Để đáp ứng yêu cầu phát triển năng lực môn Tiếng Việt của học sinh Tiểu học nhất là học sinh người địa phương , để tiếp cận với xu thế đổi mới nội dung và phương pháp dạy học môn Tiếng V[r]
Trang 1Phần I: A.ĐẶT VẤN ĐỀ
- -I/ LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Tầm quan trọng của việc hình thành kỹ năng đọc - viết cho học sinh Tiểu học nói chung và học sinh lớp 3 nói riêng Ở bậc Tiểu học môn Toán và môn Tiếng Việt là hai môn công cụ trong tất cả các môn học nhưng Tiếng Việt là một môn đặc biệt quan trọng và khó khăn đối với học sinh Tiểu học nhất là học sinh người địa phương (vì ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ của các em còn bất đồng với ngôn ngữ Tiếng Việt )
Từ môn Tiếng Việt nhằm hình thành cho các em 4 kỹ năng : nghe - nói - đọc - viết Trang bị cho học sinh những kiến thức, kỹ năng cơ bản là nền tảng vững chắc giúp các em tiếp thu những kiến thức mới, những kỹ năng mới để tạo cho các em học tốt những môn học khác
Hiện nay một trong những vấn đề cần thiết đối với việc nâng cao chất lượng giáo dục là đổi mới phương pháp dạy học Quá trình đổi mới phương pháp dạy học là một quá trình lâu dài, phải thực hiện dần từng bước cho phù hợp với những đổi mới về nội dung và thiết bị dạy học, về đánh giá kết quả học sinh
Trên cơ sở vững chắc yêu cầu cơ bản về tri thức, kỹ năng của bộ môn Tiếng Việt ở từng bài học,từng tiết học cụ thể Giáo viên nên tổ chức, hướng dẫn, tạo điều kiện cho học sinh hoạt động học tập nhằm huy động về hiểu biết và kinh nghiệm của bản thân để làm quen với phương pháp tự học tập, tự chiếm lĩnh tri thức mới
Để đáp ứng yêu cầu phát triển năng lực môn Tiếng Việt của học sinh Tiểu học nhất là học sinh người địa phương , để tiếp cận với xu thế đổi mới nội dung và phương pháp dạy học môn Tiếng Việt ở bậc tiểu học thì người giáo viên phải làm như thế nào để nâng cao chất lượng dạy và học Đó là vấn đề tôi muốn trình bày Trong giới hạn của bài viết này tôi chỉ xin được nêu ra nội dung sách giáo khoa Tiếng Việt 3 và một số biện pháp trong việc thực hiện có hiệu quả như sau:
Trang 21 Thống kê nội dung chương trình sách giáo khoa Tiếng Việt 3 :
Gồm có 4 phân môn có quan hệ mật thiết với nhau đó là:
- Tập đọc
- Viết chính tả
- Từ ngữ - ngữ pháp
- Tập làm văn
Trong 4 phân môn đó phân môn Tập đọc, viết chính tả đóng vai trò quan trọng hơn cả Bởi vì các em có đọc thông, viết thạo thì mới học tốt các phân môn còn lại Và ngược lại, nếu như các em không biết đọc, viết thì sẽ không học được phân môn nào cả
2 Những khó khăn tồn tại của việc hình thành kỹ năng đọc - viết cho học sinh lớp 3:
* Đối với học sinh:
Học sinh người địa phương ở bậc Tiểu học trên địa bàn xã nói chung, điều kiện học tập của các em còn nhiều hạn chế Điều kiện kinh tế gia đình khó khăn, ngôn ngữ bất đồng, có những em chưa nắm được hết tiếng mẹ đẻ Tài liệu sách tham khảo và điều kiện phương tiện cho các em học tập còn nhiều thiếu thốn Mặt khác sự quan tâm của phụ huynh còn quá ít Bên cạnh đó, các mặt khách quan tác động làm ảnh hưởng đến việc học tập của các em
* Đối với giáo viên:
- Vẫn còn một số giáo viên vẫn còn hời hợt, qua loa, chưa thực sự tận tâm suy nghĩ tìm ra những cách truyền đạt thích hợp với từng học sinh của mình
- Chưa tìm hiểu kỹ nguyên nhân học sinh chưa học tốt phân môn Tiếng Việt
- Giáo viên chưa nhận thấy tầm quan trọng của phương pháp dạy học
“ hướng tập trung vào học sinh “ tức là lấy học sinh làm trung tâm.
- Giáo viên chưa chú ý đúng mức đặc diểm đối tượng, trò chơi học tập chưa được phát huy cao Nhằm khắc phục những hạn chế trong việc
Trang 3hình thành kỹ năng đọc - viết cho học sinh người địa phương là một việc làm đặc biệt quan trọng tạo nền móng cho các em học tốt các môn học khác ở bậc Tiểu học và các cấp học sau này Góp phần tạo ra thế hệ trẻ có đầy đủ năng lực, tự tin, linh hoạt, sáng tạo để bước vào đời và làm chủ quê
hương, đất nước sau này Tôi chọn đề tài: “Một vài biện pháp hình thành
kỹ năng đọc - viết để nâng cao chất lượng cho học sinh người địa phương“.
II/ MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI:
Tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này nhằm giúp bản thân và các đồng nghiệp của mình hiểu thêm về việc rèn kỹ năng - đọc viết cho học sinh người địa phương, để từ đó có hướng khắc phục những yếu kém, hạn chế còn mắc phải trước đây Trên cơ sở đó đề ra phương án sửa chưqã những hạn chế trong cách dạy của mình và cách học của học sinh nhằm rèn kỹ năng đọc - viết tốt nhất đối với tất cả học sinh người địa phương
III/ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:
- Nghiên cứu trên cơ sở thực tiễn việc giảng dạy ở tại trường Tiểu học Lương Thế Vinh
- Nghiên cứu phương pháp dạy học môn Tiếng Việt của Tiểu học
- Nghiên cứu tài liệu tham khảo
IV/ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
1/ Phương pháp quan sát
2/ Phương pháp thông kê
3/ Phương pháp kiểm tra thực hành
Phần II: B.GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
- -Chương I:
I/ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH MÔN TIẾNG VIỆT Ở TIỂU HỌC :
Trang 4Ngay từ lớp 1 các em đã được làm quen với bảng chữ cái, sau đó là đọc, viết các con chữ, các âm rồi đến các vần, tiếng ,từ, câu, đoạn rồi đến bài Tức là các em được học từ đơn giản đến phức tạp, từ dễ đến khó
Ví dụ:
Các em muốn đọc, viết được tiếng bài chẳng hạn thì các em phải biết được các âm : b - a - i trong tiếng bài và phải phân biệt được đâu là âm
đầu, đâu là vần ( b ; ai ) thì mới đánh vần được, sau đó là đọc trơn, đọc hiểu từng tiếng
II/ ĐẶC ĐIỂM TÂM LÝ CỦA HỌC SINH NGƯỜI ĐỊA PHƯƠNG:
Trí nhớ : Các em mau nhớ nhưng cũng mau quên bởi vì lứa tuổi các
em là lứa tuổi ham chơi, thích chơi hơn học mà tư duy của các em lại còn mang nặng tính trực quan, cụ thể
III/ NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN VIỆC HÌNH THÀNH KỸ NĂNG ĐỌC - VIẾT CHO HỌC SINH NGƯỜI ĐỊA PHƯƠNG CHƯA ĐẠT KẾT QUẢ CAO:
Qua khảo sát chất lượng đầu năm cho thấy học sinh lớp 3 mà còn quá yếu chưa biết đọc, viết tới 70%
Phương pháp giảng dạy của giáo viên chưa sát sao, chưa bám chắc vào tình hình thực tế, chưa nắm bắt được đặc điểm tâm lý lứa tuổi nên hiệu quả giáo dục chất lượng thấp
Chương II:
I/ MỘT SỐ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC:
1/ Biện pháp 1: Tăng cường cải tiến và sử dụng đồ dùng dạy
học:
- Ngoài tranh, ảnh ở sách giáo khoa, giáo viên còn thường xuyên sử dụng tranh ảnh có sẵn ở thư viện, sưu tầm hoặc tự làm để kết hợp minh hoạ với bài dạy cụ thể
Trang 5- Giáo viên thường xuyên tổ chức trò chơi “ học mà chơi, chơi
mà học “ để gây hứng thú học tập cho học sinh.
1/ Biện pháp 2: Đổi mới phương pháp dạy học.
Quá trình nhận thức của con người luôn đi từ “trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, rồi từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn, đó là con đường biện chứng của nhận thức chân lý, nhận thức hiện thực khách quan“ Rất phù hợp với nhận thức của học sinh Tiểu học Từ đặc điểm cơ bản này giúp cho chúng ta quyết định lựa chọn phương pháp này hoặc phương pháp khác kia sao cho đảm bảo tính khoa học, nếu làm tốt công việc lựa chọn phương pháp hợp lý thì kết quả dạy học đạt như mong muốn
Đổi mới phương pháp dạy học với việc phát huy ưu điểm của lối dạy học truyền thống Đổi mới phương pháp dạy học trước hết phải được hiểu là không phủ định hoàn toàn các phương pháp dạy học theo lối cũ như : phương pháp giảng giải, phương pháp đàm thoại, phương pháp trực quan, phương pháp thực hành luyện tập trong đó có sử dụng các phương pháp dạy học tích cực một cách thích hợp Vấn đề ở đây là làm thế nào sử dụng hợp lý các phương pháp này trong một tiết dạy nhằm phát huy ưu điểm của các phương pháp này một cách tối đa Tránh lạm dụng mà dẫn đến kết quả không như mong muốn
Trong giảng dạy môn Tiếng Việt tôi luôn kết hợp nhiều hình thức để lựa chọn các phương pháp sao cho phù hợp với từng phân môn, từng chủ đề, từng bài cụ thể.Sau những tiết học giáo viên kiểm tra ngay sự lĩnh hội kiến thức của từng đối tượng học sinh nhất là học sinh yếu Để từ đó có kế hoạch, hướng dẫn hướng dẫn học sinh học ở nhà Dưới đây là những phương pháp tôi đã sử dụng để giảng dạy môn Tiếng Việt:
a/ Đối với phân môn Tập đọc:
Giáo viên phải xác định được “ tập đọc “ là hình thành kỹ năng đọc cho học sinh Trước hết là đọc đúng rồi đọc hay đọc diễn cảm, đọc để hiểu được văn bản đã học
Học sinh người địa phương thường hay đọc sai dấu
Ví dụ:
Trang 6Khi đọc bài 6 Chú bò sách giáo khoa lớp 3, trang 14 Chú bò học sinh đọc là Chu bo
Đi học học sinh đọc là Đi hóc Ậm ò học sinh đọc là Âm o.
Buổi chiều học sinh đọc là Buôi chiêu Tưởng học sinh đọc là Tương và Tượng
Khi giáo viên phát hiện học sinh đọc sai dấu là giáo viên sửa chữa ngay bằng cách giáo viên đọc mẫu, cho học sinh đọc lại ngay và đánh vần lại những tiếng vừa đọc sai dấu ( đọc cá nhân ) Đồng thời thêm các dấu thanh khác nhau ( hỏi, ngã, sắc, huyền, nặng ) cho các em đọc và phân
biệt được đúng tiếng Sau đó giáo viên lấy một vài em đọc chuẩn “đọc
mẫu” tuyên dương khích lệ làm gương cho những em khác đọc theo Có
một số em vào đầu năm học ( lớp 3 ) chưa biết đọc nên các em nản không muốn học
Trong giờ Tập đọc giáo viên giành thời gian đến từng em hướng dẫn cách đọc, cách đánh vần từng chữ một
Ví dụ: Khi đọc từ Mặt trời
+ Giáo viên hướng dẫn đọc tiếng Mặt Chỉ vào âm mờ Hỏi
âm gì đây em ?
+ Học sinh sẽ trả lời âm mờ ( Nếu như học sinh không trả lời
được thì giáo viên phải nhắc lại.cho học sinh nhớ ) Sau đó giáo viên hỏi
tiếp theo âm ă , âm t Rồi hướng dẫn học sinh đánh vần : ă - tờ - ắt; mờ -
ắt - mắt - nặng - mặt.
Tương tự như vậy với tiếng trời nhưng chú ý cho các em đọc phụ âm là trờ Khi hỏi âm đầu là âm gì ? thì học sinh sẽ trả lời là âm tờ và âm rờ thì giáo viên hướng dẫn ngay cho học sinh là âm t và âm r ghép lại thành âm tr đọc là trờ hoặc giáo viên gọi vài học sinh khá đọc âm lại trờ Giáo viên hỏi tiếp theo âm ơ và âm i Hướng dẫn học sinh cách đánh vần:
ơ - i - ơi; trờ - ơi - trơi - huyền - trời Đọc trơn cá nhân ghép từ Mặt trời để
đọc
Sau khi giáo viên kèm học sinh xong thì giáo viên cho học sinh đọc nhẩm khoảng 2 đến 3 từ rồi cuối tiết quay lại kiểm tra
Trang 7“ Phương pháp đôi bạn cùng tiến “ Lấy học sinh đọc tốt kèm
học sinh đọc yếu ở tại trên lớp Về nhà cuối mỗi buổi học, giáo viên giao cho học sinh viết từ 5 đến 6 chữ cái và học thuộc ở nhà Khi học sinh đến lớp, giáo viên kiểm tra vào đầu giờ Nếu thấy học sinh làm tốt thì khen thưởng động viên kịp thời Nếu làm chưa tốt thì giáo viên nhắc nhở nhẹ nhàng
Ví dụ: Em viết thế này chưa được đẹp lắm, hôm sau cố gắng hơn
hoặc Em đọc gần đúng rồi đó, cố gắng về nhà luyện đọc nhiều hơn
b/ Đối với phân môn Chính tả:
Muốn viết đúng chính tả thì trước tiên phải đọc đúng Vì vậy khi hướng dẫn học sinh viết chính tả phải hướng dẫn cụ thể, tỉ mỉ nhất là khi phân tích từ khó, tiếng khó Giáo viên vừa cho học sinh vừa viết vừa đánh vần kết hợp với đọc để khi các em viết đỡ bị sai
- Hướng dẫn viết chữ đầu câu ta phải viết như thế nào ? ( Viết hoa chữ cái đầu tiếng )
- Danh từ riêng phải viết như thế nào ? ( Viết hoa )
Tuỳ từng bài cụ thể mà giáo viên hướng dẫn học sinh viết hoa danh từ riêng cho đúng với quy tắc
- Sau dấu câu phải viết như thế nào ? ( Viết hoa chữ cái đầu của tiếng đầu câu )
- Đối với bài văn ta viết và trình bày như thế nào ? ( Viết thụt lùi vào 1 ô li chữ đầu bài và sau khi hết 1 đoạn so với lề vở )
- Đối với bài thơ ta viết và trình bày như thế nào ? Bài thơ có 4,5 tiếng thì các chữ đầu dòng thơ phải viết hoa chữ cái đầu của tiếng và viết bằng nhau ( Các chữ đầu dòng thơ phải viết thẳng nhau.)
Bài thơ lục bát phải trình bày theo thể thơ: Dòng 6 tiếng viết thụt lùi vào 2 ô li so với lề vở Dồng 8 tiếng viết dịch ra 1 ô li so với lề vở và cứ như thế cho dến hết bài thơ Các chữ đầu dòng thơ đều phải viết hoa
Hướng dẫn làm phần luyện tâïp trước khi điền âm, vần, từ dễ lẫn lộn thì phải cho học sinh chọn thử trước rồi mới điền
Ví dụ: Điền vào chỗ trống:
- L/n : ớp học; trời ắng
- iêt hay iêc: xem x ; hiểu b
Trang 8- Vôû hay vôõ: Ñoơ ; saùch ; kòch.
Sau khi hóc sinh ñieăn ñuùng roăi, giaùo vieđn cho hóc sinh lieđn heô thöùc teâ ñeơ caùc em nhaôn bieât töø ñuùng nghóa cụa noù khi vieât
c/ Ñoâi vôùi phađn mođn Töø ngöõ - Ngöõ phaùp:
Phađn mođn Töø ngöõ - Ngöõ phaùp laø moôt phađn mođn raât laø tröøu töôïng ñoâi vôùi caùc em Vì vaôy khi muoân giại nghóa töø giaùo vieđn chuaơn bò tranh, ạnh thöïc teâ keât hôïp vôùi song ngöõ vaø haønh ñoông cú theơ thì caùc em môùi naĩm ñöôïc kieân thöùc cụa bai vaø nghóa cụa töø
Ví dú: Khi dáy baøi Saùch hóc-baøi hóc, baøi laøm - Cađu ñôn.Lôùp 3.
Phaăn 1: Giại nghóa töø.
Giaùo vieđn cho hóc sinh thạo luaôn sau ñoù giaùo vieđn duøng hình ạnh vaôt thaôt ñeơ hóc sinh naĩm nghóa cụa töø Giaùo vieđn ñöa ra moôt soẫ quyeơn saùch vaø hoûi hóc sinh:
? Tređn tay cođ coù nhöõng vaôt gì ? ( Nhöõng quyeơn saùch.)
? Em haõy keơ ra nhöõng quyeơn saùch tređn tay cođ coù ? ( Saùch Tieâng
Vieôt, saùch Toaùn, saùch TNXH, saùch Ñáo ñöùc )
? Em haõy keơ teđn nhöõng quyeơn saùch maø em coù ? ( Saùch Kyõ
thuaôt, Toaùn, Ñáo ñöùc )
? Nhöõng quyeơn saùch ñoù duøng ñeơ laøm gì ? ( Saùch ñeơ hóc.)
? Caùc em phại giöõ gìn nhöõng quyeơn saùch ñoù nhö theâ naøo ? (Caơn
thaôn.)
? Saùch tieâng ñòa phöông gói laø gì ? (Ra)
Hóc sinh trạ lôøi, giaùo vieđn nhaôn xeùt tuyeđn döông, lieđn heô thöïc
teâ giạng giại ñeơ hóc sinh hieơu ñöôïc nghóa cụa töø caơn thaôn Khen nhöõng
em laøm toât, nhaĩc nhôû nhöõng em giöõ gìn saùch vôû chöa ñöôïc caơn thaôn
* Chuyeơn sang phaăn Ngöõ phaùp.
-Giaùo vieđn cho hóc sinh ñaịt cađu vôùi töø vöøa ñöa ra
Ví dú 1: Em / giöõ gìn saùch vôû raât caôn thaôn.
BPCT
1 BPCT
2
Hoaịc:
Bán Veđn / giöõ gìn saùch vôû raât caơn thaôn
Giaùo vieđn hoûi: Ai giöõ gìn saùch vôû caơn thaôn?
Trang 9Học sinh trả lời: Em; bạn Vên.
Giáo viên kết luận : Như vậy em là bộ phận chính thứ nhất của
câu
Giáo viên hỏi tiếp: Em làm gì ? Học sinh sẽ trả lời: Giữ gìn sách vở rất cẩn thận.
Giáo viên nhận xét và kết luận: Đây là bộ phận chính thứ hai
của câu
? Một câu có mấy bộ phận chính.
Trả lời: Một câu có hai bộ phận chính người ta gọi là câu đơn.
-Cho một số học sinh nhắc lại định nghĩa về câu đơn theo sách giáo khoa
Sau đó hướng dẫn học sinh làm bài tập và chữa bài tập
Ví dụ 2: Khi dạy bài Sông nước - Sách giáo khoa Tiếng Việt
lớp 4 trang 73
Muốn hình thành cho học sinh nắm được các từ ngữ như: sông, suối, thuyền, bè, tàu, canô, sàlan Trên thực tế các em chưa biết cái thuyền, bè là gì ? Vì vậy khi giáo viên dạy phải nghiên cứu, sưu tầm tranh ảnh vẽ về các con sông, suối, cái tàu, cái thuyền Cụ thể dể cho các em thảo luận và tìm ra những từ nối đúng với hình vẽ
- Giáo viên hướng dẫn học sinh nắm nghĩa từ bằng hình ảnh
trực quan đến tư duy trừu tượng và kết hợp với phần dạy song ngữ tiếng địa
phương Sau đó hướng dẫn học sinh nhìn vào tranh để đặt câu đơn giản.
Ví dụ: - Tàu đang chạy
- Thuyền chở cá
Qua các ví dụ trên tôi muốn nhận rằng trong bất kỳ tiết dạy nào chúng ta cũng phải biết sử dụng phương pháp nào cho phù hợp và phải biết kết hợp nhiều phương pháp một cách nhuần nhuyễn và có hiệu quả trong các tiết dạy
II/ HƯỚNG RÈN LUYỆN HÌNH THÀNH KỸ NĂNG ĐỌC - VIẾT CHO NGƯỜI ĐỊA PHƯƠNG LÀ:
- Luyện cho học sinh thường xuyên học thuộc bảng chữ cái
Trang 10- Đọc, viết thành thạo các âm, vần, tiếng đã học.
- Hình thức luyện đọc trong các giờ Tâp đọc, giờ viết chính tả và các giờ của những môn học khác
- Giáo viên thường xuyên giao việc, kiểm tra sát sao, động viên khuyến khích kịp thời để các em có chí hướng vươn lên
Sau đây là 1 giáo án minh hoạ cho việc rèn kỹ năng đọc cho học sinh trong giờ Tập đọc
Chương III: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM.
Tiết : Tập đọc.
Bài :HOẠ MI HÓT Sách giáo khoa trang 12.
I) Mục tiêu:
- Đọc đúng các từ: vang lừng, lấp lánh, bừng giấc, kỳ diệu, màu sắc, dìu dặt, vui sướng
+ Ngắt hơi đúng chỗ khi đọc câu văn dài:”Tiếng hót dìu dặt /
Hoạ mi / giục tưng bừng / ca ngợi ”
+ Đọc giọng say sưa thể hiện sự xúc cảm trước vẽ đẹp của phong cảnh mùa xuân
+ Hiểu từ ngữ: kì diệu, hoà nhịp, bừng giấc
+ Học sinh thấy mùa xuân về, cảnh vật đổi mới đem lại nhiều sức sống và niềm vui mới
- Rèn luyện kỹ năng đọc đúng dấu, đúng tiếng Ngắt nghỉ hơi đúng chỗ khi đọc các câu văn dài, các dấu phẩy, dấu chấm
- Giáo dục học sinh: Biết yêu quý và bảo vệ những con chim có ích cho đời
II) Chuẩn bị:
- Tranh ảnh về mùa xuân
- Tranh ảnh về con chim hoạ mi
III) Lên lớp: