Toàn huyện có 15 xã và 3 thị trấn và là địa bàn có nguồn thu và nhu cầu chi lớn trong tỉnh.Trong những năm qua kinh tế của Huyện phát triển ổn định, đời sống vật chất tinhthần c
Trang 1DIỆP HỒNG NHUNG
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ NGÂN SÁCH XÃ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐỒNG HỶ
TỈNH THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
Chuyên ngành: QUẢN LÝ KINH TẾ
THÁI NGUYÊN - 2017
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS LƯU NGỌC TRỊNH
THÁI NGUYÊN - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luâṇ văn này là công trình khoa hoc ̣ nghiên cứu độclâp ̣ của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa đượccông bố trong bất cứ công trình khoa học nào Các số liệu, tài liệu tham khảo đượctrích dẫn có nguồn gốc rõ ràng
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2017
Tác giả luận văn
Diệp Hồng Nhung
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ của quýthầy cô, gia đình và đồng nghiệp
Trước tiên tôi xin chân thành cảm ơn thầy giáo PGS.TS Lưu Ngọc Trịnh là
thầy giáo hướng dẫn khoa học đã tận tâm giúp đỡ tôi về kiến thức khoa học trongquá trình thực hiện luận văn
Xin cảm ơn sự giúp đỡ của Ban lãnh đạo, các cán bộ viên chức phòng Tàichính - Kế hoạch huyện Đồng Hỷ
Tôi xin biết ơn sâu sắc đến đồng nghiệp, những người thân trong gia đình đãquan tâm động viên, giúp đỡ tôi để tôi có thể hoàn thành được khóa học này
Tuy đã có nhiều cố gắng nhưng luận văn này không tránh được những thiếusót, tôi mong nhận được sự góp ý của quý thầy cô, bạn bè, đồng nghiệp
Xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2017
Tác giả luận văn
Diệp Hồng Nhung
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn 3
5 Kết cấu của luận văn 3
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NGÂN SÁCH XÃ 5
1.1 Một số vấn đề cơ bản về ngân sách Nhà nước 5
1.1.1 Khái niệm, vai trò của Ngân sách Nhà nước 5
1.1.2 Hệ thống NSNN và phân cấp quản lý NSNN 9
1.2 Tổng quan về ngân sách xã 11
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm của Ngân sách xã 11
1.2.2 Nguồn thu, nhiệm vụ chi của ngân sách xã 14
1.2.3 Vai trò của ngân sách xã 18
1.2.4 Nội dung công tác quản lý ngân sách xã 19
1.2.5 Các yếu tố ảnh hưởng tới công tác quản lý ngân sách xã 28
1.3 Thực tiễn về quản lý ngân sách xã 31
1.3.1 Kinh nghiệm của huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang 31
1.3.2 Kinh nghiệm của huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên 32
1.3.3 Bài học kinh nghiệm về quản lý ngân sách xã cho huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên 34
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36
Trang 62.1 Câu hỏi nghiên cứu? 36
2.2 Phương pháp tiếp cận và khung phân tích 36
2.2.1 Phương pháp tiếp cận 36
2.2.2 Khung phân tích 38
2.3 Phương pháp thu thập thông tin 40
2.3.1 Nguồn thông tin phục vụ phân tích 40
2.3.2 Thu thập thông tin 41
2.4 Phương pháp phân tích và xử lý thông tin 42
2.4.1 Phương pháp tổng hợp số liệu 42
2.4.2 Phương pháp phân tích số liệu 42
2.5 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 43
Chương 3: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NGÂN SÁCH XÃ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐỒNG HỶ, TỈNH THÁI NGUYÊN 47
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 47
3.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Đồng Hỷ 47
3.1.2 Một số nét tổng quát về thu, chi NSNN và hệ thống quản lý ngân sách xã trên địa bàn huyện Đồng Hỷ 51
3.2 Thực trạng Quản lý ngân sách xã tại huyện Đồng Hỷ 60
3.2.1 Thực trạng lập dự toán ngân sách xã 60
3.2.2 Công tác chấp hành dự toán ngân sách xã 68
3.2.3 Quyết toán NSX 72
3.2.4 Thực trạng công tác kiểm tra, thanh tra quản lý ngân sách 90
3.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới công tác quản lý ngân sách xã 92
3.3.1 Nhận thức của chính quyền địa phương 92
3.3.2 Chế độ, chính sách của Nhà nước 93
3.3.3 Trình độ của đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý Ngân sách xã 94
3.3.4 Sự hiểu biết pháp luật thu NSX, tính tự giác của tổ chức và cá nhân thực hiện nghĩa vụ đối với NSX 94
3.3.5 Mức độ trang bị cơ sở vật chất phục vụ cho công tác quản lý NSX 94
3.4 Đánh giá công tác quản lý ngân sách xã trên địa bàn huyện Đồng Hỷ qua phiếu điều tra 95
Trang 73.4.1 Đánh giá công tác lập dự toán NSX 95
3.4.2 Đánh giá công tác chấp hành dự toán NSX 98
3.4.3 Đánh giá công tác quyết toán NSX 99
3.4.4 Đánh giá công tác thanh, kiểm tra 99
3.5 Đánh giá công tác quản lý ngân sách xã trên địa bàn huyện Đồng Hỷ 100
3.5.1 Những kết quả đạt được 100
3.5.2 Hạn chế 101
3.5.3 Nguyên nhân 102
Chương 4: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ NGÂN SÁCH XÃ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐỒNG HỶ, TỈNH THÁI NGUYÊN .105
4.1 Mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội huyện Đồng Hỷ đến năm 2020 105
4.1.1 Quan điểm phát triển 105
4.1.2 Mục tiêu phát triển 105
4.2 Quan điểm và mục tiêu về tăng cường quản lý Ngân sách xã trên địa bàn huyện Đồng Hỷ đến năm 2020 107
4.2.1 Quan điểm về tăng cường quản lý Ngân sách xã trên địa bàn huyện Đồng Hỷ 107
4.2.2 Mục tiêu quản lý Ngân sách xã trên địa bàn huyện Đồng Hỷ đến năm 2020 .109
4.3 Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý Ngân sách xã trên địa bàn huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên 110
4.3.1 Nhóm giải pháp trực tiếp 110
4.3.2 Các giải pháp bổ trợ 114
4.4 Kiến nghị 118
4.4.1 Đối với Bộ Tài chính và Tổng cục Thuế 118
4.4.2 Đối với UBND tỉnh Thái Nguyên 118
4.4.3 Đối với các địa phương trên địa bàn huyện Đồng Hỷ 120
KẾT LUẬN 121
TÀI LIỆU THAM KHẢO 123
PHỤ LỤC 126
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: Tình hình sử dụng đất đai huyện Đồng Hỷ năm 2016 48
Bảng 3.2: Tăng trưởng kinh tế huyện Đồng Hỷ giai đoạn 2014 - 2016 49
Bảng 3.3: Cơ cấu kinh tế huyện Đồng Hỷ giai đoạn 2012 - 2016 50
Bảng 3.4 : Kết quả thu, chi NSNN huyện Đồng Hỷ giai đoạn 2014 - 2016 53
Bảng 3.5 Mối quan hệ thu chi NSNN huyện Đồng Hỷ giai đoạn 2014 - 2016 55
Bảng 3.6: Trình độ chuyên môn đội ngũ cán bộ quản lý Ngân sách xã trên địa bàn huyện Đồng Hỷ 59
Bảng 3.7: Dự toán thu NSX huyện Đồng Hỷ giai đoạn 2014 - 2016 64
Bảng 3.8: Dự toán chi NSX trên địa bàn huyện Đồng Hỷ giai đoạn 2014 -2016 66
Bảng 3.9: Tổng hợp kết quả chấp hành dự toán thu ngân sách xã qua các năm 69
Bảng 3.10: Tổng hợp chấp hành dự toán chi ngân sách xã qua 4 năm 71
Bảng 3.11: Quyết toán thu NSX giai đoạn 2014 - 2016 75
Bảng 3.12: Quyết toán thu bổ sung ngân sách xã giai đoạn 2014 - 2016 77
Bảng 3.13: Quyết toán thu NSX theo sắc thuế 80
Bảng 3.15: Quyết toán chi NSX giai đoạn 2014 - 2016 85
Bảng 3.17: Kết quả phỏng vấn sâu về lập dự toán NSX 96
Bảng 3.18: Kết quả phỏng vấn sâu về chấp hành dự toán NSX 98
Bảng 4.1: Mục tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu huyện Đồng Hỷ đến năm 2020 106
Bảng 4.2: Mục tiêu quản lý NSX trên địa bàn huyện Đồng Hỷ đến năm 2020 109
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Sơ đồ 1.1: Hệ thống Ngân sách Nhà nước 9
Hình 2.1: Khung phân tích quản lý NSX 39
Sơ đồ 3.1 Hệ thống quản lý ngân sách các xã, thị trấn tại huyện Đồng Hỷ 58
Sơ đồ 3.2: Quy trình lập dự toán NSX tại huyện Đồng Hỷ 60
Biểu đồ 3.1: Cơ cấu nguồn thu NSX huyện Đồng Hỷ giai đoạn 2014 - 2016 79
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngân sách xã (NSX) là cấp cuối cùng trong phân cấp quản lý ngân sách Nhànước (NSNN) NSX có vai trò rất quan trọng trong đời sống của người dân, đặc biệtđối với người dân nông thôn Là một đơn vị hành chính Nhà nước cấp cơ sở, chínhquyền cấp xã trực tiếp giải quyết các mối quan hệ giữa Nhà nước với nhân dân dựatrên các quy định của pháp luật Do vậy, NSX là công cụ tiên quyết cho chínhquyền xã thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình
Trong chủ trương đổi mới của Đảng và Nhà nước, việc ưu tiên cho phát triểnnông thôn là vấn đề bức thiết cần giải quyết nhằm thực hiện thành công sự nghiệpcông nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước Để thực hiện được điều đó, ngoài việcphát triển kinh tế - xã hội, xây dựng cơ sở hạ tầng, các công trình phúc lợi,… thìcòn phải xây dựng và hoàn thiện các cơ chế chính sách để quản lý tại cấp cơ sở, cụthể là chính quyền cấp xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) Đặc biệt,phải hoàn thiện cơ chế chính sách liên quan đến hoạt động tài chính ngân sách xã, vìlĩnh vực này ảnh hưởng đến tất cả các hoạt động của chính quyền cấp xã Ngân sách
xã là công cụ, phương tiện vật chất bằng tiền để chính quyền cấp xã thực hiện cácchức năng nhiệm vụ của mình, là một công cụ kinh tế quan trọng điều tiết, quản lýnền kinh tế xã hội tại địa phương Là một cấp ngân sách cơ sở cuối cùng trong hệthống NSNN, ngân sách xã trong những năm qua đã được Đảng và Nhà nước quantâm chú ý cùng với quá trình phát triển và hoàn thiện không ngừng chức năng,nhiệm vụ của chính quyền cấp cơ sở
Chính vì lý do đó, cùng với việc chú trọng quản lý ngân sách của nhà nước(NSNN), Đảng và nhà nước còn quan tâm tới việc nâng cao hiệu quả công tác quản
lý ngân sách xã bằng hệ thống Luật ngân sách nhà nước: Luật NSNN số47/1996/QH10 ban hành ngày 20/3/1996; Luật NSNN số 06/1998/QH10 sửa đổi bổsung một số điều của Luật NSNN năm 1996; Luật số 01/2002/QH11 - Luật NSNN;Luật NSNN số 83/2015/QH13 (có hiệu lực từ 1/1/2017)
Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay, công tác quản lý ngân sách xã còn nhiềuvấn đề cần phải bàn, nhiều điều bất cập, nhiều những tồn tại cần phải được hoànthiện để đáp ứng được sự phát triển lớn mạnh của nền kinh tế đất nước, cả về chiềurộng lẫn chiều sâu phù hợp với thời đại hội nhập Sự ổn định vững chắc, ngày càng
Trang 12lớn mạnh của ngân sách xã sẽ đóng góp vào sự ổn định phát triển của ngân sách nhànước và nền tài chính quốc gia.
Đồng Hỷ là huyện miền núi nằm ở phía Đông Bắc của Tỉnh Thái Nguyên,phía Bắc giáp huyện Võ Nhai, phía Tây giáp huyện Phú Lương, phía Đông giáp tỉnhBắc Giang, phía Nam giáp thành phố Thái Nguyên và huyện Phú Bình Toàn huyện
có 15 xã và 3 thị trấn và là địa bàn có nguồn thu và nhu cầu chi lớn trong tỉnh.Trong những năm qua kinh tế của Huyện phát triển ổn định, đời sống vật chất tinhthần của người dân ngày một nâng cao, có được kết quả đó nhờ vào sự đóng gópkhông nhỏ của công tác quản lý ngân sách nhà nước, đặc biệt sự thay đổi bộ mặt ởnông thôn có sự đóng rất lớn của công tác quản lý ngân sách xã khi thực hiện LuậtNSNN Mặc dù vậy, bên cạnh những mặt đã làm được ngân sách xã của huyệnĐồng Hỷ cũng bộc lộ không ít tồn tại, hạn chế như: việc lập dự toán chưa bám sátthực tế tại địa phương, một số khoản thu chưa đạt so với dự toán, hầu hết các khoảnchi đều vượt dự toán, công tác quyết toán vẫn còn tình trạng hạch toán chưa rõ ràng,chính xác, công tác thanh, kiểm tra còn mang tính hình thức, chồng chéo,…
Trong thời gian tới, để tiếp tục nâng cao hiệu quả quản lý NSX góp phầnhoàn thành nhiệm vụ thu, chi NSX trên địa bàn huyện, hướng tới sự phát triển bềnvững đòi hỏi cần có những những phân tích, đánh giá và các giải pháp cụ thể nhằmhoàn thiện quản lý NSX trên địa bàn huyện
Xuất phát từ lý do đó, tôi đã chọn đề tài: “Hoàn thiện công tác quản lý
ngân sách xã trên địa bàn huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên” nhằm mục đích
đưa ra một số giải pháp và kiến nghị dựa trên những căn cứ khoa học và thực tiễngóp phần giải quyết các vấn đề tồn tại và nâng cao chất lượng quản lý ngân sách xãtrên địa bàn huyện Đồng Hỷ
2 Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá công tác quản lý ngân sách xã trên địa bàn huyện Đồng Hỷ, từ đóđưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý ngân sách xã trên địa bànhuyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên
- Hệ thống hóa những cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý ngân sách xã
- Đánh giá thực trạng công tác quản lý ngân sách xã thuộc huyện Đồng Hỷ
Trang 13giai đoạn 2014 - 2016, chỉ ra những kết quả cùng những vấn đề còn tồn tại và nguyên nhân chủ yếu của chúng.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý ngân sách xã trên địa bàn huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên thời gian tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Công tác quản lý ngân sách xã, thị trấn trên địa bàn huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu về công tác quản lý ngân sách
xã gồm lập dự toán, chấp hành dự toán (hoạt động thu, chi ngân sách), quyết toán ngânsách xã, công tác kiểm tra ngân sách xã và ảnh hưởng của nó đến đời sống kinh tế - xãhội địa phương
- Về không gian: Luận văn nghiên cứu công tác quản lý ngân sách xã, thị
trấn trên địa bàn huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên
- Về thời gian: Số liệu sử dụng để nghiên cứu trong luận văn được thu thập
trong khoảng thời gian từ năm 2014 đến năm 2016, kết quả phỏng vấn sâu năm 2016
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
* Về mặt khoa học: Luận văn hệ thống lý thuyết quản lý NSNN nói chung,
ngân sách xã nói riêng Bước đầu tổng kết những bài học kinh nghiệm của một số huyện khác trong việc nâng cao hiệu quả quản lý ngân sách xã
* Về mặt thực tiễn: Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu về quản lý
ngân sách xã trên địa bàn huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên Luận văn phân tích vàđánh giá thực trạng quản lý ngân sách xã trên địa bàn huyện, chỉ ra được nhữngthành công, tồn tại và những nguyên nhân chủ yếu Từ đó đề xuất những giải phápnhằm nâng cao hiệu quả quản lý ngân sách xã trên địa bàn Đồng Hỷ, tỉnh TháiNguyên
5 Kết cấu của luận văn
Luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận nội dung của luận văn được kết cấuthành 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý ngân sách xã.
Trang 14Chương 2: Phương pháp nghiên cứu.
Chương 3: Thực trạng công tác quản lý ngân sách xã trên địa bàn huyện
Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên
Chương 4: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý ngân sách xã trên địa bàn
huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên
Trang 15NSNN là một phạm trù kinh tế khách quan, ra đời, tồn tại và phát triển trên
cơ sở sự ra đời, tồn tại và phát triển của Nhà nước Liên quan đến khái niệm NSNN,đến nay vẫn có nhiều quan điểm khác nhau:
Theo Dương Đăng Chinh (2009, trang 67) thì: “Ngân sách nhà nước phản
ánh các quan hệ kinh tế phát sinh gắn liền quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước khi nhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia nhằm thực hiện các chức năng của Nhà nước trên cơ sở luật định”.
Theo từ điển thuật ngữ tài chính tín dụng (1996) của Viện Nghiên cứu Tài
chính cho rằng: “Ngân sách được hiểu là dự toán và thực hiện mọi khoản thu nhập
(tiền thu vào) và chi tiêu (tiền xuất ra) của bất kỳ một cơ quan, xí nghiệp, tổ chức, gia đình hoặc cá nhân trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm).
Luật NSNN năm 2002 (được thông qua tại kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XI
ngày 16 tháng 12 năm 2002): “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi
của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”.
Theo Luật NSNN đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa ViệtNam khóa XIII, kỳ họp thứ chín thông qua ngày 25/06/2015 có hiệu lực thi hành từ
năm ngân sách 2017, cho rằng: “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi
của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do
cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước Đây là khái niệm có thể coi là cơ bản nhất trong các khái
niệm về NSNN
Ngoài ra còn nhiều quan điểm khác nhau về NSNN, có thể tổng hợp cácquan điểm đó thuộc 3 nhóm sau đây:
+ Nhóm thứ nhất cho rẳng, NSNN là một bản dự toán thu chi trong năm của
Nhà nước Cách quan niệm đó đúng về hình thức, nhưng đó chỉ là một giai đoạn của quátrình ngân sách và cũng chưa thể hiện được vị trí của NSNN
Trang 16+ Nhóm thứ hai cho rằng NSNN là quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước Cách
quan niệm đó đúng ở chỗ, người ta đã thực thể hóa được NSNN và cũng nêu lên được vịtrí của NSNN so với các quỹ tiền tệ khác Vì thực tế cũng thường thấy, thu của Nhà nướcđưa vào một quỹ tiền tệ và chi của Nhà nước cũng xuất từ quỹ tiền tệ ấy Nhưng cácquan điểm này chưa phản ánh được vị trí cân đối vĩ mô của NSNN trong nền kinh tếquốc dân
+ Quan điểm thuộc nhóm thứ ba thì cho rằng NSNN là hệ thống các quan hệ
kinh tế giữa Nhà nước và xã hội phát sinh trong quá trình Nhà nước huy động và phânphối các nguồn tài chính Chỗ đúng của quan niệm này là nói lên được NSNN chứa đựngcác quan hệ kinh tế, nhưng nó lại không nói lên được thực thể NSNN là gì? Quan hệ kinh
tế đó có phải là quan hệ tài chính - ngân sách không?
Các quan điểm trên không có sự khác nhau quá lớn, hoàn toàn có thể xích lạigần nhau Dựa trên cơ sở phân tích đó và quan sát hiện thực có thể khái niệm
NSNN như sau: Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu - chi của Nhà nước
đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước.
Từ khái niệm và cách tiếp cận nêu ở trên, có thể rút ra một số điểm đặc trưngcủa ngân sách nhà nước như sau:
- Ngân sách nhà nước là một bảng liệt kê, trong đó dự kiến và cho phép thựchiện các khoản thu, chi bằng tiền của một chủ thể nào đó (Nhà nước, bộ, xí nghiệp,gia đình, cá nhân)
- Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơquan Nhà nước có thẩm quyền quyết định
- Ngân sách nhà nước tồn tại trong một khoảng thời gian nhất định, thường làmột năm
Ba điểm đặc trưng trên đây là cơ sở để xác định khái niệm về ngân sách nhànước Nói cách khác, về mặt khái niệm, có thể hiểu ngân sách nhà nước là dự toán(kế hoạch) thu - chi bằng tiền của nhà nước trong một khoảng thời gian nhất định(thường là một năm)
Gắn liền với khái niệm NSNN là khái niệm về năm ngân sách Năm ngânsách (còn được gọi là niên độ ngân sách hay năm tài chính hoặc tài khóa), mà trong
đó, dự toán thu, chi tài chính của Nhà nước đã được phê chuẩn của quốc hội có hiệu
Trang 17lực thi hành Hiện nay, ở tất cả các nước, năm ngân sách đều có thời hạn bằng mộtnăm dương lịch, nhưng thời điểm bắt đầu và kết thúc năm ngân sách ở mỗi nướcmột khác Đa số các nước, năm ngân sách trùng với năm dương lịch tức là bắt đầu
từ 01/01 kết thúc vào 31/12, như Pháp, Bỉ, Hà Lan, Trung Quốc, Lào, Triều Tiên,Malaisia, Philippin, Ở các nước khác, thời điểm bắt đầu và kết thúc năm ngânsách thường rơi vào tháng 3, như: Apgranixtan (bắt đầu từ ngày 21/3 năm trước vàkết thúc vào ngày 20/3 năm sau), tháng 4, như: Anh, Nhật, Canada, Hongkong, ẤnĐộ, Inđônêxia, Singapore (bắt đầu từ ngày 01/4 năm trước và kết thúc vào ngày31/3 năm sau) Ở Việt Nam, năm ngân sách bắt đầu từ ngày 01/01 và kết thúc vàongày 31/12 hàng năm
1.1.1.2 Vai trò của ngân sách nhà nước
NSNN giữ vai trò chủ đạo trong hệ thống tài chính và có vai trò quyết định
sự phát triển của nền KT-XH mỗi quốc gia Vai trò của NSNN được xác lập trên cơ
sở chức năng và nhiệm vụ cụ thể của nó trong từng giai đoạn cụ thể Phát huy vaitrò của NSNN như thế nào là thước đo đánh giá hiệu quả điều hành, lãnh đạo củaNhà nước
Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta hiện nay, NSNN
có các vai trò chủ yếu sau:
Một là, NSNN có vai trò huy động các nguồn tài chính để đảm bảo nhu cầu
chi tiêu của Nhà nước
Vai trò này xuất phát từ bản chất kinh tế của NSNN, để đảm bảo cho hoạtđộng của nhà nước trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội đòi hỏi phải cónhững nguồn tài chính nhất định Những nguồn tài chính này được hình thành từcác khoản thu thuế và các khoản thu ngoài thuế Đây là vai trò lịch sử của NSNNmà trong bất kỳ chế độ xã hội nào, cơ chế kinh tế nào NSNN đều phải thực hiện
Hai là, NSNN là công cụ điều tiết thị trường, bình ổn giá cả và chống lạm phát Đặc
điểm nổi bật của nền kinh tế thị trường là sự cạnh tranh giữa các nhà doanh nghiệpnhằm đạt được lợi nhuận tối đa, các yếu tố cơ bản của thị trường là cung cầu và giácả thường xuyên tác động lẫn nhau và chi phối hoạt động của thị trường Sự mất cânđối giữa cung và cầu sẽ làm cho giá cả tăng lên hoặc giảm đột biến và gây ra biếnđộng trên thị trường, dẫn đến sự dịch chuyển vốn của các doanh nghiệp từ ngành
này sang ngành khác, từ địa phương này sang địa phương khác
Trang 18Việc dịch chuyển vốn hàng loạt sẽ tác động tiêu cực đến cơ cấu kinh tế, nền kinh tếphát triển không cân đối Do đó, để đảm bảo lợi ích cho nhà sản xuất cũng nhưngười tiêu dùng nhà nước phải sử dụng ngân sách để can thiệp vào thị trường nhằmbình ổn giá cả thông qua công cụ thuế và các khoản chi từ NSNN dưới các hìnhthức tài trợ vốn, trợ giá và sử dụng các quỹ dự trữ hàng hoá và dự trữ tài chính.Đồng thời, trong quá trình điều tiết thị trường, NSNN còn tác động đến thị trườngtiền tệ và thị trường vốn thông qua việc sử dụng các công cụ tài chính như: pháthành trái phiếu chính phủ, thu hút viện trợ nước ngoài, tham gia mua bán chứngkhoán trên thị trường vốn qua đó góp phần kiểm soát lạm phát.
Ba là, NSNN là công cụ định huớng phát triển sản xuất
Để định hướng và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhà nước sử dụng công cụ thuếvà chi ngân sách Bằng công cụ thuế, một mặt tạo nguồn thu cho ngân sách, mặt khácnhà nước sử dụng thuế với các loại thuế, các mức thuế suất khác nhau sẽ góp phần kíchthích sản xuất phát triển và hướng dẫn các nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư vào những vùngnhững lĩnh vực cần thiết để hình thành cơ cấu kinh tế theo hướng đã định Đồng thời,với các khoản chi phát triển kinh tế, đầu tư vào CSHT, vào các ngành kinh tế mũinhọn nhà nước có thể tạo điều kiện và hướng dẫn các nguồn vốn đầu tư của xã hội vàonhững vùng, lĩnh vực cần thiết để hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý
Bốn là, NSNN là công cụ điều chỉnh thu nhập giữa các tầng lớp dân cư
Nền KTTT với những khuyết tật của nó sẽ dẫn đến sự phân hoá giàu nghèogiữa các tầng lớp dân cư, nhà nước phải có một chính sách phân phối lại thu nhậphợp lý nhằm giảm bớt khoảng cách chênh lệch về thu nhập trong dân cư NSNN làcông cụ tài chính hữu hiệu được nhà nước sử dụng để điều tiết thu nhập, với các sắcthuế như thuế thu nhập luỹ tiến, thuế tiêu thụ đặc biệt, Các sắc thuế này khôngnhững tạo nguồn thu cho ngân sách mà còn góp phần điều tiết một phần thu nhậpcủa tầng lớp dân cư có thu nhập cao Bên cạnh công cụ thuế, với các khoản chi củaNSNN như chi trợ cấp, chi phúc lợi cho các chương trình phát triển xã hội: phòngchống dịch bệnh, phổ cập giáo dục tiểu học, dân số và kế hoạch hoá gia đình lànguồn bổ sung thu nhập cho tầng lớp dân cư có thu nhập thấp (Dương Thị BìnhMinh và Sử Đình Thành, 2009)
Trang 191.1.2 Hệ thống NSNN và phân cấp quản lý NSNN
1.1.2.1 Hệ thống ngân sách Nhà nước
Hệ thống ngân sách Nhà nước là tổng thể các cấp ngân sách có mối quan hệ
cơ hữu với nhau trong quá trình thực hiện việc thu, chi của mỗi cấp ngân sách
Luật NSNN năm 2002, quy định hệ thống NSNN gồm ngân sách trung ương
và ngân sách địa phương Ngân sách địa phương bao gồm ngân sách của đơn vị
hành chính các cấp có Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân Theo quy định của
Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân hiện hành thì ngân sách các
cấp bao gồm:
- Ngân sách tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là ngân sách
tỉnh) bao gồm ngân sách cấp tỉnh và ngân sách của các huyện, quận, thị xã, tỉnh thuộc
tỉnh
- Ngân sách huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là ngân
sách huyện) Bao gồm ngân sách cấp huyện và ngân sách các xã, phường, thị trấn
- Ngân sách các xã, phường, thị trấn (gọi chung là ngân sách xã)
Sơ đồ 1.1: Hệ thống Ngân sách Nhà nước
(Nguồn: Tác giả tự tổng hợp)
Trên thế giới, hầu hết các nước, kể cả các nước phát triển và đang phát triển
đều có ngân sách xã Ngân sách xã là một bộ phận của hệ thống NSNN và được
quản lý theo quy định của luật pháp
Trang 201.1.2.2 Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước
Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước là việc xử lý các mối quan hệ giữa cáccấp chính quyền nhà nước từ trung ương đến địa phương trong hoạt động của ngânsách nhà nước, từ đó cho phép hình thành một cơ chế phân chia ranh giới quyền lực
về quản lý ngân sách nhà nước giữa các cấp chính quyền Vì vậy nội dung phân cấpquản lý ngân sách nhà nước về cơ bản bao gồm các nguyên tắc chủ yếu sau:
Một là: Phù hợp với phân cấp quản lý kinh tế- xã hội, quốc phòng, an ninh
của Nhà nước và năng lực quản lý của mỗi cấp trên địa bàn;
Hai là: Ngân sách trung ương và ngân sách địa phương được phân định
nguồn thu, nhiệm vụ chi cụ thể:
- Ngân sách trung ương giữ vai trò chủ đạo, bảo đảm thực hiện các nhiệm vụchiến lược, quan trọng của quốc gia như: các dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ tầngkinh tế - xã hội có tác động đến cả nước hoặc nhiều địa phương, các chương trình,
dự án quốc gia, các chính sách xã hội quan trọng, điều phối hoạt động kinh tế vĩ môcủa đất nước, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại và hỗ trợ những địa phươngchưa cân đối được thu, chi ngân sách
- Ngân sách địa phương được phân cấp nguồn thu bảo đảm chủ động thựchiện những nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xãhội trong phạm vi quản lý
Ba là: Việc phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa ngân sách các cấp chính
quyền địa phương do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định, thời gian thực hiệnphân cấp này phải phù hợp với thời kỳ ổn định ngân sách ở địa phương; cấp xãđược tăng cường nguồn thu, phương tiện và cán bộ quản lý tài chính - ngân sách đểquản lý tốt, có hiệu quả các nguồn lực tài chính trên địa bàn được phân cấp
Bốn là: Kết thúc mỗi kỳ ổn định ngân sách, căn cứ vào khả năng nguồn thu
và nhiệm vụ chi của từng cấp, theo thẩm quyền quy định của Luật Ngân sách nhànước, Quốc hội, Hội đồng nhân dân điều chỉnh mức bổ sung cân đối từ ngân sáchcấp trên cho ngân sách cấp dưới; Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng nhân dâncấp tỉnh quyết định việc điều chỉnh tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thugiữa ngân sách các cấp (Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, 2002)
Trang 211.2 Tổng quan về ngân sách xã
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm của Ngân sách xã
1.2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của ngân sách xã
Trong lịch sử tồn tại và phát triển, dân tộc ta đã trải qua rất nhiều giai đoạnkhác nhau với những chế độ khác nhau từ phong kiến cho đến XHCN ngày nay.Song song với sự ra đời, tồn tại và phát triển của bộ máy Nhà nước thì “quỹ” xã (màbây giờ gọi là NSX) cũng được hình thành và phát triển như một tất yếu khách quan
để đảm bảo thực hiện các chức năng quản lý Nhà nước ở cơ sở Trải qua các giaiđoạn khác nhau xã cũng mang những tên gọi khác nhau gắn với những chức năngnhiệm vụ nhất định Ví dụ như thời kỳ Khúc Hạo gọi là giáp xã, các triều đại Đinh,
Lê, Trần, Lý gọi là hương xã Cho đến nay chính quyền cấp xã đã trở thành cấpchính quyền cơ sở giúp vai trò hết sức quan trọng trong hệ thống chính quyền 4 cấp
ở nước ta
Về chế độ thu, chi NSX trong mỗi thời kỳ cũng có sự khác nhau do sự áp đặtcác luật lệ khác nhau của các triều đại Trong thời Lê, chế độ quản lý NSX đượcquy định rất chặt chẽ: đối với xã lớn chỉ được phép chi trong phạm vi 50 quan, xãnhỏ 20 quan (đơn vị tiền tệ lúc đó), quỹ xã chỉ giữ lại 30 quan để chi tiêu, số còn lạiphải gửi vào nhà giàu trong xã cất giữ Dưới chế độ XHCN, trong thời kỳ bao cấpcông tác quản lý NSX chưa được quan tâm, coi trọng do ảnh hưởng của cơ chế tậptrung, bao cấp Từ năm 1996 NSX được quản lý theo Luật NSNN
Đáp ứng yêu cầu quản lý kinh tế trong thời kỳ đổi mới, chuyển từ cơ chếquản lý tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường định hướng XHCN có sựquản lý của Nhà nước, trong những năm vừa qua Nhà nước đã ban hành nhiều vănbản liên quan đến quản lý NSNN nói chung và NSX nói riêng như: Luật NSNN số01/2002/QH11; Thông tư số 60/2003/TT-BTC ngày 23/06/2003, Quyết định số94/2005/QĐ-BTC ngày 12/12/2005 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc ban hànhchế độ kế toán ngân sách và tài chính xã, Đây thực sự là một bước phát triển mớitrong công tác quản lý NSX, khẳng định rõ NSX là một cấp ngân sách nằm trong hệthống NSNN, là phương tiện vật chất để chính quyền cấp xã thực hiện chức năng,nhiệm vụ của mình Công tác quản lý Ngân sách xã ngày càng được Đảng, Nhànước, các cấp, các ngành quan tâm, củng cố và hoàn thiện Thông qua tổ chức bộmáy theo các cấp chính quyền, Nhà nước kiểm soát chặt chẽ trật tự xã hội cũng như
Trang 22kịp thời can thiệp vào nền kinh tế theo chiều hướng khuyến khích phát triển Gắnvới cấp chính quyền trong tổ chức bộ máy Nhà nước là một cấp ngân sách Sự tồntại của cấp xã kéo theo sự xuất hiện của Ngân sách xã, chính vì vậy NSX tồn tại làmột tất yếu khách quan.
1.2.1.2 Khái niệm ngân sách xã
Ngân sách Nhà nước là một phạm trù kinh tế và là phạm trù lịch sử, phânđịnh thành ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương Ngân sách Trung ươnglà ngân sách của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các cơ quankhác ở Trung ương Ngân sách địa phương bao gồm ngân sách của đơn vị hànhchính các cấp có Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân (tỉnh, huyện, xã) Ngânsách Nhà nước bao gồm toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quannhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảothực hiện các chức năng và nhiệm vụ của nhà nước
Ngân sách xã đại diện và đảm bảo tài chính cho chính quyền xã có thể chủ độngkhai thác những thế mạnh có sẵn để phát triển kinh tế, thực hiện các chính sách xã hội,giữ gìn an ninh trật tự trên địa bàn xã Ngân sách xã trực tiếp gắn với người dân, trựctiếp giải quyết toàn bộ mối quan hệ về lợi ích giữa Nhà nước với dân Chính vì vậy,NSX là tiền đề đồng thời là hệ quả trong quá trình quản lý kinh tế - xã hội của Nhànước, có thể hiểu một cách khái quát nhất về ngân sách xã như sau:
Ngân sách xã là cấp ngân sách cơ sở trong hệ thống NSNN, là quỹ tiền tệ tập trung phản ánh mối quan hệ kinh tế giữa một bên là chính quyền xã với một bên
là các chủ thể khác thông qua sự vận động của các nguồn tài chính nhằm đảm bảo thực hiện chức năng nhiệm vụ của chính quyền xã trên mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, an ninh trật tự và văn hoá, xã hội trên địa bàn theo phân cấp.
Như vậy có thể hiểu NSX là toàn bộ các khoản thu, chi được quy định trong
dự toán hàng năm do HĐND cấp xã quyết định và giao cho UBND cấp xã thực hiệnnhằm đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của chính quyền cấp xã
1.2.1.3 Đặc điểm ngân sách xã
Vai trò của NSNN ngày càng được khẳng định và nền tài chính quốc gia đãvà đang được nâng cao hiệu quả Cùng với vấn đề đó NSX cũng ngày càng chứngminh tầm quan trọng, tính hiệu quả trong hoạt động của mình góp phần vào sựnghiệp phát triển kinh tế xã hội Là một cấp ngân sách trong hệ thống NSNN nên
Trang 23NSX cũng mang đầy đủ các đặc điểm chung của ngân sách các cấp chính quyền địa phương, đó là:
- Được phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi theo quy định của pháp luật
- Được quản lý và điều hành theo dự toán và theo chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cơ quan có thẩm quyền quy định
- Hoạt động thu chi của Ngân sách xã luôn gắn liền với chức năng, nhiệm vụcủa chính quyền xã đã được phân cấp, đồng thời luôn chịu sự kiểm tra, giám sát của cơquan quyền lực Nhà nước cấp xã - đó là HĐND cấp xã;
- Ngân sách xã là cấp Ngân sách cuối cùng gắn chặt với việc thực hiện chứcnăng, nhiệm vụ của chính quyền cấp xã, là nơi trực tiếp giải quyết mối quan hệ lợi íchgiữa Nhà nước và nhân dân Mối quan hệ về lợi ích đó được thực hiện thông qua hoạtđộng thu, chi Ngân sách xã Trên cơ sở đó, chính quyền cấp xã cũng đảm bảo thực hiệnchức năng, nhiệm vụ của mình
Bên cạnh các đặc điểm chung, NSX còn có các đặc điểm riêng sau đây:
Một là, NSX là một loại quỹ tiền tệ của cơ quan chính quyền Nhà nước cấp
cơ sở Hoạt động của quỹ được thể hiện trên hai phương diện: huy động nguồn thuvào quỹ gọi là thu NSX, phân phối và sử dụng quỹ gọi là chi NSX
Hai là, các chỉ tiêu thu chi NSX luôn mang tính pháp lý (nghĩa là các chỉ tiêu
này được quy định bằng văn bản pháp luật và được pháp luật đảm bảo thực hiện)
Ba là, đằng sau quan hệ thu chi NSX là quan hệ lợi ích phát sinh trong quá
trình thu chi NSX giữa hai chủ thể: một bên là lợi ích chung của cộng đồng cấp cơ
sở mà đại diện là chính quyền cấp xã, một bên là các chủ thể kinh tế xã hội
Bốn là, NSX vừa là một cấp ngân sách, lại vừa là một đơn vị dự toán đặc biệt
(dưới nó không có đơn vị dự toán trực thuộc) Đặc điểm này có ảnh hưởng chi phốilớn đến quá trình tổ chức lập, chấp hành và quyết toán NSX Xã là đơn vị cơ sởtrong hệ thống tổ chức bộ máy Nhà nước, gắn bó trực tiếp với người dân và nềnkinh tế xã hội Chính vì vậy, nghiên cứu công tác quản lý NSX tuy không phải làcông việc mới đặt ra song lại vô cùng cần thiết để tìm ra những giải pháp hữu hiệunhất nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách trong điều kiện hiện nay Hay nóicách khác, NSX vừa là một cấp ngân sách, vừa là đơn vị dự toán, nó không có đơn
vị dự toán trực thuộc nào, nó vừa tạo nguồn thu vừa phải phân bổ nhiệm vụ chi
Trang 241.2.2 Nguồn thu, nhiệm vụ chi của ngân sách xã
Thực chất của sự phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi cho NSX là giải quyếtmối quan hệ giữa cấp xã với ngân sách cấp trên từ việc quản lý sử dụng NSNN Mộttrong những yêu cầu của việc phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi Ngân sách là phảinhận định rõ ràng, cụ thể, phải phù hợp với chức năng của từng cấp Do vậy việcphân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi cho NSX phải phù hợp với phân cấp quản lý kinh
tế xã hội, quốc phòng, an ninh của nhà nước và chức năng, nhiệm vụ quản lý Nhànước của cấp xã Tuy nhiên trong mỗi thời kỳ nguồn thu, nhiệm vụ chi cũng có sựđiều chỉnh, bổ sung cho phù hợp với thực tế
1.2.2.1 Nguồn thu của ngân sách xã
Trong điều kiện triển khai thực thi Luật NSNN đã được Quốc hội khoá XIthông qua tại kỳ họp thứ hai ngày 16/12/2002, cơ cấu nguồn thu cho cấp xã ở cácđịa phương khác nhau sẽ do HĐND cấp tỉnh quyết định Việc phân cấp nguồn thucho NSX phải đảm bảo nguyên tắc:
- Phù hợp với phân cấp quản lý kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của Nhà nước và chức năng, nhiệm vụ quản lý Nhà nước của cấp xã;
- Phù hợp với việc phân định nguồn thu giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương;
- Tỷ lệ phần trăm (%) phân chia một số khoản thu giao cho ngân sách xãkhông vượt tỷ lệ phân chia giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương do Uỷban Thường vụ Quốc hội quyết định giao cho từng tỉnh đối với các khoản thu đó, riêngđối với 5 loại thuế, lệ phí theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 34 Luật Ngân sách nhànước, tỷ lệ phân chia cho ngân sách xã, thị trấn tối thiểu là 70%;
Kết thúc mỗi kỳ ổn định, căn cứ vào khả năng nguồn thu và nhiệm vụ chicủa ngân sách địa phương, HĐND tỉnh, tỉnh trực thuộc Trung ương thực hiện việcđiều chỉnh tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu giữa ngân sách các cấp ởđịa phương Khi phân cấp nguồn thu cho xã phải căn cứ vào nhiệm vụ chi đối vớicấp xã, khả năng thu từ các nguồn ngân sách nhà nước trên địa bàn; phân cấp tối đanguồn thu tại chỗ, đảm bảo các xã chủ động cân đối được các nhiệm vụ chi thườngxuyên, các xã có nguồn thu khá có phần dành để đầu tư phát triển, hạn chế việc bổsung từ ngân sách cấp trên, tăng số xã tự cân đối được ngân sách, giảm dần số xãphải nhận bổ sung cân đối ngân sách từ cấp trên Các địa phương cũng có thể tham
Trang 25khảo những chỉ dẫn mà Bộ Tài chính đã đưa ra trong Thông tư số 60/2003/TT-BTC ngày 23/6/2003 về phân định nguồn thu cho NSX như sau:
Đây là các khoản thu dành cho xã sử dụng toàn bộ để chủ động về nguồn tàichính đảm bảo các nhiệm vụ chi thường xuyên, chi đầu tư phát triển Căn cứ quy môgiữa nguồn thu, chế độ phân cấp quản lý kinh tế xã hội và nguyêntắc đảm bảo tối đanguồn tại chỗ cân đối cho các nhiệm vụ thu chi thườngxuyên Khi phân cấp nguồn thuHĐND cấp tỉnh xem xét dành cho NSX hưởng 100% các khoản thu sau đây:
- Các khoản phí, lệ phí thu vào NSX theo quy định;
- Thu đấu thầu, thu khoán theo mùa vụ từ quỹ đất công ích và hoa lợi công sản;
- Thu từ các hoạt động sự nghiệp của xã, phần nộp vào ngân sách theo chế độquy định;
- Các khoản huy động đóng góp của các tổ chức, cá nhân;
- Viện trợ không hoàn lại do các tổ chức, cá nhân ở nước ngoài trực tiếp cho NSX;
- Thu kết dư NSX năm trước;
- Các khoản thu khác của NSX theo quy định của pháp luật
- Thuế sử dụng đất nông nghiệp thu từ hộ gia đình;
- Thuế chuyển quyền sử dụng đất;
- Thuế nhà đất;
- Tiền cấp quyền sử dụng đất;
- Lệ phí trước bạ nhà, đất;
- Thuế môn bài
Đối với các khoản thu trên, NSX được hưởng tối thiểu 70% Căn cứ vàonguồn thu và nhiệm vụ chi của xã, HĐND cấp tỉnh có thể quyết định tỷ lệ NSXđược hưởng cao hơn, tối đa là 100%
Ngoài các khoản thu phân chia theo quy định trên, HĐND cấp tỉnh còn cóthể bổ sung thêm các nguồn thu phân chia cho xã nếu sau khi các khoản thuế, phí, lệphí phân chia theo luật NSNN đã dành 100% cho xã và các khoản thu được hưởng100% nhưng vẫn chưa cân đối được nhiệm vụ chi
Tỷ lệ phần trăm các khoản trên cho NSX do UBND tỉnh quy định và ổn định
từ 3 - 5 năm, phù hợp với tình hình ngân sách địa phương Để giảm bớt khối lượngnghiệp vụ, khuyến khích tăng thu có thể giao chung cho các xã cùng một tỷ lệ
Trang 26* Thu bổ sung từ Ngân sách cấp trên
Trong tổ chức hệ thống NSNN các cấp có mối quan hệ hữu cơ với nhau vàmỗi cấp phải tự cân đối thu chi ngân sách Tuy nhiên, trong những hoàn cảnh cụ thểnếu cấp ngân sách (hay một bộ phận cấp ngân sách) nào không tự cân đối được thìngân sách cấp trên có trách nhiệm bổ sung vốn cho cấp ngân sách (hay bộ phận cấpngân sách đó) để đảm bảo cân đối thu chi ngay từ khâu xây dựng dự toán Từ đóhình thành khoản thu bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới Trongđiều kiện hiện nay ở nước ta phần lớn ngân sách cấp xã chưa tự cân đối được thuchi nên ngân sách cấp trên phải cấp bổ sung và hình thành nguồn thu thứ 3 choNSX Cơ chế xác định số thu bổ sung từ ngân sách cấp trên được quy định như sau:
- Thu bổ sung để cân đối ngân sách được xác định trên cơ sở chênh lệch giữa dựtoán chi theo các nhiệm vụ được giao và dự toán thu từ các nguồn thu được phân cấp (cáckhoản thu hưởng 100% và các khoản thu phân chia theo tỷ lệ %) Số bổ sung này được xácđịnh từ năm đầu thời kỳ ổn định và được giao ổn định từ 3 - 5 năm
- Thu bổ sung có mục tiêu là các khoản thu theo từng năm để hỗ trợ xã thực hiện một số nhiệm vụ cụ thể
Ngoài các khoản thu trên, chính quyền xã không được đặt ra các khoản thu trái với quy định của pháp luật
1.2.2.2 Nhiệm vụ chi của Ngân sách xã
Chính quyền nhà nước cấp xã sử dụng ngân sách xã để đảm bảo thực hiệncác chức năng quản lý kinh tế - xã hội trên địa bàn tiến tới đạt được các mục tiêuchiến lược về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn
Chi ngân sách xã gồm chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên HĐND cấptỉnh quyết định phân cấp nhiệm vụ chi, định mức phân bổ chi thường xuyên chongân sách xã, cụ thể các nhiệm vụ chi như sau:
* Chi đầu tư phát triển: Các khoản chi đầu tư phát triển thể hiện rõ mục đích
tích luỹ, thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi NSX nên trước khi quyết địnhđầu tư, UBND cấp xã cần xác định rõ sự cần thiết phải đầu tư, nguồn vốn đảm bảocho công trình, tránh tình trạng quyết định đầu tư dàn trải khi chưa có nguồn đảmbảo làm tăng nợ XDCB, mất khả năng cân đối ngân sách
- Chi đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội của xã, không có khả năng thu hồi vốn theo phân cấp của tỉnh
Trang 27- Chi đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội của từng
xã từ nguồn huy động đóng góp của các tổ chức cá nhân cho từng dự án nhất định theoquy định của pháp luật, do HĐND xã quyết định đưa vào NSX quản lý
- Các khoản chi đầu tư phát triển khác theo quy định của pháp luật
* Chi thường xuyên: Bao gồm các khoản chi chủ yếu sau: a) Chi cho hoạt động
của các cơ quan nhà nước ở xã:
+ Tiền lương, tiền công cho cán bộ, công chức cấp xã +
Phụ cấp đại biểu Hội đồng nhân dân, phụ cấp cấp uỷ +
Các khoản phụ cấp khác theo quy định của Nhà nước
+ Công tác phí
+ Chi về hoạt động văn phòng như: chi phí điện, nước, văn phòng phẩm, phíbưu điện, điện thoại, hội nghị, chi phí tiếp tân, tiếp khách
+ Chi mua sắm, sửa chữa thường xuyên trụ sở, phương tiện làm việc
+ Chi khác theo chế độ quy định
b) Kinh phí hoạt động của cơ quan Đảng cộng sản Việt Nam ở xã
c) Kinh phí hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội ở xã (Mặt trận Tổquốc Việt Nam, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Cựu chiến binh Việt Nam,Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam)
d) Đóng BHXH, BHYT, KPCĐ cho cán bộ xã và các đối tượng khác theo chế độ quy định
e) Chi cho công tác an ninh, quốc phòng:
+ Chi huấn luyện dân quân tự vệ, các khoản phụ cấp huy động dân quân tựvệ và các khoản cho khác về dân quân tự vệ thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách xã Chithực hiện việc đăng ký nghĩa vụ quân sự, công tác nghĩa vụ quân sự khác thuộc nhiệm vụchi của ngân sách xã theo quy định của pháp luật
+ Chi công tác an ninh, tuyên truyền, vận động và tổ chức phong trào bảo vệ
an ninh, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn xã
+ Các khoản chi an ninh, quốc phòng khác theo chế độ quy định
g) Chi cho công tác xã hội và hoạt động văn hóa, thông tin, thể dục thể thao
do xã quản lý
+ Trợ cấp hàng tháng cho cán bộ xã nghỉ việc theo chế độ quy định (không
kể trợ cấp hàng tháng cho cán bộ xã nghỉ việc và trợ cấp thôi việc một lần cho cán
Trang 28bộ xã nghỉ việc từ ngày 01/01/1998 trở về sau do tổ chức bảo hiểm xã hội chi); chi thăm hỏi các gia đình chính sách; cứu tế xã hội và công tác xã hội khác.
+ Chi hoạt động văn hóa, thông tin, thể dục thể thao do xã quản lý
h) Chi sự nghiệp giáo dục: Hỗ trợ các lớp bổ túc văn hóa, trợ cấp nhà trẻ, lớpmẫu giáo, kể cả trợ cấp cho giáo viên mẫu giáo và cô nuôi dạy trẻ do xã, thị trấn quản lý(đối với phường do ngân sách cấp trên chi)
i) Chi sự nghiệp y tế: Hỗ trợ chi thường xuyên và mua sắm các khoản trang thiết bị phục vụ cho khám chữa bệnh của trạm y tế xã
k) Chi sửa chữa, cải tạo các công trình phúc lợi, các công trình kết cấu hạtầng do xã quản lý như: trường học, trạm y tế, nhà trẻ, lớp mẫu giáo, nhà văn hóa,thư viện, đài tưởng niệm, cơ sở thể dục thể thao, cầu, đường giao thông, công trìnhcấp và thoát nước công cộng
l) Chi sự nghiệp kinh tế: khuyến nông, khuyến công, khuyến ngư, khuyến lâm, kiến thiết thị chính, SN giao thông theo chế độ quy định
m) Các khoản chi thường xuyên khác ở xã theo quy định của pháp luật
1.2.3 Vai trò của ngân sách xã
Ngân sách xã là một bộ phận của ngân sách nhà nước, được kết cấu chặt chẽvà chịu sự điều chỉnh vĩ mô của ngân sách nhà nước theo mục tiêu chung của quốcgia, kết hợp hài hòa giữa lợi ích chung và quyền lợi vật chất của từng xã, dựa trên
cơ sở sử dụng nguồn tài chính tại chỗ có hiệu quả, tạo mọi điều kiện thuận lợi chocấp xã hoàn thành nhiệm vụ được giao NSX là nhân tố góp phần thực hiện thànhcông mục tiêu công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn
Ngân sách xã là một cấp, một bộ phận cấu thành của NSNN, chính vì vậy màNSX thể hiện đầy đủ vai trò của NSNN Tuy nhiên nó có những đặc thù và vai tròriêng biệt được thể hiện:
Thứ nhất: NSX cung cấp các phương tiện vật chất, tiền tài vật lực cho sự tồn
tại và hoạt động của bộ máy chính quyền cấp xã; để đảm bảo cho sự tồn tại và hoạtđộng của bộ máy chính quyền Nhà nước thì chỉ có nguồn tài chính từ NSNN Nhưvậy mọi chi phí cho bộ máy cấp xã phải do NSX đảm nhiệm
Thứ hai: NSX là một công cụ Tài chính quan trọng để chính quyền xã quản
lý một cách toàn diện mọi hoạt động kinh tế, xã hội trên địa bàn xã trong lĩnh vựcđược phân cấp, được thể hiện thông qua:
Trang 29- Hoạt động thu ngân sách: Qua hoạt động thu còn giúp chính quyền xã thựchiện việc kiểm tra, kiểm soát và điều chỉnh các hoạt động sản xuất kinh doanh đi theođúng hướng, đúng khuôn khổ của pháp luật thu ngân sách còn góp phần thực hiện cácchính sách về công bằng xã hội Việc thực hiện các chế độ thu phạt vi phạm đối với các
tổ chức, cá nhân vi phạm góp phần răn đe, giáo dục chấp hành
đúng chính sách pháp luật, giữ gìn an ninh trật tự xã hội
- Hoạt động chi ngân sách: Từ việc chi ngân sách mà sự tồn tại và hoạt độngcủa bộ máy chính quyền được duy trì và phát triển liên tục, ổn định Từ đó đảm bảo đượcvai trò quản lý hành chính cấp cơ sở của chính quyền; chi NSX có vai trò quan trọngtrong việc đảm bảo phát triển kinh tế, văn hóa xã hội, giữ vững an ninh chính trị, trật tự
an toàn xã hội, tạo công bằng xã hội
Thứ ba, NSX góp phần quan trọng trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng vùng
nông thôn Với phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm, hệ thống giao thôngliên thôn, liên xã được xây dựng và nâng cấp thường xuyên, nhờ đó các cụm dân cưdần được hình thành Kinh tế nông thôn từng bước có sự chuyển dịch từ kinh tếthuần nông sang kinh tế sản xuất hàng hóa, người dân được hưởng lợi ích lớn hơn
về giáo dục và y tế
Thứ tư, NSX góp phần thực hiện tốt công tác văn hóa xã hội ở nông thôn.
Với các khoản chi NSX hoạt động văn hóa, thông tin, thể dục thể thao được quantâm góp phần nâng cao đời sống của cư dân nông thôn Chi NSX để phát triển hệthống truyền hình, truyền thông nhằm nâng cao nhận thức văn hóa của mọi người,loại bỏ những thủ tục lạc hậu
1.2.4 Nội dung công tác quản lý ngân sách xã
1.2.4.1 Khái niệm Quản lý ngân sách xã
* Khái niệm quản lý NSNN
Quản lý nói chung được quan niệm như một quy trình công nghệ mà chủ thểquản lý tiến hành thông qua việc sử dụng các công cụ và phương pháp thích hợpnhằm tác động và điều khiển đối tượng quản lý hoạt động phát triển phù hợp vớiquy luật khách quan và đạt tới các mục tiêu đã định Trong hoạt động quản lý, cácvấn đề về: chủ thể quản lý, đối tượng quản lý, công cụ và phương pháp quản lý,mục tiêu quản lý là những yếu tố trung tâm đòi hỏi phải xác định đúng đắn (TôThiện Hiền, 2012)
Trang 30Quản lý NSNN là một nội dung trọng yếu của quản lý tài chính, do Nhànước điều hành và là một mặt của quản lý kinh tế - xã hội quan trọng, do đó trongquản lý NSNN cần được nhận thức đầy đủ.
Chủ thể quản lý NSNN là Nhà nước hoặc các cơ quan nhà nước được Nhà nướcgiao nhiệm vụ thực hiện các hoạt động tạo lập và sử dụng các quỹ NSNN Chủ thể trựctiếp quản lý NSNN là bộ máy tài chính trong hệ thống các cơ quan nhà nước
Đối tượng của quản lý NSNN là các hoạt động của NSNN Nói cụ thể hơn đólà các hoạt động thu, chi bằng tiền của NSNN
Trong quản lý NSNN, các chủ thể quản lý có thể sử dụng nhiều phương phápquản lý và nhiều công cụ quản lý khác nhau như:
- Phương pháp tổ chức: được sử dụng để thực hiện ý đồ của chủ thể quản lýtrong việc bố trí, sắp xếp các mặt hoạt động của NSNN theo những khuôn mẫu đã định vàthiết lập bộ máy quản lý phù hợp với các mặt hoạt động đó của quản lý NSNN
- Phương pháp hành chính: được sử dụng khi các chủ thể quản lý NSNNmuốn các đòi hỏi của mình phải được các khách thể quản lý tuân thủ một cách vô điềukiện Đó là khi các chủ thể quản lý ra các mệnh lệnh hành chính
- Phương pháp kinh tế: được sử dụng thông qua việc dùng các đòn bẩy kinh
tế để kích thích tính tích cực của các khách thể quản lý, tức là tác động tới các tổ chức và
cá nhân đang tổ chức các hoạt động quản lý NSNN
- Hệ thống pháp luật thuộc lĩnh vực quản lý NSNN được sử dụng để quản lývà điều hành các hoạt động quản lý NSNN được xem như một loại công cụ quản lý cóvai trò đặc biệt quan trọng
- Công cụ pháp luật được sử dụng thể hiện dưới các dạng cụ thể là các chínhsách, cơ chế quản lý tài chính, các chế độ quản lý tài chính, kế toán, thống kê, các địnhmức, tiêu chuẩn về tài chính, mục lục NSNN,
- Cùng với pháp luật, hàng loạt công cụ phổ biến khác được sử dụng trongquản lý NSNN như: các đòn bẩy kinh tế, tài chính; kiểm tra, thanh tra; các tiêu chí đánhgiá hiệu quả quản lý NSNN
Mỗi công cụ kể trên có đặc điểm khác nhau và được sử dụng khác nhau nhưng đều nhằm cùng một hướng là thúc đẩy nâng cao hiệu quả quản lý NSNN
Từ những phân tích kể trên có thể có khái niệm tổng quát về quản lý NSNN
như sau: Quản lý NSNN là hoạt động của các chủ thể quản lý NSNN thông qua việc
Trang 31sử dụng có chủ định các phương pháp quản lý và các công cụ quản lý để tác động
và điều khiển hoạt động của NSNN nhằm đạt được các mục tiêu đã định.
* Khái niệm Quản lý ngân sách xã
Quản lý ngân sách xã thực chất là quản lý một bộ phận nhỏ trong Quản lý
NSNN, phạm vi quản lý thu hẹp trong một xã hoặc thị trấn Vậy, có thể hiểu Quản
lý ngân sách xã là sự tác động của Nhà nước nói chung (bộ máy chính quyền xã) lên công tác quản lý thu - chi ngân sách xã nhằm thực hiện các chức năng nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Công tác quản lý ngân sách xã gồm: quản lý quy trình ngân sách (quản lýthu, quản lý chi), quản lý thanh tra kiểm tra ngân sách
1.2.4.2 Nguyên tắc quản lý ngân sách xã
- Nguyên tắc đầy đủ: Điều 6 Luật ngân sách Nhà nước năm 2002 đã quy định:
“Tất cả các khoản thu, chi của ngân sách Nhà nước phải được hạch toán kế toán, quyết
toán đầy đủ, kịp thời, đúng chế độ" Thực hiện nguyên tắc trên tất cả các khoản thu chi NSX
đều phải được hạch toán đầy đủ vào ngân sách theo đúng Luật quy định: Quản lý NSX đảmbảo cho các hoạt động thu, chi đúng chính sách chế độ quy định, các khoản thu phải đảm bảothu đúng, thu đủ, kịp thời và nộp đầy đủ vào ngân sách nhà nước, và hạch toán đúng mục lụcngân sách, đúng chế độ kế toán, đồng thời khai thác triệt để mọi nguồn thu, bồi dưỡng pháttriển các nguồn thu, phát triển kinh tế xã hội ở xã, thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triểntạo thêm nhiều nguồn thu mới cho ngân sách xã Các khoản chi phải đúng chế độ, tiêu chuẩnđịnh mức, phải có dự toán được duyệt và được kiểm soát chi qua Kho bạc Nhà nước
- Nguyên tắc tiết kiệm và hiệu quả: Việc sử dụng nguồn lực tài chính phải
tính đến hiệu quả kinh tế xã hội Tăng cường kỷ luật tài chính, thực hiện tốt kiểm soát chimột cách đồng bộ từ cơ chế chính sách, dự toán, phân bổ ngân sách đến việc cấp phátngân sách Thực hiện tiết kiệm triệt để trong chi tiêu ngân sách nhất là trong quản lýhành chính và chi đầu tư XDCB
- Nguyên tắc “Nhà nước và nhân dân cùng làm”: Cùng với sự hỗ trợ của
Nhà nước, phải đảm bảo động viên tối đa nguồn lực trong nhân dân để giảm nhẹ gánhnặng cho NSNN và nâng cao trách nhiệm giám sát của nhân dân đối với chi tiêu củaNSNN nhất là trong chi đầu tư XDCB để xây dựng kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nôngthôn, nông dân
Trang 32- Nguyên tắc ổn định ngân sách và tự chiu trách nhiệm trước pháp luật và Nhà nước về quản lý ngân sách: Tỷ lệ điều tiết và bổ sung ngân sách được giao ổn định
từ 3 đến 5 năm (gọi là thời kỳ ổn định ngân sách) Trong những năm này chính quyền xãphải chủ động bố trí ngân sách, xây dựng dự toán thu, chi trên cơ sở nhiệm vụ cấp trêngiao và tiềm năng thế mạnh của xã, để khai thác hiệu quả các nguồn thu, xây dựngphương án thu ngân sách hàng năm để đáp ứng tốt các nhu cầu chi của xã nhằm thựchiện tốt nhiệm vụ kinh tế xã hội của xã trong năm và tự chịu trách nhiệm trước pháp luậtvà nhà nước về quản lý ngân sách ở xã mình
- Nguyên tắc công khai tài chính ngân sách: Việc thực hiện công khai tài
chính phải được thực hiện theo Thông tư số 01/2002/TT-BTC Của Bộ Tài chính là phảicông khai dự toán, quyết toán thu trên địa bàn, tỷ lệ điều tiết, số thu bổ sung ngân sáchcấp trên, công khai chi tiết và kết quả hoạt động của các hoạt động tài chính khác hàngnăm của xã Với các hình thức công khai là niêm yết tại trụ sở UBND xã, thông báotrước kỳ họp HĐND xã, và gửi UBND huyện, Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện trựctiếp quản lý
1.2.4.3 Nội dung quản lý ngân sách xã
Cũng như các cấp NS khác, NSX được tổ chức quản lý theo một chu trìnhkhoa học gồm 3 khâu: Lập dự toán, chấp hành dự toán và quyết toán ngân sách xã.Nội dung quản lý ngân sách xã được quy định cụ thể tại Luật NSNN năm 2002;Nghị định số 60/2003/NĐ-CP ngày 06/6/2003 của Chính phủ quy định chi tiết vàhướng dẫn thi hành Luật NSNN; Thông tư số 59/2003/TT-BTC ngày 23/6/2003 củaBộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 60/2003/NĐ-CP ngày 06/6/2003của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật NSNN; Thông tư số60/2003/TT-BTC ngày 23/6/2003 của Bộ Tài chính quy định về quản lý ngân sách
xã và các hoạt động tài chính khác của xã, phường, thị trấn và các văn bản hướngdẫn hiện hành của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền Nội dung cơ bản về Chutrình quản lý ngân sách xã như sau:
a Lập dự toán ngân sách
Lập dự toán ngân sách xã là một khâu quan trọng trong công tác quản lý,điều hành ngân sách xã; là quá trình phân tích đánh giá giữa khả năng và nhu cầucác nguồn tài chính của ngân sách xã để từ đó xác lập các chỉ tiêu thu - chi dự kiến
có thể đạt được trong kỳ kế hoạch, xác lập các biện pháp chủ yếu về kinh tế tài
Trang 33chính và hành chính để đảm bảo thực hiện thắng lợi các chỉ tiêu và giao chi Lập dựtoán ngân sách xã là khâu mở đầu cho một chu trình ngân sách làm cơ sở, nền tảngcủa các khâu tiếp theo, đặc biệt là khâu chấp hành ngân sách cho nên khi lập dựtoán phải đảm bảo các yêu cầu sau:
- Dự toán NSX phải phản ánh một cách đầy đủ, chính xác các khoản thu, chi
dự kiến có thể phát sinh trong năm kế hoạch theo đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức củanhà nước Điều này có nghĩa khi lập dự toán NSX đòi hỏi người lập phải tính toán đầy đủcác khả năng thu NSX, có tính đến khả năng khai thác nguồn thu tiềm năng của xã, đồngthời tính toán phân bổ chi NSX đảm bảo bao quát hết nhiệm vụ chi, tiết kiệm, thiết thựcvà hiệu quả
- Dự toán chi đầu tư phát triển phải căn cứ vào các dự án đầu tư có đủ điềukiện và nguồn vốn được đảm bảo, ưu tiên bố trí cho các công trình đang thực hiện dởdang
- Dự toán chi thường xuyên phải được tuân theo các chính sách, chế độ, tiêu chuẩn, định mức của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành
- Lập dự toán NSX phải đảm bảo nguyên tắc cân đối, chi không được vượtquá nguồn thu được hưởng theo phân cấp Nghiêm cấm vay dưới mọi hình thức, chiếmdụng vốn hoặc để cân đối NSX
- Dự toán phải được lập theo đúng biểu mẫu quy định, đúng thời gian, đúngmục lục NSNN, gửi kịp thời cho các cơ quan chức năng của Nhà nước xét duyệt, đồngthời phải có thuyết minh làm rõ cơ sở, căn cứ tính toán
* Căn cứ lập dự toán
Dự toán ngân sách xã được lập dựa trên những căn cứ cụ thể, đảm bảo xáclập các chỉ tiêu thu, chi NSX một cách tương đối chính xác, khoa học Các căn cứlập dự toán ngân sách xã bao gồm:
- Chủ trương, định hướng phát triển kinh tế - xã hội chung của tỉnh, của huyện;
- Các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng, trật
tự an toàn xã hội trên địa bàn của xã;
- Chế độ, tiêu chuẩn, định mức thu, chi Ngân sách do Chính phủ, Thủ tướngChính phủ, Bộ Tài chính quy định Cơ chế phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi NSX và tỷlệ phân chia nguồn thu do HĐND cấp tỉnh quy định;
- Số kiểm tra về dự toán NSX do UBND huyện thông báo;
Trang 34- Tình hình thực hiện dự toán NSX các năm trước, ước thực hiện Ngân sách năm hiện hành.
* Trình tự lập dự toán ngân sách xã
- Ban Tài chính xã phối hợp với cơ quan thuế hoặc đội thu thuế xã (nếu có)tính toán các khoản thu ngân sách nhà nước trên địa bàn (trong phạm vi phân cấp cho xãquản lý)
- Các ban, tổ chức thuộc Uỷ ban nhân dân xã căn cứ vào chức năng nhiệm vụđược giao và chế độ, định mức, tiêu chuẩn chi lập dự toán chi của đơn vị tổ chức mình
- Ban Tài chính xã lập dự toán thu, chi và cân đối ngân sách xã trình Uỷ bannhân dân xã báo cáo Chủ tịch và Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân xã để xem xét gửi Uỷban nhân dân huyện và Phòng tài chính huyện Thời gian báo cáo dự toán ngân sách xã
do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định
- Đối với năm đầu thời kỳ ổn định ngân sách, Phòng Tài chính huyện làmviệc với Uỷ ban nhân dân xã về cân đối thu, chi ngân sách xã thời kỳ ổn định mới theokhả năng bố trí cân đối chung của ngân sách địa phương Đối với các năm tiếp theo củathời kỳ ổn định, Phòng Tài chính huyện chỉ tổ chức làm việc với Uỷ ban nhân dân xã về
dự toán ngân sách khi Uỷ ban nhân dân xã có yêu cầu
* Trình duyệt và Quyết định dự toán ngân sách xã
Sau khi hệ thống biểu mẫu dự toán NSX được xây dựng đầy đủ, ban tài chính
xã có trách nhiệm lập bản thuyết minh dự toán nhằm tạo điều kiện cho việc xétduyệt dự toán NSX được nhanh chóng, xác thực Trong bản thuyết minh phải nêu rõmột số nội dung cơ bản như sau: căn cứ xác định các chỉ tiêu trong dự toán, cơ cấuthu chi NSX dự kiến năm kế hoạch có phù hợp với định hướng ổn định và phát triểnkinh tế xã hội do UBND xã đã quyết định hay không Sự thay đổi thu chi NSX dựkiến năm kế hoạch so với năm báo cáo, lý do của sự thay đổi, các biện pháp về kinh
tế, tài chính và hành chính để thực hiện tốt các dự toán NSX Bản thuyết minh saukhi lập xong với các biểu mẫu dự toán hợp thành hồ sơ dự toán NSX Ban tài chính
có trách nhiệm báo cáo với chủ tịch UBND xã xem xét hồ sơ dự toán NSX Nếu cầnthiết chủ tịch UBND xã có thể yêu cầu ban tài chính xã sửa đổi bổ sung cho hợp lý.Sau khi trưởng ban tài chính xã chỉnh lại dự toán theo chỉ đạo, dự toán NSX sẽ đượctrình cho chủ tịch UBND xã Dự toán NSX đã được chủ tịch UBND xã chấp thuận
sẽ gửi cho phòng Tài chính huyện xem xét tổng hợp báo cáo UBND huyện và trìnhHĐND huyện phê chuẩn dự toán NSX vào kỳ họp cuối năm
Trang 35Sau khi nhận được quyết định giao nhiệm vụ thu, chi ngân sách của Uỷ bannhân dân huyện, Uỷ ban nhân dân xã hoàn chỉnh dự toán ngân sách xã và phương
án phân bổ ngân sách xã trình Hội đồng nhân dân xã quyết định Sau khi dự toánngân sách xã được Hội đồng nhân dân xã quyết định, Uỷ ban nhân dân xã báo cáo
Uỷ ban nhân dân huyện, Phòng Tài chính huyện, đồng thời thông báo công khai dựtoán ngân sách xã cho nhân dân biết theo chế độ công khai tài chính về ngân sáchnhà nước
* Điều chỉnh dự toán NSX
Điều chỉnh dự toán ngân sách xã hàng năm (nếu có) trong các trường hợp cóyêu cầu của Uỷ ban nhân dân cấp trên để đảm bảo phù hợp với định hướng chunghoặc có biến động lớn về nguồn thu và nhiệm vụ chi
Uỷ ban nhân dân xã tiến hành lập dự toán điều chỉnh trình Hội đồng nhândân xã quyết định và báo cáo Uỷ ban nhân dân huyện
b Chấp hành dự toán ngân sách
Chấp hành dự toán ngân sách xã là khâu tiếp theo của một chu trình ngân sách,là quá trình sử dụng tổng hợp các biện pháp kinh tế, tài chính và hành chính nhằm thựchiện các chỉ tiêu thu, chi ghi trong dự toán ngân sách được duyệt Để quản lý khâu chấphành dự toán ngân sách cần tiến hành quản lý tốt các nội dung sau:
+ Ban Tài chính xã có nhiệm vụ phối hợp với cơ quan thuế giám sát, kiểmtra các nguồn thu đảm bảo thu đúng, thu đủ và kịp thời nộp vào ngân sách Nhà nước.Trường hợp cần thiết có thể thu cho một năm nhưng chỉ trong nhiệm kỳ của Hội đồngnhân dân
+ Khuyến khích các đối tượng thu nộp ngân sách trực tiếp tại Kho bạc Nhànước, trường hợp đối tượng phải nộp ngân sách không có điều kiện nộp tiền trực tiếp vàongân sách tại Kho bạc Nhà nước thì các khoản thu thuộc nhiệm vụ thu của cơ quan nào
cơ quan đó thu sau đó viết giấy nộp tiền mang tới Kho bạc Nhà nước để nộp vào ngânsách
+ Nghiêm cấm thu không biên lai, thu để ngoài sổ sách
+ Trường hợp phải hoàn trả thu ngân sách xã, Kho bạc Nhà nước xác nhận rõsố tiền đã thu vào ngân sách xã để Ban Tài chính xã làm căn cứ thoái thu cho đối tượngđược hoàn trả
Trang 36+ Chứng từ thu phải được luân chuyển theo đúng quy định.
+ Đối với số thu bổ sung của ngân sách xã, phòng Tài chính huyện căn cứvào dự toán bổ sung đã giao cho từng xã, dự toán thu chi từng quý và khả năng cân đốingân sách huyện thông báo và cấp bổ sung ngân sách hàng quý cho xã chủ động điềuhành ngân sách
* Quản lý nhiệm vụ chi
Đối với các tổ chức, đơn vị thuộc xã:
- Chi đúng dự toán được giao, đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức, đúng mục
đích, đối tượng và tiết kiệm, có hiệu quả
- Lập dự toán sử dụng kinh phí hàng quý (có chia tháng) gửi Ban Tài chính
xã Khi có nhu cầu chi, làm các thủ tục đề nghị Ban Tài chính xã rút tiền tại Kho bạchoặc quỹ tại xã để thanh toán
- Chấp hành đúng quy định của pháp luật về kế toán, thống kê và quyết toán
sử dụng kinh phí với Ban Tài chính xã và công khai kết quả thu, chi tài chính của tổchức, đơn vị
Đối với Ban Tài chính xã:
- Thẩm tra nhu cầu sử dụng kinh phí của các tổ chức đơn vị
- Bố trí nguồn theo dự toán năm và dự toán quý để đáp ứng nhu cầu chi,trường hợp nhu cầu chi lớn hơn thu trong quý cần có biện pháp đề nghị cấp trên tăng tiếnđộ cấp bổ sung hoặc tạm thời sắp xếp lại nhu cầu chi phù hợp với nguồn thu, theo nguyêntắc đảm bảo chi lương, có tính chất lương đầy đủ, kịp thời
- Kiểm tra, giám sát việc thực hiện chi ngân sách, sử dụng tài sản của các tổchức đơn vị sử dụng ngân sách, phát hiện và báo cáo đề xuất kịp thời Chủ tịch Uỷban nhân dân xã về những vi phạm chế độ, tiêu chuẩn, định mức để có biện phápđảm bảo thực hiện mục tiêu và tiến độ quy định
Đối với Chủ tịch UBND xã hoặc người được uỷ quyền quyết định chi:
- Việc quyết định chi phải theo đúng chế độ, tiêu chuẩn và mức chi trongphạm vi dự toán được phê duyệt và người ra quyết định chi phải chịu trách nhiệm vềquyết định của mình, nếu chi sai phải bồi hoàn cho công quỹ và tuỳ theo tính chất, mứcđộ vi phạm còn bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự
Trang 37Nguyên tắc chi
+ Việc thực hiện chi phải đảm bảo điều kiện: Đã được ghi trong dự toán,đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức qui định, được Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã hoặcngười được uỷ quyền chuẩn chi
+ Cấp phát ngân sách xã chỉ dùng hình thức lệnh chi tiền Trường hợp thanhtoán bằng tiền mặt phải kèm theo giấy đề nghị rút tiền mặt, Kho bạc Nhà nước kiểm tra,
đủ điều kiện thì thực hiện thanh toán
+ Trong trường hợp thật cần thiết như tạm ứng công tác phí, ứng tiền trướccho khách hàng, cho nhà thầu theo hợp đồng, chuẩn bị hội nghị, tiếp khách, mua sắmnhỏ được tạm ứng ngân sách để chi; khi có đủ chứng từ hợp lệ Ban Tài chính xã phảilập bảng kê chứng từ chi và giấy đề nghị thanh toán tạm ứng gửi Kho bạc Nhà nước nơigiao dịch làm thủ tục chuyển tạm ứng sang thực chi ngân sách
+ Các khoản thanh toán từ ngân sách qua Kho bạc Nhà nước cho các đốitượng có tài khoản giao dịch ở Kho bạc Nhà nước hoặc ở Ngân hàng phải được thực hiệnbằng hình thức chuyển khoản
+ Đối với các khoản chi từ các nguồn thu được giữ lại tại xã, Ban Tài chính
xã phối hợp với Kho bạc Nhà nước định kỳ kiểm tra, làm thủ tục ghi thu - ghi chi đểquản lý qua ngân sách xã
- Đối với chi thường xuyên:
+ Ưu tiên trả lương, các khoản phụ cấp cho cán bộ xã, không để nợ lương và các khoản phụ cấp
+ Các khoản chi thường xuyên phải căn cứ vào dự toán năm, tình hình tổchức thực hiện công việc, khả năng của ngân sách xã tại thời điểm để thực hiện chi chophù hợp
- Đối với chi đầu tư phát triển:
+ Việc quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản của ngân sách xã thực hiện theo quy định của Nhà nước và phân cấp của tỉnh
+ Đối với dự án đầu tư bằng nguồn đóng góp theo nguyên tắc tự nguyện củanhân dân, phải mở sổ theo dõi và phản ánh đầy đủ, kịp thời quá trình thu nộp và sử dụngmọi khoản đóng góp bằng tiền, ngày công lao động, hiện vật của nhân dân
Quá trình thi công, nghiệm thu và thanh toán phải có sự giám sát của bangiám sát dự án do nhân dân cử ra Kết quả đầu tư và quyết toán dự án phải đượcthông báo công khai cho nhân dân biết
Trang 38c Quản lý quyết toán Ngân sách
Quyết toán ngân sách xã là khâu cuối cùng của chu trình ngân sách Đó làviệc tổng kết lại quá trình thực hiện dự toán ngân sách năm, nhằm đánh giá lại toànbộ kết quả hoạt động cảu một năm ngấn sách, từ đó rút ra ưu nhược điểm và bài họckinh nghiệm cho chu trình ngân sách tiếp theo Do vậy, quản lý khâu quyết toánngân sách cần làm những công việc sau:
- Ban Tài chính xã lập Báo cáo quyết toán thu - chi ngân sách hàng năm trìnhUBND xã xem xét để trình HĐND xã phê chuẩn, đồng thời gửi cho Phòng Tài chính - Kếhoạch huyện để tổng hợp Thời hạn gửi báo cáo quyết toán năm cho Phòng Tài chính -
Kế hoạch huyện chậm nhất là ngày 15 tháng 02 năm sau
- Quyết toán chi ngân sách xã không được lớn hơn quyết toán thu ngân sách
xã, kết dư ngân sách xã là số chênh lệch lớn hơn giữa số thực thu và số thực chi ngânsách xã Toàn bộ số kết dư được chuyển vào vượt thu ngân sách năm sau
- Báo cáo quyết toán được phê duyệt lập thành 5 bản để gửi HĐND xã,UBND xã, phòng Tài chính - Kế hoạch huyện, lưu Ban Tài chính xã và thông báo côngkhai nơi công cộng cho nhân dân trong xã biết
- Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện có trách nhiệm kiểm tra báo cáo quyếttoán thu - chi ngân sách xã, trường hợp có sai sót phải báo cáo UBND huyện yêu cầuHĐND xã điều chỉnh
d Thanh tra, kiểm tra quản lý ngân sách
Thanh tra, kiểm tra quản lý ngân sách là yêu cầu hết sức cần thiết trong công tácquản lý ngân sách Việc thanh tra, kiểm tra quản lý ngân sách xã thường được HĐND
xã, Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện và Kho bạc Nhà nước cùng cấp thực hiện
Các đơn vị tiến hành thanh tra, kiểm tra phải chịu trách nhiệm về kết luận thanh tra, kiểm tra của mình
Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thanh tra tài chính trong việc thanhtra quản lý, sử dụng ngân sách nược quy nịnh trong văn bản riêng của Chính phủ
1.2.5 Các yếu tố ảnh hưởng tới công tác quản lý ngân sách xã
1.2.5.1 Nhận thức của chính quyền địa phương
Lãnh đạo của địa phương phải nắm vững các yêu cầu và nguyên tắc quản lýngân sách và hiểu rõ nguồn gốc của ngân sách xã và phải được quản lý đầy đủ vàtoàn diện ở tất cả các khâu: Lập dự toán, chấp hành dự toán, quyết toán ngân sách
Trang 39và thanh tra kiểm tra ngân sách Khi có nhận thức đúng đắn về quản lý ngân sách thì
sẽ có những định hướng cụ thể để hoàn thiện công tác quản lý ngân sách
1.2.5.2 Chế độ, chính sách của Nhà nước
Chính sách là một trong các công cụ chủ yếu mà Nhà nước sử dụng để quản
lý nền kinh tế quốc dân Dưới dạng chung nhất, mỗi chính sách cụ thể là một tậphợp các giải pháp nhất định để thực hiện các mục tiêu bộ phận trong quá trình đạttới các mục tiêu chung của sự phát triển kinh tế - xã hội
Chính sách tạo ra những kích thích đủ lớn cần thiết để biến đường lối chiếnlược của Đảng thành hiện thực, góp phần thống nhất tư tưởng và hành động của mọingười trong xã hội Trong hệ thống các công cụ quản lý, các chính sách là một bộphận năng động nhất, có độ nhạy cảm cao trước những biến động trong đời sốngKT-XH của đất nước nhằm giải quyết những vấn đề bức xúc mà xã hội đặt ra
Như vậy, một hệ thống các chính sách kinh tế đồng bộ phù hợp với nhu cầuphát triển của đất nước trong từng thời kỳ lịch sử nhất định sẽ là một bảo đảm vữngchắc cho sự vận hành của một cơ chế thị trường năng động, hiệu quả
1.2.5.3 Tổ chức bộ máy quản lý và trình độ cán bộ quản lý
Trình độ quản lý của con người là nhân tố quan trọng quyết định sự thànhcông, chất lượng của công tác quản lý ngân sách Chất lượng đội ngũ cán bộ quản lýkinh tế có ảnh hưởng không nhỏ tới sự thành công của công tác quản lý ngân sách.Chất lượng cán bộ quản lý kinh tế được thể hiện qua hai chỉ tiêu chủ yếu sau:
Chất lượng của đội ngũ cán bộ quản lý được thể hiện qua trình độ và nănglực chuyên môn được đánh giá chủ yếu qua các chỉ tiêu về bậc học, học vị của họ,ngạch, bậc công chức và họ được đào tạo dưới hình thức nào Ngoài ra còn có thểđược đánh giá thông qua các chỉ tiêu khác như thâm niên công tác, vị trí công tácmà người đó đã từng nắm giữ, khả năng thành thạo công việc, cách giao việc và sửdụng nhân viên trong quá trình thực hiện quản lý
Để có một đội ngũ cán bộ quản lý giỏi nếu chỉ tập trung vào việc nâng caotrình độ chuyên môn thì chưa đủ, bởi lẽ một cán bộ quản lý tốt ngoài có trình độchuyên môn giỏi thì cúng cần phải có phẩm chất đạo đức, chính trị tốt Như vậyphẩm chất đạo đức chính trị là rất quan trọng đối với mỗi cán bộ quản lý ngân sách.Phẩm chất đạo đức của người cán bộ quản lý bao gồm cả đạo đức cá nhân như dũngcảm, cẩn thận, quả quyết sửa lỗi của mình ; cả những phẩm chất cần có trong quan
Trang 40hệ với mọi người, với công việc, họ không chỉ làm cho mình trong sạch, tiến bộ mà
họ còn biết cách làm cho mọi người xung quanh cúng trong sạch và tiến bộ
Cùng với đó, đội ngũ cán bộ công chức nói chung và cán bộ quản lý ngânsách nói riêng cần phải có có đạo đức chính trị cách mạng, đặc biệt là trong tìnhhình thế giới luôn luôn biến động hiện nay Họ phải luôn là những người trungthành với sự nghiệp cách mạng của đất nước; biết đặt lợi ích của đất nước, của tậpthể lên trên lợi ích của bản thân; luôn có ý thức tôn trọng pháp luật, làm một tấmgương sáng cho mọi người xung quanh mà đặc biệt là với quần chúng nhân dân; và
họ có ý thức không ngừng học tập vươn lên để tự hoàn thiện mình
1.2.5.4 Về sự hiểu biết pháp luật thu NSX, tính tự giác của tổ chức và cá nhân thực hiện nghĩa vụ đối với NSX
Đây là một trong những nhân tố quan trọng có ảnh hưởng lớn đến hiệu quảcủa công tác quản lý NSNN nói chung và NSX nói riêng Việc thực hiện nghĩa vụđối với NSX là trách nhiệm và nghĩa vụ công dân của các tổ chức và cá nhân Tráchnhiệm và nghĩa vụ đó chỉ có thể thực hiện được khi các tổ chức, cá nhân có nghĩa
vụ đối với NSX có ý thức tự giác chấp hành một cách đầy đủ chính sách, chế độ,các văn bản pháp luật về thu NSX Các tổ chức và cá nhân có hiểu rõ và tự giácchấp hành chính sách, chế độ, các văn bản pháp luật về NSX mới tạo được tínhđồng thuận giữa các cơ quan quản lý NSX và các tổ chức, cá nhân khi triển khai cácbiện pháp quản lý NSX Khi đạt được tính đồng thuận thì việc triển khai các biệnpháp quản lý NSX mới dễ dàng và đạt được hiệu quả cao
Để đạt được tính đồng thuận, công tác quản lý NSX phải giải quyết nhiềuvấn đề Một trong những vấn đề đó là tuyên truyền, giải thích làm cho các tổ chức,
cá nhân hiểu rõ trách nhiệm, quyền lợi, nghĩa vụ của mình đối với NSX
1.2.5.5 Mức độ trang bị cơ sở vật chất phục vụ cho công tác quản lý NSX.
Mức độ trang bị cơ sở vật chất phục vụ cho công tác quản lý NSX có ảnhhưởng to lớn đến hiệu quả của công tác quản lý NSX Nếu cơ sở vật chất phục vụcho công tác quản lý NSX được trang bị tốt sẽ tạo điều kiện tốt cho việc giảm chiphí hành thu, cung cấp thông tin về NSX một cách kịp thời, tạo thuận lợi cho tổchức và cá nhân trong quá trình thực hiện nghĩa vụ đối với NSX, từng bước hiện đạihóa công tác quản lý NSX