luận văn
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
………
NGUYỄN VĂN HUẾ
SỬ DỤNG YEAST FEED TRONG THỨC ĂN HỖN HỢP CHO GÀ THỊT LÔNG MÀU (MÍA x ISA JA 57) TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN DABACO VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành : CHĂN NUÔI
Mã số : 60.62.40
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS.TÔN THẤT SƠN
TS BÙI VĂN ðỊNH
HÀ NỘI – 2011
Trang 2LỜI CAM ðOAN
Tôi xin cam ñoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa từng ñược ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tôi xin cam ñoan rằng, mọi sự giúp ñỡ cho việc thực hiện luận văn ñã ñược cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này ñã ñược chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả
Nguyễn Văn Huế
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Ơ
Sau một thời gian học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài tốt nghiệp, ngồi sự nỗ lực của bản thân tơi cịn nhận được rất nhiều sự quan tâm giúp đỡ quý báu của nhà trường, các thầy giáo, cơ giáo và các bạn đồng nghiệp
Tơi xin bày tỏ lịng biết ơn tới PGS.TS Tơn Thất Sơn và TS Bùi Văn ðịnh đã động viên, hướng dẫn và chỉ bảo tận tình cho tơi trong suốt thời gian làm luận văn tốt nghiệp
Tơi xin cảm ơn chân thành tới các thầy giáo, cơ giáo trong Bộ mơn Dinh dưỡng - Thức ăn, Khoa Chăn nuơi - Nuơi trồng Thuỷ sản, Trường ðại học Nơng nghiệp Hà Nội đã gĩp ý và chỉ bảo để luận văn của tơi được hồn thành
Tơi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới: Ban giám đốc, các Anh, các Chị cùng tồn thể cán bộ cơng nhân viên Cơng ty CP Dabaco Việt Nam, Trung tâm Chẩn đốn Thú y Dabaco đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tơi thực hiện đề tài và hồn thành luận văn tốt nghiệp
ðể hồn thành luận văn này, tơi cịn nhận được sự động viên khích lệ của những người thân trong gia đình và bạn bè Tơi xin chân thành cảm ơn những tình cảm cao quý đĩ
Tác giả
Nguyễn Văn Huế
Trang 42.1.2 ðặc ñiểm dinh dưỡng của một số nguyên liệu thức ăn cho gia cầm 6
2.1.9 ðặc ñiểm một số giống gà và tổ hợp lai liên quan ñến nghiên cứu 26 2.2 Tình hình nghiên cứu sử dụng yeast feed làm thức ăn cho gà 27
Trang 53.1 ðịa ñiểm và thời gian nghiên cứu 30
Trang 7DANH MỤC BẢNG
2.1 Thành phần dinh dưỡng của Yeast feed 43.1 Công thức thức ăn giai ựoạn 1 Ờ 28 ngày tuổi 313.2 Công thức thức ăn giai ựoạn 29 Ờ 42 ngày tuổi 323.3 Công thức thức ăn giai ựoạn 43 ngày tuổi Ờ Xuất bán 333.4 Thành phần dinh dưỡng của các công thức thức ăn giai ựoạn 1 Ờ
3.5 Thành phần dinh dưỡng của các công thức thức ăngiai ựoạn 29 Ờ
3.6 Thành phần dinh dưỡng của các công thức thức ăn giai ựoạn 43
3.7 Sơ ựồ bố trắ thắ nghiệm 364.1 Khối lượng cơ thể gà thắ nghiệm qua các tuần tuổi (g/con) 404.2 Sinh trưởng tuyệt ựối của ựàn gà thắ nghiệm (g/con/ngày) 434.3 Sinh trưởng tương ựối của ựàn gà thắ nghiệm (%) 454.4 Lượng thức ăn thu nhận của ựàn gà thắ nghiệm g/con/ngày) 474.5 Hiệu quả sử dụng thức ăn và chi phắ thức ăn cho 1 kg tăng trọng 494.6 Tỷ lệ nuôi sống của ựàn gà thắ nghiệm qua các tuần tuổi 53
4.8 Hiệu quả sử dụng Yeast feed 564.9 đánh giá chỉ tiêu chất lượng thịt 58
Trang 8DANH MỤC BIỂU
4.1 Sinh trưởng tích lũy của gà ở các lô qua các tuần tuổi 41
4.2 Tốc ñộ sinh trưởng tuyệt ñối của ñàn gà thí nghiệm 44
4.3 Sinh trưởng tương ñối của ñàn gà thí nghiệm 45
Trang 91 ðẶT VẤN ðỀ
1.1 Tính cấp thiết của ñề tài
Chăn nuôi hiện nay ñang trở thành ngành kinh tế quan trọng trong nền kinh tế quốc dân ðể có thể phát triển chăn nuôi bền vững không những chỉ chú ý tới việc tăng số lượng sản phẩm mà còn cần phải tăng cả chất lượng sản phẩm Bên cạnh việc lựa chọn con giống có năng suất, chất lượng sản phẩm cao cần phải xây dựng ñược khẩu phần ăn cân ñối, ñầy ñủ các chất dinh dưỡng, phù hợp với nhu cầu của vật nuôi trong từng giai ñoạn sinh trưởng và
có giá cả hợp lý
Hiện nay, bằng việc lựa chọn công nghệ sản xuất thức ăn mới và những nguyên liệu mới nhiều công ty thức ăn chăn nuôi ñã thu ñược những thành công ñáng kể Trong ñó, việc chọn lựa nguyên liệu sản xuất có ý nghĩa rất lớn trong việc duy trì chất lượng tốt và hạ giá thành sản phẩm
Yeast feed là sản phẩm lên men tổng hợp của các loại nông sản như ngô, khoai, sắn…ðây là một sản phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, là nguồn cung cấp protein tốt cho vật nuôi, ñẩy mạnh khả năng tiêu hoá và hấp thu dinh dưỡng Ngoài ra, nó còn mang lại lợi ích kinh tế bằng cách thúc ñẩy tăng trọng, ngăn ngừa bệnh và kích thích tính ngon miệng của vật nuôi Do ñó, ñây
là nguồn nguyên liệu quan trọng trong sản xuất thức ăn chăn nuôi
Ở Việt Nam, chăn nuôi gà nói riêng và chăn nuôi gia cầm nói chung là nghề sản xuất truyền thống lâu ñời và chiếm vị trí quan trọng thứ hai trong tổng giá trị sản xuất của ngành chăn nuôi Tuy nhiên, ngành chăn nuôi gia cầm trong nước ñang gặp phải nhiều khó khăn và trở ngại do ảnh hưởng của dịch bệnh, biến ñộng giá cả thị trường, ñặc biệt là do giá thức ăn luôn tăng cao Trong chăn nuôi gia cầm, thức ăn chiếm tới 70 – 75% tổng chi phí chăn nuôi (Shimada 1984)[56] Vì vậy chất lượng và giá thành thức ăn là một yếu
Trang 10tố có ảnh hưởng quyết ñịnh ñến hiệu quả của chăn nuôi gia cầm Dinh dưỡng phù hợp sẽ giúp cho gia cầm luôn khỏe mạnh, sinh trưởng phát dục tốt, ñồng thời nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm ðể ñảm bảo cung cấp ñầy ñủ nhu cầu về các chất dinh dưỡng cho gia cầm cần phải sử dụng các khẩu phần
ăn phù hợp với từng giai ñoạn nuôi khác nhau, từng hướng sản xuất khác nhau Các khẩu phần này là hỗn hợp của nhiều loại nguyên liệu thức ăn ñể ñảm bảo cung cấp chất dinh dưỡng ñầy ñủ và cân bằng ðiều này sẽ giúp nâng cao hiệu quả sử dụng thức ăn và hạ giá thành sản phẩm chăn nuôi Nguồn nguyên liệu thức ăn chăn nuôi có chất lượng tốt với giá cả phù hợp là ñiều mà người chăn nuôi cũng như các nhà sản xuất thức ăn luôn quan tâm Chính vì vậy, bên cạnh việc duy trì chất lượng tốt thì việc tìm ra nguồn nguyên liệu ñể hạ giá thành sản phẩm là yếu tố quyết ñịnh ñể chiếm lĩnh thị trường này
Xuất phát từ những nhu cầu thực tiễn trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu ñề tài:
“ Sử dụng Yeast feed trong thức ăn hỗn hợp cho gà thịt lông màu (Mía x ISA-JA 57) tại Công ty CP Dabaco Việt Nam.”
1.2 Mục ñích của ñề tài
Nghiên cứu sử dụng Yeast feed trong thức ăn hỗn hợp cho gà thịt lông màu (Mía x ISA-JA 57) từ 1 ngày tuổi ñến giết thịt
Trang 112 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Cơ sở khoa học của ñề tài
2.1.1 Tìm hiểu về Yeast feed
2.1.1.1 Giá trị dinh dưỡng của Yeast feed
Men Yeast feed rất giàu dinh dưỡng với hàm lượng protein cao, hàm lượng axit amin trong Yeast feed rất ñầy ñủ và cân ñối ðặc biệt Yeast feed rất giàu các axit amin hạn chế như: Methionin, Lysin, Tryptophan, hàm lượng các axit amin này trong Yeast feed cao hơn so với những loại bột ñậu (với lysin cao hơn 25%) Sản phẩm này cũng giàu vitamin (ñặc biệt là vitamin nhóm B), các khoáng chất khác nhau và các yếu tố tăng trưởng
Yeast feed là một loại thực phẩm sinh học giàu dinh dưỡng (ñặc biệt là protein), kích thích vật nuôi sinh trưởng và phát triển tốt, sử dụng ñể thay thế thuốc kháng sinh trong chăn nuôi gà thịt Các chỉ tiêu: ðộ ẩm ≤ 10%, Ash ≤ 10%, các tế bào men ≥ 4 billions/g, tế bào sống ≥ 70%; protein thô chia ba tỷ lệ: 1, CP ≥ 40%, 2 CP ≥ 50%; 3 CP ≥ 60% Tỷ lệ tiêu hóa protein của Yeast feed cao như: Ở lợn ñang phát triển là 89,3% và 91,1% ở gà ñẻ, tăng hiệu quả
sử dụng thức ăn và giảm chi phí sản xuất trong chăn nuôi Yeast feed không tồn tại salmonell, không ñộc hại cho con người, ñộng vật, cá và tôm, thân thiện với môi trường; không gây ra bất kỳ lây nhiễm chéo
Chất lượng ổn ñịnh: Yeast feed có thể ở lại ổn ñịnh trong nghiền thức
ăn, thức ăn viên và premixes; khả năng chảy tốt, không tĩnh ñiện hấp thụ, và
có thể giữ tỷ lệ các tế bào sống cao
Trang 12Bảng 2.1 Thành phần dinh dưỡng của Yeast feed
2.1.1.2 Công nghệ sản xuất Yeast feed
* Sản xuất Yeast feed gồm các công ñoạn sau:
ðầu tiên ta tiến hành kiểm tra nấm men gốc (Saccharomyces Cerevisiae), theo dõi trạng thái rắn lên men của microzyme Bằng cách luân phiên nuôi cấy, quá trình lên men chuẩn bị sản xuất bằng cách sử dụng men gốc ở dạng rắn
Trang 13Sau khi ựã kiểm tra men gốc xong ta tiến hành chuẩn bị nguyên liệu Nguyên liệu sản xuất men Yeast feed là những sản phẩm nông nghiệp chất lượng cao, giá thấp và phụ phẩm nông nghiệp (như bột ngô, cám gạo, cặn ngô, bánh hạt giốngẦ) bằng việc kiểm tra ựạt ựủ ựiều kiện về ẩm ựộ, chất lượng ta tiến hành công ựoạn nghiền nhỏ nguyên liệu Lắp ựặt máy nghiền và
ựể ở nhiệt ựộ 121oC và áp suất hơi cao tiệt trùng trong 3 phút
Sau khi ựã khử trùng nguyên liệu xong, vận chuyển nguyên liệu vào phòng lên men, bằng cách làm mát không khắ xuống 40 Ờ 500C, cho thêm men gốc, ựưa vào thùng lên men, nuôi cấy trong 8 Ờ 9 giờ ở nhiệt ựộ 30 Ờ 40oC, và sau ựó thông gió liên tục 1 Ờ 2 giờ, ựể làm mất nước, lấy ra các hỗn hợp lên men tốt từ các bể chứa, ựể khô tự nhiên hoặc phơi, ựến khi ựạt ựộ ẩm ≤ 10 %
Cuối cùng ta tiến hành sấy khô và ựóng gói sản phẩm
Sơ ựồ quy trình sản xuất Yeast feed
Sấy khô đóng gói
Sản phẩm
Microzyme Nuôi cấy
Nguyên liệu Nghiền nhỏ Khử trùng
Tháp cấy Lên men
Làm khô
Máy khấy tự ựộng
Trang 142.1.2 ðặc ñiểm dinh dưỡng của một số nguyên liệu thức ăn cho gia cầm
Dinh dưỡng thức ăn là một trong những yếu tố quyết ñịnh tới năng suất chăn nuôi nói chung và chăn nuôi gia cầm nói riêng Muốn thức ăn có chất lượng tốt thì cần phải có các loại nguyên liệu ñảm bảo các chỉ tiêu dinh dưỡng theo quy ñịnh Trong phạm vi của ñề tài này chúng tôi chỉ ñề cập tới một số nguyên liệu chính thường dùng trong chăn nuôi gia cầm
2.1.2.1 Nhóm thức ăn giàu năng lượng
Tất cả các loại thức ăn có hàm lượng protein dưới 20% và xơ thô dưới 18% ñược xếp vào nhóm thức ăn giàu năng lượng (Irma, 1983)[37],, Kellem
và Church, 1998) [39], Nhóm thức ăn giàu năng lượng bao gồm các loại hạt ngũ cốc như ngô, lúa mỳ, cao lương…, các phụ phẩm của ngành xay xát như: tấm, cám, gạo…, các loại thức ăn củ như sắn, khoai lang, khoai tây…và các chất dầu mỡ Dưới ñây là một số nguyên liệu chính
* Ngô
Ngô là loại hạt quan trọng nhất dùng trong thức ăn chăn nuôi cho gia cầm do các nguyên nhân liên quan ñến ñặc ñiểm thực vật và giá trị dinh dưỡng, nó thường chiếm 45 – 70% trong khẩu phần ăn hằng ngày của gia cầm (Ward và Fedge, 1996) [49], So với các loại thức ăn ngũ cốc khác thì ngô là loại thức ăn giàu năng lượng (1 kg hạt ngô có từ 3200 – 3300 kcal ME) Ngô chứa 65% tinh bột, hàm lượng xơ thấp từ 2 – 6%, protein thô dao ñộng từ 8 – 13% tính theo vật chất khô (Vũ Duy Giảng và cộng sự, 1997) [7],
Axit amin hạn chế nhất trong ngô là Lys Gần ñây người ta ñã tạo ra ñược một số giống ngô mới giàu axit amin hơn, như giống Oparque – 2 có hàm lượng Lys cao hơn nhiều so với ngô bình thường, song vẫn nghèo Met Một giống ngô mới nữa là Floury – 2 có hàm lượng Lys và Met cao hơn giống ngô Oparque – 2 Nếu dùng loại ngô này thì không cần bổ sung thêm Met (NRC, 1994) [43],
Hàm lượng lipit của ngô có từ 3 – 6%, chủ yếu là các loại axit béo chưa
Trang 15no, ngoài ra ngô còn chứa một hàm lượng ựáng kể caroten (tiền vitamin A) và sắc tố màu xantophyll Theo Tôn Thất Sơn và Cs (2006) [21], trong thực vật
có chứa rất nhiều xantophyll (C40H56O2), ựây là những dẫn xuất có chứa oxy của caroten Các xantophyll ựều là cấu tử chủ yếu của các sắc tố vàng của hoa, lá, nụ, quả Trong ngô vàng thì thành tố này tồn tại dưới dạng cryptoxanthin và zeaxanthin Vì vậy, khi cho gia cầm ăn ngô vàng hoặc ngô
ựỏ thì màu sắc của lòng ựỏ trứng sẽ ựậm hơn bình thường, da gà sẽ vàng ựẹp hơn điều này làm tăng giá trị chất lượng của sản phẩm
Nhược ựiểm chắnh khi dùng ngô là nguy cơ nhiễm aflatoxin từ nấm mốc Aspergillus flavus, Aspergillus parasiticus, nhất là với ngô tại các vùng ựược thu hoạch trong mùa mưa không ựủ ựiều kiện phơi hoặc sấy khô ựúng mức Theo nhiều nghiên cứu của Nguyễn Chắ Hanh và Cs (1996) [8] thì khi bắt ựầu ựưa ngô vào bảo quản, ngô ựã bị nhiễm nấm mốc (100.103 khuẩn lạc/gam) nhưng chưa xuất hiện aflatoxin Sau 2 tháng bảo quản ựã xuất hiện aflatoxin ở mức thấp (40ộg/kg) Mức ựộ nhiễm nấm mốc, ựộc tố tăng dần và ựạt mức cao sau 5 tháng bảo quản (200.103 khuẩn lạc/gam và 553,2ộg aflatoxin/1 kg hạt) Trong vụ hè thu, khi bảo quản ngô hạt thì sự biến ựổi thành phần hóa học và sự sản sinh aflatoxin thấp hơn khi bảo quản trong vụ ựông xuân Bên cạnh ựó, trong ngô còn chứa hàm lượng bột ựường và mỡ cao nên ngô rất dễ bị mọt phá hoại Mọt xuất hiện nhiều nhất trong ngô ở giai ựoạn chuyển từ khô hanh sang nóng ẩm Trong 10 Ờ 15 ngày, mọt có thể ăn hỏng toàn bộ kho ngô hàng chục tấn (đào Văn Huyên, 1995)[10]
Với những ựặc tắnh như trên, nếu ngô không bị nhiễm mốc thì có thể ựược sử dụng tối ựa làm nguồn cung cấp năng lượng trong khẩu phần thức ăn cho gia cầm cho ựến khi nào giá cả còn chấp nhận ựược
* Cám gạo
Cám gạo là nguồn thực phẩm của ngành xay xát gạo Lượng cám thu ựược bình quân là 10% khối lượng lúa (Dương Thanh Liêm, 2006)[13] Việt
Trang 16Nam hiện có sản lượng gạo xuất khẩu ñứng thứ 2 thế giới nên nguồn cám gạo rất dồi dào
Cám gạo là sản phẩm có giá trị dinh dưỡng cao Trong cám gạo có chứa khoảng 10 – 13% protein thô, 10 – 15% lipit thô, 8 – 9% xơ thô và 9 - 10% khoáng tổng số Ngoài ra trong cám gạo còn rất giàu vitamin nhóm B, ñặc biệt là vitamin B1 Trong 1 kg cám gạo có 22,2 mg vitamin B1; 13,1 mg B6 và 0,43 mg Biotin (Vũ Duy Giảng, 1996)[6]
Cám gạo chứa khoảng 14 – 18% là dầu (BoGohl, 1993)[2] Vì vậy, cám gạo có mùi thơm ngon và gia cầm rất thích ăn Nhưng ñây cũng chính là nhược ñiểm của cám, bởi vì trong dầu cám có men lipaza làm phân giải các axit béo không no nên dễ làm cho mỡ bị ôi thiu, giảm chất lượng của cám, khi
ñó cám sẽ trở nên ñắng và khét Trong cám gạo hàm lượng photpho cao hơn hàm lượng canxi gấp 10 lần nhưng lại có tới 70% photpho ở dạng phitin không hấp thu ñược
*Hạt mì và cám mì
Lúa mì là loại cây lương thực trồng phổ biến ở các vùng ôn ñới Tùy theo màu sắc của hạt có các loại màu ñỏ nâu, trắng và tía Các loại hạt hoặc cám của hạt lúa mì có thể dùng trong thức ăn chăn nuôi Hạt mì và cám mì có hàm lượng ñạm thô khoảng 14 – 16% (Dương Thanh Liêm, 2006)[13] Hạt
mì và cám mì có hàm lượng NSP cao nên khó tiêu hóa, nhất là với gà Khi sử dụng cần kèm theo các enzyme tiêu hóa NSP ñể làm tăng giá trị dinh dưỡng
2.1.2.2 Nhóm thức ăn giàu protein
Theo Irma (1983)[37] , Kellems và Church (1998)[39], thức ăn giàu protein là tất cả các loại thức ăn có hàm lượng protein trên 20%, xơ thô dưới 18% Thức ăn giàu protein gồm hai loại là thức ăn giàu protein có nguồn gốc ñộng vật như: bột cá, bột thịt xương, bột máu… và thức ăn giàu protein có
Trang 17nguồn gốc từ thực vật như: hạt ñỗ tương, hạt lạc, hạt vừng, hạt ñậu xanh, khô dầu ñỗ tương, khô dầu lạc, khô dầu dừa, khô dầu hướng dương…
2.1.2.2.1 Nhóm thức ăn giàu protein có nguồn gốc ñộng vật
Thức ăn giàu protein có nguồn gốc ñộng vật thường có giá trị sinh học cao, khả năng tiêu hóa và hấp thu tốt hơn so với thức ăn protein có nguồn gốc thực vật Phần lớn chúng là những nguồn protein khá cân ñối các axit amin cần thiết Trong các loại thức ăn cung cấp protein có nguồn gốc ñộng vật cho gia cầm ñiển hình nhất là bột cá
* Bột cá
Việt Nam có bờ biển dài trên 3000 km nên có vùng biển ñánh bắt cá rộng lớn cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy chế biến bột cá Cùng với hàm lượng và chất lượng protein cao, bột cá còn là nguồn cung cấp rất tốt các chất khoáng (canxi, photpho và khoáng vi lượng) và vitamin Bột cá cũng tạo
ñộ ngon miệng cao cho thức ăn lợn, gà (Dương Thanh Liêm, 2006)[13]
Bột cá rất giàu protein, chất lượng protein cao Loại bột cá tốt chứa trên 50% protein, tỷ lệ axit amin cân ñối, có nhiều axit amin chứa lưu huỳnh Trong 1 kg bột cá có chứa 52g Lys, 15 – 20g Met, 8 – 10g Cys, giàu Ca, P với
tỷ lệ tương ñối cân ñối (canxi khoảng 6 – 7 %, photpho khoảng 4%), giàu vitamin B12, B1, ngoài ra còn có cả vitamin A và D
Từ nhiều kết quả nghiên cứu, các nhà khoa học nhận ñịnh protein trong bột cá có giá trị sinh học cao Trong bột cá có ñủ các axit amin không thay thế,
dễ tiêu hoá như Met, Cys, Lys, Thre, Tryp Theo Fin (2000)[35], hàm lượng Lys trong bột cá trích (herring) là 6,1%, gần gấp ñôi so với hàm lượng Lys có trong bột ñỗ tương (3,1%) và gần gấp ba so với hàm lượng Lys có trong bột sữa (2,5%) Tác giả cũng cho biết: hàm lượng Met và Cys trong bột cá (2,6 – 2,9%) cao hơn trong ñỗ tương (1,5%) Sự có mặt của bột cá trong khẩu phần sẽ khắc phục ñược sự thiếu hụt các axit amin này khi sử dụng khẩu phần có nguồn gốc protein thực vật là chính
Trang 18Khi so sánh protein của bột cá với một số nguồn protein khác, Fin (2000)[35] cho biết: hàm lượng protein thô của bột cá hơn hẳn các loại thức
ăn khác, bột cá Chilê có hàm lượng protein thô là 73%, bột cá trích (herring) hàm lượng protein thô là 77% ; trong khi ñỗ tương chỉ ở mức 35% protein thô, bột sữa là 37% protein thô Không chỉ có thế, hàm lượng protein dễ tiêu hoá ở bột cá cũng tương ñối cao (69 – 72%), ñỗ tương là 32%, bột sữa là 33% Như vậy cả về lượng và chất, protein của bột cá ñều hơn hẳn protein của các loại thức ăn khác
Nhiều tác giả còn cho biết: Trong bột cá còn có các “yếu tố chưa xác ñịnh ñược” làm tăng tỷ lệ ấp nở trứng của gia cầm ðặc biệt ñối với gà thịt chỉ cần sử dụng ở mức 3,9% trong thức ăn hỗn hợp ñã làm tăng hiệu quả sử dụng thức ăn, kích thích sinh trưởng Do ñó, chất lượng của bột cá có ảnh hưởng rất quan trọng tới chất lượng thức ăn hỗn hợp Chất lượng bột cá phụ thuộc rất nhiều vào loại cá và các bộ phận của cá ñem chế biến Nếu bột cá chế biến từ những loại cá nhỏ hoặc ñầu cá, vây cá thì hàm lượng protein rất thấp (từ 20 – 25%), trong khi ñó bột cá ñược chế biến từ cá lớn thì hàm lượng protein trên 50% Theo tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN, 2005) thì bột cá loại I phải ñạt trên 50% protein, loại II: 40 – 50% protein và loại III: 35 – 40% protein
Ở nước ta chất lượng của bột cá ñang là một vấn ñề cần ñược quan tâm
Do phương tiện ñánh bắt cá khác nhau nên chất lượng bột cá cũng bị ảnh hưởng Với những tàu thuyền nhỏ không có hầm lạnh bảo quản cá trong thời gian dài ñánh bắt cá ngoài khơi nên ngư dân phải bảo quản bằng cách ướp muối ðiều này làm cho hàm lượng muối ăn trong những loại bột cá này thường rất cao, có khi lên tới 20 – 30% Do ñó nếu cho gia cầm sử dụng loại bột cá này thì không những không có lợi mà còn làm cho chúng bị ngộ ñộc
Vì vậy, trước khi dùng bột cá ñể xây dựng khẩu phần cần phải tiến hành phân tích thành phần dinh dưỡng của nó nhất là hàm lượng muối
Trang 19* Bột thịt, bột thịt xương
ðây là sản phẩm từ lò mổ gia súc bao gồm tất cả phần còn lại của ñộng vật không dùng làm thức ăn cho người ñược như phổi, ruột già, gân, móng, lông và có thể cả xương Nếu có cả xương thì ñược gọi là bột thịt xương (Dương Thanh Liêm, 2006)[13] Bột thịt và bột thịt xương có thể sản xuất ở hai dạng khô và ẩm Ở dạng khô, các nguyên liệu ñược ñun nóng trong một bếp hơi ñể tách mỡ, phần còn lại là bã Ở dạng ẩm, các nguyên liệu ñược ñun nóng bằng hơi nước có dòng ñiện chạy qua, sau ñó rút nước, ép ñể tách mỡ và sấy khô
Bột thịt chứa 60 – 70% protein thô, bột thịt xương chứa 45 – 55% protein thô Chất lượng protein của hai loại này ñều cao, axit amin hạn chế là Met và Tryp Hàm lượng lipit dao ñộng trong khoảng 3 – 13%, trung bình là 9% Bột thịt xương giàu khoáng hơn bột thịt, ñặc biệt là hàm lượng Ca, P,
Mg Tuy nhiên cả hai loại này ñều rất giàu vitamin B1
Hai loại thức ăn này thường ñược bổ sung vào khẩu phần ăn của gia súc, gia cầm ñể làm cân bằng axit amin trong ñó và có thể sử dụng mức tối ña cho gia cầm tới 15% trong khẩu phần ðiểm cần lưu ý khi sử dụng là phải bảo quản bột thịt và bột thịt xương trong ñiều kiện thích hợp ñể tránh làm thất thoát vitamin và mỡ khỏi bị ôi thiu Và ñiều quan trọng cần nhớ là bột thịt cũng như các sản phẩm chế biến từ ñộng vật cần phải xử lý nhiệt kỹ lưỡng ñể tránh các mầm bệnh còn hiện diện Trước ñây, mầm bệnh ñược quan tâm nhiều là Salmonella, nhưng ngày nay vi khuẩn gây thương hàn ñã trở thành mối quan tâm thứ hai sau bệnh bò ñiên vốn rất dễ lây lan qua các sản phẩm ñộng vật, nhất là từ thức ăn gia súc có nguồn gốc ñộng vật Vì vậy hiện nay
xu hướng các nước châu Âu hạn chế hoặc ngưng hẳn việc sử dụng bột thịt/bột thịt xương trong khẩu phần ăn ñộng vật, nhất là trên thú nhai lại và bò
Trang 202.1.2.2.2 Nhóm thức ăn giàu protein có nguồn gốc thực vật
* ðỗ tương
Nếu như ngô ñược xem là loại hạt chủ lực trong thức ăn gia cầm ñể cung cấp năng lượng thì ñỗ tương là loại hạt chủ lực ñược sử dụng cung cấp protein trong thức ăn chăn nuôi Trong ñỗ tương có khoảng 38 – 42% protein thô, 18 – 22% dầu Protein của ñỗ tương có chứa ñầy ñủ các axit amin cần thiết như Cys, Lys, nhưng Met là axit amin hạn chế thứ nhất trong hạt ñỗ tương Trong ñỗ tương có chất ức chế men trypsin, chymotrysin Sự có mặt của các chất này ñã làm giảm ñi giá trị sinh học protein của ñỗ tương, giảm khả năng tiêu hóa của peptit, nhưng các chất này có thể bị phá hủy bởi nhiệt ñộ Vì vậy, cần phải có biện pháp xử lý nhiệt thích hợp như rang, hấp, luộc chín hoặc dùng tia hồng ngoại ñể nâng cao tỷ lệ tiêu hóa và khử các chất ñộc có trong hạt ñỗ tương
* Khô dầu ñỗ tương
Khô dầu ñỗ tương là phụ phẩm của ngành ép dầu ñỗ tương ðây là một trong những nguồn thức ăn protein thực vật có giá trị nhất Thành phần cơ cấu axit amin của nó có thể ngang với protein ñộng vật, trừ Met Khô dầu ñỗ tương có thể phối hợp tỷ lệ cao, ñến 30% trong khẩu phần thức ăn cho cả gà con, gà broiler và gà ñẻ (Ward và Fedge, 1996)[49] Bởi vì trong khô dầu ñỗ tương có hàm lượng protein cao (42 – 44,7%) nhưng năng lượng chỉ ở mức thấp 2400 – 2530 kcal/kg ở thể khô không khí (Smith, 1991)[38] Tỷ lệ sử dụng của khô dầu ñỗ tương trong khẩu phần ăn cho gà con và gà broiler là 25%, gà dò (hậu bị) sử dụng từ 15 – 20% và gà ñẻ sử dụng từ 20 – 25% Hàng năm nước ta nhập ñến trên 400.000 tấn cả ñỗ tương nguyên dầu và khô dầu ñỗ tương Chúng ta cần chú ý rằng, công nghệ ép dầu (ép máy hoặc ép thủ công)
có ảnh hưởng rất lớn ñến chất lượng của khô dầu ñỗ tương
Trang 212.1.3 Thức ăn hỗn hợp cho gia cầm
Thức ăn hỗn hợp là loại thức ăn ñã ñược chế biến sẵn, do một số loại thức ăn phối hợp với nhau mà tạo thành Thức ăn hỗn hợp hoặc có ñầy ñủ tất
cả các chất dinh dưỡng thoả mãn ñược nhu cầu của con vật hoặc chỉ có một
số chất dinh dưỡng nhất ñịnh ñể bổ sung cho con vật Thức ăn hỗn hợp gồm hai loại chính ñó là: Thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh và thức ăn hỗn hợp ñậm ñặc Ngoài ra còn có thức ăn hỗn hợp bổ sung
Theo tác giả Vũ Duy Giảng và Cs (1997)[7], khi gia súc, gia cầm sử dụng thức ăn hỗn hợp dạng viên sẽ có nhiều ưu thế hơn khi sử dụng thức ăn hỗn hợp dạng bột Thứ nhất, khi ăn thức ăn dạng viên sẽ giảm ñược lượng thức ăn rơi vãi tới 10 – 15% so với thức ăn hỗn hợp dạng bột Thứ hai là giảm ñược thời gian ăn Thứ ba, gia cầm rất mẫn cảm với bệnh ñường hô hấp do bụi của thức ăn cho nên khi sử dụng thức ăn hỗn hợp dạng viên sẽ giúp chúng tránh ñược bụi khi ăn và giảm những căn bệnh ñường hô hấp Hơn nữa, chất lượng thức ăn hỗn hợp dạng viên cũng ñược nâng cao hơn trong quá trình chế biến Dưới tác dụng cơ giới, nhiệt ñộ và áp suất trong khi
ép viên, kết cấu ligin và cellulose có trong thức ăn sẽ bị phá vỡ, từ ñó làm tăng khả năng tiêu hoá tinh bột và chất xơ ở vật nuôi Ép viên còn làm chậm khả năng oxy hoá của các vitamin tan trong dầu mỡ và tiêu diệt phần lớn các
vi sinh vật, nấm mốc và một số mầm bệnh
Chính nhờ những ưu ñiểm nổi bật như vậy mà hiện nay trên thế giới thức ăn hỗn hợp dạng viên chiếm 60 - 70% tổng lượng thức ăn hỗn hợp (Vũ Duy Giảng và cộng sự, 1997)[7]
2.1.3.1 Thức ăn hỗn hợp ñậm ñặc
Thức ăn hỗn hợp ñậm ñặc là hỗn hợp thức ăn giàu dinh dưỡng, ñặc biệt là protein, chất khoáng và các loại vitamin Ngoài ra thức ăn còn ñược
Trang 22bổ sung thêm kháng sinh, thuốc phòng bệnh Nồng ñộ các chất dinh dưỡng trong thức ăn hỗn hợp ñậm ñặc thường cao hơn so với nhu cầu của vật nuôi Khi sử dụng thức ăn hỗn hợp ñậm ñặc phải tuân theo hướng dẫn ghi trên nhãn hàng hoá Người chăn nuôi khi mua thức ăn hỗn hợp ñậm ñặc về ñem trộn với các nguồn thức ăn tinh bột như ngô, cám gạo, tấm… ñể tạo thành thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh Thức ăn hỗn hợp ñậm ñặc rất tiện lợi cho việc chế biến thủ công, chăn nuôi gia ñình với quy mô nhỏ, tận dụng các nguồn nguyên liệu và phụ phẩm sẵn có tại ñịa phương ñể giảm chi phí
về thức ăn
2.1.3.2 Thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh
Thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh (hay còn gọi là thức ăn tinh hỗn hợp hoặc thức ăn hỗn hợp) là hỗn hợp thức ăn có chứa ñầy ñủ các chất dinh dưỡng cho gia súc, gia cầm theo các nhu cầu ở các giai ñoạn khác nhau Với loại thức ăn này, ngoài nước uống ra thì nó không cần thêm loại thức ăn nào khác mà vẫn duy trì ñược sự sống và sức sản xuất cho con vật Thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh ñược sản xuất dưới 2 dạng: thức ăn hỗn hợp dạng bột và thức ăn hỗn hợp dạng viên Theo tác giả Vũ Duy Giảng và cộng sự (1997)[7], khi gia súc, gia cầm sử dụng thức ăn hỗn hợp dạng viên sẽ có nhiều ưu thế hơn khi sử dụng thức ăn hỗn hợp dạng bột Thứ nhất, khi ăn thức ăn dạng viên sẽ giảm ñược lượng thức ăn rơi vãi tới 10 – 15% so với thức ăn hỗn hợp dạng bột Thứ hai là giảm ñược thời gian ăn Thứ ba, gia cầm rất mẫn cảm với ñường
hô hấp Hơn nữa, chất lượng thức ăn hỗn hợp dạng viên ñược nâng cao hơn trong quá trình chế biến Dưới tác dụng cơ giới, nhiệt ñộ và áp suất trong khi
ép viên, kết cấu ligin và cellulose có trong thức ăn sẽ bị phá vỡ, từ ñó làm tăng khả năng tiêu hóa tinh bột và chất sơ ở vật nuôi Ép viên còn làm chậm khả năng oxy hóa của các vitamin tan trong dầu mỡ và tiêu diệt phần lớn các
vi sinh vật, nấm mốc và một số mầm bệnh
Trang 23Theo Denixov (1971)[4] và nhiều tác giả khác thì thức ăn hỗn hợp dạng viên có lợi cả về quy trình chế biến và hiệu quả kinh tế Thức ăn hỗn hợp dạng viên dễ bảo quản hơn, dùng ñể vỗ béo cho gia súc gia cầm thì khả năng khối lượng cơ thể cũng cao hơn Chính nhờ những ưu ñiểm nổi bật như vậy
mà hiện nay thức ăn dạng viên chiếm 60 – 70% tổng lượng thức ăn hỗn hợp (Vũ Duy Giảng và cộng sự, 1997)[7]
Mặc dù có rất nhiều ưu ñiểm, song thức ăn hỗn hợp dạng viên cũng có những nhược ñiểm mà chúng ta cần lưu ý khi sử dụng ðiều ñầu tiên là giá thành của thức ăn dạng viên cao hơn thức ăn dạng bột do phải tốn thêm chi phí cho quá trình ép viên ðiều thứ hai cần phải khắc phục ñó là trong quá trình ép viên, nhiệt ñộ cao ñã làm phân hủy một số vitamin từ nguyên liệu Ở
gà nuôi theo phương thức công nghiệp, khi cho ăn bằng thức ăn viên thì nhận thấy tỷ lệ gà mổ cắn nhau cao hơn bình thường, do ñó phải cắt mỏ và sử dụng một số biện pháp hỗ trợ khác Một nhược ñiểm nữa mà người chăn nuôi cần phải lưu ý khi cho gà ăn thức ăn hỗn hợp dạng viên thì cần cung cấp ñầy ñủ nước uống vì lượng nước tiêu thụ khi cho ăn thức ăn dạng viên cao hơn khi ăn thức ăn dạng bột (Vũ Duy Giảng và cộng sự, 1997)[7]
2.1.3.3 Thức ăn bổ sung
Thức ăn bổ sung là một loại thức ăn hoặc hỗn hợp thức ăn chỉ dùng với số lượng nhỏ nhưng có tác dụng làm cho khẩu phần cân ñối và hoàn chỉnh các chất dinh dưỡng làm cho con vật tăng trọng nhanh, giảm chi phí thức ăn, hạ giá thành sản phẩm Thức ăn bổ sung gồm các dạng: Bổ sung ñạm (urê, axit amin công nghiệp), khoáng (Ca, P, Na…), vitamin (A, D, E)
và kháng sinh Bên cạnh ñó một số loại thức ăn bổ sung còn ñược sản xuất dưới dạng premix như: Premix khoáng, premix vitamin hoặc hỗn hợp khoáng – vitamin Tất cả những hỗn hợp này ñều ñược bổ sung với một tỷ
lệ nhất ñịnh trong khẩu phần ăn của gia súc, gia cầm
Trang 242.1.4 Hiệu quả sử dụng thức ăn trong chăn nuôi gia cầm
Theo Chamber và Cs (1984)[32], hiệu quả sử dụng thức ăn (HQSDTA) ñược ñịnh nghĩa là mức ñộ tiêu tốn thức ăn cho một ñơn vị sản phẩm Từ mức
ñộ tiêu tốn thức ăn (TTTA) người ta tính ñược chi phí thức ăn
Chi phí thức ăn thường chiếm ñến 70% giá thành sản phẩm của chăn nuôi Chính vì vậy, HQSDTA là một chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật quan trọng, nó quyết ñịnh tới giá thành chăn nuôi và là mối quan tâm lớn nhất của các nhà chăn nuôi Không những thế, ñây còn là chỉ tiêu quan trọng trong công tác giống vật nuôi nói chung và gia cầm nói riêng Việc chọn lọc về tốc ñộ tăng trọng thường kèm theo sự cải tiến HQSDTA Chambers và Cs (1984)[32] xác ñịnh hệ số tương quan di truyền giữa khối lượng cơ thể và tốc ñộ tăng trọng với lượng thức ăn tiêu thụ là rất cao (0,5 – 0,9) còn hệ số tương quan di truyền giữa tốc ñộ sinh trưởng và HQSDTA có giá trị âm và biến ñộng từ -0,2 ñến -0,8
HQSDTA phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khác nhau ðoàn Xuân Trúc
và Cs (1993)[26] cho biết TTTA cho một ñơn vị sản phẩm phụ thuộc vào ñặc ñiểm di truyền của từng dòng giống gia cầm Bùi ðức Lũng, Lê Hồng Mận (1993)[14] cho biết nuôi gà broiler ñến 9 tuần tuổi tiêu tốn 2,39 – 2,41 kg thức ăn cho một kg tăng trọng ðoàn Xuân Trúc và Cs (1993) nghiên cứu trên
4 công thức lai AV35, AV53, V135, V153 cho biết TTTA cho một kg tăng trọng ở 56 ngày tuổi của các công thức lai tương ứng là 2,34kg; 2,23kg; 2,26kg; 2,32kg
Theo Phùng ðức Tiến (1996), gà broiler Ross 208 nuôi chung trống mái ñến 63 ngày tuổi tiêu tốn là 2,29kg thức ăn cho một kg tăng trọng Nuôi riêng gà trống tiêu tốn 2,19kg và gà mái tiêu tốn 2,39kg thức ăn cho một kg tăng trọng Như vậy, gà trống tiêu tốn thức ăn cho một kg tăng trọng thấp hơn
gà mái, nghĩa là gà trống có HQSDTA tốt hơn gà mái Theo Bùi Quang Tiến
và Cs (1994)[23], ñối với gà broiler Ross 208 nuôi ở hai chế ñộ dinh dưỡng,
Trang 25tiêu tốn thức ăn cho một kg tăng trọng từ 2,25 – 2,36 kg, gà Ross 208 V35 tiêu tốn 2,35 – 2,45 kg thức ăn cho một kg tăng trọng
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Mai (1994)[15], HQSDTA có liên quan chặt chẽ với tốc ñộ sinh trưởng của gà Trong cùng một chế ñộ dinh dưỡng, cùng một giống, tại một thời ñiểm, những lô gà có tốc ñộ sinh trưởng cao hơn thì HQSDTA cũng tốt hơn
Hiệu quả sử dụng thức ăn không những phụ thuộc vào ñặc ñiểm di truyền của từng dòng giống gia cầm mà nó còn phụ thuộc vào chế ñộ dinh dưỡng Nguyễn Thị Mai (2001)[17] cho biết, các mức năng lượng khác nhau trong thức ăn cũng ảnh hưởng ñến HQSDTA với P<0,05 Tác giả cho biết cùng hàm lượng protein, khi tăng mức năng lượng trong 1kg thức ăn từ 2900 ñến
3200 kcal ñã làm tăng HQSDTA Nói cách khác ñã làm giảm tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng khối lượng cơ thể gà broiler ở 7 tuần tuổi từ 2,41 xuống 2,15 kg
Hàm lượng protein trong thức ăn cũng ảnh hưởng ñến HQSDTA Cùng mức năng lượng, sử dụng hàm lượng protein là 25 – 23 và 21% tương ứng với
3 giai ñoạn nuôi thì hiệu quả sử dụng thức ăn tốt hơn mức 23 – 21 và 19% protein Giảm tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng khối lượng cơ thể từ 2,40 xuống 2,21kg Sự khác nhau là có ý nghĩa thống kê với P<0,05 (Nguyễn Thị Mai, 1996)[16]
Nghiên cứu mối quan hệ giữa mức năng lượng và hàm lượng protein trong khẩu phần với HQSDTA, Hopf (1973)[36] cho biết khi tăng mức năng lượng từ 2800 lên 3300kcal, ñồng thời tăng tương ứng hàm lượng protein từ 21,0 lên 24,8% cho gà broiler ñã làm tăng HQSDTA, giảm tiêu tốn thức ăn cho 1kg tăng khối lượng cơ thể từ 2,0 xuống 1,7kg Summer (1974)[46] cho biết khi tăng mức năng lượng từ 2500kcal lên 3330kcal trong 1 kg thức ăn với hàm lượng cơ thể từ 2,08 xuống 1,54kg Tác giả còn cho biết, cùng mức năng lượng là 3050kcal, sử dụng khẩu phần có 10 và 26% protein ñã làm tiêu tốn
Trang 26thức ăn cho 1 kg tăng khối lượng cơ thể từ 3,43 xuống 1,67kg
Nhìn chung, HQSDTA là chỉ tiêu có ý nghĩa quyết ñịnh ñến hiệu quả trong chăn nuôi Do vậy, ñể nâng cao HQSDTA cần cho gia cầm ăn theo nhu cầu và phù hợp với ñặc ñiểm sinh lý ở mỗi giai ñoạn khác nhau
2.1.5 ðặc ñiểm sinh trưởng của gia cầm
2.1.5.1 Các giai ñoạn sinh trưởng
Quá trình sinh trưởng của gia cầm là một quá trình phức tạp ñược chia làm nhiều giai ñoạn khác nhau
- Giai ñoạn phôi thai: ðược tính từ khi hợp tử hình thành ñến khi phôi
nở thành gà con Giai ñoạn này ñược chia thành hai giai ñoạn nhỏ: giai ñoạn trong cơ thể mẹ và giai ñoạn ấp Giai ñoạn trong cơ thể mẹ kéo dài trong 24 –
26 giờ Giai ñoạn ấp là quá trình phôi phát triển ngoài cơ thể mẹ, kéo dài 20 –
21 ngày Do phôi phát triển ở ngoài cơ thể mẹ nên ñiều kiện ngoại cảnh (ñiều kiện phòng ấp) có tác ñộng rất lớn ñến sự phát triển của phôi
- Giai ñoạn sau nở: Trong giai ñoạn này, sự sinh trưởng là do sự tăng lên của các mô Ở một số mô, sinh trưởng là do sự tăng lên của kích thước tế bào Giai ñoạn này quá trình sinh trưởng chia làm hai thời kỳ:
+ Thời kỳ gà con: Ở thời kỳ gà con lượng tế bào phát triển nhanh, quá trình sinh trưởng diễn ra nhanh và mạnh Một số cơ quan nội tạng chưa phát triển hoàn chỉnh, ñặc biệt là cơ quan tiêu hóa Dạ dày chưa tiêu hóa ñược thức
ăn cứng, men tiêu hóa chưa ñầy ñủ, do ñó thức ăn có ảnh hưởng rất lớn ñến quá trình tiêu hóa và hấp thu của gà con
Thời kỳ này diễn ra quá trình thay lông Thay lông là quá trình sinh lý quan trọng của cơ thể gia cầm, làm tăng quá trình trao ñổi chất, quá trình tiêu hóa hấp thu và tuần hoàn
+ Thời kỳ trưởng thành: Các cơ quan trong cơ thể ñã phát triển hoàn thiện, số lượng tế bào tăng chậm do chủ yếu là quá trình phát dục Quá trình
Trang 27tích lũy các chất dinh dưỡng của gia cầm, một phần ñể duy trì cơ thể, một phần ñể tích lũy mỡ Tốc ñộ sinh trưởng ở thời kỳ này chậm hơn so với thời
kỳ gà con Vì vậy, việc xác ñịnh thời gian giết mổ thích hợp có vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng suất chăn nuôi gà thịt thương phẩm
2.1.5.2 Các chỉ tiêu ñánh giá sinh trưởng
ðể ñánh giá sức sinh trưởng của gia cầm, người ta thường dùng các chỉ tiêu: sinh trưởng tích lũy, sinh trưởng tuyệt ñối và sinh trưởng tương ñối
- Sinh trưởng tích lũy
Sinh trưởng tích lũy là một chỉ tiêu quan trọng sử dụng ñể ñánh giá sự sinh trưởng Chỉ tiêu này cho phép xác ñịnh sự sinh trưởng ở một thời ñiểm nhưng lại không nói lên ñược mức ñộ khác nhau về tốc ñộ sinh trưởng trong một thời gian Khối lượng cơ thể thường ñược theo dõi theo từng tuần tuổi Trong chăn nuôi gia cầm nói chung cũng như chăn nuôi gà broiler nói riêng, ñây là tính trạng năng suất quan trọng phản ánh chế ñộ chăm sóc, nuôi dưỡng
và ảnh hưởng ñến hiệu quả kinh tế
- Tốc ñộ sinh trưởng tuyệt ñối
Là sự tăng lên về khối lượng, kích thước cơ thể trong khoảng thời gian giữa hai lần khảo sát Sinh trưởng tuyệt ñối thường ñược tính bằng g/con/ngày hoặc g/con/tuần ðồ thị sinh trưởng tuyệt ñối có dạng ñường cong gần như hình parabol: tốc ñộ sinh trưởng tuyệt ñối tăng dần, ñạt cực ñại sau ñó giảm dần Sinh trưởng tuyệt ñối càng cao thì hiệu quả kinh tế càng lớn Với gà broiler, chỉ tiêu này thường ñạt ñỉnh cao từ 6 – 8 tuần tuổi
- Tốc ñộ sinh trưởng tương ñối
Là tỷ lệ (%) tăng lên về khối lượng, kích thước và thể tích cơ thể lần khảo sát sau so với lần khảo sát trước ðồ thị sinh trưởng tương ñối có dạng ñường cong gần như hình hypepol: liên tục giảm dần theo tuổi Gà broiler thường có tốc ñộ sinh trưởng tương ñối tăng từ tuần tuổi ñầu ñến tuần tuổi thứ
3, sau ñó giảm dần
Trang 282.1.6 ðặc ñiểm tiêu hóa của gia cầm
Sự trao ñổi chất ở gia cầm cao hơn so với ñộng vật có vú Cường ñộ tiêu hóa ở gia cầm ñược xác ñịnh bằng tốc ñộ di chuyển của thức ăn qua ống tiêu hóa Ở gà còn non, tốc ñộ là 30 – 39 cm/giờ, ở gà lớn hơn là 32 – 40 cm,
ở gà trưởng thành là 40 – 42 cm Thời gian khối thức ăn ñược giữ lại trong ống tiêu hóa gia cầm không vượt quá 2 – 4 giờ Quá trình tiêu hóa của gia cầm diễn ra ở miệng, diều, dạ dày cơ, dạ dày tuyến và ruột
- Tiêu hóa ở miệng: Gia cầm lấy thức ăn bằng mỏ, một phút mổ 180 –
240 lần, lúc ñói mổ nhanh, mỏ mở rộng hơn
Lưỡi gia cầm nằm ở ñáy khoang miệng, có hình dạng và kích thước tương ứng với mỏ Các tuyến nước bọt của gia cầm kém phát triển, nước bọt không chứa enzyme mà chỉ ñể dính bọc làm trơn thức ăn và dễ chuyển vào thực quản Tuyến nhầy của thực quản tiết dịch nhầy làm thức ăn di chuyển dễ dàng
- Tiêu hóa ở diều: Diều là chỗ phình rộng hơn của thực quản có hình túi Diều nằm hơi lệch về phía bên phải chỗ ñi vào xoang ngực Bề mặt ngoài diều ñược nối với cơ da, cơ này giúp cho nó giãn rộng khi thức ăn rơi vào Ở diều, thức ăn ñược làm mềm, quấy trộn và tiêu hóa từng phần do các men thức ăn và
vi khuẩn trong thức ăn thực vật Thức ăn cứng lưu lại ở diều lâu hơn
- Tiêu hóa ở dạ dày: dạ dày gia cầm có cấu tạo gồm hai phần: dạ dày
tuyến và dạ dày cơ
+ Dạ dày tuyến: là dạng ống ngắn có vách dạ dày, ống ñược nối với dạ dày bằng một eo nhỏ Dịch dạ dày ñược tiết ra trong tế bào tuyến, thành phần dịch dạ dày bao gồm: axit clohydric, pepsin, men bào tử và musin Sự tiết dịch dạ dày tuyến là không ngừng, sau khi ăn càng ñược tăng cường Thức ăn không giữ lại lâu ở dạ dày tuyến, sau khi ñược dạ dày tuyến làm ướt thức ăn
sẽ ñược chuyển ñến dạ dày cơ nhờ nhịp co bóp ñều ñặn của dạ dày cơ
+ Dạ dày cơ: có hình ñĩa, hơi bị bóp ở phía cạnh, có thành rất dày, màu
Trang 29ñỏ sẫm Dạ dày cơ không tiết dịch tiêu hóa chỉ nghiền trộn thức ăn bằng cơ học và tiêu hóa thức ăn dưới tác dụng của các men của dạ dày tuyến, các enzym thức ăn và vi khuẩn
- Tiêu hóa ở ruột: Ruột gia cầm có chiều dài gấp 4 – 6 lần chiều dài cơ
thể Ruột chia làm hai phần là ruột non (tá tràng, không tràng, hồi tràng) và ruột già (manh tràng và trực tràng) Tham gia vào quá trình tiêu hóa ở ruột có dịch ruột, dịch tụy và dịch mật
Gan là một trong những tuyến tiêu hóa to nhất, chiếm khoảng 1/25 khối lượng cơ thể gia cầm Chức năng chính của gan là khử ñộc, tổng hợp glycogen và hình thành dịch mật Mật ñược gan tiết ra liên tục, một phần ñi vào túi mật, sau ñó ñổ vào tá tràng; phần còn lại ñổ trực tiếp vào tá tràng
Ngoài vai trò như ở các loại gia súc, ở gia cầm mật còn ngăn cản tạo thành các vết loét trên màng nhầy của dạ dày cơ và có khả năng diệt khuẩn Quá trình hấp thu các chất dinh dưỡng ở ruột diễn ra chậm nhưng do diện tích bề mặt ruột lớn nên vẫn ñảm bảo nhu cầu các chất dinh dưỡng cho cơ thể gia cầm
2.1.7 Nhu cầu dinh dưỡng của gia cầm
2.1.7.1 Nhu cầu năng lượng của gia cầm
Năng lượng trong thức ăn ñược tiềm trữ trong các dạng vật chất của thức ăn ñó như: lipit, gluxit, protit, hydratcacbon Trong chăn nuôi gia cầm, năng lượng ñược tính theo ñơn vị năng lượng trao ñổi (ME) Hàm lượng năng lượng trong thức ăn có tương quan nghịch với lượng thức ăn ăn vào hàng ngày Mức năng lượng trong thức ăn thấp, gà ăn nhiều, ngược lại mức năng lượng cao gà ăn ít thức ăn hơn Vì vậy, khi lập khẩu phần ăn cho gia cầm, mức năng lượng thường ñược chọn làm ñiểm xuất phát ñể tính toán hầu hết các chất dinh dưỡng trong khẩu phần
ðể tính nhu cầu năng lượng cho gà thịt thương phẩm, người ta dựa vào nhu cầu cho duy trì và nhu cầu cho sản xuất Nhu cầu cho sản xuất của gà thịt
Trang 30là nhu cầu cho tăng trọng
* Nhu cầu năng lượng cho duy trì
Năng lượng cho duy trì (MEm) bao gồm: Năng lượng cho các hoạt ñộng sống bình thường và năng lượng cho các trao ñổi cơ bản
Năng lượng thuần cho duy trì chiếm 82% năng lượng trao ñổi cơ bản
và năng lượng cho hoạt ñộng sống bình thường bằng 50% năng lượng trao ñổi
cơ bản Dựa vào ñó, có thể tính ñược nhu cầu năng lượng cho duy trì của gà
có khối lượng cơ thể khác nhau
* Nhu cầu năng lượng cho sinh trưởng
Mức năng lượng trong khẩu phần tăng dần theo lứa tuổi Mức năng lượng (kcal ME/kg) cho giai ñoạn ñầu (0 – 3 tuần tuổi) và giai ñoạn sau (4 – 6 tuần tuổi) của gà thịt tương ứng là 3050 và 3150 (hãng Arbor Acress Mỹ);
3000 và 3100 (Liên hiệp các xí nghiệp gia cầm Việt Nam); 3100 và 3200 (hãng Ross Breeder) (Bùi ðức Lũng, 1993)[20]
2.1.7.2 Nhu cầu protein và axit amin của gia cầm
* Nhu cầu protein
Nhu cầu protein cho gà ñang sinh trưởng bao gồm nhu cầu protein cho duy trì, nhu cầu protein cho tăng trọng và nhu cầu protein cho phát triển lông
Gà càng lớn thì nhu cầu protein trong khẩu phần càng giảm Theo Trần Sáng Tạo (2003) có thể nuôi gà Lương Phượng ở 0 – 4, 5 – 8, 9 – 12 tuần tuổi bằng khẩu phần có hàm lượng protein tương ứng là: 21, 19, 17%
* Nhu cầu axit amin
Dựa vào nhu cầu dinh dưỡng của gia cầm, người ta chia axit amin thành hai loại là axit amin thay thế ñược và không thay thế ñược Khi tính toán nhu cầu các axit amin không thay thế, người ta thường chọn lysin là axit amin ñối chiếu
và ñưa ra cân bằng lý tưởng axit amin cho gia cầm Tất cả các axit amin cần thiết ñều ñược lấy từ thức ăn, không có sự dự trữ axit amin trong cơ thể Do ñó, chỉ
Trang 31cần thiếu một axit amin không thay thế sẽ ngăn cản việc sử dụng các axit amin khác ñể tổng hợp protein Khi ñó các axit amin sẽ ñược sử dụng như một nguồn năng lượng gây lãng phí Mặt khác còn làm giảm tính ngon miệng, giảm sinh trưởng, cân bằng nitơ âm Vì vậy khi bổ sung axit amin, trước hết phải bổ sung axit amin hạn chế thứ nhất, sau ñó mới bổ sung axit amin hạn chế thứ 2, thứ 3… Nếu bổ sung không hợp lý, không những không tốt mà còn có hại cho cơ thể gia cầm và gây ra yếu tố “hạn chế” mới
2.1.7.3 Nhu cầu các chất khoáng của gia cầm
Chất khoáng chiếm khoảng 10% khối lượng cơ thể gia cầm ðến nay
ñã phát hiện ñược 14 nguyên tố khoáng trong cơ thể gia cầm Những nguyên
tố khoáng là những nguyên liệu xây dựng nên bộ xương, cấu tạo tế bào cơ thể, là thành phần của nhiều enzym và vitamin Gia cầm cần khoáng cho các hoạt ñộng sống Thiếu khoáng, gia cầm giảm sinh trưởng, và trong trường hợp thiếu nghiêm trọng gia cầm sẽ giảm sức khỏe và sức kháng bệnh
Trong chăn nuôi gia cầm, các chất khoáng ñược quan tâm chính là canxi và phospho; natri; kali và clo; sắt và ñồng, kẽm và mangan Trong ñó, canxi và phospho là hai chất khoáng có vai trò quan trọng nhất ñối với quá trình sinh trưởng, phát triển của gia cầm
Canxi và phospho là các nguyên tố ña lượng (nguyên tố cơ sở) phần lớn tham gia vào cấu trúc của cơ thể Tốc ñộ sinh trưởng của cơ thể càng cao,
tỷ lệ canxi trong xương cũng tăng lên Trong các mô xương, canxi tồn tại dưới dạng các muối của axit photphoric Ở các cơ thể trưởng thành, các muối này chiếm 80% chất xương ðể tích ñược canxi trong xương cần phải có vitamin D3
Trong mô xương, canxi và photpho có tỷ lệ 2:1 hay 3:1 Photpho là thành phần quan trọng của tế bào và thường gặp trong nhân tế bào dưới dạng photphoprotein Thiếu canxi và photpho cũng như thiếu vitamin D3 sẽ làm
Trang 32cho cơ thể con vật non bị còi cọc, chậm lớn, teo xương Gà mái thiếu các nguyên tố này sẽ ñẻ trứng mỏng vỏ hay hoàn toàn không vỏ
Theo ARC (1969), nhu cầu Ca và P cho gia cầm sinh trưởng ở 0 – 8 tuần tuổi là 1,1% và 0,77%; ở 8 – 18 tuần tuổi là 1,1% và 0,66%
2.1.7.4 Nhu cầu vitamin của gia cầm
Các vitamin rất cần thiết cho sức khỏe, sinh trưởng và sinh sản của gia cầm Vitamin trong cơ thể có vai trò như chất xúc tác nên lượng vitamin rất ít mà vẫn giúp cho các phản ứng trao ñổi trong cơ thể diễn ra nhanh và hiệu quả Vitamin A có tác dụng ñối với thị giác, sự phát triển của niêm mạc và
da, tăng cường tổng hợp kháng thể, tăng khả năng chống chịu stress gây ra bởi nhiệt ñộ quá cao hay quá thấp của môi trường Bổ sung vitamin A với lượng thích hợp sẽ làm tăng khả năng sinh trưởng ở gia cầm non và tăng khả năng ñẻ trứng ở gia cầm sinh sản ðặc biệt vitamin A có ảnh hưởng rất lớn ñến khả năng phát triển của phôi gia cầm
ðối với vitamin D, khi thiếu sẽ ảnh hưởng ñến quá trình hấp thu canxi, photpho và làm giảm quá trình khoáng hóa, cốt hóa Gia cầm non bị còi xương, gia cầm trưởng thành bị mềm xương, xốp xương, loãng xương… Thiếu vitamin này còn làm giảm tỷ lệ ấp nở và tỷ lệ ñẻ của gia cầm
Vitamin C cũng có vai trò rất quan trọng ñối với sự sinh trưởng và phát triển của cơ thể gia cầm Bổ sung vitamin C có hiệu quả rõ rệt trong ñiều kiện stress ñặc biệt là stress nhiệt Khả năng tổng hợp viatmin C của gia cầm kém hiệu quả ở giai ñoạn còn non hay trưởng thành Bổ xung vitamin C ở giai ñoạn gà con có tác dụng làm cho xương chắc hơn, tăng trọng hơn
Ngoài ra, các vitamin nhóm B cũng là thành phần không thể thiếu trong khẩu phần ăn của gia cầm Khẩu phần thiếu một trong các vitamin nhóm B ñều gây ra những biểu hiện không tốt về sức khỏe gia cầm, ñặc biệt là ở giai ñoạn phôi sẽ làm giảm tỷ lệ ấp nở
Trang 332.1.7.5 Nhu cầu nước uống của gia cầm
Nước có một ý nghĩa ựặc biệt quan trọng trong tất cả các cơ thể sống
vì mọi quá trình sống dều liên quan tới nước Mất 15% nước có thể làm cho gia cầm bị chết, nhưng chỉ thiếu nước cũng làm giảm mạnh sức sản xuất của gia cầm
Trong cơ thể gia cầm một lượng nước thường xuyên ựược thải ra qua hơi thở, qua phân và trứng ựẻ ra Do ựó việc cung cấp nước uống ựầy ựủ và ựảm bảo
vệ sinh là một việc quan trọng quyết ựịnh ựến sức sản xuất của gia cầm Nên cho gia cầm tiếp xúc thường xuyên và uống nước tự do theo nhu cầu
2.1.8 Sức sống và khả năng kháng bệnh của gia cầm
Sức sống và khả năng kháng bệnh là chỉ tiêu quan trọng ảnh hưởng trực tiếp ựến hiệu quả chăn nuôi đặc ựiểm này bị chi phối bởi yếu tố di truyền và ngoại cảnh
Sức sống ựược thể hiện ở thể chất, khả năng chống lại những ảnh hưởng bất lợi của môi trường, cũng như ảnh hưởng khác của dịch bệnh Sự giảm sức sống của gia cầm sau khi nở ra chủ yếu do tác ựộng của môi trường Các giống vật nuôi nhiệt ựới có khả năng chống bệnh cao hơn so với các giống ôn ựới (Trần đình Miên và cộng sự, 1994)
Nguyễn Văn Thiện, Trần đình Miên (1995) cho biết hệ số di truyền về tắnh trạng sức sống của gà là 0,33 Nguyễn Thị Mười (2006) cho biết hệ số di truyền của tắnh trạng sức sống là 0,66 Lê Viết Ly (1995) cho rằng ựộng vật thắch nghi tốt thể hiện ở sự giảm khối lượng cơ thể thấp nhất khi bị stress, có sức sinh sản tốt, sức kháng bệnh cao, sống lâu và tỷ lệ chết thấp Khi ựiều kiện sống thay ựổi (thức ăn, thời tiết khắ hậu, quy trình chăm sóc nuôi dưỡngẦ) thì gà lông màu có khả năng thắch ứng tốt với môi trường sống (Phan Cự Nhân và cộng sự, 1998)
Theo Gavora (1990), hệ số di truyền về tỷ lệ nuôi sống và sức kháng
Trang 34bệnh thường phụ thuộc vào dòng, giống và giới tính Hệ số di truyền về tỷ lệ chết thấp (h2 = 0,07) và hệ số di truyền của sức kháng bệnh là 0,25
Kết quả nghiên cứu của Sử An Ninh và Cs (2003) cho biết tỷ lệ nuôi sống ñến 63 ngày tuổi của giống gà Mía là 98%, giống gà ISA – JA57 trên 95%
2.1.9 ðặc ñiểm một số giống gà và tổ hợp lai liên quan ñến nghiên cứu
Khối lượng cơ thể lúc mới sinh là 32g (theo Sử An Ninh và ñồng
nghiệp- 2003) Lúc 4 tháng tuổi (giết thịt) bình quân con trống ñạt 2,32 kg, con mái 1,9 kg Gà 6 tháng tuổi con trống ñạt 3,1 kg, con mái 2,4 kg (theo tài
liệu quỹ gen - 2001) Khi trưởng thành gà nặng 3 - 3,5 kg; gà trống ñạt tới 5
kg (Lê Hồng Mận, Hoàng Hoa Cương - 1994) Theo hội chăn nuôi Việt nam khối lượng gà mái trưởng thành 2,5 -3 kg; trống 3,5 - 4 kg
Tuổi ñẻ muộn 7 - 8 tháng, sản lượng trứng 50 - 55 quả/mái/năm, khối
lượng trứng 50 - 55 g (theo hội chăn nuôi Việt Nam 2002) Tỷ lệ trứng có
phôi 88%; tỷ lệ ấp nở 83%, tỷ lệ nuôi sống ñến 8 tuần 98% (theo Sử An Ninh
và Cs 2003) Gà Mía có sản lượng trứng trung bình 70 quả/mái/năm, tỷ lệ
trứng có phôi và ấp nở ñạt 70 - 75% (theo Bùi ðức Dũng, Lê Hồng Mận -
2003)
Gà Mía có chất lượng thịt thơm, da giòn, mỡ dưới da ít, sức khoẻ tốt,
Trang 35thắch hợp trong ựiều kiện chăn nuôi thả vườn nhưng tuổi ựẻ muộn, sản lượng trứng thấp nên hiện nay gà Mắa ựược nuôi theo hướng thịt và ở một số vùng như thành phố Hồ Chắ Minh, Bình định, chủ yếu ựể lai với một số giống gà nội và nhập nội khác tạo gà lai nuôi thịt
2.1.9.2 Gà ISA Ờ JA 57
đây là giống gà thịt lông màu (của hãng Hubbard Ờ ISA của Pháp), ựàn ông bà gồm 6 dòng, nhập về từ tháng 4 năm 1999, nuôi tại xắ nghiệp gà giống Hòa Bình, gồm các dòng: S44A (♂) S44B (♀) S77A (♂) S77B (♀) JA55 (♂) JA77 (♀) công thức lai như sau:
đàn ông bà S44A x S44B JA55 x JA77 S77A x S77B
đàn bố mẹ S 457 x J57 x S77
S457 S757
Nuôi nhốt Nuôi bán chăn thả
Cả hai loại gà thương phẩm S457 và S757 ựều có lông màu nhạt, mào ựơn, mỏ và chân vàng Gà S457 có khối lượng cơ thể lúc 70 gày tuổi là 2303 Ờ 2376g (tiêu chuẩn là 2325g), gà S757 là 2018 Ờ 2179g (tiêu chuẩn 2035g); tỉ
lệ nuôi sống trên 95% và tiêu tốn thức ăn/1kg thể trọng là 2.48 Ờ 2.62kg (tiêu chuẩn của hãng 2,43 Ờ 2,50kg)
Tỉ lệ thân thịt 78,24 Ờ 78,79% Tỉ lệ thịt ngực của con S457 là 18,02%, S575 là 18,76% Tỉ lệ thịt ựùi tương ứng là 20,27% và 20,81%
2.2 Tình hình nghiên cứu sử dụng yeast feed làm thức ăn cho gà
2.2.1 Tình hình nghiên cứu ở ngoài nước
Trong những năm gần ựây, việc sử dụng thức ăn bổ sung vào khẩu phần ăn cho gia súc, gia cầm ựể kắch thắch tăng trưởng như nấm men ựã tạo ra
Trang 36hiệu quả trong việc giảm lượng thức ăn chăn nuôi, chi phí và tăng chất lượng sản phẩm Saccharomyces cerevisiae (SC) là một trong những nấm men thương mại hóa rộng rãi nhất, ñược bổ sung vào khẩu phần ăn của vật nuôi Một số báo cáo cho rằng bổ sung nấm men cho gà thịt làm tăng hiệu quả sử dụng thức ăn, cải thiện chất lượng thịt
Nghiên cứu gần ñây của Santin và Cs, (2001, 2003) cho thấy rằng các
tế bào như SC cải thiện niêm mạc ñường ruột, nâng cao hiệu suất tiêu hóa thức ăn, nghiên cứu chỉ ra việc bổ sung các tế bào nấm men SC vào khẩu phần ăn của gà làm tăng năng xuất và chất lượng thịt gà Một số nghiên cứu tương tự, Nilson và Cs (2004) báo cáo rằng gà ñược cho ăn khẩu phần ăn có
bổ sung nấm men thay thế một phần premix cho kết quả tốt hơn về tăng trọng lượng và tỷ lệ chuyển ñổi thức ăn Các nhà nghiên cứu khác, như Churchil và
Cs (2000), Yalcin và Cs (1993) và Yadav và Cs (1994) nhận thấy gà tăng khối lượng tốt hơn khi cho gà ăn thức ăn có bổ sung 0,2 – 1% men bia Ngoài ra, Sentihilkumar và Cs (1997) khẳng ñịnh khi bổ sung từ 5 – 20% nấm men khô trong khẩu phần ăn của gà thịt sẽ làm tăng giá trị sản xuất
Trong nghiên cứu về men bia trong thức ăn hỗn hợp của gà thịt thay cho bột cá của Dr Sc Nora Mas (2008) tiến hành trên 162 gà Ross 308 nuôi
vỗ béo Thử nghiệm nhóm ñược cho ăn hỗn hợp thức ăn chăn nuôi thương mại có chứa men bia, ñậu nành và bột hướng dương với nhóm sử dụng protein ñộng vật Khối lượng cơ thể, tốc ñộ sinh trưởng, tỷ lệ chuyển ñổi thức
ăn, tình trạng sức khỏe, tỷ lệ sống và ñặc ñiểm thân thịt ñã ñược ñiều tra trong
42 ngày thử nghiệm Kết quả cho thấy không có sự khác biệt ñáng kể giữa nhóm ñối chứng sử dụng protein ñộng vật và nhóm thí nghiệm sử dụng men bia Như vậy men bia có thể thay thế protein nguồn gốc ñộng vật trong các hỗn hợp thức ăn chăn nuôi gà vỗ béo
Hai nghiên cứu gần ñây ñã ñược tiến hành kiểm tra phản ứng của lợn
Trang 37khi cho ăn thức ăn bổ sung nấm men Harker (1989) nhận định Saccharomyces là một nguồn nguyên liệu giàu dinh dưỡng, đây là một sản phẩm phụ của ngành cơng nghiệp bia gây ơ nhiễm mơi trường Men bia sở hữu một số lượng lớn các vitamin nhĩm B (trừ B12), NFE chủ yếu là glycogen, giàu năng lượng (1,1 – 1,25 HJ/kg thức ăn)
2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Yeast feed được sử dụng làm thức ăn bổ sung cho gà thịt trong nhiều năm nay, đã mang lại nhiều lợi nhuận cho người chăn nuơi Yeast feed đã được một số cơ sở sản xuất chăn nuơi như tập đồn DABACO Việt Nam bổ sung vào khẩu phần ăn cho gà thịt với mức sử dụng 2 – 5% mang lại những hiệu quả kinh tế tốt Tuy nhiên, sản phẩm này vẫn chưa được sử dụng rộng rãi
ở nước ta Hiện nay, ở Việt Nam vẫn chưa cĩ một cơ sở nào sản xuất men Yeast feed, chủ yếu là nhập từ các cơng ty của nước ngồi như: Cơng ty Piterhand Các nghiên cứu về men Yeast feed cũng cịn rất hạn chế
Trang 383 ðỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
3.1 ðịa ñiểm và thời gian nghiên cứu
- ðịa ñiểm: Tại Công ty CP DABACO Việt Nam
- Thời gian: từ tháng 11/2010 ñến tháng 05/2011
3.2 ðối tượng và vật liệu nghiên cứu
3.2.1 ðối tượng nghiên cứu
- Gà lai F1 giữa gà Mía và ISA - JA 57 nuôi từ 0 ñến 11 tuần tuổi
- Sơ ñồ lai:
P: ♂ Mía x ♀ ISA-JA 57
F1 (nuôi thí nghiệm)
3.2.2 Vật liệu nghiên cứu
- Thức ăn cho gà thịt do công ty CP DABACO sản xuất với mức bổ sung Yeast feed khác nhau
- Sản phẩm Yeast feed do công ty Piterhand sản xuất và ñược Công ty
CP Dabaco Việt Nam nhập khẩu