1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn so sánh năng suất một số giống đậu tương trong điều kiện vụ xuân hè tại thành phố sơn la và các vùng phụ cận

121 766 7
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề So sánh năng suất một số giống đậu tương trong điều kiện vụ xuân hè tại thành phố Sơn La và các vùng phụ cận
Tác giả Mai Xuân Quảng
Người hướng dẫn PGS. Lê Song Dự
Trường học Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội
Chuyên ngành Trồng trọt
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2009
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 8,79 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

luận văn

Trang 1

Ng−êi h−íng dÉn khoa häc: PGS LÊ SONG DỰ

Hµ Néi - 2009

Trang 2

Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và ch−a từng đ−ợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều đ1 đ−ợc chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Mai Xuân Quảng

Trang 3

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS Lê Song Dự, TS Vũ

Đình Chính, TS Nguyễn Văn Lâm đ1 hưỡng dẫn và tận tình giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài và hoàn chỉnh luận văn tố nghiệp

Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy, cô giáo khoa sau đại học, khoa Nông học, bộ môn Cây công nghiệp - Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, bộ môn Cây thực phẩm - Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm, Trung Tâm Khuyến nông - Khuyến ngư tỉnh Sơn La, Trạm Khuyên nông Thành Phố Sơn La, Trạm Khuyến nông huyện Mai Sơn, huyện Thuận Châu tỉnh Sơn La, gia đình, bạn bè, đồng nghiệp và người thân đ1 động viên cổ vũ

và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Tác giả luận văn

Mai Xuân Quảng

Trang 4

Lời cam đoan i

2.2 Yêu cầu về đất đai và dinh dưỡng của cây đậu tương 5

2.4 Tình hình sản xuất, chọn tạo giống đậu tương trên Thế giới và

4.1 Điều kiện tự nhiên và hiện trạng sản xuất đậu tương của tỉnh Sơn La 42

4.1.3 Một số yếu tố hạn chế sản xuất đậu tương của tỉnh Sơn La 45

Trang 5

suất của các giống đậu tương trong vụ Xuân Hè năm 2009 49 4.2.1 Đặc điểm hình thái của các giống đậu tương tham gia thí nghiệm 49 4.2.2 Thời gian và tỷ lệ mọc mầm của các giống đậu tương tại 3 điểm

4.2.3 Các giai đoạn và thời gian sinh trưởng của các giống đậu tương

4.2.4 Một số đặc điểm sinh trưởng của các giống đậu tương tại 3 điểm thí

4.2.8 Thời gian ra hoa và tổng số hoa trên cây của các giống đậu tương

4.3 Khả năng chống chịu của các giống đậu tương tại 3 địa điểm thí

4.4 Các yếu tố câu thành năng suất và năng suất của các giống đậu

4.4.1 Một số yếu tố cấu thành năng suất của các giống đậu tương thí

Trang 6

Từ viết tắt Nghĩa ñầy ñủ

ACIAR : Trung tâm nghiên cứu Nông nghiệp quốc tế Australia AICRPS : The All India Covtdinated, Research Project on Soybean AVRDC : Trung tâm nghiên cứu và phát triển Rau màu Châu Á

IITA : Viện nghiên cứu Nông nghiệp Nhiệt ñới

ÍNTSOY : Chương trình nghiên cứu ñậu tương Quốc tế Mỹ

KHKTNNVN : Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam

MOAC : Ministry Of Agriculture And Cooperatives

NRCS : National Research Center for Soybean

Trang 7

STT Tên bảng Trang 2.1 Lượng dinh dưỡng cây đậu tương hút để tạo 1 tấn hạt 62.2 Diện tích, năng suất và sản lượng đậu tương trên thế giới 102.3 Diện tích, năng suất và sản lượng đậu tương một số nước trên thế

4.1 Đặc điểm thời tiết, khí hậu từ tháng 1 đến tháng 7 năm 2009 của

4.8 Chiều cao thân chính, chiều cao đóng quả của các giống đậu

4.13 Số lượng và khối lượng nốt sần của các giống đậu tương tại điểm

Trang 8

thÝ nghiÖm huyÖn ThuËn Ch©u 714.15 Thêi gian ra hoa vµ tæng sè hoa trªn c©y cña c¸c gièng ®Ëu t−¬ng

4.22 So s¸nh chªnh lÖch n¨ng suÊt thùc thu cña c¸c gièng ®Ëu t−¬ng

Trang 9

4.3 Kh¶ n¨ng tÝch luü chÊt kh« cña c¸c gièng ®Ëu t−¬ng qua 3 thêi kú

4.4 N¨ng suÊt thùc thu cña c¸c gièng ®Ëu t−¬ng thÝ nghiÖm 83

Trang 10

1 Mở đầu

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Cây đậu tương [Glycine max (L) Merill], là loại cây họ đậu (Fabaceae)

có giá trị dinh dưỡng và giá trị kinh tế cao Trong thành phần của hạt đậu tương có chứa một hàm lượng rất cao các chất như protein 38 - 45%, lipit 18 - 25%, hydratcacbon 36 - 40%, các chất khoáng (4 - 5%) và các vitamin như vitamin B1, B2, C, D, E, K rất cần thiết Protein đậu tương có giá trị cao không những về hàm lượng lớn mà nó còn có đầy đủ và cân đối các loại axit amin cần thiết đặc biệt là giàu lizin và triptophan đối với sự tăng trưởng và sức

đề kháng của cơ thể [2] Đậu tương là loại hạt mà giá trị dinh dưỡng của nó

được đánh giá đồng thời cả về chất lượng protein và lipit, với hàm lượng như vậy hoàn toàn có thể thay thế đạm động vật trong bữa ăn hàng ngày của con người Vì lý do đó mà hiện nay từ hạt đậu tương người ta chế biến được trên

600 loại thực phẩm khác nhau.Từ các loại thức ăn cổ truyền như: đậu phụ, tương chao, sữa… đến các sản phẩm hiện đại như: Bánh kẹo, cafê đậu tương, thịt nhân tạo (Trần Đình Long, 2000) [21] Chính vì vậy mà dân ta còn gọi đậu tương là “người đầu bếp của thế kỷ”

Hạt đậu tương thì ngoài làm thực phẩm cho người, thức ăn cho gia súc còn được làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến Những sản phẩm như khô dầu đậu tương thì ngoài việc làm thức ăn cho gia súc, còn được sử dụng làm mực in, sơn, xà phòng, chất dẻo, thuốc trừ sâu…Hạt đậu tương còn được

sử dụng nhiều trong y học dùng làm vị thuốc chưa bệnh Giúp tránh hiện tượng suy dinh dưỡng ở trẻ em, người già và có tác dụng hạn chế bệnh lo1ng xương ở phụ nữ, bệnh đái tháo đường, thấp khớp [10]

Cây đậu tương sinh trưởng được trên nhiều loại đất khác nhau như: Đất sét, đất thịt, thịt pha cát… và có khả năng cải tạo đất rất tốt [2] Nhờ sự hình

Trang 11

thành nốt sần ở bộ rễ cây đậu tương do xâm nhập của vi khuẩn Rhizobium Japonicum sống cộng sinh, có khả năng cố định đạm từ khí quyển nên hàng năm cây đậu tương trả lại cho đất từ 50 - 80 kg đạm/ha/năm (Lê Hoàng Độ và cộng sự 1997) [8] Ngoài việc cố định đạm, bộ rể đậu tương còn có khả năng tiết ra các axit hữu cơ có tác dụng hoà tan các hợp chất phân vô cơ ở dạng khó tan thành rễ tan để cây sử dụng

Giá trị mà cây đậu tương mang lại là rất lớn, cho lên cây đậu tương

được đánh giá là một trong những cây trồng quan trọng trong sản xuất nông nghiệp và trong đời sống x1 hội nhiều nước trên thế giới

ở nước ta, trong vòng 20 năm qua (1985 - 2005), diện tích, năng suất, sản lượng đậu tương đ1 không ngừng tăng lên Đối với cây đậu tương diện tích tăng 99%, năng suất tăng 83,3% và sản lượng tăng gấp 3 lần [3]

Sơn La là một tỉnh miền núi Tây Bắc Việt Nam có diện tích tự nhiên 14.125 km2, chiếm 4,27% tổng diện tích cả nước Khí hậu được chia thành 3 tiểu vùng khác nhau: Vùng nóng, vùng nhiệt độ trung bình và vùng lạnh Với mục tiêu đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp tập trung vào các loại cây trồng có giá trị kinh tế cao trong đó có cây đậu tương Tuy nhiên trong mấy năm gần đây năng suất, chất lượng đậu tương có chiều hướng giảm mạnh Một trong những nguyên nhân dẫn đến năng suất giảm là do bộ giống đậu tương còn nhiều hạn chế như sử dụng giống cũ, đ1 bị lẫn tạp, thoái hoá chưa được tuyển chọn

Xuất phát từ những nhu cầu thực tiễn trong sản xuất, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "So sánh năng suất một số giống đậu tương trong điều kiện vụ Xuân hè tại thành phố Sơn La và các vùng phụ cận"

1.2 Mục đích yêu cầu của đề tài

1.2.1 Mục đích

Xác định một số giống đậu tương có khả năng sinh trưởng phát triển tốt, cho năng suất cao phù hợp với điều kiện vụ Xuân hè để bổ xung vào cơ cấu giống của tỉnh Sơn La

Trang 12

1.2.2 Yêu cầu

Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển, năng suất, chất lượng và khả năng chống chịu của một số giống đậu tương trong điều kiện vụ xuân hè tại thành phố Sơn La và các vùng phụ cận

Xác định những yếu tố hạn chế năng suất đậu tương tại các địa phương

1.3.2 ý nghia thực tiễn

- Bổ sung các giống đậu tương tốt, năng suất cao vào cơ cấu giống của tỉnh nhằm thúc đẩy quá trình sản xuất đậu tương trong vụ xuân hè tại Sơn La

- Trên cơ sở đánh giá thực trạng sản xuất đậu tương của tỉnh từ đó xác

định được những lợi thế và nguyên nhân chủ yếu hạn chế năng suất đậu tương

Trang 13

2 Tổng quan tài liệu

2.1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài

2.1.1 Cơ sở lý luận của việc nghiên cứu

Đậu tương là cây thực phẩm quan trọng trong nền sản xuất nông nghiệp của hầu hết các nước trên thế giới Trong số các loại cây lương thực, cây thực phẩm thì cây đậu tương mang lại giá trị kinh tế cao đứng hàng thứ tư sau lúa

mỳ, lúa nước và ngô Sản phẩm từ đậu tương chủ yếu là dầu, bột và một số ít dạng hạt Dầu đậu tương chiếm 20 - 25% sản lượng dầu, chất béo trên thế giới

và trong toàn bộ sản lượng dầu thực vật ăn được dầu đậu tương chiếm 30 - 35%

Mặt khác, trồng đậu tương còn giúp bồi dưỡng và cải tạo đất tốt nhờ xác b1 thân, lá để lại cho đất và các nốt sần ở rễ cung cấp đạm cho cây Điều đó cho thấy cây đậu tương có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt trên nhiều loại

đất và các điều kiện sinh thái khác nhau Hiện nay, việc phát triển cây đậu tương đ1 mang tính chiến lược chung của nhiều Quốc gia trên thế giới Để phát huy thế mạnh từ cây đậu tương mà quan trọng là cung cấp nguồn lương thực, thực phẩm nuôi sống toàn cầu trong bối cảnh khí hậu, môi trường sống có nhiều biến đổi, con người tiến hành một nền trồng trọt thâm canh hiện đại Sản xuất dựa trên việc áp dụng một cách khoa học các yếu tố giống, nước, phân bón, kỹ thuật chăm sóc đồng thời bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, tránh

ô nhiễm môi trường Trong đó giống giữ vai trò quan trọng hàng đầu, sử dụng giống năng suất cao, chất lượng tốt, chống chịu với điều kiện bất lợi và sâu, bệnh hại, có khả năng cải tạo và bảo vệ đất là mục tiêu hàng đầu trong sự phát triển một nền sản xuất nông nghiệp hiện đại

Trong điều kiện hiện nay việc sử dụng bộ giống đậu tương với nhiều mục đích khác nhau nên công tác chọn giống cũng phải đáp ứng được những yêu cầu thực tế sao cho phù hợp với sản xuất Tuỳ theo từng mùa vụ, đất đai,

điều kiện khí hậu sinh thái từng vùng cũng như tập quán canh tác của từng địa

Trang 14

phương mà có bộ giống đậu tương cho thích hợp Mục tiêu chủ yếu trong công tác chọn giống hiện nay là: Giống có năng suất cao phù hợp với điều kiện sinh thái của từng vùng; Giống có chất lượng hạt tốt phục vụ xuất khẩu; Giống có hàm lượng dầu cao phục vụ chương trình sản xuất dầu thực vật

Việt Nam năm trong vùng khí hậu nhiệt đới lên sự thay đổi về nhiệt độ,

độ ẩm, ánh sáng diễn ra liên tục trong năm đ1 ảnh hưởng rất lớn đến sự sinh trưởng, phát triển và năng suất của cây đậu tương đồng thời đó cũng chính là nguyên nhân thuận lợi cho sâu bệnh hại phát triển Xuất phát từ những thực tế trên đòi hỏi phải có biện pháp canh tác thích hợp, phát huy tiềm năng về năng suất, chọn tạo ra các giống thích hợp cho từng vùng sinh thái

2.1.2 Cơ sở thực tiễn

Sơn La là tỉnh miền núi phía bắc có địa hình phức tạp, giao thông vận chuyển không thuận lợi, phương tiện đi lại khó khăn đối với người dân sản xuất nông nghiệp thì cây đậu tương được coi là cây trồng chính mang lại hiệu quả kinh tế cao Nhưng do công tác sản xuất và phát triển cây đậu tương còn nhiều mặt hạn chế như: người dân chưa thực sự chú ý áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất, phần lớn vẫn sử dụng giống cũ, đ1 bị lẫn tạp, thoái hoá, biện pháp kỹ thuật canh tác còn đơn giản theo tập quán cũ… Mặt khác, diện tích đất nông nghiệp bỏ hoá còn rất nhiều, tập trung chủ yếu ở những cánh đồng không chủ động nước, chưa có các công trình thuỷ lợi phục vụ sản xuất

Việc đưa cây trồng cạn nói chung và cây đậu tương nói riêng vào sản xuất trên các vùng đất đồi dốc này là rất cần thiết để tăng vụ và tận dụng diện tích đất

bỏ hoá, góp phần cải tạo đất, chống xói mòn, nâng cao thu nhập cho người dân 2.2 Yêu cầu về đất đai và dinh dưỡng của cây đậu tương

Đậu tương là loại cây trồng không kén đất, nhưng thích hợp nhất cho cây đậu tương phát thiển là loại đất pha cát hoặc đất thịt nhẹ, tơi xốp, sâu màu, thoáng, thoát nước Đất có độ pH : 6 - 7 thích hợp cho cây sinh trưởng và hình thành nốt sần Đậu tương không sống được trên đất quá chua hoặc quá kiềm Đất ít màu, chua vẫn có thể trồng được đậu tương nhưng cần phải thoát nước, bón nhiều lân và vôi

Trang 15

Các nguyên tố N, P và K cần thiết cho cây trong suốt cả quá trình sinh trưởng, phát triển Nitơ có tác dụng làm cho cây mọc nhanh, phát triển hệ rể, tạo cơ sở cho việc hình thành nốt sần Đồng thời phát triển lá, thân, cành; tăng

tỷ lệ đậu quả và tỷ lệ quả chắc, tăng trọng lượng hạt và hàm lượng protein trong hạt Photpho có tác dụng xúc tiến phát triển bộ rễ và hình thành nốt sần, giúp cây cứng cáp Kali đóng vai trò quan trọng trong quá trình quang hợp và tổng hợp chất gluxit Tác dụng điều hoà các quá trình đồng hoá đạm, tổng hợp protein cân bằng nước giúp tăng tính chống chịu sâu bệnh hại, tăng khả năng chịu rét, chịu hạn và chống đổ cho cây

Ngoài các nguyên tố trên còn có Ca, Mg, S và một số các nguyên tố vi lượng khác có ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng phát triển của cây, trong đó đặc biệt phải kể đến là Lưu huỳnh rất cần thiết cho việc tổng hợp protein Thiếu Lưu huỳnh sẽ làm ảnh hưởng rất xấu tới tỷ lệ và chất lượng protein trong hạt

Để có năng suất 1 tấn hạt đậu tương cùng với thân, lá cây lấy đi từ đất một lượng: 81 kg N; 16 kg P2O5; 36 kg K2O

Bảng 2.1 Lượng dinh dưỡng cây đậu tương hút để tạo 1 tấn hạt

Loại dinh dưỡng N (kg) P2O5

(kg)

K2O (kg)

CaO (kg)

MgO (kg)

S (kg)

Số lượng 77 - 92 14 - 17 33 - 39 7 - 23 10 - 24 3 - 8 Loại dinh dưỡng Mn (g) Fe (g) Zn (g) Cu (g) B (g) Mo (g)

ánh sáng là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến hình thái cây đậu tương vì

Trang 16

nó làm thay đổi thời gian nở hoa và chín, do đó ảnh hưởng đến chiều cao cây, diện tích lá và nhiều đặc tính khác của cây, bao gồm cả năng suất hạt

Đậu tương có phản ứng chặt chẽ với độ dài ngày, là một cây ngày ngắn

điển hình: Để ra hoa kết quả được, cây đòi hỏi phải có ngày ngắn, các giống khác nhau phản ứng với độ dài ngày khác nhau Thời kỳ cây con mẫn cảm nhất với ánh sáng ngày ngắn, giảm dần ở giai đoạn nụ và hầu như dừng lại ở giai đoạn ra hoa Giai đoạn từ hoa đến chín có su hướng giống nhau giữa các nhóm chín Nếu trồng trong điều kiện ngày ngắn thì làm tăng tỷ lệ đậu quả và tốc độ tích luỹ chất khô về hạt, còn ngày dài thì ngược lại

Cây đậu tương chịu tác động của ánh sáng cả về độ dài chiếu sáng và cường độ ánh sáng Nếu trồng trong điều kiện ánh sáng yếu sẽ làm cho cây bị vống có xu hướng leo và còi cọc ảnh hưởng rất lớn đến năng suất Khi cường

độ ánh sáng giảm 50% so với bình thường làm giảm số cành, đốt mang quả và năng suất có thể giảm 50% Cường độ ánh sáng mạnh, cây sinh trưởng tốt cho năng suất cao

2.3.2 Yêu cầu về nhiệt độ

Nhiệt độ đối với cây đậu tương có ảnh hưởng rất quan trọng đến sinh trưởng và phát triển Theo kết quả nghiên cứu cho thấy: Cây có khả năng chịu nhiệt độ thấp hơn 180C nhưng không thể chịu được nhiệt độ cao hơn 350C [45] Khi nhiệt độ cao trên 400C sẽ ảnh hưởng sâu sắc đến hoàn thành đốt, sinh trưởng lóng và phân hoá hoa [2]

Nhiệt độ để hạt đậu tương nảy mầm trong khoảng tối thiểu là 100C và tối đa là 400C, thích hợp nhất là 250C - 300C [45] Sự sinh trưởng dinh dưỡng của cây đậu tương gồm nhiều giai đoạn khác nhau, nhiệt độ phù hợp nhất cho cây phát triển là 200C - 280C sự sinh trưởng trong thời kỳ này ảnh hưởng đến quá trình ra hoa (ra hoa chậm 5 - 7 ngày nếu nhiệt độ nhỏ hơn 240C)

Thời kỳ cây con từ lá đơn đến lá kép cây có khả năng chịu rét khá, lá kép có thể phát triển ở nhiệt độ 100C - 120C Hệ số diện tích lá tăng khi nhiệt

Trang 17

độ tăng từ 180C - 300C, nhiệt độ thích hợp cho lá phát triển 220C - 270C Theo Whigham và cộng sự, 1978) [76] nhiệt độ dưới 100C ngăn cản sự phân hoá hoa, dưới 180C sẽ ảnh hưởng tới khả năng đậu quả Nhiệt độ trên 400C gây tác hại đến tốc độ tăng trưởng nhú hoa và đậu quả

Nhiệt độ ảnh hưởng rõ rệt đến sự cố định Nitơ của đậu tương Vi khuẩn Japonicum bị hạn chế bởi nhiệt độ trên 330C Nhiệt độ 250C - 270C hoạt động của

vi khuẩn nốt sần tốt nhất Nhiệt độ thích hợp cho quang hợp là từ 250C - 300C [2]

Đậu tương có khả năng phát triển trong phạm vi khá rộng từ 11,50C -

280C và điều kiện ẩm độ đất từ 40 - 100% so với độ ẩm tối đa đồng ruộng Trong điều kiện nhiệt độ từ 210C - 230C và ẩm độ đất từ 75 - 100%, đậu tương

sẽ đạt nhiều hoa, quả, hạt to và năng suất tối đa

sẽ gây hiện tượng rụng hoa, rụng quả nhiều Độ ẩm không khí ngày đêm 45 - 47% sẽ làm giảm năng suất 21% so với bình thường là 81 - 84%

Lượng mưa cần thiết cho 1 chu kỳ sinh trưởng của cây dao động từ 3.000 - 5.500m3/ha [7] Hệ số sử dụng nước từ 1.500 - 3.000m3 nước cho việc hình thành 1 tấn hạt (Vũ Thế Hùng 1981) [16]

Độ ẩm đất giữ vai trò rất quan trọng với cây đậu tương, trung bình lượng nước cần để đạt được một đơn vị sản phẩm, đậu tương cần 450 - 750

mm, tuỳ thuộc vào khí hậu và độ dài giai đoạn dinh dưỡng của giống đậu tương cần đạt đủ ẩm ở độ sâu từ 60 - 130 cm (FAO - Geneve - 1991) [26]

Đối với quá trình nảy mầm của hạt cần có sự hút nước và hô hấp Nếu thừa nước kết hợp với thiếu Oxy trong đất thì tỷ lệ nảy mầm của hạt rất kém

Trang 18

Ngược lại tỷ lệ nảy mầm của hạt trên đất khô kém hơn trên đất ướt do vậy để

đảm bảo cho sự nảy mầm, hàm lượng nước trong hạt phải đạt 50% (Ngô Thế Dân và Cs - 1999) [6]

Trong sản xuất hiện nay, việc xác định thời vụ hợp lý là điều kiện cung cấp đủ nước cho cây Với đậu tương cần bố trí thời vụ sao cho có mưa từ giai

đoạn ra hoa đến làm quả và sau đó chấm dứt mưa 2 - 3 tuần trước khi thu hoạch quả để tiện thu hoạch và nâng cao phẩm chất hạt

2.4 Tình hình sản xuất, chọn tạo giống đậu tương trên Thế giới và Việt Nam 2.4.1 Tình hình sản xuất đậu tương trên Thế giới

Trong cơ câu cây trồng, cây đậu tương xuất hiện sớm nhưng chỉ phát triển mạnh từ sau chến tranh thế giới thứ hai cả về diện tích, năng suất và sản lượng

Theo Fukuda (1933) [25], vùng M1n Châu (Trung Quốc) đợc coi là trung tâm phát sinh cây đậu tương Lúc đầu cây đậu tương được trồng chủ yếu

ở Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên và một số nước ở Châu á như: ấn Độ, Việt Nam, Lào, Campuchia… Sau này, cây đậu tương được đưa sang trồng ở Bắc Mỹ và đ1 trở thành cây trồng đóng vai trò lớn ở Mỹ [25], do khả năng thích nghi cao với điều kiện thời tiết, khí hậu và đất đai, đậu tương đ1 lan rộng

ra rất nhanh và trở thành vùng sản xuất đậu tương chính trên thế giới

Hiện nay, đậu tương đ1 được trồng ở gần 80 nước khác nhau trên khắp các Châu lục Đậu tương là nguồn cung cấp dầu và Protein quan trọng, trên thế giới khoảng 88% sản lượng đậu tương được sản xuất ở 4 nước mà đứng đầu là:

Mỹ (36,94%); Brazil (24,64%); Achentina (19,04%) và Trung Quốc (7,35%)

Cùng với khả năng thích nghi với các đặc điểm điều kiện thời tiết, khí hậu, đất đai Việc ứng dụng tiến bộ công nghệ sinh học từ chọn, tạo giống đến sản xuất làm tăng năng suất đậu tương trong những năm gần đây đ1 đưa đậu tương trở thành cây trồng quan trọng trong cơ cấu cây trồng

Trang 19

Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới trong những năm gần đây

Sản lượng (triệu tấn)

Về năng suất đậu tương trên thế giới không thay đổi nhiều nhưng do sự tăng lên về diện tích nên sản lượng đậu tương cũng tăng qua các năm từ 161,40 tấn (năm 2000) lên 216,14 tấn (năm 2007) So với năm 2006 thì sản lượng đậu tương năm 2007 có thấp hơn, nguyên nhân là do giảm năng suất

ảnh hưởng lớn nhất làm cho năng suất đậu tương trên thế giới giảm là do sự giảm mạnh về năng suất đậu tương của Mỹ

Trước những năm 1970, hai nước sản xuất đậu tương lớn nhất thế giới là

Mỹ và Trung Quốc Sản lượng đậu tương của Mỹ từ 60% (năm 1960) tăng lên 75% (năm 1969) Trong khi đó, sản lượng đậu tương của Trung Quốc lại giảm

từ 32,0 uống 16,0% trong cùng thời kỳ Trong những năm 1980 - 1983, Mỹ đ1

Trang 20

chiếm 63,0% tổng sản lượng đậu tương trên thế giới, Brazil là nước thứ 2 (chiếm 16,0%) và Trung Quốc là nước thứ 3 (chiếm 9,0%)

Tình hình sản xuất đậu tương một số nước trên thế giới được trình bầy ở bảng 2.3

Bảng 2.3 Diện tích, năng suất và sản lượng đậu tương

Trung Quốc 9,50 17,79 16,90 9,10 17,03 15,50 8,90 17,53 15,60

(Nguồn: FAOSTAT, July, 2008) [25] Qua bảng 2.3 cho thấy: Sản lượng đậu tương thế giới chịu ảnh hưởng trực tiếp từ 4 nước mà đứng đầu là Mỹ Sản lượng đậu tương thế giới năm

2007 đạt 216,14 triệu tấn, giảm 6,26 triệu tấn (2,81%) so với sản lượng năm

2006 chủ yếu do sản lượng ở Mỹ giảm (giảm 16,86 triệu tấn) Trong đó, sản lượng (đơn vị: triệu tấn) năm 2007 của Mỹ đạt 70,71 triệu tấn (giảm 19,25%), Brazil 58,20 (tăng 10,94%), Achentina 45,50 (tăng 12,43%) và Trung Quốc 15,60 (tăng 0,65%)

Một trong những nguyên nhân làm cho năng suất đậu tương của Mỹ giảm mạnh là do người nông dân đ1 ít chú trọng đến cây đậu tương và đ1 chuyển sang trồng ngô vì nhu cầu sản xuất nguyên liệu cho các nhà máy chế biến thức ăn gia súc tăng mạnh đ1 đem lại lợi nhuận cao hơn cho người nông dân

Tình hình sản xuất đậu tương của các nước trên thế giới trong năm 2007 cho thấy, năng suất và sản lượng đậu tương của Mỹ tuy có giảm so với năm

2006 nhưng Mỹ vẫn khảng định vị thế của mình về sản xuất đậu tương thế giới Với diện tích trung bình đạt khoảng 29,9 triệu ha với sản lượng khoảng trên 80 triệu tấn, chiếm 31,74% diện tích và chiếm 37% sản lượng đậu tương

Trang 21

trên thế giới Hiện nay, diện tích trồng đậu tương ở Mỹ đứng thứ 3 sau lúa mỳ, ngô và được coi là mặt hàng có giá trị chiến lược trong xuất khẩu và thu đổi ngoại tệ Nguyên nhân thúc đẩy sản xuất đậu tương ở Mỹ phát triển là do áp dụng đồng bộ các biện pháp kỹ, tăng năng suất đó trong yếu tố giống được chú ý hơn cả Theo số liệu thống kê của Bộ Nông Nghiệp Hoa kỳ hiện nay diện tích trồng cây đậu tương chuyển gen của Hoa kỳ chiếm 92% trong tổng diện tích trồng đậu tương trên cả nước Chính vì vậy diện tích, năng suất và sản lượng đậu tương ở nước này không ngừng tăng lên trong những năm gần đây

Brazil là nước đứng thứ 2 trên thế giới (sau Mỹ) về tổng diện tích và sản lượng đậu tương Về diện tích trồng chiếm 23,23%, sản lượng là 24,64% so với diện tích và sản lượng đậu tương trên thế giới Qua bảng 1.3 ta thấy năng suất

và sản lượng đậu tương của Brazil liên tục tăng qua các năm Năm 2005 năng suất đậu tương của Brazil mới chỉ đạt 21,92 tạ/ha và sản lượng là 50,19 triệu tấn nhưng đến năm 2007 năng suất đ1 tăng lên đến 28,20 tạ/ha (tăng 28,65%) còn sản lượng là 58,20 triệu tấn (tăng 15,96%) Về diện tích trồng đậu tương đ1 giảm dần qua các năm, năm 2005 là 22,89 triệu ha giảm xuống còn 20,64 triệu

ha năm 2007 (giảm 9,83%) Nguyên nhân về sự giảm diện tích của Brazil là do một số diện tích dự tính trồng đậu tương được chuyển sang trồng mía do nhu cầu mía để sản xuất ethanol ở Brazil tăng mạnh điều này khiến cho phần diện tích đang trồng đậu tương được quan tâm đầu tư hơn Trong sản xuất tập trung

đẩy mạnh công tác giống như: Sử dụng giống mới có năng xuất cao, chống chịu sâu bệnh, giống chuyển gen… áp dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất nhằm nâng cao sản lượng đậu tương hàng năm

Xuất khẩu đậu tương của Brazil năm 2007/08 dự tính đạt 29,69 triệu tấn, tăng mạnh so với 23,49 triệu tấn xuất khẩu năm 2006/07 (WAP, Jan 2008) [25]

ở châu á, Việt Nam đứng thứ 6 về sản xuất đậu tương sau Trung Quốc,

ấn Độ, Indonesia, Triều tiên và Thái Lan [4] Trung Quốc là nước đứng thứ 4

Trang 22

thế giới về diện tích trồng cây đậu tương chiếm 9,66% về diện tích và chiếm gần 7,6% về sản lượng đậu tương của thế giới [25] Theo FAOSTAT - July

2008, năng suất bình quân của Trung Quốc đạt được trong năm 2007 là 17,53 tạ/ha thấp hơn từ 6 tạ đến 11 tạ/ha so với các nước Brazil, Argentina hay Mỹ, nhưng với mức năng suất này vẫn còn cao hơn so với một số nước khác trong khu vực như: ấn Độ (12,0 -13,0 ta/ha), Việt Nam (14,0 - 15,0 tạ/ha)…

Thị trường xuất khẩu đậu tương chủ yếu ở dạng nguyên hạt vì nhiều nước nhập khẩu sẽ sử dụng để chế biến làm thức ăn cho người, sản xuất dầu

ăn và khô dầu làm thức ăn chăn nuôi Điều đó chứng tỏ các sản phẩm được chế biến từ đậu tương rất đa dạng và phong phú

Hiện nay các nước nhập khẩu đậu tương lớn gồm: Trung Quốc, Nhật Bản, ấn Độ, Đài Loan, Triều Tiên Trước năm 1995, Trung Quốc từng là nước sản xuất chính và xuất khẩu ròng đậu tương Nhưng nước này đ1 trở thành nước nhập khẩu ròng đậu tương trong 5 năm sau đó Năm 2000, Trung Quốc nhập khoảng 10 triệu tấn đậu tương, tương đương với 177% sản lượng

đậu tương trong nước Kể từ đó, nhập khẩu đậu tương liên tục tăng và năm

2006, lượng nhập khẩu lên tới 28,27 triệu tấn, và năm 2007 là gần 31 triệu tấn 2.4.2 Tình hình nghiên cứu chọn tạo giống đậu tương trên thế giới

Đậu tương là loại cây trồng có giá trị dinh dưỡng và giá trị kinh tế cao Nhận thức được điều đó, từ nâu con người đ1 tìm mọi cách để duy trì, bảo tồn những nhuồn gen quý nhằm mục đích phát huy tiềm năng, năng suất của loại cây trồng này

Hiện nay, nhu cầu của con người với việc sử dụng các sản phẩm được chế biến từ đậu tương ngày một tăng Để đáp ứng được điều đó họ đ1 chú trọng đẩy mạnh việc nghiên cứu khoa học kỹ thuật, đặc biệt là khoa học kỹ thuật trong công tác chọn tạo giống mới Đ1 có hàng nghìn công trình nghiên cứu khác nhau về cây đậu tương, nhằm chọn tạo ra những giống như ý muốn,

đáp ứng yêu cầu sản xuất Vì vậy hàng loạt các công trình nghiên cứu trên thế

Trang 23

giới được thực hiện qua các năm, với các phương pháp nghiên cứu khác nhau nhằm tìm ra những giống đậu tương có năng suất cao, phẩm chất tốt

2.4.2.1 Nghiên cứu hệ số tương quan và biến dị, di truyền của các tính

trạng số lượng ở đậu tương

Xác định mức độ biến dị, di truyền của các tính trạng số lượng là cơ sở

đầu tiên để đánh giá về giá trị của nguồn gen và xây dựng chương trình chọn giống thích hợp

Khi nghiên cứu sự biến dị, di truyền ở cây đậu tương là xác định hệ số

di truyền của các tính trạng khác nhau, mà từ đó dự đoán được khả năng chọn lọc của các tính trạng đó Tuy nhiên, với một số tính trạng như tính trạng về năng suất thì hiệu quả chọn lọc không cao so với các tính trạng khác Do vậy, các nhà chọn giống đậu tương thường dựa trên cơ sở kết quả nghiên cứu mức

độ tương quan của các tính trạng đó mà đề ra biện pháp chọn lọc gián tiếp và hợp lý [11] Mặt khác, để đánh giá mức độ biến dị, di truyền yêu cầu phải thử nghiệm nhiều lần, ở nhiều nơi qua các năm với nhiều lần nhắc lại của mỗi lần thử nghiện riêng biệt (Johnson và CTV, 1955) [53]

Năm 1995, Johnson và CTV [52] khi nghiên cứu sự biến dị do di truyền và

do môi trường của 2 quần thể các dòng đậu tương, thực hiện nhiều nơi và qua nhiều năm Tác giả cho rằng ở quần thể 1 phần lớn biến dị của năng suất hạt là

do môi trường, còn ở quần thể 2, cho thấy: trong 3 môi trường nghiên cứu thì 2 môi trường có phường sai di truyền cao hơn so với phương sai môi trường

Prakash và CTV (1966) [68] cho rằng: Đối với cây đậu tương về thời gian sinh trưởng và chiều dài quả có sự biến dị, di truyền rộng Còn Miku (1970) [63] đ1 xác định chiều cao cây có sự biến dị thấp Ngược lại, thì với các tác giả Lal và Mehta (1973) [56] lại cho rằng chiều cao cây có hệ số biến động di truyền cao nhất

Malhotra và CTV (1973) [62]; Bains và Soodk, (1980) [39] đ1 xác định

được số quả/cây, và năng suất hạt có hệ số biến dị, di truyền cao nhất

Khi nghiên cứu biến dị kiểu hình chung của 9 tính trạng ở các quần thể lai thế hệ F3 của đậu tương, tính toán dựa trên cơ sở phương pháp phân tích

Trang 24

yếu tố, Kadlec Mirolav (1985) [54] cho thấy Năng suất hạt/cây là chỉ tiêu quan trọng nhất trong các chỉ tiêu nghiên cứu Phần ảnh hưởng quyết định là yếu tố F1 (chiếm 50,8% biến dị chung) bao gồm số hạt, số quả/cây kể cả khối lượng hạt và quả Hai yếu tố F1 và F2 chiếm 70,98% biến dị kiểu hình chung

Plazinic (1987) [67] cho rằng cá yếu tố di truyền và sinh thái có ảnh hưởng rõ rệt đến chiều cao cây, độ cao đóng quả thấp, số đốt hữu hiệu, chiều dài đốt, số quả và số hạt/cây

Khi đánh giá về các tính trạng trên cây đậu tương, bằng nhiều phương pháp khác nhau, kết quả cho thây cũng không đồng nhất, như theo phương pháp chuẩn, Mahmuh và Kramer (1951) [59], đ1 xác định hệ số di truyền của năng suất hạt và chiều cao cây ở thế hệ F2 của một số tổ hợp tương ứng là 43,4% và 40,6% Với 3 yếu tố (năng suất, chiều cao cây và ngày chín) tác giả

đ1 xác định hệ số di truyền bằng phương pháp hồi quy là 5,9%, (- 35,3%) và (- 50,3%) Khi theo dõi giá trị trung bình các dòng F4 trên giá trị trung bình của dòng F3 thì hệ số di truyền lại được xác định là: 77%; 91% và 100%

Cũng 3 yếu tố trên, Bartley và weber (1952) [40] bằng phương pháp hồi quy của giá trị trung bình ở các thế hệ khác nhau cũng có kết luận khác nhau: Gía trị trung bình của dòng F3 trên sự biểu hiện của từng cá thể F2, hệ số di truyền được xác định 15%, 66% và 85%, ở thế hệ F4 giá trị trung bình được xác định trên giá trị tring bình của các dòng F3 thì hệ số di truyền được xác

định bằng 45%, 62% và 92%

Theo Johnson và CTV (1955a) [77] khi áp dụng phương pháp phân tích phương sai: với nhiều môi trường nghiên cứu trong 2 năm, các số liệu thu

được cho thấy đ1 xác định được hệ số di truyền cao đối với một số tính trạng

đậu tương như số ngày từ gieo đến ra hoa, chiều cao cây và số đốt/cây

Bhatt và CTV (1968) [41] đ1 xác định khối lượng 1000 hạt có hệ số di truyền cao và độ dài quả có hệ số di truyền thấp

Malhotra (1973) [61] cho thấy số hạt/quả có hệ số di truyền cao và số

Trang 25

cành cấp 1 có hệ số di truyền thấp ở thế hệ F2, khi nghiên cứu 3 tổ hợp lai

đậu tương, Thseng (1972) [75] cũng có kết quả tương tự

Khi nghiên cứu về hệ số di truyền (Paz, 1974) [66] cho rằng năng suất hạt có hệ số di truyền thấp nhất và kích thước hạt có hệ số di truyền cao nhất Ngược lại, (Bains và Soodk, 1980) [39] lại xác định là khối lượng 1000 hạt có

hệ số di truyền thấp nhất và năng suất hạt có hệ số di truyền trung bình Còn (Dencescu, 1983) [47] lại cho rằng cả 2 tính trạng về năng suất và kích thước hạt đều có hệ số di truyền thấp nhất

Theo Alam (1983) [36] đ1 xác định được hệ số di truyền có giá trị cao

đối với chiều cao cây, số hạt/ quả và thời gian sinh trưởng

Khối lượng hạt của cây là chỉ tiêu quan trọng và thường được dùng làm tiêu chuẩn để chọn lọc các dòng, giống về năng suất hạt Tuy nhiên việc chọn lọc các dòng, giống tốt chỉ dựa trên năng suất thường nhầm lẫn và không có hiệu quả (Scarle, 1965) [72]; (Lal và Haque, 1971) [55]

Đối với cây đậu tương thì hiệu quả chọn lọc về năng suất khó khăn hơn nhiều so với chọn lọc về tính trạng khác và yêu cầu phải thử nghiệm nhiều lần qua các năm, nơi trồng và với nhiều lần nhắc lại ở mỗi lần thử nghiệm riêng biệt (JohnSon và CTV, 1955b) [66] Do vây hiệu quả chọn lọc thường dựa trên kết quả nghiên cứu mức độ tương quan của các tính trạng mà đề ra biện pháp chọn lọc gián tiếp, hợp lý Mặt khác khi nghiên cứu hệ số tương quan giữa các tính trạng của cây đậu tương đ1 chỉ ra rằng: Hệ số tương quan ngoài phụ thuộc vào địa điểm nơi trồng, các dòng giống, nguồn gốc của chúng và các thế hệ nghiên cứu (Borem và CTV, 1987) [42] Hệ số tương quan còn phụ thuộc vào

kỹ thuật trồng: mật độ và phân bón… (Rubaihayo, 1973) [70]

Trước đó, đ1 có nghiên cứu cho rằng đối với cùng một nguồn gen thì hệ

số tương quan không thay đổi rõ rệt giữa các năm, địa điểm trồng hoặc là do tương tác giữa các địa điểm với năm trồng

Khi nghiên cứu hệ số tương quan kiểu hình và tương quan di truyền thì

Trang 26

phần lớn các nhà nghiên cứu đều cho rằng hệ số tương quan di truyền có giá trị lớn hơn hệ số tương quan kiểu hình ở tất cả các cặp tính trạng nghiên cứu (Johnson và CTV, 1955B [53]; Anand và Torrie, 1963 [37]; Lal và Haque, 1971 [55]; Gautam

và Sing, 1977 [48]; Dencescu, 1982 [46]; Lin và Nelson, 1988 [57] )

Bên cạnh việc nghiên cứu hệ số tương quan ở cây đậu tương thi việc xác

định đặc tính ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp của các tính trạng hạt đến năng suất hạt cũng được nhiều tác giả đề cập tới Phần lớn các kết quả nghiên cứu cho thấy số quả/cây và khối lượng 1000 hạt dều có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp lớn nhất đến năng suất hạt (Lal và Haque, 1971 [55]; Patil và Pokle,

1976 [65]; Mehrotra và Chaudhary, 1983 [60])

Ngoài ra nhiều tác giả cũng cho rằng: Phần ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp lớn nhất đến năng suấ hạt lại là thời gian sinh trưởng (Sengupta và Kataria, 1971) [73], Số quả/đơn vị diện tích, số hạt/quả (Panday và Torrie, 1973) [64], chiều cao cây, số đốt/cây, và số hạt/cây (Yap và Lee, 1975) [79]

Ngoài việc nghiên cứu mối quan hệ giữa năng suất hạt với các tính trạng số lượng, đ1 có nhiều công trình nghiên cứu mối quan hệ giữa các đặc tính di truyền về các hình thái sinh vật học của cây đậu tương với các khả năng thích nghi của cây đậu tương và năng suất hạt

Về đặc điểm hình thái cây đậu tương một số tác giả đ1 có nhận xét: Các giống có lá chét rộng thường được phổ biến trong sản xuất và cũng là các giống cho năng suất cao hơn các giống có lá chét hẹp Ngoài ra, hình dạng lá chét cũng

ảnh hưởng đến số hạt/quả, các giống có lá chét bình thường, hình trứng thường

có 2 đến 3 hạt/quả, cây có lá chét hẹp thường có 3 đến 4 hạt, còn cây có lá chét hình bầu dục lại có 1 đến 2 hạt/quả (Hinson và Hartwig, 1977) [13] Điều đó cho thấy hình dạng lá chét và số hạt trên quả là do cùng một loại gen quy định

Đ1 có những nghiên cứu đánh giá về khả năng nẩy mầm của hạt đậu tương thì Potts và cộng sự, 1978 thấy rằng: Các dạng hạt cứng giữ được khả năng nẩy mầm 80% kéo dài được 9 tuần sau khi chín, trong khi đó dạng hạt bình thường chỉ giữ được khả năng nẩy mầm 80% từ 3 đến 4 tuần sau khi chín

Trang 27

Từ các kết quả nghiên cứu cho thấy mối quan hệ giữa năng suất hạt với các tính trạng số lượng cũng như mối quan hệ của những đặc tính di truyền với khả năng thích ứng của giống để đạt năng suất cao là mục tiêu hang đầu

đối với các nhà chọn giống

Ngoài ra khi nghiên cứu mối quan hệ giữa tính ổn định về năng suất khi

được tiến hành gieo trông trong các điều kiên sinh thái khác nhau nhiều tác giả cho biết: Có sự tương tác cao giữa giống với môi trường về năng suất hạt

và khả năng chống đổ, tương tác thấp về chiều cao cây và tương tác trung bình

về kích thước hạt, hàm lượng đạm và hàm lượng dầu của hạt đậu tương (Johnson và cộng sự, 1955a [53]; Byth và Weber, 1968 [44])

Việc xác định các dòng giống đậu tương tốt, có tính ổn định và có khả năng thích ứng với các điều kiên môi trường khác nhau đang được các nhà chọn giống đậu tương hết sức quan tâm Theo nghiên cứu của Sanbuihi và Gotoh (1969) [71] đ1 xác định được hệ số hồi quy cho 5 giống đậu tương từ số liệu thu

được ở 7 địa điểm trong 6 năm cho thấy: Giống có tính thích ứng rộng về không gian nhưng lại nhạy cảm về thời gian, một số giống được xác định là thích ứng rộng cho năm trồng và thích ứng hẹp cho địa điểm trồng Còn Baihaki và CTV (1976) [38] lại cho rằng: Giống ổn định nhất là giống có năng suất trung bình, tiếp theo là giống có năng suất cao và sau là giống có năng suất thấp

Như vậy, khi nghiên cứu hệ số tương quan và biến dị, di truyền ở cây đậu tương có ý nghĩa to lớn trong công tác chọn tạo giống đậu tương Phương pháp này giúp đánh giá được giá trị của nguồn gen, tính ổn định và phạm vi thích ứng của các dòng giống đậu tương, cho phép chọn ra những dòng giống đậu tương có năng suất cao, ổn định, thích hợp với các vùng sinh thái khác nhau 2.4.2.2 Một số phương pháp chon tạo giống đậu tương có chất lượng hạt cao

Đậu tương là loại cây trồng có khả năng thích ứng rộng, chải qua hàng ngìn năm thích ngi đến nay nguồn gen đậu tương đ1 có tới trên 45.038 mẫu giống và được cất giữ chủ yếu ở Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Mỹ, Triều Tiên, Australia, và một số nước khác [19]

Trang 28

Cây đậu tương là loại cây trồng tự thụ phấn nên các phương pháp tạo và chọn lọc giống cũng tương tự như các loại cây tự thụ khác, nhưng cũng có những đặc thù riêng cảu nó Cùng với việc chọn lọc giống theo phương pháp thông thường, công tác chọn lọc các giống theo chỉ số cũng đ1 được áp dụng nghiên cứu trên cây đậu tương trong nhiều năm qua Tuy nhiên nhưng kết quả

đạt được khi áp dụng việc nghiên cứu chỉ số chọn lọc ở cây đậu tương còn hạn chế và chưa thống nhất

Để tạo ra được giống đậu tương có chất lượng hạt hạt cao người ta thường dùng hai phương pháp chính là đột biến và lai tạo Hoặc được xử lý bằng các tia phóng xạ với liều lượng hác nhau, xử lý hạt rồi đem gieo Qúa trình gây đột biến thường cho kết quả nhanh như mong muốn, rút ngắn thời gian lai tạo Nhưng tạo giống bằng phương pháp gây đột biến thường tốn kém

và lám cho các thế hệ sau biến dị ngày càng lớn hơn, chất lượng của giống giảm dần qua các thế hệ

Để tạo ra giống có tính ổn định về thời gian, có chất lượng hạt cao người ta thường dùng phương pháp lai hữu tính hay là lai trở lại Con lai trở lại với bố mẹ đ1 thích ứng để hoà nhập các gen mong muốn từ gen nhập Mức độ trở lại của con lai phụ thuộc hoàn toàn vào độ khác biệt giữa hai bố mẹ Chọn giống bằng phương pháp này đòi hỏi mất nhiều thời gian nhưng các giống tạo

ra là rất ổn định, lâu bền rất ít bị thái hoá qua các thế hệ

Khi nghiên cứu hiệu quả chọn lọc theo chỉ số gồm một hoặc nhiều tính trạng, Johnson và CTV (1955) [51] đ1 cho rằng chọn lọc theo các tính trạng gián tiếp như thời gian đậu quả, tính chín muộn, hạt to, tính chống tách hạt, chống đổ, hàm lượng Protein thấp có thể cải lương về năng suất hạt, nhưng mức độ hiệu quả có khác nhau giưa các tính trạng Trong đó các tính trạng như thời gian sinh trưởng ở quần thể 1 và khối lượng 1000 hạt ở quần tể 2 có thể thực sự là các tính trạng khác nhau, các kết quả cho thấy chọn lọc chỉ dựa trên chỉ số gồm thời gian đậu quả và khối lượng hạt cho hiệu quả tương đương

Trang 29

như là chọn lọc trực tiếp Khi đưa thêm tính trạng chống đổ, hàm lượng dầu và

đạm vào chỉ số trên thì hiệu quả chọn lọc tăng lên tương đối rõ rệt Hiệu quả chọn lọc tương đối theo chỉ số gồm năng suất, thời gian đậu quả, khối lượng hạt, tính chống đổ, hàm lượng dầu và hàm lượng đạm đạt 140,8% ở quần thể 1

và 126,1% ở quần thể 2

Khi nghiên cứu chọn lọc các giống theo chỉ số, ở các dạng kết hợp khác nhau Pritchard và CTV, (1973) [69] cho thây chọn lọc theo chỉ số dựa trên 7 tính trạng cho hiệu quả cao hơn so với chọn lọc trực tiếp về năng suất hạt ở các tổ hợp lai khác nhau về vai trò tương đối của các yếu tố năng suất trong chỉ số chọn lọc Các tác giả cũng chỉ ra rằng trong thực tế sẽ rất khó khăn khi

đưa vượt quá 5 tính trạng vào sơ đồ chỉ số chọn lọc

Vai trò quan trọng trong quá trình cải lương các giống cây trồng đó là

sự tương tác giữa các giống với điều kiện môi trường khác nhau Đối với cây

đậu tương thì các tác giả Johnson và CTV, (1955) [50]; Byth và Weber, (1968) [43] kết luận là có sự tương tác cao giữa các giống với môi trường cho năng suất hạt và sự tương tác thấp có chiều cao cây và tương tác trung bình cho kích thước hạt, sự đổ sớm, hàm lượng đạm và hàm lượng dầu

Khi phân tích khả năng kết hợp và di truyền của Protein, dầu và thành phần của chúng ở F2 của đậu tương, Lui X.H, (1990) [58] ở Viện hàn lâm khoa học nông nghiệp Tilin - Trung Quốc cho biết co 3 giống từ Trung Quốc

và 5 giống từ Mỹ đ1 được nghiên cứu sử dụng cho 11 đặc tính bao gồm: Năng suất hạt và Protein tổng số/đơn vị diện tích và sản lượng dầu tổng số Với các giống Trung Quốc và 5 đặc tính cho các giống của Mỹ như: Protein, Axit Oleic và Axit Linolenic Bởi giá trị GCA và giá trị di truyền cho Protein, dầu, Axit Oleic và Axit Linolenic, Protein tổng số và sản lượng dầu tổng số/ đơn vị diện tích là cao, chọn những điểm đó sẽ đạt được ở thế hệ F2

Khi nghiên cứu khả năng cho năng suất của đậu tương với những cặp bố

mẹ khác nhau về hàm lượng protein, giống nhau về năng suất tại Mỹ, Hartwig

Trang 30

E.E và Kilen T.C, (1992) [49] cho rằng: Năng suất đậu tương thường không kết hợp với protein thô Mục đích của nghiên cứu là xác định sự kết hợp sẽ xảy ra rất ít bằng sự tạp giao của những dòng có hàm lượng protein cao và bình thường còn năng suất hạt như nhau Thế hệ F2 của 1000 cây đ1 trưởng thành, cây được thu hoạch riêng và xác định hàm lượng dầu sử dụng kỹ thuật cộng hưởng sức hút hạt nhân hai phần quần thể được phát triển: 1 phần gồm 8% hàm lượng dầu cao nhất và phần kia 8% hàm lượng dầu thấp nhất Với sự tương quan nghịch giữa protein thô và dầu, quần thể có hàm lượng dầu thấp chắc chắn sẽ cung cấp những dòng tập trung protein thô cao Lấy 200 cây từ hai quần thể trên, tiếp tục làm như vậy với F6, F7 thu được 18 dòng có hàm lượng đạm cao nhất và 18 dòng này dùng để đánh giá trong 5 môi trường cho năng suất hạt, protein và dầu Hầu hết năng suất hạt trung bình của những dòng có hàm lượng protein cao giảm 6% so với dòng có hàm lượng dầu cao, mặc dù khi so sánh năng suất hạt của 2 dòng có hàm lượng protein cao nhất với hai dòng có hàm lượng dầu cao nhất trong cùng môi trường, những dòng

có hàm lượng protein cao cho tăng 1% năng suất hạt, 18% protein thô và giảm 20% dầu Kết quả cho thấy tiềm năng cho năng suất của những dòng, giống đậu tương có chứa hàm lượng protein và hàm lượng dầu cao là như nhau

2.4.2.3 Tình hình nghiên cứu chọn tạo giống đậu tương trên thế giới

Trong công tác chọn tạo giống đậu tương, từ trước tới nay có thể sử dụng nhiều phương pháp khác nhau như: thuần hoá, nhập nội, chọn lọc, lai tạo, đột biến và sử dụng công nghệ sinh học Nhờ xác định được chức năng của gen, cũng như biết được sự liên kết một số gen ảnh hưởng đến tính trạng nào đó, mà các nhà chọn giống đ1 thành công trong việc lai tạo những giống

đậu tương năng suất cao

Trên thế giới, số lượng nguồn gen đậu tương khá phong phú và đa dạng

đang được lưu giữ ở nhiều nơi, trên nhiều quốc gia nhưng phần lớn tập trung ở

15 nước là: Đài Loan, úc, Trung Quốc, Pháp, Nigêria (IITA), ấn Độ,

Trang 31

Inđônêxia, Nhật Bản, Nam Triều Tiên, Bắc Triều Tiên, Nam Phi, Thuỵ Điển, Thái Lan, Mỹ và Liên Sô có tổng số khoảng 45.038 mẫu giống (Trần Đình Long, 1997 [20])

Nhờ công tác trao đổi tài nguyên di truyền và nghiên cứu hợp tác quốc

tế Hiện nay hầu hết các giống đậu tương ở Mỹ là cây biến đổi gen và khoảng 1/3 sản lượng đậu tương ở Braxin cũng từ các giống đậu tương biến đổi gen Giống là khâu then chốt quyết định năng suất đậu tương Trong đó điển hình

là nước Mỹ, ở Mỹ có một nguồn gen di truyền lớn do đó tập đoàn giống đậu tương của Mỹ rất phong phú Thí nghiệm đầu tiên được tiến hành ở Mỹ vào năm 1804 tại bang Delecibuanhia đến năm 1983 ở Mỹ đ1 có trên 10.000 mẫu giống được thu thập khắp nơi trên thế giới Trong những năm 1928 - 1932 trung bình mỗi năm Mỹ thu thập trên 1.190 dòng từ các nước khác nhau Hiện nay Mỹ đ1 đưa ra phổ biến hơn 100 giống có năng suất cao phục vụ sản xuất

đại trà Đặc biệt là giống PI 194633, PI 274454, Clark 63

Hiện nay, Mỹ đ1 xây dựng được một hệ thống giống đậu tương có phản ứng ánh sáng khác nhau từ nhóm 00 đến nhóm XII Trong đó từ nhóm 00 đến nhóm IV thuộc nhóm chín sớm, từ nhóm V đến nhóm X thuộc nhóm chín trung bình, từ nhóm XI đến nhóm XII thuộc nhóm chín muộn

Với tập đoàn giống đậu tương của Mỹ, thời gian qua đ1 được sử dụng rộng r1i trên thế giới Chương trình đỗ tương Quốc tế mà những cuộc thí nghiệm giống quốc tế là một bộ phận đa được nhiều nước tham gia Miền nam Việt Nam là một điểm trong mạng lưới thí nghiệm giống quốc tế lần thứ nhất (1973) Chương trình thích nghi của một số giống ưu tú vào những vĩ tuyến thấp đ1 thu được kết quả ở Colombia (vĩ tuyến 30) Guyana (vĩ tuyến 60), Puecrto Rico (vĩ tuyến 180) Chương trình nhập nội để tạo giống mới được tiến hành ở Colombia, Bigiêria, Brazin, Indonexia và nhiều nước nước Châu á, Châu Phi Chương trình đỗ tương của ấn Độ (India Soybean Program) Sử dụng các giống nhập nội từ Hoa kỳ như giống Bragg, Lee, Hardee, Davis,

Trang 32

Improved Pelican Những giống này đ1 có mặt trong tập đoàn giống thí nghiệm quốc tế năm 1973 và đ1 đạt năng suất cao ở vĩ tuyến 100 đến 200, trong

có hơn 30 giống đậu tương đang trồng có nguồn gốc từ các nòi của Mỹ

ở ấn Độ: Tổ chức quốc gia về chương trình nghiên cứu cây đậu tương, AICRPS và NRCS đ1 được thành lập năm 1967, với mục đích tập trung nghiên cứu về genotyp và đ1 phát hiện ra 50 tính trạng phù hợp với khí hậu nhiệt đới,

đồng thời phát triển những giống chống chịu cao với bệnh khảm virus Với nhiệm vụ tạo và thử nghiệm giống mới, chương trình này đ1 tạo ra một số dòng giống có triển vọng như KH2b, J202, J231, DS74 - 24, DS73 - 16, MACS13 [74]

ở Indonesia mục đích của công tác chọn giống là phát triển những giống có triển vọng, tức là tạo ra những giống có thể sản xuất tốt trên chân đất thấp sau trồng lúa, không phải làm đất (làm đất tối thiểu), thời gian sinh trưởng ngắn (70 - 80 ngày), chống bệnh gỉ sắt, hạt có sức sống tốt như: Willis, Kevinci, Dempo, Rinani hiện đang được trồng rất phổ biến ở Indonesia

Tổ chức DOA Thái Lan tiến hành nghiên cứu về đậu tương đ1 chọn tạo

ra những giống có thời gian sinh trưởng ngắn (75 - 95 ngày), phản ứng trung tính với ánh sáng có năng suất ổn định, phẩm chất tốt, không nứt vỏ, chống chịu sâu bệnh, khả năng chịu hạn, chịu mặn và ngắn ngày

Trong nhưng năm gần đây, nhằm đáp ứng công tác nghiên cứu về giống

đậu tương đ1 có rất nhiều các tổ chức, mạng lưới cải tạo giống cây đậu tương Quốc tế được hình thành như: INTSOY (chương trình nghiên cứu đậu tương Quốc tế Mỹ), AVRDC (trung tâm nghiên cứu và phát triển rau màu Châu á -

Trang 33

Đài Loan), ACIAR (trung tâm nghiên cứu Nông nghiệp Quốc tế Australia) Nhiệm vụ của các tổ chức là phối, kết hợp tìm ra những giống đậu tương có triển vọng về năng suất, khả năng thích ứng rộng với điều kiện các nước để phục vụ sản xuất

2.4.3 Tình hình sản xuất và chọn tạo giống đậu tương ở Việt Nam

2.4.3.1 Tình hình sản xuất đậu tương ở Việt Nam

Việt Nam là nước nông nghiệp có lích sử trồng đậu tương lâu đời Trong thư tích thế kỷ VI đ1 cho biết ở Bắc Bộ có trồng đậu tương, sách “Vân

đài loại ngữ” của Lê Quý Đôn thế kỷ XVIII cho rằng cây đậu tương được trồng từ ngàn năm nay Các sản phẩm được chế biến từ đậu tương có hàm lượng dinh dưỡng cao ngoài việc dùng làm thực phẩm cho con người, thức ăn cho gia súc còn được sử dụng với nhiều mục đích khác nhau như : Làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến (mực in, sơn, xà phòng, chất dẻo, thuốc trừ sâu ), dùng làm vị thuốc chũa bệnh (suy dinh dưỡng ở trẻ em, người già, bệnh lo1ng xương ở phụ nữ, bệnh đái tháo đường, thấp khớp ) Giá trị mà cây

đậu tương mang lại là rất lớn, cho lên cây đậu tương được đánh giá là một trong những cây trồng quan trọng trong sản xuất nông nghiệp của nước ta

Đến nay cây đậu tương đ1 được mở rộng và phát triển ở tất cả các vùng trồng trên cả nước và đ1 trở thành loại cây mang lại hiệu quả giá trị kinh tế cao

Cây đậu tương có khả năng thích ứng rộng, phát triển được trên nhiều vùng sinh thái nông nghiệp khác nhau và là loại cây mang lại hiệu quả kinh

tế cao trên đất bạc màu và khô hạn Do có đặc điểm là thời gian sinh trưởng ngắn, nên nhiều vùng có thể trồng được 2 - 3 vụ đậu tương trong năm trên nhiều chân đất với nhiều chế độ canh tác khác nhau đ1 góp phần vào chuyển dịch cơ cấu cây trồng trong nông nghiệp, giúp tăng hiệu quả kinh tế trên một

Trang 34

sản lượng, nhưng sản xuất đậu tương ở nước ta chưa được đầu tư cao, năng suất còn thấp hơn nhiều so với thế giới

Trong những năm gần đây được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước là trú trọng đến việc phát triển ngành Nông nghiệp nói chung trong đó có cây đậu tương nói riêng, đ1 đưa cây đậu tương có những bước tiến manh cả về diện tích, năng suất và sản lượng

Tình hính sản xuất đậu tương ở Việt Nam trong những năm gần đây

Sản lượng (nghìn tấn)

2000 Tuy nhiên mức năng suất này vẫn còn là rất thấp so với năng suất bình quân của thế giới là 22,78 tạ/ha (năm 2007) Chính vì vậy, có thể xác định năng suất là một lợi thế có thể khai thác để tăng năng suất trong thời gian tới

và là mục tiêu hàng đầu đặt ra cho các nhà chọn, tạo giống trong công tác

Trang 35

nghiên cứu và chọn tạo ra các giống đậu tương mới thời gian gần đây

Nguyên nhân làm cho năng suất đậu tương của Việt Nam còn thấp là do chưa có những bộ giống thích hợp, năng suất cao cho từng vùng sinh thái

Đồng thời chế độ thâm canh đậu tương còn thấp, chưa áp dụng được những biện pháp kỹ thuật mới tăng năng suất Mặt khác tập đoàn giống địa phương

đ1 bị lẫn tạp, thoái hoá nghiêm trọng, năng suất và phẩm chất giảm

Xuất phát từ những mục tiêu cơ bản trên, nhiệm vụ hàng đầu của các nhà chọn, tạo giống đậu đỗ Việt Nam là phải nhanh chóng chọn tạo ra một bộ giống mới phong phú, phù hợp với từng điều kiện sinh thái, từng mùa vụ khác nhau,

có năng suất cao, phẩm chất tốt, có tính thích nghi, chống chịu ngoại cảnh khác

để bổ xung vào tập đoàn giống địa phương đ1 bị lẫn tạp, thoái hoá hiện nay 2.4.3.2 Tình hình nghiên cứu chọn tạo giống đậu tương ở Việt Nam

Cây đậu tương được trồng ở Việt Nam từ rất lâu, ngay khi còn là cây hoang dại, sau đó được thuần hoá và được trồng như một cây thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao Ngày nay các tỉnh phía Nam quen gọi loại thực phẩm này

là “Đậu lành’’, ở miền Bắc quen gọi là “Đỗ tương’’

Công tác nghiên cứu, chọn tạo giống đậu tương ở nước ta phần lớn tập trung ở các Viện nghiên cứu, các trường Đại học, các Trung tâm hay các trạm, trại nghiên cứu đậu đỗ

Từ những năm 1945 nước ta đ1 xây dựng được các trại nghiên cứu thí nghiệm về đậu đỗ nói chung và đậu tương nói riêng như ở Định Tường - Thanh Hoá; Mai Nham - Vĩnh Phú; Thất Khê - Lạng Sơn; Pú Nhung - Lai Châu Trong đó trại đậu đỗ Định Tường - Thanh Hoá trong những năm 1957-1965, đ1 tiến hành thí nghiệm với 52 giống đỗ địa phương và một số giống nhập nội (chủ yếu của Trung Quốc), kết quả đ1 chọn ra được 2 giống tốt đưa ra sản xuất đại trà

đó là: Giống V70, là giống “Hoa Tuyển’’ thích hợp cho vụ Xuân Hè ở miền Bắc Việt Nam; Giống V74, là giống “Cáp quả địa” thích hợp cho vụ Đông ở miền Bắc Việt Nam Cả hai đều là giống có nguồn gốc ở Trung Quốc

Trang 36

ở Miền Nam, đ1 thu thập tập đoàn giống đậu tương nhập nội từ những năm

1961 - 1972 ở Trung tâm Eakmat (Đắc Lắc, Hưng Lộc, Long Khánh - Đồng Nai) với các giống nhập nội từ: Hoa Kỳ, Đài Loan, Thái Lan, Nhật Bản đ1 chọn được những giống tốt đưa ra sản xuất như: Giống Dalmetto (còn gọi là Bạch Mi) nguồn gốc từ Đài Loan; Giống Santamaria, nguồn gốc Brazil Ngoài ra còn có các dòng như: V67 - 8; PS 67 - 25; PS 67 - 31 do Viện Khảo Cứu Sài Gòn tuyển chọn

Như vậy, nghiên cứu quá trình phát triển của cây đậu đỗ nói chung và cây

đậu tương nói riêng ở nước ta trước những năm 1975 còn rất nhiều hạn chế Từ những năm 1980 trở lại đây, các cơ sở nghiên cứu khoa học như: Viện Cây Lương Thực Thực Phẩm, Viện Khoa Học Kỹ Thuật Nông Nghiệp Việt Nam, Viện Nghiên Cứu Ngô, Trung tâm Nghiên Cứu Đậu Đỗ Viện Khoa Học Kỹ Thuật Nông Nghiệp Việt Nam, Viện Di Truyền Nông Nghiệp Việt Nam, các trường Đại học Nông nghiệp cùng nhiều cơ sở nghiên cứu khoa học khác Đ1 tập trung, đi sâu vào nghiên cứu những bộ giống đậu tương cho năng suất cao, phẩm chất tốt thích hợp cho từng vùng sinh thái, từng mùa vụ khác nhau của nước ta Nhằm phá

vỡ hệ thống trồng trọt độc canh hoá ở các vùng trồng, giúp cải tạo các vùng đất hoang hoá, bạc mầu

Bằng nhiều phương pháp chọn giống khác nhau như: Xử lý đột biến, chọn lọc cá thể hoặc bằng phương pháp lai hữu tính hay con đường nhập nội Nhưng mang lại thành công nhất cho các nhà chọn giống Việt Nam đó

là phương pháp lai hữu tính hay lai trở lại Phương pháp này sử dụng các cặp

bố mẹ đ1 thích ứng để phối hợp các đặc tính và tính trạng có lợi từ gen nhập,

từ đó tạo ra con lai theo các mục đích khác nhau

Bằng phương pháp lai hữu tính trên cây đậu tương cho thấy các tính trạng khác nhau có hệ số biến dị và di truyền khác nhau Một số tính trạng như số quả chắc/cây, khối lượng hạt/cây có hệ số biến dị cao Chiều cao cây

và số đốt/thân chính có hệ số di truyền thấp Một số tính trạng có hệ số tương quan thuận khá cao ở các quần thể lai cũng dựa vào các tính trạng như: số

Trang 37

lượng hạt/cây, số quả chắc/cây và khối lượng 1.000 hạt Tuy nhiên, ở các thế

hệ đầu khi chọn lọc cần chú ý đến tính trạng có hệ số di truyền cao và mối quan hệ với năng suất hạt như chiều cao cây và số đốt/ thân chính (Vũ Tuyên Hoàng và cộng sự, 1993) [15]

Một trong những yếu tố hạn chế năng suất ở đậu tương trong nhóm ngắn ngày là diện tích lá Kết quả nghiên cứu tính tương quan cho thấy có mối tương quan thuận rất chặt giữa năng suất và tính trạng này (r = 0.8904) Yếu

tố hạn chế khác được xác định là trọng lượng và số quả/cây (trọng lượng hạt/cây) từ đó đề suất hướng chọn lọc giống mới là ngắn ngày, diện tích lá lớn

và năng suất hạt/cây cao (Trần Văn Lài và CTV, 1987 [18])

Nghiên cứu chỉ số chọn lọc và các tham số ổn định kiểu hình trong công tác chọn tạo giống đậu tương, (Nguyễn Tấn Hinh, 1992) [12] cho rằng năng suất hạt đậu tương có hệ số biến động kiểu hình rất lớn nhưng lại có hệ

số di truyền tương đối thấp, đồng thời có hệ số tương quan kiểu hình và tương quan di truyền thuận chặt với số quả chắc/cây, số đốt mang quả, số cành cấp I,

số đốt trên thân chính và số hạt/quả Chọn lọc các dòng, giống đậu tương dựa theo chỉ số cho hiệu quả rõ rệt so với chọn lọc trực tiếp về năng suất hạt Có thể đánh giá tính ổn định kiểu hình của đậu tương bằng các thời vụ hoặc các

vụ gieo trồng khác nhau Có sự tương quan tuyến tính chặt chẽ giữa giống với môi trường về năng suất hạt Sự biểu hiện kiểu hình của năng suất hạt, chiều cao cây, số đốt mang quả và số hạt chắc/cây có hệ số tương quan thuận chặt với sự nhạy cảm của chúng

Khi nghiên cứu biến động của một số đặc tính sinh lý và mối quan hệ của chúng với năng suất hạt (Đào Quang Vinh, 1984) [28] đưa ra nhận xét: chỉ số diện tích lá, hiệu suất quang hợp thuần và lượng chất khô tích luỹ biến

động rất mạnh theo điều kiện trồng trọt

Lượng chất khô tích luỹ tương quan thuận với diện tích lá và hiệu suất quang hợp, ở giai đoạn sinh trưởng sinh thực vai trò của diện tích lá và hiệu

Trang 38

suất quang hợp đối với sự tích luỹ chất khô tương đương nhau Giữa năng suất hạt và sự tích luỹ chất khô có tương quan thuận khá chặt chẽ (r = 0,48 - 0,69) Theo tác giả muốn tăng lượng chất khô tích luỹ nhằm tăng năng suất hạt cần tăng sự phát triển bộ lá ở giai đoạn đầu, duy trì bộ lá và tăng khả năng quang hợp ở giai đoạn sau

Nguyễn Tấn Hinh (1992) [11], khi nghiên cứu về sự khác biệt di truyền

ở đậu tương cho thấy: Thời gian sinh trưởng có vai trò quan trọng nhất, tiếp

đến là trọng lượng 1.000 hạt và số quả chắc/cây Năng suất hạt có tỷ lệ ảnh hưởng thấp nhất Các giống đậu tương nghiên cứu đ1 được tác giả xếp vào 11 nhóm khác biệt nhau về mặt di truyền và có thể ứng dụng chọn tạo giống đậu tương về năng suất hạt và một số tính trạng khác

Theo tác giả (Nguyễn Huy Hoàng, 1992) [14] khi nghiên cứu khả năng chịu hạn của 1.004 mẫu giống đậu tương nhập nội ở miền Bắc Việt Nam Tác giả đ1 xây dựng được phương trình biểu diễn mối tương quan phụ thuộc giữa khả năng chịu hạn với một số đặc tính khác của cây đậu tương như: mật độ lông phủ và mật độ khí khổng/ đơn vị diện tích lá, thời gian sinh trưởng ở nhóm giống chín sớm và cực sớm hàm lượng protein, hàm lượng dầu có tương quan rất yếu với khả năng chịu hạn của giống Những kết quả phân tích

sự biểu hiện tính chịu hạn của con lai F1 bước đầu cho thấy khả năng chịu hạn

ở con lai F1 nhìn chung di truyền theo qui luật trung gian

Với những kết quả trên, hàng năm tại các Viện, Trung tâm nghiên cứu

và các trường Đại học trong cả nước đ1 chọn tạo ra được rất nhiều giống đậu tương năng suất, chất lượng cao, khả năng chống chịu tốt, thích ứng cho nhiều vùng sinh thái nhau

Đi đầu là Viện khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam (1995) [30]

đ1 chọn tạo ra được một số giống đậu tương có thời gian sinh trưởng ngắn và trung ngày cho năng suất cao, khả năng chống chịu tốt thích hợp với nhiều vùng sinh thái và các mùa vụ khác nhau điển hình là các giống:

- Giống đậu tương ĐT80, đây là giống có thời gian sinh trưởng trung ngày,

Trang 39

phản ứng với chu kỳ ánh sáng nên vụ hè thu 95 - 100 ngày, vụ xuân 90 - 100 ngày, vụ thu 80 - 85 ngày, sinh trưởng mạnh nhất ở vụ hè, số quả trên cây nhiều, năng suất trung bình 1,2 - 1,5 tấn/ha Cứng cây, chống đổ, ra hoa nhiều đợt, bộ rễ

ăn sâu, rộng giúp cây trống đổ, chịu hạn Thích hợp nhất là vụ hè thu ở miền núi,

có thể trồng trong vụ xuân ở miền núi, trung du và đồng bằng, nhân giống vụ

đông ở trung du đồng bằng Giống đ1 được công nhận là giống quốc gia

- Giống đậu tương AK05, giống có thời gian sinh trưởng trung bình (90

- 95 ngày), sinh trưởng khoẻ, chống bệnh khá, có tiềm năng năng suất cao, chịu rét, phẩm chất tốt, mẫu m1 đẹp đáp ứng được nhu cầu thị hiếu Năng suất luôn ổn định qua các năm, các vùng sinh thái khác nhau AK05 phát triển tốt trong điều kiện vụ xuân và vụ đông Giống AK05 đ1 được công nhận là giống quốc gia tháng 1/1995

- Giống đậu tương M103, có thời gian sinh trưởng trung bình 85 - 90 ngày, sinh trưởng khỏe, thích ứng rộng, có thể gieo trồng 3 vụ trong năm nhưng thích hợp nhất ở vụ hè, năng suất có thể đạt 15 - 25 tạ/ha Giống có hạt

to màu đẹp, phẩm chất tốt Có thể gieo trồng trên nhiều loại đất khác nhau

- Và một số giống khác như: VX 9 - 2, DT 84, AK 04, V48, ĐT 93 Ngoài

ra, còn một số giống đậu tương triển vọng như: TL57, DT90, AGS 314, VN1

Năm 1995 - 1996,Viện khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam (1997) [31] đ1: Nhập nội một số giống đậu tương rau, sản phẩm của đậu tương rau là quả xanh ở thời kỳ chín, hạt to, mềm, vị ngọt, nó được coi là một trong những loại rau xanh ngon nhất ở Nhật Bản, Đài Loan, Trung Quốc và Triều Tiên Đậu tương rau trồng trong điều kiện miền Bắc nước ta cho năng suất khá cao, có giống đạt 6 - 7 tấn quả có giá trị thương phẩm/1ha (giống AGS333 đạt

7783 kg/ha) Màu sắc vỏ hạt, chiều dài quả 2 hạt, 3 hạt hầu hết các giống đều

đạt yêu cầu trên (4,5cm) Nhưng chiều rộng quả 2 hạt, 3 hạt chỉ có 7 giống đạt yêu cầu trong đó có 3 giống là AGS 331, AGS 334, và AGS 335 đạt trên 1,3

cm Đa số các giống đậu đều có thời gian sinh trưởng trung bình trên 90 ngày

Trang 40

Thời gian từ mọc đến thu hoạch quả tươi từ 69 - 80 ngày, thời gian từ khi quả

đẫy hạt đến khi quả bắt đầu chín kéo dài rất thuận lợi cho thu hoạch quả xanh Các giống đậu rau đều cứng cây, chống đổ tốt, vỏ quả dày ít bị sâu đục quả

Năm 1998, từ 52 mẫu giống đậu tương (bao gồm các giống đậu tương

được trồng phổ biến trong sản xuất và các mẫu giống nhập nội từ Trung tâm nghiên cứu rau màu châu á), Viện khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam đ1 phân lập được 2 giống đậu tương GC 86004 - 9 và AGS129 Đây là 2 giống kháng được bệnh đốm chấm vi khuẩn (vụ hè) và bệnh gỉ sắt, có tiềm năng năng suất cao Cũng trong thời gian trên, bộ môn Di truyền và Miễn Dịch thực vật của viện cũng tạo ra được giống đậu tương ĐT 99 - 1 Đây là giống có đặc tính sinh trưởng khoẻ, thời gian sinh trưởng ngắn, có khả năng kháng 1 số bệnh hại chính trên cây đậu tương Đặc biệt, giống có thể trồng được cả 3 vụ trong năm [32]

Cũng trong năm 2000, Viện khoa học kỹ thụât Nông nghiệp Việt Nam

đ1 chọn tạo giống đậu tương kháng bệnh gỉ sắt và cho năng suất cao ĐT2000,

có thời gian sinh trưởng 100 - 110 ngày, thích hợp gieo trồng trong vụ xuân

ĐT2000 có tiềm năng năng suất cao 4,42 tấn/ha Kết quả khảo nghiệm nhiều vùng cho thấy năng suất ĐT2000 đạt 19,5 - 30,5 tạ/ha Trong sản xuất thử trên

đồng ruộng nông dân, giống ĐT2000 đạt năng suất cao 2,7 - 3,0 tấn/ha) Cùng thời gian đó, giống ĐT12 cũng được chọn ra Đây là giống có thời gian sinh trưởng cực ngắn (71 - 80 ngày), có thể trồng 3 vụ trong năm, đặc biệt rất phù hợp trên đất đậu tương hè giữa 2 vụ lúa Năng suất trung bình đạt (13 - 22 tạ/ha) Giống ĐT12 có khả năng chống đổ, chống tách quả, nhiễm bệnh ở mức nhẹ và trung bình [33]

Đến năm 2003, Viện khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam đ1 chọn lọc được giống đậu tương TN - 01 Đây là giống cho năng suất cao và ổn định trong nhiều năm Giống có khả năng thích ứng rộng cả về mặt sinh thái cũng như thời vụ gieo trồng, cho năng suất cao nhất trong vụ đông, có khả năng kháng bệnh và chống đổ khá, thời gian sinh trưởng trung bình [34]

Ngày đăng: 27/11/2013, 13:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Nguyễn Văn Bình, Vũ đình Chắnh, Nguyễn Thế Côn, Lê Song Dự, đoàn Thị Thanh Nhàn, Bùi Xuân Sửu (1996), Giáo trình cây công nghiệp, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình cây công nghi"ệ"p
Tác giả: Nguyễn Văn Bình, Vũ đình Chắnh, Nguyễn Thế Côn, Lê Song Dự, đoàn Thị Thanh Nhàn, Bùi Xuân Sửu
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1996
3. Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (2006 - 2007), Tuyển tập kết quả khoa học và công nghệ nông nghiệp, NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuy"ể"n t"ậ"p k"ế"t qu"ả" khoa h"ọ"c và công ngh"ệ" nông nghi"ệ"p
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
4. Bộ Nụng nghiệp và PTNT. ðề ỏn phỏt triển cõy ủậu tương toàn quốc ủến năm 2010. Thỏng 7/2001, (tr.8) Sách, tạp chí
Tiêu đề: án phát tri"ể"n cây "ủậ"u t"ươ"ng toàn qu"ố"c "ủế"n n"ă"m 2010
5. Bùi Chí Bửu, Phạm ðồng Quảng, Nguyễn Thiện Lương, Trịnh Khắc Quang (2005), Kết quả nghiờn cứu chọn tạo giống cõy trồng giai ủoạn 1986 - 2005, Khoa học công nghệ nông nghiệp và phát triển nông thôn 20 năm ủổi mớim Tập I, nhà xuất bản Chớnh trị Quốc Gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả nghiờn cứu chọn tạo giống cõy trồng giai ủoạn 1986 - 2005
Tác giả: Bùi Chí Bửu, Phạm ðồng Quảng, Nguyễn Thiện Lương, Trịnh Khắc Quang
Nhà XB: nhà xuất bản Chớnh trị Quốc Gia
Năm: 2005
6. Ngô Thế Dân, Trần đình Long, Trần Văn Lài, đỗ Thị Dung, Phạm Thị đào (1999), Cây ựậu tương, Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây "ựậ"u t"ươ"ng
Tác giả: Ngô Thế Dân, Trần đình Long, Trần Văn Lài, đỗ Thị Dung, Phạm Thị đào
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1999
7. Lờ Song Dự. Kết quả chọn tạo giống ủậu ủỗ của khoa trồng trọt, Trường ðHNN I (1991 - 1993), Kết quả NCKH khoa trồng trọt 1992 - 1993.NxbNN 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: K"ế"t qu"ả" ch"ọ"n t"ạ"o gi"ố"ng "ủậ"u "ủỗ" c"ủ"a khoa tr"ồ"ng tr"ọ"t, Tr"ườ"ng "ð"HNN I (1991 - 1993)
Nhà XB: NxbNN 1994
8. Lê Hoàng ðộ, ðặng Trần Phú, Nguyễn Uyển Tâm, Nguyễn Xuân (1997). Tài liệu về cõy ủậu tương, Nhà xuấ bản KHKT Hà Nội, tr. 287 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài li"ệ"u v"ề" cõy "ủậ"u t"ươ"ng
Tác giả: Lê Hoàng ðộ, ðặng Trần Phú, Nguyễn Uyển Tâm, Nguyễn Xuân
Năm: 1997
9. Hoàng Văn ðức. Kết quả nghiờn cứu quốc tế về ủỗ tương (Hội nghị ủỗ tương Quốc tế tại ILINOA Tháng 8 - 1975) Nxb NN, 1986. (tr.7) Sách, tạp chí
Tiêu đề: K"ế"t qu"ả" nghiờn c"ứ"u qu"ố"c t"ế" v"ề ủỗ" t"ươ"ng
Nhà XB: Nxb NN
10. Bùi Tường Hạnh, ðỗ tương với phụ nữ lớn tuổi. Báo KH & ðS số 51 (1199) ra ngày 16 - 22/12-1997, Theo “The Family Doctor” T.Q. 9/1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: t"ươ"ng v"ớ"i ph"ụ" n"ữ" l"ớ"n tu"ổ"i". Báo KH & ðS số 51 (1199) ra ngày 16 - 22/12-1997, Theo “The Family Doctor
13. Hinson K. và Hartwig E.E (1990), Sản xuất ủậu tương ở vựng nhiệt ủới. FAO - Tài liệu sản xuất và bảo vệ thực vật 4 Rew/1. Nxb ðại học giáo dục chuyên nghiệp, Hà Nội, (122 trang) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sản xuất ủậu tương ở vựng nhiệt ủới
Tác giả: Hinson K., Hartwig E.E
Nhà XB: Nxb ðại học giáo dục chuyên nghiệp
Năm: 1990
14. Nguyờn Huy Hoàng (1992), Nghiờn cứu và ủỏnh giỏ khả năng chịu hạn của cỏc mẫu giống ủậu tương nhập nội ở miền Bắc Việt Nam, Túm tắt luận án PTS KHNN, Hà Nội, Tr.24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên c"ứ"u và "ủ"ỏnh giỏ kh"ả" n"ă"ng ch"ị"u h"ạ"n c"ủ"a cỏc m"ẫ"u gi"ố"ng "ủậ"u t"ươ"ng nh"ậ"p n"ộ"i "ở" mi"ề"n B"ắ"c Vi"ệ"t Nam
Tác giả: Nguyờn Huy Hoàng
Năm: 1992
15. Vũ Tuyên Hoàng, Nguyễn Tấn Hinh, Trần Thành Cuông, Nguyễn Thị ðịnh (4/1993). Chọn giống ủậu tương bằng phương phỏp lai hữu tớnh, Tạp chí KHLTNN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ch"ọ"n gi"ố"ng "ủậ"u t"ươ"ng b"ằ"ng ph"ươ"ng phỏp lai h"ữ"u tớnh
16. Vũ Thế Hựng (1981), Ảnh hưởng của ẩm ủộ ủất, hạn, ỳng ủến năng suất ủậu tương. Kết quả NCKHNN 1976 - 1978. Viện KHKTNN VN 1981, (tr.106 - 109) Sách, tạp chí
Tiêu đề: nh h"ưở"ng c"ủ"a "ẩ"m "ủộ ủấ"t, h"ạ"n, ỳng "ủế"n n"ă"ng su"ấ"t "ủậ"u t"ươ"ng
Tác giả: Vũ Thế Hựng
Năm: 1981
17. Nguyễn Tiến Mạnh (1995). Kinh tế cây có dầu, Viện kinh tế nông nghiệp, NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh t"ế" cây có d"ầ"u
Tác giả: Nguyễn Tiến Mạnh
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1995
18. Trần Văn Lài, đào Thế Tuấn, Nguyễn Thị Chinh (12/1987), Giống ựậu tương ngắn ngày AK02, Tạp chí KHKTNN, Tr.534 - 538 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gi"ố"ng "ựậ"u t"ươ"ng ng"ắ"n ngày AK02
19. Trần đình Long (1991), Tiến bộ về trồng lạc và ựậu ựỗ ở Việt Nam, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ti"ế"n b"ộ" v"ề" tr"ồ"ng l"ạ"c và "ủậ"u "ủỗ ở" Vi"ệ"t Nam
Tác giả: Trần đình Long
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1991
20. Trần đình Long (1997). Chọn giống cây trồng. Giáo trình cao học nông nghiệp, Viện KTNN Việt Nam, Nxb NN Hà Nội, (30tr.) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ch"ọ"n gi"ố"ng cây tr"ồ"ng
Tác giả: Trần đình Long
Nhà XB: Nxb NN Hà Nội
Năm: 1997
1. Báo cáo quy hoạch tổng thể phát triển Kinh tế - Xã hội tỉnh Sơn La thời kỳ 2006 - 2020 Khác
12. Nguyễn Tấn Hinh (1992), Nghiờn cứu sự khỏc biệt di truyền ủậu tương, Thông tin KHKT NN, Viện cây lương thực và thực phẩm. NXB Nông nghiệp, Tr. 64 - 67 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2. Diện tích, năng suất và sản l−ợng đậu t−ơng trên thế giới  N¨m  Diện tích - Luận văn so sánh năng suất một số giống đậu tương trong điều kiện vụ xuân hè tại thành phố sơn la và các vùng phụ cận
Bảng 2.2. Diện tích, năng suất và sản l−ợng đậu t−ơng trên thế giới N¨m Diện tích (Trang 19)
Bảng 2.3. Diện tích, năng suất và sản l−ợng đậu t−ơng   một số n−ớc trên thế giới - Luận văn so sánh năng suất một số giống đậu tương trong điều kiện vụ xuân hè tại thành phố sơn la và các vùng phụ cận
Bảng 2.3. Diện tích, năng suất và sản l−ợng đậu t−ơng một số n−ớc trên thế giới (Trang 20)
Bảng 4.2. Diện tích, năng suất, sản l−ợng đậu t−ơng   tỉnh Sơn La trong các năm gần đây - Luận văn so sánh năng suất một số giống đậu tương trong điều kiện vụ xuân hè tại thành phố sơn la và các vùng phụ cận
Bảng 4.2. Diện tích, năng suất, sản l−ợng đậu t−ơng tỉnh Sơn La trong các năm gần đây (Trang 53)
Bảng 4.4. Đặc điểm hình thái của các giống đậu t−ơng thí nghiệm - Luận văn so sánh năng suất một số giống đậu tương trong điều kiện vụ xuân hè tại thành phố sơn la và các vùng phụ cận
Bảng 4.4. Đặc điểm hình thái của các giống đậu t−ơng thí nghiệm (Trang 59)
Bảng 4.6. Thời gian từ gieo đến ra hoa của các giống đậu tương thí nghiệm  Thời gian từ gieo đến ra hoa - Luận văn so sánh năng suất một số giống đậu tương trong điều kiện vụ xuân hè tại thành phố sơn la và các vùng phụ cận
Bảng 4.6. Thời gian từ gieo đến ra hoa của các giống đậu tương thí nghiệm Thời gian từ gieo đến ra hoa (Trang 63)
Hình 4.1. Thời gian sinh tr−ởng cảc các giống đậu t−ơng thí nghiệm  Kết  quả  thí  nghiệm  cho  thấy  thời  gian  sinh  tr−ởng  của  các  giống  biến - Luận văn so sánh năng suất một số giống đậu tương trong điều kiện vụ xuân hè tại thành phố sơn la và các vùng phụ cận
Hình 4.1. Thời gian sinh tr−ởng cảc các giống đậu t−ơng thí nghiệm Kết quả thí nghiệm cho thấy thời gian sinh tr−ởng của các giống biến (Trang 66)
Bảng 4.10. Chỉ số diện tích lá của các giống đậu t−ơng thí nghiệm   (§VT: m 2  lá/m 2  đất)  Thêi kú - Luận văn so sánh năng suất một số giống đậu tương trong điều kiện vụ xuân hè tại thành phố sơn la và các vùng phụ cận
Bảng 4.10. Chỉ số diện tích lá của các giống đậu t−ơng thí nghiệm (§VT: m 2 lá/m 2 đất) Thêi kú (Trang 71)
Hình 4.2. Chỉ số diện tích lá ở 3 thời kỳ của các giống đậu t−ơng   tại điểm thí nghiệm Thành Phố Sơn La - Luận văn so sánh năng suất một số giống đậu tương trong điều kiện vụ xuân hè tại thành phố sơn la và các vùng phụ cận
Hình 4.2. Chỉ số diện tích lá ở 3 thời kỳ của các giống đậu t−ơng tại điểm thí nghiệm Thành Phố Sơn La (Trang 72)
Bảng 4.11. Khả năng tích lũy chất khô của các giống đậu t−ơng thí nghiệm  (§VT: g/c©y)  Thêi kú - Luận văn so sánh năng suất một số giống đậu tương trong điều kiện vụ xuân hè tại thành phố sơn la và các vùng phụ cận
Bảng 4.11. Khả năng tích lũy chất khô của các giống đậu t−ơng thí nghiệm (§VT: g/c©y) Thêi kú (Trang 74)
Hình 4.3. Khả năng tích luỹ chất khô của các giống đậu t−ơng qua 3 thời  kỳ tại điểm thí nghiệm Thành Phố Sơn La - Luận văn so sánh năng suất một số giống đậu tương trong điều kiện vụ xuân hè tại thành phố sơn la và các vùng phụ cận
Hình 4.3. Khả năng tích luỹ chất khô của các giống đậu t−ơng qua 3 thời kỳ tại điểm thí nghiệm Thành Phố Sơn La (Trang 75)
Bảng 4.12. Số l−ợng và khối l−ợng nốt sần của các giống đậu t−ơng   tại điểm thí nghiệm thành phố Sơn La - Luận văn so sánh năng suất một số giống đậu tương trong điều kiện vụ xuân hè tại thành phố sơn la và các vùng phụ cận
Bảng 4.12. Số l−ợng và khối l−ợng nốt sần của các giống đậu t−ơng tại điểm thí nghiệm thành phố Sơn La (Trang 77)
Bảng 4.14. Số l−ợng và khối l−ợng nốt sần của các giống đậu t−ơng    tại điểm thí nghiệm huyện Thuận Châu - Luận văn so sánh năng suất một số giống đậu tương trong điều kiện vụ xuân hè tại thành phố sơn la và các vùng phụ cận
Bảng 4.14. Số l−ợng và khối l−ợng nốt sần của các giống đậu t−ơng tại điểm thí nghiệm huyện Thuận Châu (Trang 80)
Bảng 4.15. Thời gian ra hoa và tổng số hoa trên cây của các giống đậu  t−ơng thí nghiệm - Luận văn so sánh năng suất một số giống đậu tương trong điều kiện vụ xuân hè tại thành phố sơn la và các vùng phụ cận
Bảng 4.15. Thời gian ra hoa và tổng số hoa trên cây của các giống đậu t−ơng thí nghiệm (Trang 82)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm