1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

luận án tiến sĩ quản lý nhà nước về đầu tư trực tiếp nước ngoài của thành phố hà nội (the state management on foreign direct investment of hanoi capital)

182 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 182
Dung lượng 1,33 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Được sự hỗ trợ của Trung ương dướinhiều hình thức khác nhau, công tác quản lý nhà nước về FDI của Hà Nội đã cóchuyển biến tích cực: đã đề xuất, xây dựng hệ thống văn bản, quy định, xâydự

Trang 1

cứu của riêng tác giả, các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực, các tài liệu được trích dẫn đúng quy định và được ghi đầy đủ trong danh mục tài liệu tham khảo, không trùng lặp với các công trình khoa học đã công bố.

Hà Nội, ngày tháng năm 2021

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Nguyễn Nguyên Dũng

Trang 2

đã công bố và những vấn đề đặt ra luận án cần tập trung

Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI

VỚI ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI CỦA THÀNH PHỐ HÀ NỘI VÀ KINH NGHIỆM THỰC

2.1 Một số vấn đề chung về đầu tư trực tiếp nước ngoài và quản

lý nhà nước về đầu tư trực tiếp nước ngoài 302.2 Quan niệm, nội dung và các nhân tố tác động đến quản lý nhà nước

về đầu tư trực tiếp nước ngoài của thành phố Hà Nội 422.3 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về đầu tư trực tiếp nước ngoài

và bài học rút ra cho thành phố Hà Nội 54

Chương 3 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẦU TƯ

TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI CỦA THÀNH PHỐ HÀ NỘI 703.1 Khái quát kết quả đầu tư trực tiếp nước ngoài ở thành phố Hà

3.2 Thành tựu và hạn chế trong quản lý nhà nước về đầu tư trực

tiếp nước ngoài của thành phố Hà Nội 803.3 Nguyên nhân của thành tựu, hạn chế và những vấn đề đặt ra

từ thực trạng quản lý nhà nước về đầu tư trực tiếp nước ngoài

Chương 4 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ

NHÀ NƯỚC VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI

4.1 Quan điểm tăng cường quản lý nhà nước về đầu tư trực tiếp

nước ngoài của thành phố Hà Nội thời gian tới 1134.2 Giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về đầu tư trực tiếp

nước ngoài của Thành phố Hà Nội thời gian tới 125

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ

Trang 3

STT Chữ viết đầy đủ Chữ viết tắt

3 Công nghiệp hoá, hiện đại hoá CNH, HĐH

6 Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu á Thái Bình Dương APEC

13 Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế OECD

Trang 4

STT Tên bảng Trang

1 Bảng 3.1: Tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn

Thành phố Hà Nội giai đoạn 2010 - 2019 73

2 Bảng 3.2: Đầu tư trực tiếp nước ngoài phân theo lĩnh vực đầu

tư trên địa bàn Thành phố Hà Nội giai đoạn 2010 - 2019 76

3 Bảng 3.3: Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hình thức đầu tư

trên địa bàn Thành phố Hà Nội giai đoạn 2010 - 2019 78

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài luận án

Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, dưới tác động của cách mạngkhoa học công nghệ hiện đại, đặc biệt là Cách mạng công nghiệp lần thứ 4,

sự di chuyển các nguồn lực thông qua hoạt động đầu tư là một tất yếu vàngày càng đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của các quốc gia dântộc, nhất là các nước đang phát triển Thực tiễn cho thấy, quốc gia, vùnglãnh thổ nào quản lý tốt nguồn vốn FDI sử dụng nó hiệu quả, thì có nhiều cơhội tăng trưởng kinh tế, qua đó khắc phục nhanh hơn tình trạng tụt hậu vềkinh tế so với các nước tiên tiến, đồng thời thúc đẩy tăng trưởng, góp phầnnâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế

Ở nước ta, thực hiện đường lối đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Namkhởi xướng và lãnh đạo, nhất là từ khi Luật ĐTNN chính thức có hiệu lựcnăm 1988, đầu tư trực tiếp nước ngoài ngày càng trở nên phổ biến và thực sựtrở thành động lực quan trọng trong quá trình CNH, HĐH đất nước Vănkiện Đại hội Đảng lần thứ XII khẳng định:

Nâng cao hiệu quả thu hút đầu tư nước ngoài, chú trọng chuyển giao côngnghệ, trình độ quản lý tiên tiến và thị trường tiêu thụ sản phẩm; chủ động lựachọn và có chính sách ưu đãi đối với các dự án đầu tư nước ngoài có trình độquản lý và công nghệ hiện đại, có vị trí hiệu quả trong chuỗi giá trị toàn cầu[52, tr.108]

Trước thực tiễn phát triển FDI, năm 2018 Bộ Chính trị ban hành Nghịquyết số 50 “về định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chấtlượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài đến năm 2030” [15] Qua đó,ngày càng khẳng định vai trò quan trọng của FDI cũng như công tác quản

lý nhà nước về FDI Thực tế hơn 35 năm thực hiện đường lối đổi mới,công tác quản lý nhà nước về FDI tại Việt Nam có sự chuyển biến tíchcực về hệ thống luật, nghị định, thông tư, quy định, quy hoạch, kế hoạch,

bộ máy làm công tác quản lý nhà nước về FDI… Qua đó, góp phần vào

Trang 6

khuyến khích các nhà đầu tư FDI kinh doanh hiệu quả thúc đẩy sự nghiệpCNH, HĐH đất nước

Thành phố Hà Nội là trung tâm đầu não chính trị - hành chính quốcgia, trung tâm lớn về văn hóa, khoa học, giáo dục, kinh tế và giao dịch quốc tếcủa cả nước Những năm qua, thành phố đã có nhiều chủ trương, giải pháp tăngcường công tác quản lý nhà nước về FDI Được sự hỗ trợ của Trung ương dướinhiều hình thức khác nhau, công tác quản lý nhà nước về FDI của Hà Nội đã cóchuyển biến tích cực: đã đề xuất, xây dựng hệ thống văn bản, quy định, xâydựng quy hoạch, kế hoạch, tổ chức bộ máy, thanh tra, kiểm tra, hướng dẫn, hỗtrợ, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức kinh tế quốc tế hoạt động, giúpdòng vốn FDI vào Hà Nội ngày một tăng, tạo nguồn lực kinh tế quan trọng, bổsung tổng vốn đầu tư phát triển các ngành, lĩnh vực kinh tế, thúc đẩy chuyểndịch cơ cấu kinh tế, góp phần phát triển kinh tế - xã hội, thúc đẩy hoàn thiệnthể chế kinh tế, môi trường đầu tư kinh doanh của thành phố Hà Nội theo cácnguyên tắc của kinh tế thị trường và phù hợp với thông lệ quốc tế

Hiện nay công tác quản lý nhà nước về FDI của thành phố Hà Nội cónhững bất cập như: hệ thống chính sách, cơ chế còn thiếu tính đồng bộ, hệthống văn bản còn chồng chéo, chưa thống nhất, việc xây dựng quy hoạch, kếhoạch quản lý FDI còn nhiều bất cập, xây dựng bộ máy, thanh tra, kiểm tra,giám sát, hỗ trợ chưa thường xuyên, liên tục, hiệu lực, hiệu quả công tác quản

lý nhà nước về FDI của thành phố còn thấp Thông qua đó, làm ảnh hưởngđến chất lượng các dự án FDI đã đang và sẽ triển khai, tác động xấu đến niềmtin của nhà đầu tư nước ngoài, khó khăn trong kêu gọi, khai thác và sử dụng

có hiệu quả nguồn vốn FDI Tuy vậy, cho đến nay chưa có công trình khoahọc nào nghiên cứu một cách hệ thống nhằm giải đáp những vấn đề trên Vìvậy, nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn cũng như đánh giáđúng thực trạng, trên cơ sở đó đề ra giải pháp tăng cường quản lý nhà nước vềFDI của thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay là cấp thiết cả về lý luận

và thực tiễn Xuất phát từ yêu cầu trên, nghiên cứu sinh lựa chọn vấn đề

Trang 7

“Quản lý nhà nước về đầu tư trực tiếp nước ngoài của thành phố Hà Nội”

làm luận án tiến sĩ, chuyên ngành kinh tế chính trị

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu:

Luận giải cơ sở lý luận, thực tiễn quản lý nhà nước về FDI của thànhphố Hà Nội; trên cơ sở đó đề xuất quan điểm và giải pháp tăng cường quản

lý nhà nước về FDI của thành phố Hà Nội thời gian tới

Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

- Luận giải những vấn đề chung về FDI, quản lý nhà nước về FDI; quanniệm, nội dung và những nhân tố tác động đến quản lý nhà nước về FDI củathành phố Hà Nội; phân tích kinh nghiệm quản lý nhà nước về FDI một sốthành phố, rút ra bài học cho thành phố Hà Nội

- Đánh giá đúng thực trạng, chỉ ra nguyên nhân và những vấn đề đặt ra cầngiải quyết trong quản lý nhà nước về FDI của thành phố Hà Nội thời gian qua

- Đề xuất quan điểm và giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về FDIcủa thành phố Hà Nội thời gian tới

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng: Quản lý nhà nước về đầu tư trực tiếp nước ngoài

Phạm vi nghiên cứu:

- Phạm vi về nội dung: Nghiên cứu quản lý nhà nước về FDI trên các nội

dung: Tạo lập môi trường và điều kiện thuận lợi cho hoạt động đầu tư của cácnhà FDI; hoàn thiện quy hoạch, xây dựng kế hoạch thu hút FDI; tổ chức thựchiện các dự án FDI thuộc chức năng quản lý của thành phố Hà Nội; kiểm tra,thanh tra và giám sát hoạt động của các doanh nghiệp FDI

- Phạm vi về không gian: Quản lý nhà nước về FDI của thành phố Hà Nội.

- Phạm vi về thời gian: Số liệu khảo sát thực tế quản lý nhà nước về FDI

của thành phố Hà Nội từ năm 2010 đến năm 2019

Trang 8

4 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận:

Luận án nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối chính sách về FDI,quản lý, quản lý nhà nước, phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tếcủa Đảng và Nhà nước Việt Nam

-Cơ sở thực tiễn:

Đề tài dựa trên những tư liệu, số liệu do các cơ quan chức năng củaTrung ương và thành phố Hà Nội công bố; đồng thời kế thừa kết quả nghiêncứu của những công trình khoa học có liên quan

Phương pháp nghiên cứu:

Phương pháp chung: Tác giả vận dụng phương pháp duy vật biện

chứng và duy vật lịch sử để nhận diện đúng vai trò quản lý nhà nước về FDI.Tác giả đặt vấn đề quản lý nhà nước về FDI trong sự vận động phát triển củanền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập ngày càng sâurộng vào nền kinh tế khu vực và thế giới Phương pháp này tác giả sử dụng ở

cả 4 chương của luận án

Phương pháp trừu tượng hóa khoa học: Đề tài sử dụng phương pháp

đặc thù của kinh tế chính trị là phương pháp trừu tượng hóa khoa học nhằmgạt bỏ khỏi đối tượng nghiên cứu những nội dung ít ảnh hưởng đến quản lýnhà nước về FDI, để làm rõ cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu Phươngpháp này chủ yếu được sử dụng ở chương 2

Phương pháp phân tích - tổng hợp: Được sử dụng ở cả 4 chương của

luận án, chủ yếu được sử dụng ở chương 3 để tập hợp, phân tích các tưliệu, số liệu phục vụ cho việc minh họa, đánh giá, luận giải những vấn đềquản lý nhà nước về FDI của thành phố Hà Nội trong thời gian qua, chỉ rõnhững thành tựu và hạn chế

Phương pháp lôgic kết hợp với lịch sử: Được sử dụng chủ yếu ở chương

3 để tìm ra nguyên nhân của thực trạng vấn đề quản lý Nhà nước về FDI, chỉ ra

Trang 9

những mâu thuẫn trong quản lý Nhà nước về FDI của thành phố Hà Nội.

Phương pháp thống kê - so sánh: Phương pháp này được sử dụng để

minh họa cho việc phân tích các nguồn số liệu nhằm so sánh kết quả hoạt độngquản lý giữa các năm trong phạm vi thời gian nghiên cứu, khảo sát, rút ranhững nhận định, đánh giá đúng thành tựu, hạn chế quản lý nhà nước về FDIcủa thành phố Hà Nội, đồng thời xác định nguyên nhân và những vấn đề đặt racần giải quyết từ thực trạng Phương pháp này chủ yếu được dùng ở chương 3

5 Những đóng góp mới của luận án

- Đưa ra quan niệm, nội dung và nhân tố tác động đến quản lý nhà nước

về FDI của thành phố Hà Nội dưới góc độ kinh tế chính trị

- Rút ra một số bài học quản lý nhà nước về FDI cho thành phố Hà Nộitrên cơ sở khảo cứu kinh nghiệm ở một số thành phố trong nước

- Khái quát những vấn đề đặt ra cần giải quyết từ thực trạng quản lýnhà nước về FDI của thành phố Hà Nội thời gian qua

- Đề xuất quan điểm và giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về FDIcủa thành phố Hà Nội trong thời gian tới

6 Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của luận án

Ý nghĩa lý luận: Góp phần luận giải những vấn đề lý luận và thực tiễn

về quản lý Nhà nước về FDI của thành phố Hà Nội

Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần cung cấp

những luận cứ khoa học làm cơ sở quản lý nhà nước về FDI của thành phố HàNội Kết quả luận án có thể làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu khoa học,giảng dạy, học tập những vấn đề có liên quan đến FDI và quản lý nhà nước vềFDI ở Việt Nam nói chung và Hà Nội, các địa phương trong cả nước nói riêng

7 Kết cấu của luận án

Kết cấu của luận án gồm: Mở đầu, 4 chương (11 tiết); kết luận; danhmục các công trình nghiên cứu của tác giả có liên quan đến đề tài, danh mụctài liệu tham khảo và phụ lục

Trang 10

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.1 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài có liên quan đến đề tài

1.1.1 Các công trình nghiên cứu liên quan đến đầu tư trực tiếp nước ngoài

Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu ngoài nước liên quanđến FDI, trong đó tiêu biểu là:

Cheng, L and Kwan, Y (2000),“What are the determinant sof the locationof foreign directin vestment? The Chinese experience, Journal of International Economic”,(“Các yếu tố quyết định đến địa điểm đầu tư của đầu tư trực tiếp nước ngoài là gì? Kinh nghiệm của người Trung Quốc”, Tạp chí Kinh tế Quốc tế) (100), pp.379-400 [129] Vấn đề cơ bản mà đề tài giải

quyết là nghiên cứu, phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn địađiểm, các điều kiện cần thiết và các yếu tố quyết định đến lựa chọn địa điểmđầu tư của đầu tư trực tiếp nước ngoài Đề tài đã đề cập đến những kinhnghiệm của người Trung Quốc trong thu hút đầu tư, làm cơ sở đề ra các giảipháp tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài

Brahmasrene, T., and Jiranyakul, K (2001), Foreign Direct Investment in Thaland, What Factor Matter? Proceedings of the Academy for International Business, (Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Thái Lan, Yếu

tố nào? Kỷ yếu của Học viện Kinh doanh Quốc tế) (97) (2), pp.13 [126].

Tác giả đưa ra những ưu đãi khác nhau tạo nên những ưu điểm khác biệttrong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Thái Lan như: Cơ sở hạ tầngcải thiện, môi trường đầu tư thay đổi với những cải cách hành chính thiếtthực, phát triển những chính sách ưu đãi đối với hoạt động đầu tư tại TháiLan, từ đó Thái Lan các có chính sách tích cực trong tiếp cận và xâm nhậpvào thị trường vốn quốc tế

Trang 11

Binh, N.N., and Haughton, J (2002),“Trade liberalization and foreign direct investment in Vietnam”, ASEAN Economic Bulletin, “Tự do hóa thương mại và đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam”, Bản tin kinh

tế ASEAN, 93 (3), 302-318 [123] Tác giả đã chỉ ra những cơ hội và thách

thức của tự do hóa thương mại đã thúc đẩy dòng đầu tư trực tiếp nước ngoàivào Việt Nam Chính sách huy động các nguồn lực của FDI vào Việt Nam

có những đổi mới để Việt Nam trở thành một điểm đến hấp dẫn về FDI

Mirza, H and Giroud, A (2004), “Regional integration and benefits from foreign direct investment in ASEAN countries: the case of Vietnam”, Asian Development Economic Review, “Hội nhập khu vực và lợi ích từ đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các nước ASEAN: trường hợp Việt Nam”, Tạp chí kinh tế phát triển châu Á, (107)(1), pp.31-40 [138] Tác giả đã đề cập những

vấn đề cơ bản về Hội nhập khu vực, tác động tích cực của nó đến phát triểnkinh tế và lợi ích từ đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các nước ASEAN Tácgiả đã chỉ ra dòng đầu tư của các công ty xuyên quốc gia sẽ hình thành mạnglưới công nghiệp phát triển thị trường các nước ASEAN trong đó có Việt Nam

Vittorio Leproux and Douglas H.brooks (2004), Viet Nam: Foreign Direct Investment and Postcrisis Regional Integration -(Việt Nam: Đầu tư trực tiếp nước ngoài và hội nhập khu vực sau khủng hoảng)

[144] Hai tác giả đã đề cập sâu về FDI và sự hội nhập của Việt Nam saukhủng hoảng tài chính châu Á năm 1997 Cuốn sách đã đề cập đến xuhướng và sự phát triển gần đây của FDI tại Việt Nam, các ảnh hưởng củaFDI đến kinh tế Việt Nam, phân tích chuyên sâu về thể chế đầu tư, môitrường kinh doanh và các vấn đề liên quan đến thương mại, hội nhậptrong khu vực và đầu tư FDI Qua đó đề tài đã chỉ ra những bất cập vềnăng lực quản lý nhà nước trong việc quản lý và kiểm soát thể chế, môitrường đầu tư để thu hút FDI vào Việt Nam hiệu quả

Trang 12

Cohen, S (2007), Multinational Corporations and Foreign Direct Investment, Avoiding Simplicity, Embracing Complexity, Oxford University Press,Embracing Complexity, (Các công ty đa quốc gia và đầu tư trực tiếp nước ngoài, tránh sự đơn giản) [130] Đề tài đã cho thấy công ty đa quốc gia

thường đầu tư xuyên biên giới thông qua hoạt động thương mại tự do Nhưnggần đây, xu hướng này dần thay đổi họ chuyển sang các phương thức đầu tưtrực tiếp nước ngoài để có được hiệu quả tốt hơn Tuy nhiên, bên cạnh các lợiích họ mang lại, không tránh khỏi những bất cập, nếu quản lý nhà nước yếukém có thể gây thiệt hại lớn cho nền kinh tế nước chủ nhà Để tránh sự đơngiản, chủ quan bên cạnh việc tăng cường khai thác FDI, cần có sự kiểm soátchặt chẽ đối với các công ty xuyên quốc gia Xác định rõ vai trò quản lý nhànước trong bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ, kiểm soát chặt chẽ thịtrường khoa học - công nghệ để dòng FDI có hiệu quả

Mottable, Dhaka (2007), Determinants of foreign direct invesment and its impact on economic growth in developing countries (Các yếu tố quyết định đầu tư trực tiếp nước ngoài và tác động của nó đến tăng trưởng kinh tế ở các nước đang phát triển) [139] Những lý luận và thực

tiễn mà các tác giả đưa ra làm cơ sở cho việc chỉ ra những yếu tố quyếtđịnh đầu tư trực tiếp nước ngoài, các nhân tố ảnh hưởng và tác động của

nó đến tăng trưởng kinh tế ở các nước đang phát triển Từ đó, đề xuấtnhững quan điểm và giải pháp có tính khả thi để hài hòa giữa đầu tư FDIvới phát triển kinh tế theo cả chiều rộng và chiều sâu, phù hợp với cácđiều kiện phát triển của mỗi nước

Chen, Y (2009), “Agglomeration and location of foreign direct investment: he case of china”, China economic review (Tích tụ và lựa chọn địa điểm đầu tư của đầu tư trực tiếp nước ngoài: trường hợp của Trung Quốc) [128] Tác giả chỉ rõ những tác động của các yếu tố khách quan và

chủ quan ảnh hưởng đến tích tụ và lựa chọn địa điểm đầu tư của các nhà

Trang 13

đầu tư trực tiếp nước ngoài Tùy theo điều kiện và đặc điểm riêng của mỗinước, Trung Quốc có những đặc thù riêng trong thu hút đầu tư trực tiếpnước ngoài, tập trung vào những nguồn vốn có chất lượng cao để nhanhchóng bắt kịp trình độ phát triển của các nước tiên tiến.

Sapnahooda (2011), A study of FDI and Economy (Một nghiên cứu về

FDI và Kinh tế) [141] Tài liệu đã phân định những liên quan rõ nét giữaFDI và phát triển Kinh tế Thiết lập cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa các địaphương trong hoạch định và thực thi chính sách; khắc phục kịp thời tìnhtrạng không thống nhất, thực thi kém hiệu quả các quy định pháp luật Thựchiện cơ cấu lại hệ thống quản lý FDI từ trên xuống, bảo đảm tập trung, thôngsuốt, hiệu quả để tạo đà cho phát triển kinh tế Đòi hỏi không chỉ có nhữngthay đổi định hướng về thu hút FDI mà còn thay đổi hoạt động quản trị nhànước, đảm bảo sự phát triển bền vững

Wee Kee Hwee and Hafiz Mirza (2015), ASEAN Investment Report 2015: Infrastructure Investment and Connectivity(Báo cáo đầu tư ASEAN 2015: Đầu tư cơ sở hạ tầng và Kết nối) [147] Báo cáo đầu tư ASEAN năm

2015 được viết với hai tác giả Wee Kee Hwee và Hafiz Mirza gồm 4 chương

đề cập đến các vấn đề: Sự phát triển của FDI và chiến lược đầu tư của cácdoanh nghiệp; đầu tư cơ sở hạ tầng và sự tham gia của khu vực tư nhân tạiASEAN; chuỗi giá trị cơ sở hạ tầng và thúc đẩy các công ty đa quốc gia tạiASEAN, kết nối cơ sở hạ tầng và kinh tế tại ASEAN Báo cáo nêu rõ xu hướngđầu tư tại các nước ASEAN, các chiến lược và hoạt động của các công ty đaquốc gia, sự cải thiện chính sách đầu tư của các nước ASEAN, triển vọng năm2015-2016 Báo cáo cũng nêu rõ tầm quan trọng và nhu cầu đầu tư của cơ sở

hạ tầng tại ASEAN, sự tham gia của các nhà đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực cơ

sở hạ tầng tại ASEAN, chuỗi giá trị của cơ sở hạ tầng và thúc đẩy các công ty

đa quốc gia tham gia đầu tư vào lĩnh vực này

Trang 14

1.1.2 Các công trình nghiên cứu liên quan đến quản lý nhà nước

về đầu tư trực tiếp nước ngoài

Billington, N (1999),“The location of foreign direct investment: an empirical analysis”, Applied Economics (Vị trí của đầu tư trực tiếp nước ngoài: phân tích thực nghiệm, Kinh tế học ứng dụng) [122] Tác giả đã xác

định rõ vai trò và vị trí của đầu tư trực tiếp nước ngoài, phân tích thực trạngcủa đầu tư trực tiếp nước ngoài trên cơ sở thực nghiệm của các quốc gia để từ

đó đánh giá mặt được và chưa được chỉ ra nguyên nhân của từng vấn đề trongquản lý nhà nước về đầu tư trực tiếp nước ngoài Tác giả nêu lên các giảipháp nâng cao khả năng tiếp cận và tạo ra những môi trường thuận lợi để hỗtrợ và thúc đẩy thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài

Altomonte, C.(2000), “Economic determinants and institutional frameworks: FDI in economies in transition”, Transnational Corporations (“Các yếu tố quyết định kinh tế và khung thể chế: Vốn đầu tư vào các nền kinh tế trong quá trình chuyển đổi”, Tập đoàn xuyên quốc gia) [121] Tác

giả xác định trong các yếu tố quyết định đến phát triển kinh tế có vai trò rấtlớn của các tập đoàn xuyên quốc gia Nhưng tác giả đã chỉ ra ưu, nhượcđiểm dòng vốn của các Tập đoàn xuyên quốc gia trên cơ sở tìm ra giải phápcho từng vấn đề để hạn chế mặt không tích cực của nó Vì vậy, khung thểchế của nhà nước cần có sự đổi mới và đáp ứng kịp thời trong quá trình dòngvốn đó được đầu tư vào các nền kinh tế mới

Bevan, A.,Estrin, S.&Meyer,K (2004),“Foreign investment location and institutional development in transition economies”, International Business Review(“Vị trí của đầu tư nước ngoài và phát triển thể chế trong các nền kinh tế chuyển đổi”, Tạp chí Đánh giá kinh doanh quốc tế) [124] Tác giả đã chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư nước

ngoài, để từ đó xác định vị trí của đầu tư nước ngoài trong nền kinh tế, vaitrò rất lớn trong xây dựng, phát triển và hoàn thiện thể chế trong các nền

Trang 15

kinh tế chuyển đổi để kiểm soát được quá trình dòng vốn đó được đầu tưvào các nền kinh tế chuyển đổi Nếu có những điều chỉnh kịp thời trongquản lý, khai thác, sử dụng dòng vốn đầu tư nước ngoài, nó sẽ mở ra các cơhội trước mắt cũng như lâu dài thúc đẩy phát triển kinh tế.

Tarzi, S (2005),“Foreign direct investment flows into developing countries: Impact of location and government policy”,Journal of Social, Political and Economic Studies (“Dòng vốn Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các nước đang phát triển: Tác động của địa điểm và chính sách của Chính phủ”, Tạp chí nghiên cứu xã hội, chính trị và kinh tế) [143] Tác giả

đã chỉ ra các yếu tố quyết định dòng vốn FDI vào các nước đang phát triểnđánh giá những tích cực và hạn chế của dòng vốn này phân tích các nguyênnhân ảnh hưởng bởi tác động của địa điểm và chính sách của chính phủ từ

đó tác giả nêu rõ các vấn đề cần tiếp tục xây dựng và hoàn thiện cơ chếchính sách của chính phủ trong thu hút dòng vốn FDI một cách phù hợp,đúng hướng

Colin, K., David, P & Zhang, Y.F.(2006),“Foreign direct investment

in infrastructure in developing countries: does regulation make a difference”, Transnational Corporations (“Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào cơ sở hạ tầng

ở các nước đang phát triển: quy định có tạo ra sự khác biệt”, Tập đoàn xuyên quốc gia) [131] Tác giả đã khẳng định để thu hút đầu tư trực tiếp nước

ngoài vào xây dựng cơ sở hạ tầng ở các nước đang phát triển phải có thể chếtạo ra sự khác biệt về cơ chế, chính sách để thu hút được nhiều dự án lớn vàoxây dựng cơ sở hạ tầng ở các nước đang phát triển nhằm tạo ra tiền đề vữngchắc cho việc giải quyết vấn đề về vốn Các nước đang phát triển cần kết hợpchặt chẽ giữa phát huy các nguồn lực trong nước với sự đầu tư của nướcngoài, đặc biệt phải có sự hỗ trợ, giúp đỡ của nhà nước về cơ chế chính sách

để tạo sự phát triển cho các nhà đầu tư nước ngoài, làm cho dòng vốn FDI

Trang 16

không chỉ đang tăng trưởng tốt về lượng mà cả về chất góp phần quan trọngtạo nên những thành tựu phát triển kinh tế đất nước

Liu, K., Kevin, D., and Maria, E V (2012),“Determinants of regional distribution of FDI inflows across China’s four regions”, Internation Business Research (“Các yếu tố quyết định phân phối dòng vốn FDI trên bốn khu vực của Trung Quốc”, Nghiên cứu kinh doanh quốc tế)

[137] Các tác giả đã chỉ ra các yếu tố quyết định phân phối dòng vốn FDItrên bốn khu vực của Trung Quốc ảnh hưởng bởi các chính sách kinh tế vĩ

mô, chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng để từ đó xác định ưu nhược điểm dòng vốnFDI trên bốn khu vực của Trung Quốc tác động của nó đến phát triển chungcủa nền kinh tế Trung Quốc Xác định được với hình thức FDI, nước tiếpnhận đầu tư khó chủ động trong việc điều phối, phân bổ sử dụng nguồn vốnnày Vì vậy, tác giả đã chỉ ra các yếu tố quyết định phân phối dòng vốn FDItrên bốn khu vực của Trung Quốc về cơ bản nhà nước cần đưa ra định hướng

để khai thác sức mạnh về tiềm lực tài chính của các doanh nghiệp có vốnFDI

Shawn Arita and KiyoyasuT anaka (2013), “FDI and Investment

Barrierin Developing Economies” - (“Rào cản đầu tư và đầu tư vào các nền

kinh tế đang phát triển”) [142] Hai tác giả Shawn Arita and Kiyoyasu

Tanaka đã nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của cácdoanh ngiệp Theo hai ông, các cơ quan nhà nước cần có những lộ trình thíchhợp trong việc giảm thiểu các rào cản đầu tư Cụ thể như: Tinh giảm các thủtục phê chuẩn đầu tư, giảm thuế và các rào cản khác tạo ra những ưu đãi nhấtđịnh để hấp dẫn nhà đầu tư, như vậy sẽ thúc đẩy các doanh nghiệp tăng đầu tư

và mở rộng sản xuất nhất Đề tài đã chỉ ra nhân tố ảnh hưởng đến quyết địnhđầu tư rất quan trọng đó là vai trò quản lý nhà nước về FDI, giúp cho các nhàđầu tư FDI đưa ra quyết định phù hợp với mong muốn của nước chủ nhà

Trang 17

Edition, OECD (2015), Policy Framework for Investment [135] - (Báo cáo khung chính sách đầu tư) Khung chính sách đầu tư của OECD, là bộ

công cụ được sử dụng để đánh giá khung chính sách đầu tư của các quốc gia

Đề tài đã tập trung vào 12 nội dung gồm: chính sách đầu tư, xúc tiến và tạothuận lợi hóa đầu tư, chính sách thương mại, chính sách cạnh tranh, chínhsách thuế, quản trị doanh nghiệp, chính sách khuyến khích đạo đức doanhnghiệp, phát triển nguồn nhân lực phục vụ đầu tư, đầu tư trong lĩnh vực cơ sở

hạ tầng, đầu tư tài chính, hành chính công và đầu tư cho tăng trưởng xanh.Báo cáo của OECD đã hệ thống hoá những vấn đề lý luận về khung chínhsách đầu tư trong quá trình thu hút FDI nhưng chưa làm rõ được khung chínhsách, năng lực quản lý nhà nước trong thu hút đầu tư FDI vào Việt Nam

1.2 Các công trình nghiên cứu ở trong nước có liên quan đến đề tài

1.2.1 Các công trình nghiên cứu liên quan đến đầu tư trực tiếp nước ngoài

Nguyễn Anh Tuấn, Phan Hữu Thắng, Hoàng Văn Huấn (1994), Đầu Tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam, cơ sở pháp lý, hiện trạng, triển vọng [101].

Công trình này đã đề cập đến cơ sở pháp lý, hiện trạng, triển vọng của quá trìnhđầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam bên cạnh những thành công đáng ghinhận, có khả năng gây ra một số ảnh hưởng bất lợi về mặt kinh tế, xã hội chonước tiếp nhận đầu tư; chỉ ra, so với các hình thức ĐTNN khác thì ở hình thứcFDI, nước tiếp nhận đầu tư khó chủ động trong việc điều phối, phân bổ sửdụng nguồn vốn này vì về cơ bản các yếu tố… đều do nhà đầu tư quyết định

Vì vậy, nhà nước cần chủ động đưa ra những cơ sở pháp lý có khả năng ngănchặn một số ảnh hưởng bất lợi về mặt KT-XH, làm gia tăng sự phân hoá trongcác tầng lớp nhân dân, tăng mức độ chênh lệch phát triển trong một vùng hoặcgiữa các vùng trên cơ sở của hiện trạng từ đó tác giả xác định triển vọng cầnphải đạt được của quá trình đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam Đề tàicòn chỉ ra những tác động tiêu cực của dòng FDI khi năng lực quản lý nhànước còn hạn chế sẽ khó có sự phát triển bền vững

Trang 18

Hoàng Xuân Long (2001), Tiềm năng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam [73] Luận án đã phân tích một số thuận lợi và thách

thức trong việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam; đề xuấtcác biện pháp đẩy mạnh thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài trong thời giantới qua việc tập trung chú trọng giải phóng mặt bằng và xây dựng kết cấu hạtầng, tháo gỡ khó khăn về vốn để mở rộng thị trường; tăng cường công tácquản lý nhà nước đối với việc khai thác tiềm năng của chính từng vùng miền

để thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam Luận án đã nêu lên sựcần thiết phải làm rõ vai trò đắc lực của quản lý nhà nước trong việc địnhhướng và khai thác dòng FDI Khẳng định vai trò quản lý nhà nước trongxây dựng và hoàn thiện thể chế cho thu hút FDI, tạo môi trường đầu tư, kinhdoanh thuận lợi, ổn định, minh bạch, cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh Xácđịnh quản lý nhà nước đóng vai trò chủ yếu trong huy động có hiệu quả cácnguồn lực FDI, là động lực để đảm bảo sự phát triển bền vững

Nguyễn Trọng Xuân (2002), Đầu tư trực tiếp nước ngoài với công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Hà Nội [119] Công trình đã lý giải

mối quan hệ hai mặt giữa phát triển kinh tế theo hướng CNH, HĐH với FDI;

Đề tài đã đánh giá thực trạng của đầu tư trực tiếp nước ngoài với công cuộcCNH, HĐH; chỉ ra những thành công và đóng góp rất lớn của đầu tư trựctiếp nước ngoài vào phát triển kinh tế của Hà Nội Đề tài cũng chỉ ra nhữngbất cập rất lớn trong quản lý đầu tư trực tiếp nước ngoài: Chưa được thựchiện một cách đồng bộ với hệ thống pháp luật, chưa gắn kết chặt chẽ với quátrình nâng cao năng lực cạnh tranh, doanh nghiệp chưa có cơ hội để pháttriển mạnh hơn, sáng tạo hơn và có sức cạnh tranh hơn trong công cuộcCNH, HĐH Việc ứng phó với những biến động và xử lý những tác động từmôi trường khu vực và quốc tế còn bị động, lúng túng và chưa đồng bộ Chủtrương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về đầu tưtrực tiếp nước ngoài chưa được quán triệt kịp thời, đầy đủ và thực hiện

Trang 19

nghiêm túc, nên chưa tận dụng được hết các cơ hội và ứng phó với các tháchthức cho thích ứng với tiến trình hội nhập hiện nay

Trường Đại học kinh tế quốc dân (2005), Đầu tư của các công ty xuyên quốc gia tại Việt Nam [100] Đề tài đã đề cập một số lý luận cơ bản về

dòng đầu tư của các công ty xuyên quốc gia trên toàn thế giới hay khu vực, hìnhthành mạng lưới công nghiệp hỗ trợ phát triển thị trường trong nước Đề tài đãchỉ rõ trước đây: Các tập đoàn đa quốc gia thường đầu tư xuyên biên giới thôngqua việc sở hữu trực tiếp cơ sở ở nước ngoài tại nước sở tại hoặc thông qua hoạtđộng thương mại tự do Nhưng gần đây, xu hướng này dần thay đổi và các tậpđoàn đa quốc gia cũng chuyển sang các phương thức đầu tư trực tiếp nước ngoài

để có được hiệu quả tốt hơn… Ngoài ra, đề tài đã chỉ ra những yếu kém trongquản lý nhà nước có thể gây thiệt hại lớn cho nền kinh tế của Việt Nam Để tránhViệt Nam trở thành “bãi thải công nghệ” của các công ty xuyên quốc gia, bêncạnh việc tăng cường thu hút và sử dụng FDI, cần có sự kiểm soát chặt chẽ Xácđịnh rõ vai trò quản lý nhà nước trong bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ

Trần Quang Lâm (2005), Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay; thực trạng và triển vọng [71] Đề tài đã phân tích thực trạng vốn đầu tư nước

ngoài vào Việt Nam; thực thi các chính sách bảo đảm ổn định vững chắckinh tế vĩ mô để tạo điều kiện thu hút đầu tư và phát triển kinh tế Đề tàiđãđưa ra các định hướng và đề xuất các biện pháp đẩy mạnh thu hút vốn đầu

tư nước ngoài Tác giả đã đề cập đến những đóng góp tích cực của kinh tế cóvốn đầu tư nước ngoài đã và đang góp phần chuyển dịch cơ cấu nền kinh tếtheo hướng CNH, HĐH đất nước, mở ra một kỷ nguyên mới trong xu thế hộinhập kinh tế khu vực và thế giới của Việt Nam hiện nay Tác giả còn chỉ ranhững bất cập trong các chính sách tài chính, tiền tệ, thuế để hỗ trợ và thúcđẩy kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài Khẳng định cần phát huy vai trò q uản

Trang 20

lý nhà nước trong thu hút đầu tư nước ngoài vào Hà Nội, để Hà Nội đi đầutrong tiếp cận trình độ phát triển tiên tiến của thế giới và khu vực.

Đỗ Hoàng Long (2008), Tác động của toàn cầu hóa đối với dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam [72] Luận án đã chỉ ra sự tác động

mạnh mẽ của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Hà Nội, bên cạnhnhững mặt được dòng vốn FDI có khả năng gây ra một số ảnh hưởng bất lợi

về mặt KT - XH cho nước tiếp nhận đầu tư: So với các hình thức ĐTNN khácthì hình thức FDI, nước tiếp nhận đầu tư khó chủ động trong việc điều phối,phân bổ sử dụng nguồn vốn này vì về cơ bản các yếu tố như quy mô, địađiểm, hình thức đầu tư, sản phẩm công nghệ, phân phối sản phẩm… đều donhà đầu tư quyết định Đề tài đưa ra những đánh giá về tác động tiêu cực củadòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài khi năng lực quản lý nhà nước chưađược nâng cao, sẽ khó kiểm soát được công nghệ sử dụng, năng suất lao độngcòn thấp, quá chú trọng vào lao động giá rẻ nội lực của nền kinh tế yếu, phụthuộc nhiều vào các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Nguyễn Đức Hải (2013), Đề xuất giải pháp marketing lãnh thổ nhằm thu hút FDI trên địa bàn Hà Nội, giai đoạn 2013-2020 [60] Luận án đã hệ

thống hoá những vấn đề lý luận về FDI và kinh nghiệm của một số địaphương trong việc thu hút FDI Phân tích thực trạng hoạt động thu hút FDItại Hà Nội giai đoạn 1989-2012; đồng thời đánh giá thành tựu, hạn chế vànhững nguyên nhân Đề xuất một số giải pháp đẩy mạnh hoạt động thu hútFDI trên địa bàn Hà Nội Tác giả đã đưa ra những nghiên cứu về marketingđịa phương, các nhân tố ảnh hưởng tới việc xác lập và thực hiện marketinglãnh thổ, xây dựng và phản ảnh đầy đủ các giai đoạn của qui trình xác lậpchiến lược marketing nhằm thu hút FDI trên địa bàn Hà Nội Bên cạnh đó,tác giả đã chỉ ra những bất cập về thu hút FDI có nơi, có lúc chưa được quántriệt kịp thời, đầy đủ và thực hiện nghiêm túc Vai trò quản lý nhà nước về

Trang 21

thu hút FDI còn bị tác động bởi cách tiếp cận phiến diện, ngắn hạn và cụcbộ; do đó, chưa tận dụng được hết các cơ hội và ứng phó hữu hiệu với cácthách thức Đòi hỏi Hà Nội không chỉ thay đổi định hướng về thu hút FDI

mà còn thay đổi hoạt động quản trị nhà nước

Võ Thị Vân Khánh (2016), Tăng cường thu hút FDI vào các khu công nghiệp theo Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội thành phố Hà Nội đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 [70] Luận án đã nghiên cứu những vấn

đề lý luận cơ bản về: FDI, Khu công nghiệp, vai trò của thu hút FDI vào khu côngnghiệp trong phát triển kinh tế - xã hội quốc gia và địa phương Tác giả đã nghiêncứu những nhân tố khách quan và chủ quan có ảnh hưởng đến tăng cường thu hútFDI vào các khu công nghiệp Đánh gía rất rõ nét về thực trạng thu hút FDI vàocác khu công nghiệp của thành phố Hà Nội theo quy hoạch tổng thể phát triểnkinh tế - xã hội thành phố Hà Nội Tác giả đã chỉ ra những thành tựu và hạn chếtrong thu hút FDI vào các khu công nghiệp của Hà Nội, những bất cập trong quátrình thu hút FDI về hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách chưa được thực hiệnmột cách đồng bộ, chưa đáp ứng yêu cầu hội nhập Từ đó, đề xuất các quan điểm,định hướng và hệ thống các giải pháp đồng bộ về tăng cường thu hút FDI vào cáckhu công nghiệp theo quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội thành phố HàNội đến năm 2020, định hướng đến năm 2030

1.2.2 Các công trình nghiên cứu liên quan đến quản lý nhà nước về đầu

tư trực tiếp nước ngoài

Viện nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (2006), Đánh giá chính sách khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài từ góc độ phát triển bền vững,

CIEM, Dự án VIE 01/021/UNDP, Hà Nội [118] Đã đề cập nhiều biện phápcủa Trung Quốc nhằm tăng cường thu hút FDI vào khu công nghiệp đặc thù,như khu kinh tế đặc biệt, khu phát triển khoa học kỹ thuật và mở cửa cácthành phố ven biển, tạo điều kiện thuận lợi và tập trung thu hút FDI vào các

Trang 22

khu này của Trung Quốc Ngoài ra, đề tài cũng chỉ rõ nhiều chính sách củaTrung Quốc về tín dụng, đảm bảo chính trị, bảo hiểm thực hiện hợp đồng, bảolãnh đối với những hạng mục đầu tư trọng điểm trong các lĩnh vực côngnghiệp sạch, giao thông mà chính phủ khuyến khích đầu tư

Lê Mạnh Tuấn (1996), Hoàn thiện khung pháp luật đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam [102] Luận án mô tả bức tranh toàn cảnh về những

bất cập, phức tạp và khó khăn trong quá trình thu hút FDI của Việt Nam,đánh giá những thành công và hạn chế các hoạt động thu hút FDI vào ViệtNam, phân tích các nguyên nhân ảnh hưởng đến thành công và hạn chế đótác giả nhận thấy cần phải hoàn thiện khung pháp luật đầu tư Từ đó nêu rõcác vấn đề cần tiếp tục xây dựng và hoàn thiện khung pháp luật đầu tư mộtcách phù hợp, đúng hướng Thực thi các chính sách bảo đảm ổn định vữngchắc kinh tế vĩ mô để tạo điều kiện thu hút đầu tư Điều chỉnh chính sách,pháp luật về đất đai, tạo điều kiện cho nhà đầu tư tiếp cận cơ chế thị trường,phù hợp với quy hoạch Hoàn thiện các chính sách tài chính, tiền tệ, thuế để

hỗ trợ và thúc đẩy đầu tư trực tiếp nước ngoài Đẩy nhanh tiến trình cơ cấulại thị trường tài chính, bảo đảm cơ cấu hợp lý giữa thị trường tiền tệ và thịtrường vốn Nâng cao khả năng tiếp cận tài chính, tín dụng (kể cả vốn vay từnước ngoài) đối với các doanh nghiệp FDI…

Nguyễn Văn Thanh (2000), Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với sự phát triển bền vững của các nước Đông Á và bài học đối với Việt Nam [94] Luận án đã đề cập một số vấn đề lý luận về vai trò của đầu tư trực

tiếp nước ngoài đối với sự phát triển bền vững của các nước Đông Á; cácnhân tố ảnh hưởng đến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của các nướcĐông Á và bài học đối với Việt Nam để rút ra những vấn đề còn tồn tại cầnkhắc phục, đề ra giải pháp để đẩy mạnh thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoàivào Việt Nam Đề tài đã chỉ ra những bất cập của các nước Đông Á trong

Trang 23

giai đoạn đầu thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài: Sản xuất công nghiệp chủyếu là gia công, lắp ráp, giá trị gia tăng thấp, chưa có ngành công nghiệpmũi nhọn đóng vai trò dẫn dắt, công nghiệp hỗ trợ kém phát triển, tỉ lệ nộiđịa hoá của các ngành công nghiệp ở mức thấp

Mai Ngọc Cường (2000), Hoàn thiện chính sách và tổ chức thu hút đầu

tư trực tiếp của nước ngoài ở Việt Nam [44] Đề tài đã đề cập một số lý luận cơ

bản về việc hoàn thiện chính sách và tổ chức thu hút đầu tư trực tiếp của nướcngoài, từ đó có những định hướng đúng cho Việt Nam Trong nghiên cứu nàytác giả đã phân tích những chính sách trong nước có tác động mạnh đến quátrình thu hút FDI, cũng như đề xuất các biện pháp thu hút FDI Tác giả đãnghiên cứu và triển khai thực hiện phân cấp việc cấp phép đầu tư, giải quyếtnhững vấn đề sở hữu, sử dụng đất đai, những ưu đãi và khuyến khích về tàichính, về chính sách tiền lương của người lao động làm việc trong các doanhnghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Từ đó, tác giả đề ra các giải phápcho thu hút FDI của Việt Nam theo hướng mới, tích cực hơn

Trần Đăng Long (2002), Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản

lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại thành phố

Hồ Chí Minh [74] Luận án đã đề cập đến kinh nghiệm đẩy mạnh thu hút

FDI tại thành phố Hồ Chí Minh trong hoàn thiện công tác quản lý nhànước đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài đặc biệt vấn đề giảiquyết mặt bằng sản xuất và xây dựng kết cấu hạ tầng, tháo gỡ khó khăn vềvốn, thuế và chế độ đãi ngộ đối với nhà đầu tư nước ngoài Bên cạnhnhững thành công tác giả đã chỉ ra chính sách thu hút FDI có nhiều nội dungchưa sát với thực tế, không phù hợp; chưa gắn kết chặt chẽ với chiến lược,quy hoạch, kế hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và lợithế quốc gia; chưa tạo lập được môi trường kinh doanh thực sự thuận lợi,cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng; việc lựa chọn phát triển các ngành công

Trang 24

nghiệp ưu tiên, công nghiệp mũi nhọn còn dàn trải; chính sách phát triển côngnghiệp hỗ trợ thiếu đồng bộ, tính khả thi thấp

Nguyễn Thị Tuệ Anh (2005), Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam [2] Luận án đã phân tích rất kỹ về

dòng đầu tư FDI của các nước phát triển và đang phát triển vào Việt Nam;xác định được những thuận lợi và khó khăn đối với cả nước và cơ chế hấp dẫncủa riêng từng tỉnh, từng vùng trong quá trình thu hút FDI Tác giả đã chỉ ranhững tác động tích cực của dòng đầu tư trực tiếp nước ngoài tới tăng trưởngkinh tế của Việt Nam Đồng thời, tác giả cũng chỉ ra những hạn chế trong FDInhư: tỷ lệ FDI thực hiện so với vốn đăng ký còn thấp, tập trung FDI chỉ trongmột số ngành, vùng, khả năng tuyển dụng lao động còn khiêm tốn, phần lớncác dự án FDI có quy mô nhỏ, công nghệ sử dụng chủ yếu có nguồn gốc từChâu Á, đạt mức trung bình, đặc biệt là Việt Nam chưa được chọn là điểmđầu tư của phần lớn các công ty đa quốc gia có tiềm năng lớn về công nghệ vàsẵn sàng chuyển giao công nghệ và tri thức Thực trạng này cùng với áp lựccạnh tranh ngày càng gay gắt hơn về thu hút FDI của Trung Quốc và các nướctrong khu vực đặt ra thách thức lớn cho Việt Nam Nguyên nhân do công tácquản lý nhà nước chưa có bước đột phá, chậm được đổi mới chưa trở thànhđộng lực quan trọng nhất cho phát triển bền vững ngành công nghiệp

Vương Đức Tuấn (2007), Hoàn thiện cơ chế, chính sách để thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài ở thủ đô Hà Nội trong giai đoạn 2001- 2010

[103] Đề tài đã đề cập đến các cơ chế, chính sách thu hút FDI trong giaiđoạn nền kinh tế tăng trưởng khá tốt Đề tài đã khẳng định, trong thời gianqua Đảng và Nhà nước ta đã ban hành và thực hiện nhiều chủ trương, chính

sách để thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài Sự thay đổi cơ chế, chính sách

đã góp phần thu hút được nhiều dự án lớn, với tổng vốn FDI đăng ký cấpmới tăng thêm sẽ làm cho dòng vốn FDI không chỉ đang tăng trưởng tốt vềlượng mà cả về chất khi lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo đang chiếm

tỷ trọng tăng dần trong tổng vốn FDI, góp phần quan trọng tạo nên những

Trang 25

thành tựu phát triển kinh tế đất nước Tác giả đưa ra quan điểm thu hút FDIdựa trên cơ sở phát huy nội lực sản xuất nhằm tạo ra tiền đề vững chắc choviệc giải quyết vấn đề về vốn, kết hợp chặt chẽ giữa phát huy các nguồn lựctrong nước với sự đầu tư của nước ngoài, đặc biệt phải có sự hỗ trợ, giúp đỡcủa nhà nước về cơ chế chính sách để tạo sự phát triển cho các nhà đầu tư

Phùng Xuân Nhạ (2010), Cơ sở thực tiễn điều chỉnh chính sách FDI ở Việt Nam [81] Đề tài được coi là công trình nghiên cứu toàn diện đánh giá

về quá trình điều chỉnh chính sách FDI ở Việt Nam Trên cơ sở phân tích lýluận và thực tiễn chính sách FDI ở Việt Nam, đề tài đã đề xuất tăng cườnghiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong thực thi chính sách FDI Thựchiện cơ cấu lại hệ thống quản lý FDI từ Trung ương đến địa phương, bảođảm tập trung, thông suốt, hiệu quả, có phân công, phân cấp rõ ràng Phânđịnh rõ chức năng quản lý nhà nước và quản lý sản xuất kinh doanh trongdoanh nghiệp phù hợp với đặc trưng nền kinh tế thị trường định hướng xãhội chủ nghĩa Thiết lập cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành, địaphương trong hoạch định và thực thi chính sách; khắc phục kịp thời tìnhtrạng không thống nhất, thực thi kém hiệu quả các quy định pháp luật

Phùng Xuân Nhạ (2013), Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam: Lý luận và thực tiễn [82] Đề tài đã đề cập đến những lý luận cơ bản về đầu tư

trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam, hình thành nên lý luận cơ bản của quá trìnhthu hút FDI Đề tài đã chỉ ra những yếu kém trong quản lý nhà nước có thểgây thiệt hại lớn cho các nhà đầu tư, cho nền kinh tế của Việt Nam Đề tài đãkhẳng định để tăng cường thu hút FDI, cần có sự kiểm soát chặt chẽ của các

sở ban ngành, các cơ quan nhà nước Tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lýnhà nước trong lĩnh vực đầu tư trực tiếp nước ngoài Thiết lập cơ chế phốihợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành, địa phương trong hoạch định và thực thichính sách; khắc phục kịp thời tình trạng không thống nhất, thực thi kém hiệuquả các quy định pháp luật để tránh gây ra những thiệt hại cho nền kinh tế

Trang 26

Dương Thị Vĩnh Hà (2015), Nghiên cứu về những thách thức, thuận lợi trong thu hút đầu tư nước ngoài và sự chuẩn bị của Hà Nội khi gia nhập cộng đồng kinh tế ASEAN vào năm 2015 [57] Đề tài đã phân tích quá trình

thu hút FDI vào Hà Nội, chỉ ra những thuận lợi và khó khăn trong quá trìnhthu hút đầu tư nước ngoài và sự chuẩn bị của Hà Nội khi gia nhập cộng đồngkinh tế ASEAN Đề tài đã so sánh cơ chế hấp dẫn của riêng từng tỉnh, từngvùng trong quá trình thu hút FDI hiện nay Các chính sách hỗ trợ của Nhànước về thu hút đầu tư nước ngoài tập trung vào tạo dựng môi trường đầu tư,kinh doanh thuận lợi, xây dựng kết cấu hạ tầng, khuyến khích mọi thànhphần kinh tế tham gia phát triển các liên kết ngành Đề tài đã đề cập đến vaitrò quản lý nhà nước về FDI nếu tập trung hút nhiều các hoạt động côngnghệ cao sẽ tạo ra số lượng lớn việc làm, thu hẹp khoảng cách phát triểnkinh tế giữa các tỉnh thành trong cả nước

1.3 Khái quát kết quả chủ yếu của những công trình khoa học đã công bố và những vấn đề đặt ra luận án cần tập trung giải quyết

1.3.1 Khái quát kết quả chủ yếu của các công trình đã công bố

Qua khảo sát các công trình liên quan cho thấy, các tác giả trong vàngoài nước đã tập trung nghiên cứu đề cập đến các khía cạnh khác nhau vềFDI, quản lý, quản lý nhà nước, quản lý nhà nước về FDI, kể cả về mặt tiêucực hay tích cực ở nhiều góc độ khác nhau Những công trình, bài viết trên

là những tư liệu quan trọng có thể chọn lọc, tham khảo, tạo cơ sở, điều kiện

và gợi ra hướng nghiên cứu để tác giả tiếp tục kế thừa và triển khai đề tài.Nội dung nghiên cứu được thể hiện qua các vấn đề sau:

Một là, một số công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đã đề cập

đến những vấn đề lý luận chung về: quản lý, quản lý nhà nước, quan niệm vàđặc trưng cơ bản về FDI Nhiều tác giả đã bàn luận đến quan niệm về FDI,

và quản lý nhà nước về FDI với các góc độ tiếp cận khác nhau; nội dungquản lý nhà nước về FDI, vai trò của FDI đối với quá trình CNH, HĐH đấtnước, tác động của FDI tới quá trình phát triển kinh tế xã hội Xác định

Trang 27

những nhân tố khách quan và chủ quan có ảnh hưởng đến FDI Đặc biệt, cócông trình đã xác định vai trò của quản lý nhà nước trong việc định hướngcho dòng FDI đi đúng hướng, tạo sự phát triển kinh tế bền vững

Hai là, một số công trình đã dựa trên các phân tích nội dung, nhân tố

ảnh hưởng đến công tác quản lý nhà nước về FDI ở một số địa phương, vùng

và trên phạm vi cả nước Nhiều tác giả đã tập trung vào nghiên cứu nội dung,các nhân tố tác động, ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của các doanh nghiệpnước ngoài để cho thấy vai trò quản lý nhà nước về FDI như cần có những lộtrình thích hợp trong việc giảm thiểu các rào cản đầu tư, xác định các hoạtđộng quản lý nhà nước cần thiết tạo dựng môi trường đầu tư kinh doanh thuậnlợi trong thu hút FDI Một số công trình đã rút ra bài học kinh nghiệm thựctiễn từ thu hút FDI và quản lý nhà nước về FDI của các quốc gia, các tỉnhthành trọng điểm Từ đó, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về FDI quacác thời kỳ đã đạt được ở mức độ nào

Ba là, có những công trình đã xây dựng hệ thống các tiêu chí, nội

dung, biện pháp nhằm đánh giá hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước về FDI

và đưa ra các quan điểm quản lý nhà nước về FDI, từ đó xây dựng hệ thốngcác giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý nhà nước về FDI cho phùhợp với với sự phát triển kinh tế Mỗi công trình nghiên cứu, đề tài, bài báoviết về FDI đều giải quyết ở một khía cạnh hay phạm vi khác nhau vớinhững mục tiêu nghiên cứu khác nhau Nhưng đều căn cứ các tiêu chí đánhgiá hiệu quả hoạt động FDI để đánh giá thực trạng, đề xuất yêu cầu, địnhhướng, quan điểm, giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về FDI

Tuy nhiên, vấn đề quản lý nhà nước về FDI của Thành phố Hà Nội chotới nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ và hệ thống dưới góc

độ kinh tế chính trị Chính vì vậy, từ các nghiên cứu liên quan đến đề tài đã giúpcho nghiên cứu sinh nhận thức rõ hơn về vai trò của quản lý nhà nước về FDItrong phát triển kinh tế - xã hội, sự cần thiết của quản lý nhà nước về FDI trongbối cảnh hội nhập ngày càng sâu rộng hiện nay Đây là khoảng trống khoa học

Trang 28

mà đề tài: “Quản lý nhà nước về đầu tư trực tiếp nước ngoài của thành phố Hà Nội” cần phải tiếp tục nghiên cứu, làm rõ dưới góc độ kinh tế chính trị.

1.3.2 Những vấn đề đặt ra luận án cần tiếp tục giải quyết

Thứ nhất, dưới góc độ kinh tế chính trị thì đầu tư trực tiếp nước ngoài,

quản lý nhà nước về FDI được quan niệm như thế nào? Nội dung Quản lý nhànước về FDI gồm những vấn đề gì? Có những nhân tố nào tác động đến quản

lý nhà nước về FDI? Quá trình quản lý nhà nước về FDI cần tham khảo kinhnghiệm của các thành phố nào? Để trả lời các câu hỏi đó, luận án cần xác địnhmột cách khoa học các vấn đề: Xây dựng quan niệm, vai trò về FDI; đặctrưng cơ bản của Quản lý nhà nước về FDI, vai trò quản lý nhà nước về FDI.Nội dung Quản lý nhà nước về FDI, xác định những nhân tố khách quan vàchủ quan có ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về FDI Nghiên cứu kinhnghiệm quản lý nhà nước về FDI của một số thành phố trong vấn đề này, từ

đó rút ra bài học kinh nghiệm mà thành phố Hà Nội có thể tham khảo, vậndụng

Thứ hai, xác định thực trạng quản lý nhà nước về FDI của Hà Nội trong

những năm qua ra sao? Có thành tựu, hạn chế nào và nguyên nhân của nhữngthành tựu, hạn chế đó là gì? Đâu là mâu thuẫn cần tập trung giải quyết? Căn cứvào nội dung quản lý nhà nước về FDI đã được xác định trong phần lý luận,luận án tiến hành khảo sát, đánh giá đúng thực trạng quản lý nhà nước về FDIcủa Hà Nội Đánh giá thành tựu và hạn chế trong quản lý nhà nước về FDI của

Hà Nội không chỉ dừng lại ở con số thống kê đơn thuần, mà quan trọng hơn,luận án cần làm rõ những nguyên nhân của thực trạng đó, đồng thời chỉ ranhững mâu thuẫn cần giải quyết, làm cơ sở để đề xuất quan điểm và giải pháptăng cường quản lý nhà nước về FDI của thành phố Hà Nội thời gian tới

Thứ ba, quản lý nhà nước về FDI của Hà Nội trong thời gian tới cần

quán triệt các quan điểm và thực hiện những giải pháp nào? Để trả lời cáccâu hỏi đó, luận án tập trung xác định các quan điểm cơ bản để chỉ đạo, địnhhướng quá trình này Trên cơ sở các quan điểm đã được xác định, luận án

Trang 29

cần đưa ra hệ thống giải pháp và điều kiện để đảm bảo tính khả thi trongquản lý nhà nước về FDI cho phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội củaThành phố Hà Nội thời gian tới Vì vậy phần này tác giả sẽ tập trung xâydựng cơ sở khoa học, xác định các quan điểm và chỉ ra các biện pháp đểthực hiện giải pháp trên cơ sở bám sát các nhân tố tác động được trình bầy ởkhung lý thuyết; những hạn chế, nguyên nhân hạn chế và các mâu thuẫntrình bầy trong chương 3, cung cấp luận cứ khoa học cho công tác hoạchđịnh chính sách về FDI và nâng cao năng lực quản lý nhà nước về FDI.

Kết luận chương 1

Nghiên cứu về FDI nói chung, quản lý nhà nước về FDI nói riêng, làvấn đề đã được nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứudưới nhiều góc độ, cấp độ và phạm vi khác nhau Qua tổng quan tình hìnhnghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án cho thấy, các công trình khoa họctrong và ngoài nước có liên quan đều đã khẳng định vị trí, tầm quan trọng củaFDI, quản lý nhà nước về FDI - lĩnh vực đầu tư đặc biệt Đồng thời, nhiềucông trình khoa học đã công bố đề cập, luận giải quan niệm về FDI, quản lýnhà nước về FDI Một số công trình nghiên cứu đã đánh giá thực trạng, đềxuất quan điểm, giải pháp hoàn thiện, tăng cường quản lý nhà nước về FDIcủa một số địa phương, trong đó có thành phố Hà Nội Qua tổng quan cáccông trình nghiên cứu có liên quan, cho thấy những khoảng trống khoa học

mà luận án cần tập trung giải quyết là: Luận giải làm rõ cơ sở lý luận, thựctiễn, đánh giá đúng thực trạng quản lý nhà nước về FDI của thành phố Hà Nộithời gian qua, trên cơ sở đó, xác định quan điểm, giải pháp tăng cường quản

lý nhà nước về FDI của thành phố Hà Nội thời gian tới

Trang 30

2.1.1 Khái niệm, đặc điểm và các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài

2.1.1.1 Khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài

Nghiên cứu chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh, V.I.Lênin đã dự báorằng: tự do cạnh tranh sinh ra tích tụ và tập trung sản xuất, tích tụ và tậptrung sản xuất phát triển đến một mức độ nào đó sẽ dẫn đến độc quyền.Đồng thời, V.I.Lênin vạch ra rằng, xuất khẩu hàng hoá là đặc điểm của giaiđoạn chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh, còn xuất khẩu tư bản là đặc điểmcủa chủ nghĩa tư bản độc quyền Theo V.I.Lênin, xuất khẩu tư bản là xuấtkhẩu giá trị ra nước ngoài nhằm mục đích chiếm đoạt giá trị thặng dư và cácnguồn lợi nhuận khác ở các nước nhập khẩu tư bản Xuất khẩu hàng hóa làmang hàng hóa ra nước ngoài để thực hiện giá trị và giá trị thặng dư, cònxuất khẩu tư bản là xuất khẩu giá trị ra nước ngoài (đầu tư tư bản ra nướcngoài) nhằm mục đích chiếm đoạt giá trị thặng dư ở các nước nhập khẩu tưbản Xét về hình thức đầu tư, có thể phân chia xuất khẩu tư bản thành xuấtkhẩu tư bản trực tiếp và xuất khẩu tư bản gián tiếp Xuất khẩu tư bản trựctiếp là đưa tư bản ra nước ngoài để trực tiếp kinh doanh thu lợi nhuận cao.Xuất khẩu tư bản gián tiếp là cho vay để thu lợi tức

Trong kinh tế học: “Đầu tư là quá trình ứng ra một lượng vốn nhất định(bằng tiền mặt, tài sản) ở hiện tại, với mục đích là làm tăng thêm giá trị trongtương lai cho chủ thể bỏ vốn” [72, tr.50] Theo Tổ chức thương mại quốc tế(WTO): “FDI xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có

Trang 31

được tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư), cùng với quyền quản lý tàisản đó Phương diện quản lý là một khía cạnh để phân biệt FDI với các công cụtài chính khác Hội nghị Liên Hiệp Quốc về Thương mại và Phát triển cũngđưa ra định nghĩa về FDI: “Một khoản đầu tư được coi là đầu tư trực tiếp khiphần sở hữu của nhà đầu tư đủ để cho phép kiểm soát công ty, còn nếu chỉ chonhà đầu tư được hưởng khoản thu nhập, nhưng không cho quyền kiểm soát đốivới công ty, nói chung được coi là đầu tư gián tiếp” [72, tr.73]

Theo Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài

là việc tổ chức, cá nhân nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền nước ngoài hoặc bất kì tài sản nào được chính phủ Việt Nam chấp thuận để hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hoặc thành lập xí nghiệp liên doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài theo quy định của luật này” [86, tr.1] Khái niệm này đã được rút ngắn gọn lại theo Luật Đầu tư 2005 như sau: “Đầu tư

trực tiếp nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng

tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư” [87, tr.1] Luật

Đầu tư năm 2014 được Quốc hội thông qua ngày 26/11/2014 tại Kỳ họp thứ

7, có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2015, thay thế cho Luật Đầu tư năm 2005 vẫnthừa nhận định nghĩa trên, tiếp tục duy trì cơ chế và nguyên tắc bảo đảm đầu

tư đã được quy định tại Luật Đầu tư 2005

Như vậy, sự ra đời và phát triển của FDI là kết quả tất yếu của quátrình quốc tế hóa và phân công lao động quốc tế Đầu tư trực tiếp nướcngoài thường được hình thành trong mối liên hệ với các hoạt động chínhtrị, ngoại giao giữa các nước hoặc giữa các khu vực ở các quốc gia khácnhau Trên phương diện “hành vi” của nhà đầu tư, FDI được hiểu là dòngvốn của tổ chức, cá nhân nước ngoài đưa vào một địa phương, quốc giatiếp nhận đầu tư biểu hiện thông qua số lượng, giá trị giao dịch của hợpđồng đăng ký kinh doanh, thực hiện trong một thời kỳ nhất định nhờ sự hấpdẫn của chính sách thu hút đầu tư đã kích thích nhà ĐTNN hình thành ýđịnh và thực hiện hành vi ra quyết định đầu tư

Trang 32

Tiếp thu có chọn lọc các quan niệm trên, theo nghiên cứu sinh: Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền, các tài sản khác để tiến hành các hoạt động đầu tư và trực tiếp tham gia quản lý hoạt động kinh doanh theo quy định của Luật Đầu tư và các luật hiện hành liên quan.

Qua xem xét các định nghĩa về đầu tư nước ngoài có thể rút ra một số

đặc trưng cơ bản của đầu tư FDI như sau: Một là, sự di chuyển vốn từ nước này sang nước khác Hai là, vốn được huy động vào các mục đích thực hiện

các hoạt động kinh tế và kinh doanh Mặc dù có nhiều khác biệt về quanniệm nhưng nhìn chung FDI được xem xét như một hoạt động kinh doanh, ở

đó có các yếu tố di chuyển vốn quốc tế và kèm theo nó bao gồm các yếu tốkhác Các yếu tố đó không chỉ bao gồm sự khác biệt về quốc tịch của các đốitác tham gia vào quá trình kinh doanh, sự khác biệt văn hoá, luật pháp màcòn là sự chuyển giao công nghệ, thị trường tiêu thụ…

Qua đó có thể thấy, dưới góc độ kinh tế có thể hiểu FDI là sự dichuyển quốc tế vốn hay tài sản thông qua việc nhà đầu tư ở một nước đưavào một nước khác để đầu tư, đồng thời trực tiếp tham gia tổ chức, quản lýsản xuất, nhằm tận dụng ưu thế về vốn, trình độ công nghệ, kinh nghiệmquản lý, thị trường và tối đa hoá lợi ích của mình; là sự đầu tư của các công

ty (cá nhân) nhằm xây dựng các cơ sở, chi nhánh ở nước ngoài và làm chủtoàn bộ hay từng phần cơ sở đó Đó là sự di chuyển dòng đầu tư do có sựchênh lệch về tỷ suất lợi nhuận, xuất phát từ lợi thế so sánh khác nhau giữacác quốc gia và được thúc đẩy trên cơ sở xu thế tự do hoá thương mại, đầu

tư và tài chính ngày càng tăng trên thế giới

2.1.1.2 Đặc điểm đầu tư trực tiếp nước ngoài

Theo Luật Đầu tư nước ngoài, FDI có thể được hiểu là việc các tổ chức,

cá nhân nước ngoài trực tiếp đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hay bất cứ tàisản nào được chính phủ Việt Nam chấp nhận để hợp tác với bên Việt Nam

Trang 33

hoặc tự mình tổ chức các hoạt động kinh doanh trên lãnh thổ Việt Nam FDI

là hình thức di chuyển vốn quốc tế trong đó người sở hữu đồng thời là ngườitrực tiếp tham gia quản lý và điều hành hoạt động sử dụng vốn đầu tư

Đầu tư trực tiếp nước ngoài có các đặc điểm sau:

Thứ nhất, đầu tư trực tiếp nước ngoài hiện nay gắn liền với các hoạt động

kinh doanh quốc tế của các công ty đa quốc gia Các dự án FDI thường đa dạng,đến từ nhiều nguồn khác nhau, gắn liền với các hoạt động kinh doanh của công ty

đa quốc gia (Multinational Corporations - MNCs) và là nơi gặp gỡ của nhiều nềnvăn hóa khác nhau Các chủ đầu tư phải đóng góp một khối lượng vốn tối thiểutheo quy định của từng quốc gia Luật Đầu tư nước ngoài của Việt Nam quy địnhchủ đầu tư nước ngoài phải đóng góp tối thiểu 30% vốn pháp định của dự án

Thứ hai, đầu tư trực tiếp nước ngoài được thực hiện thông qua việc xây

dựng doanh nghiệp mới, mua lại toàn bộ hoặc từng phần doanh nghiệp đanghoạt động hoặc sáp nhập các doanh nghiệp với nhau Sự phân chia quyền quản

lý các doanh nghiệp phụ thuộc vào mức độ đóng góp vốn Nếu đóng góp 100%vốn thì doanh nghiệp hoàn toàn do chủ đầu tư nước ngoài điều hành và quản lý.Lợi nhuận của các chủ đầu tư phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh vàđược phân chia theo tỷ lệ góp vốn sau khi nộp thuế và trả lợi tức cổ phần

Thứ ba, các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài hoạt động có tính tập

trung và ảnh hưởng nhau Khác với các dự án độc lập, các dự án FDI thườnghoạt động trong khu công nghiệp, khu kinh tế tạo thành một quần thể xã hội thunhỏ

Thứ tư, đầu tư trực tiếp nước ngoài là một bộ phận, lĩnh vực đầu tư của

quốc gia và địa phương, chịu sự chi phối của các quy định về quy hoạch vàđịnh hướng phát triển công nghiệp chung cả nước

Thứ năm, đầu tư trực tiếp nước ngoài không chỉ gắn liền với di chuyển

vốn mà còn gắn liền với chuyển giao công nghệ, chuyển giao kiến thức và kinh

Trang 34

nghiệm quản lý và tạo ra thị trường mới cho cả phía đầu tư và phía nhận đầu tư.

Cần thấy rằng, những đặc điểm trên cũng chính là những yêu cầu quantrọng trong thiết kế chính sách tăng cường quản lý nhà nước về FDI, cả cấp vĩ

mô lẫn vi mô, cả trước mắt cũng như lâu dài

2.1.1.3 Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài

Đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể được phân chia theo nhiều tiêuthức khác nhau:

Nếu căn cứ tính chất pháp lý của đầu tư nước ngoài trực tiếp có thể chiaFDI thành các loại hợp đồng và hợp tác kinh doanh, doanh nghiệp liên doanh,doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài Ngoài ra còn có thêm hình thức đầu tư khác

đó là hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (BOT) Trong các hình thứctrên thì doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn là hình thức phápnhân mới và luật Việt Nam gọi chung là xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Nếu căn cứ vào tính chất đầu tư có thể chia FDI thành hai loại đầu tư tậptrung trong khu chế xuất và đầu tư phân tán Mỗi loại đầu tư trên đều có ảnhhưởng đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu công nghiệp ở từng quốc gia

Nếu căn cứ vào quá trình tái sản xuất có thể chia đầu tư trực tiếp nướcngoài thành đầu tư vào nghiên cứu và triển khai, đầu tư vào cung ứng nguyênliệu, đầu tư vào sản xuất, đầu tư vào tiêu thụ sản phẩm

Nếu căn cứ vào ngành đầu tư có thể chia FDI thành các ngành đầu tưnhư: đầu tư vào ngành công nghiệp, đầu tư vào ngành nông nghiệp, đầu tưvào ngành dịch vụ

FDI được thực hiện dưới nhiều hình thức đa dạng Theo Luật Đầu tưnăm 2014 được Quốc hội thông qua ngày 26/11/2014 thay thế Luật Đầu tưnăm 2005, FDI gồm các hình thức sau:

Một là, hợp đồng hợp tác kinh doanh BCC (Business Cooperation

Contract)

Trang 35

Đây là hình thức liên kết kinh doanh giữa đối tác trong nước với các nhàĐTNN, trên cơ sở quy định trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗibên bằng các văn bản ký kết; trong đó, các bên vẫn giữ nguyên tư cách pháp nhânriêng, không tạo nên một pháp nhân mới Hình thức này được áp dụng phổ biếntrong thăm dò, khai thác dầu khí và trong bưu chính viễn thông Ngoài ra cònđược áp dụng trong công nghiệp gia công và dịch vụ.

Hai là, doanh nghiệp liên doanh (Joint venture enterprise)

Đây là một hình thức tổ chức kinh doanh quốc tế của các bên tham gia cóquốc tịch khác nhau, trên cơ sở cùng sở hữu về vốn góp, cùng quản lý, cùngphân phối lợi nhuận, cùng chia sẻ rủi ro để tiến hành các hoạt động sản xuất kinhdoanh, hoạt động dịch vụ hoặc các hoạt động nghiên cứu (nghiên cứu cơ bản haytriển khai) theo các điều khoản cam kết trong hợp đồng liên doanh ký kết giữacác bên tham gia, phù hợp với các quy định luật pháp nước sở tại

Ba là, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài (100% Foreign capital enterprise)

Đây là doanh nghiệp do các nhà ĐTNN đầu tư 100% vốn, do đó hoàntoàn thuộc sở hữu của các nhà ĐTNN, chịu sự điều hành, quản lý của nhà đầu

tư nước ngoài, nhưng vẫn là pháp nhân nước sở tại, chịu sự kiểm soát của luậtpháp nước sở tại.Thông thường các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài doMNCs sở hữu và đóng vai trò như một công ty con của MNCs

Trang 36

nước ngoài) xây dựng và vận hành một dự án trong một thời gian đủ để thuhồi vốn và có lãi hợp lý, sau đó bàn giao hoàn toàn dự án cho nước sở tại.

Hình thức BTO (Building Transfer Operate; Xây dựng - chuyển giao - kinh doanh)

Hình thức này giống BOT, nhưng khác ở điểm, trong hình thức BOT côngtrình sau khi xây dựng được khai thác sử dụng trong một thời gian mới chuyển giaocho nhà nước sở tại, còn trong hình thức BTO thì sau khi xây dựng xong, công trìnhđược chuyển nhượng cho nhà nước sở tại, rồi chủ đầu tư mới được khai thác

Hình thức BT (Building Transfer; Xây dựng - chuyển giao)

Hình thức này giống BTO ở chỗ sau khi xây dựng xong, công trình kếtcấu hạ tầng được chuyển nhượng cho nhà nước sở tại, nhưng khác ở điểm, tronghình thức BTO Chính phủ cho phép nhà ĐTNN được khai thác tại chính côngtrình đó, còn trong hình thức BT, Chính phủ nước sở tại tạo điều kiện cho nhàĐTNN thực hiện một dự án khác để thu hồi vốn đầu tư và có lợi nhuận hợp lý

Năm là, hình thức hợp đồng hợp tác công tư PPP (Public - Private Partnership)

Đây là hình thức hợp đồng được ký kết giữa cơ quan nhà nước có thẩmquyền với nhà đầu tư nhằm xây dựng công trình, cung cấp dịch vụ với một sốtiêu chí riêng Chính phủ quy định chi tiết lĩnh vực, điều kiện, thủ tục thựchiện dự án đầu tư theo hình thức hợp đồng PPP Nhà đầu tư, doanh nghiệp dự

án ký kết hợp đồng PPP với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện dự

án đầu tư xây dựng mới hoặc cải tạo, nâng cấp, mở rộng, quản lý và vận hànhcông trình kết cấu hạ tầng hoặc cung cấp dịch vụ công

Sáu là, Hình thức Hàng đổi hàng - Phương thức đầu tư thu hút nước ngoài quan trọng đối với các nước đang phát triển

Hàng đổi hàng là phương thức đầu tư mà giá trị của trang thiết bị cungcấp được hoàn trả bằng chính sản phẩm mà các trang thiết bị đó làm ra

Trang 37

Phương thức này liên quan tới hai hợp đồng quan hệ mật thiết với nhau và cânbằng nhau về mặt giá trị Trong một hợp đồng, nhà cung cấp đồng ý xây dựngnhà máy hoặc cung cấp các công nghệ của nhà máy cho phía đối tác Tronghợp đồng khác, nhà cung cấp đồng ý mua lại sản phẩm mà công nghệ đó sảnxuất ra với khối lượng tương ứng với giá trị thiết bị mà nhà máy đã đầu tư.

Đầu tư FDI có nhiều hình thức khác nhau, mỗi hình thức có nhữngmặt tích cực và hạn chế nhất định Do đó, để kết hợp hài hoà lợi ích của cácbên tham gia đầu tư, cũng như thực hiện được mục tiêu thu hút vốn phù hợpvới từng vùng và toàn bộ nền kinh tế, cần phải đa dạng hoá các hình thứcđầu tư Tuy nhiên, việc lựa chọn hình thức đầu tư còn tuỳ thuộc khả năng vàđiều kiện cụ thể Điều đó sẽ tạo ra những tác động mạnh đối với cả chủ đầu

tư và bên nhận đầu tư để phát huy được tiềm năng của từng điạ phương cũngnhư đem lại lợi ích cho nhà đầu tư nước ngoài

2.1.2 Quan niệm về quản lý nhà nước, quản lý nhà nước về kinh tế, quản lý nhà nước về đầu tư trực tiếp nước ngoài

2.1.2.1 Quan niệm về quản lý nhà nước

Quản lý, theo nghĩa chung là loại hình hoạt động xã hội bắt nguồn từtính chất cộng đồng dựa trên sự phân công lao động xã hội và hiệp tác đểtiến hành những công việc nhằm mục đích chung C.Mác viết: “Bất kỳ laođộng xã hội trực tiếp hay lao động chung nào đó mà được tiến hành tuântheo một quy mô tương đối lớn đều cần có sự quản lý ở mức độ nhiều hay ítnhằm phối hợp những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năngchung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất” [77, tr.23]

Theo đó, có thể quan niệm: Quản lý là tổng thể các hoạt động có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản lý tác động đến đối tượng quản lý nhằm đạt được các mục tiêu quản lý đã đề ra.

Với mục đích nhằm phối hợp hoạt động chung của nhiều người, hoạtđộng quản lý hình thành ở mọi lĩnh vực của đời sống xã hội với các cấp độ

Trang 38

khác nhau, như: Quản lý các quá trình diễn ra trong giới vô sinh, quản lý cácquá trình diễn ra trong cơ thể sống, quản lý các quá trình diễn ra trong xã hộiloài người Phạm vi đề tài luận án chỉ đề cập quản lý các quá trình diễn ratrong xã hội loài người (quản lý xã hội) Quản lý xã hội là dạng quản lý phứctạp nhất, bao gồm nhiều lĩnh vực, cấp độ như: quản lý nhà nước, quản lý hànhchính, quản lý kinh tế, quản lý ngành…

Quản lý nhà nước là một nội dung trong quản lý xã hội do cơ quan nhànước có thẩm quyền thực hiện Quản lý nhà nước được hiểu theo nghĩa rộng

và nghĩa hẹp Theo nghĩa rộng, quản lý nhà nước là hoạt động của nhà nướctrên các lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp nhằm thực hiện các chức năngđối nội và đối ngoại của nhà nước Theo nghĩa hẹp, quản lý nhà nước là hoạtđộng được thực hiện chủ yếu bởi các cơ quan nhà nước nhằm bảo đảm chấphành pháp luật và các nghị quyết của các cơ quan quyền lực nhà nước để tổchức, quản lý mọi mặt đời sống xã hội

Mục đích của các hoạt động này là để quản lý, điều chỉnh hành vi của cánhân, tổ chức trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội do các cơ quan, côngchức trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm phục vụ nhân dân, duy trì sự ổnđịnh và phát triển bền vững xã hội Trong bộ máy nhà nước, hoạt động quản lýnhà nước có vị trí trọng yếu Đây là hoạt động tổ chức và điều hành để thực hiệncác chức năng, nhiệm vụ cơ bản nhất của nhà nước trong quản lý xã hội Về bảnchất, quản lý nhà nước là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lựcnhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người đểduy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằm thựchiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước

Từ những cơ sở trên, có thể quan niệm như sau: Quản lý nhà nước là tổng thể các hoạt động của cơ quan nhà nước tác động đến đối tượng quản

Trang 39

lý nhằm bảo đảm cho các hoạt động, các mối quan hệ xã hội được duy trì và phát triển theo đúng quy định pháp luật.

2.1.2.2 Quan niệm về quản lý nhà nước về kinh tế

Quản lý nhà nước nói chung, quản lý nhà nước về kinh tế nói riêng làyếu tố quan trọng trong phát triển xã hội Ngay từ khi mới ra đời, với tư cách

là một thiết chế xã hội, công cụ quyền lực của giai cấp thống trị, nhà nước đã

có vai trò quản lý, điều hòa các mối quan hệ xã hội, duy trì, bảo vệ và pháttriển chế độ kinh tế - xã hội đã sinh ra nó Cùng với sự phát triển của lựclượng sản xuất, phân công lao động xã hội và sự phát triển của kinh tế thịtrường, quản lý nhà nước về kinh tế có vai trò ngày càng tăng lên và chiếm vịtrí quan trọng trong toàn bộ hoạt động quản lý của nhà nước Ngày nay, hầuhết các quốc gia trên thế giới đều thực hiện mô hình kinh tế thị trường hiệnđại, có sự quản lý, điều tiết của nhà nước

Từ phân tích trên có thể quan niệm: Quản lý nhà nước về kinh tế, là tổng thể các hoạt động của các cơ quan nhà nước bằng các biện pháp và hình thức

có tính chất nhà nước lên đối tượng quản lý là các hoạt động kinh tế trên phạm

vi toàn bộ nền kinh tế quốc dân hay địa phương, ngành, lĩnh vực kinh tế.

Mục tiêu quản lý nhà nước về kinh tế: là nhằm bảo đảm cho các hoạt động

kinh tế diễn ra theo đúng quy định pháp luật; huy động, sử dụng có hiệu quả cácnguồn lực thực hiện thắng lợi các mục tiêu, kế hoạch phát triển kinh tế đã đề ra

Chủ thể quản lý nhà nước về kinh tế: Cơ quan quản lý nhà nước các cấp từ

Trung ương đến cơ sở (Quốc hội, Chính phủ, các bộ, ban, ngành, hội đồng nhândân và ủy ban nhân dân các cấp, )

Đối tượng quản lý nhà nước về kinh tế: Các tổ chức, cá nhân trong

phạm vi quản lý của cơ quan nhà nước

Công cụ quản lý nhà nước về kinh tế: Công cụ pháp luật (Hiến pháp,

luật pháp, pháp lệnh, nghị định, thông tư, quy định,… do cơ quan nhà nước cóthẩm quyền ban hành); công cụ kế hoạch (kế hoạch dài hạn, trung hạn, ngắn

Trang 40

hạn do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền phê duyệt); công cụ tài chính(ngân sách nhà nước, thuế, phí, lệ phí, lãi suất tín dụng…).

Phương pháp quản lý nhà nước về kinh tế: Phương pháp hành chính

(phương pháp tác động dựa trên cơ sở sử dụng các công cụ pháp luật để buộccác đối tượng quản lý tuân theo); phương pháp kinh tế (phương pháp tác độngthông qua các chính sách về lợi ích kinh tế: chính sách tiền lương, tiềnthưởng, thu nhập, lợi nhuận, lợi tức,…); phương pháp giáo dục (phương pháptác động thông qua công tác tuyên truyền, giáo dục quan điểm, chủ trương,đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước để nâng cao nhậnthức, trách nhiệm của tổ chức, cá nhân)

2.1.2.3 Quan niệm quản lý nhà nước về đầu tư trực tiếp nước ngoài

Quản lý nhà nước về FDI là vấn đề rất quan trọng trong chiến lượcphát triển kinh tế mỗi nước Cùng với sự xuất hiện dòng đầu tư nước ngoài,quản lý nhà nước về FDI đã dần hoàn thiện, phát triển để bảo đảm công tácquản lý, điều chỉnh hành vi của cá nhân, tổ chức đầu tư FDI trên tất cả cáclĩnh vực kinh doanh, đời sống xã hội do các cơ quan, công chức trong bộmáy nhà nước thực hiện, nhằm phục vụ nhân dân, duy trì sự ổn định vàphát triển bền vững xã hội

Trên phương diện “hành động” của nước chủ nhà, quản lý nhà nước về

FDI được hiểu là tập hợp các hành động, chính sách của chính quyền nước chủnhà nhằm gia tăng sự hấp dẫn của một địa điểm đầu tư, kích thích nhà ĐTNNđưa ra quyết định bỏ vốn đầu tư, từ đó làm gia tăng dòng chảy FDI vào một địaphương Như vậy, nếu xét trên khía cạnh tiến trình công việc, quản lý nhà nước

về FDI bao gồm: Hoạch định, tổ chức thực hiện, đánh giá và điều chỉnh chínhsách, cũng như thực hiện các hoạt động bổ trợ cần thiết khác của chính quyềnnước chủ nhà nhằm gia tăng dòng FDI vào các địa bàn và lĩnh vực mục tiêumong muốn Nếu xét trên khía cạnh nội dung công việc, quản lý nhà nước vềFDI bao gồm: tạo môi trường pháp lý, xúc tiến đầu tư, các chính sách ưu đãi,

Ngày đăng: 10/04/2021, 07:03

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w