè là cây trồng chủlực cho phát triển cây công nghiệp của huyện Do vậy, để nâng cao năng suất chấtlượng chè, việc thay đổi giống chè mang tính chất quyết định UBND huyện giaocho phòng Nông nghiệp huyện tuyên truyền, hỗ trợ các hộ dân thay giống chè cũcho năng suất và chất lượng thấp bằng giống chè mới cho năng suất, chất lượng cao.Theo đó, giống chè trung du (chè cổ) giảm dần và tăng nhanh các giống chè chonăng suất chất lượng cao như chè TRI777, chè Kim Tuyền, LDP1, và một số giốngchè khác [11]

Huyện đã Thông qua THT, HTX Liên minh HTX phối hợp với các Sở liênquan hỗ trợ phát triển HTX, Tổ hợp tác chè gồm các nội dung như: hoạt động tưvấn, đào tạo bồi dưỡng nâng cao năng lực quản lý và đào tạo nghề, hỗ trợ vốn, xúctiến thương mại giúp các HTX, THT chè nâng cao chất lượng, giá trị và sức cạnhtranh của sản phẩm chè trên thị trường. Huyện Đồng Hỷ đã có những quan điểm vàđịnh hướng cụ thể để phát triển Tổ hợp tác, Hợp tác xã chè như sau:

- Củng cố, phát triển các THT, HTX chè theo hướng đa ngành nghề và tổnghợp, trong đó khuyến khích phát triển các THT, HTX chè, vừa tham gia sản xuất, chếbiến sản phẩm chè, phối hợp với cung cấp dịch vụ cho sản xuất chè: dịch vụ

cung cấp giống chè, dịch vụ cung cấp phân bón, dịch vụ cung cấp máy móc thiếtbị, cho chính các thành viên HTX, tổ viên THT và cho các hộ trồng chè trên địabàn và vùng lân cận

- Xây dựng và mở rộng mô hình THT, HTX chè, đầu tư khoa hoc kỹ thuật đểthâm canh và phát triển chiều sâu Củng cố, phát triển THT, HTX chè tại các vùngchè nhằm phát huy tối đa lợi thế của huyện về thế mạnh sản xuất chè ở khu vựcnông thôn

Trang 39

- Tiếp tục củng cố phát triển các THT, HTX chè hiện có và phát triển thêm cácTHT, HTX chè tại các địa phương gắn với các chương trình khuyến công, khuyến nông,

và làng nghề của tỉnh

- Phát triển THT, HTX chè của huyện theo phương thức kết hợp giữa côngnghệ truyền thống với công nghệ hiện đại, nhằm nâng cao năng suất chất lượng sản phẩmchè của các THT, HTX trên địa bàn

- Phát triển THT, HTX chè của huyện gắn với vùng nguyên liệu chè sạch theotiêu chuẩn VietGAP, UTZ, Global GAP và chè hữu cơ, nhằm sản xuất chè sạch đáp ứngnhu cầu chè sạch trong và ngoài nước, bảo vệ môi trường vùng chè của huyện

- Phát triển các loại quỹ tín dụng nhân dân, nhằm hỗ trợ về vốn cho các THT,HTX chè trên địa bàn Tích cực khai thác nguồn vốn hiện có trong dân để nâng cao nănglực tài chính của các quỹ hỗ trợ phát triển THT, HTX chè có nhu cầu vay vốn

- Phát triển THT, HTX chè trên địa bàn gắn với du lịch cộng đồng và du lịchsinh thái tại các vùng chè của huyện Khuyến khích, hỗ trợ phát triển du lịch làng nghềchè gắn với các THT, HTX chè

- Đầu tư, hỗ trợ tăng cường năng lực về chuyên môn, trình độ quản lý cho độingũ cán bộ quản lý THT, HTX, đồng thời nâng cao tay nghề cho thành viên HTX và tổviên THT chè và người lao động tại các vùng chè của huyện thông qua các lớp tập huấn,đào tạo nghề và năng lực quản lý cho các thành viên và người lao động nghề chè trên địabàn huyện

- Chú trọng phát triển khoa học công nghệ, ứng dụng chuyển giao khoa họccông nghệ cho các THT, HTX chè trên địa bàn huyện phù hợp với từng điều kiện pháttriển THT, HTX chè cụ thể

- Tăng cường phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm hàng hóa, hỗ trợ cácTHT, HTX chè trên địa bàn huyện tham gia các hội chợ triển lãm trong nước và ngoàinước nhằm mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm ra ngoài nước Hỗ trợ kinh phí và tưvấn phát triển thương hiệu sản phẩm chè cho các THT, HTX chè

- Khuyến kích liên kết 5 nhà trong phát triển THT, HTX chè, trong đó, nhấnmạnh vai trò của liên dọc giữa THT, HTX chè với các doanh nghiệp xuất khẩu trên địabàn huyện, tỉnh và các doanh nghiệp trong và ngoài nước, nhằm mở rộng thị trường xuấtkhẩu sản phẩm chè cho các THT, HTX chè của huyện Tăng cường mối

Trang 40

quan hệ hợp tác với các tổ chức phi chính phủ, tận dụng sự hỗ trợ phát triển THT,HTX chè từ các tổ chức này [11].

Kết quả là toàn bộ các hộ tham gia THT, HTX đã thoát nghèo, thu nhập bìnhquân tăng cao, thu nhập bình quân/ tháng của mỗi lao động thành viên HTX là3.250.000 đồng; thu nhập của mỗi lao động tổ viên THT là 3.115.000 đồng, đangcao hơn mức thu nhập chung của lao động làm chè của tỉnh Thái Nguyên là2.850.000 đồng, tạo việc làm thường xuyên cho hơn 300 lao động làm nghề chè.Các THT, HTX chè của huyện Đồng Hỷ đã làm ăn có lãi, đóng góp vào ngân sáchđịa phương trên 100 triệu mỗi năm, góp phần ổn định an ninh tại địa phương [11]

1.2.2.2 Huyện Văn Yên - tỉnh Yên Bái

Nhận thức sâu sắc về vị trí, tầm quan trọng của kinh tế tập thể (KTTT),huyện Văn Yên đã tổ chức quán triệt, thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Trung ương

5 (khóa IX) về “Tiếp tục đổi mới và phát triển nâng cao hiệu quả KTTT”; Chỉ thị số

17 của UBND tỉnh về việc đẩy mạnh phát triển kinh tế tập thể và HTX Từ năm

2016, huyện đã triển khai mô hình “tổ tư vấn, hỗ trợ doanh nghiệp, HTX”

Tổ tư vấn đã phối hợp với Liên minh HTX tỉnh mở các lớp tập huấn, tuyêntruyền về Luật HTX năm 2012, các văn bản liên quan đến Luật HTX 2012 cho cácHTX, tổ hợp tác; tuyên truyền và hướng dẫn thành lập mới 5 tổ hợp tác, cấp thủ tụcđăng ký mới cho 6 HTX; phối hợp với tổ chức FAO, tập huấn hướng dẫn các HTX,doanh nghiệp kinh doanh quế vỏ, đăng ký chỉ dẫn địa lý cho sản phẩm ra nướcngoài; hướng dẫn các HTX, doanh nghiệp có nhà máy sản xuất chế biến tinh dầuquế, quế bột điều chỉnh, bổ sung chỉ dẫn địa lý cho sản phẩm; hướng dẫn quy trình,thủ tục đầu tư, chuyển đổi lò gạch thủ công sang công nghệ Tuynel tiêu chuẩn cho 2

cơ sở sản xuất gạch thủ công

Đồng thời, tư vấn hướng dẫn doanh nghiệp, HTX hoàn thiện thủ tục hồ sơđất đai, giải phóng mặt bằng Ngoài ra, huyện phối hợp với Liên minh HTX tỉnhYên Bái thực hiện việc lồng ghép, hỗ trợ, tạo điều kiện để HTX, tổ hợp tác tham giathực hiện các chương trình, dự án trên địa bàn để tạo việc làm, tăng thu nhập cholao động và tập trung phát triển nâng cao hiệu quả hoạt động tổ hợp tác, HTX Môhình hoạt động của các HTX kiểu mới đã thay thế mô hình HTX kiểu cũ, và nhiều

mô hình HTX kiểu mới đã, đang phát huy hiệu quả rất khả quan

Ngày đăng: 10/04/2021, 07:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w