luận văn
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo trường đại học nông nghiệp hà nội
Trang 2Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các
số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ luận văn nào khác
Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn
đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Trần Huy Cương
Trang 3Lời cảm ơn
Trong quá trình điều tra, nghiên cứu để hoàn thành luận văn, ngoài sự
nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự hướng dẫn nhiệt tình, chu đáo của các nhà khoa học, các thầy cô giáo và sự giúp đỡ nhiệt tình, chu đáo của cơ quan,
đồng nghiệp và nhân dân địa phương
Tôi xin bày tỏ sự cảm ơn trân trọng nhất tới giáo viên hướng dẫn khoa học PGS TS Nguyễn Tất Cảnh đã tận tình hướng dẫn giúp đỡ tôi trong suốt quá trình hoàn thành luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự góp ý chân thành của các thầy, cô giáo Khoa Tài nguyên và Môi trường - Trường Đại học Nông nghiệp - Hà Nội, Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Bắc Ninh, Phòng Tài nguyên Môi trường thị xã
Từ Sơn, các phòng, ban, cán bộ và nhân dân các xã của thị xã Từ Sơn đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn tới gia đình, những người thân, cán bộ đồng nghiệp và bạn bè đã tạo điều kiện về mọi mặt cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài này
Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận văn
Trần Huy Cương
Trang 4mục lục
2.2 Những nghiên cứu về quản lý sử dụng đất bền vững trên thế giới
2.3 Chủ trương, chính sách của Nhà nước, của tỉnh về phát triển công
4.1 Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và cảnh quan môi
Trang 6danh mục từ viết tắt
CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Trang 7Bảng 4.10: Thống kê biến động đất đai thị xH Từ Sơn giai đoạn 2005 - 2008 63
Bảng 4.13: Lao động làm việc trong các ngành kinh tế của thị xH năm 2008 73
Trang 8I Đặt vấn đề
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất
đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố khu dân cư và các hoạt động kinh tế - xH hội, an ninh, quốc phòng
Việc sử dụng hợp lý đất đai để đạt được hiệu quả kinh tế - xH hội cao và
đảm bảo sự phát triển bền vững là một trong những mối quan tâm hàng đầu của Đảng và Nhà nước ta
Điều 18, Hiến pháp nước Cộng hòa xH hội chủ nghĩa Việt Nam năm
1992 khẳng định: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý theo quy hoạch và pháp luật, đảm bảo sử dụng đất đúng mục đích, có hiệu quả
Trải qua hai mươi năm tiến hành công cuộc Đổi mới, Việt Nam đH đạt
được những kết quả to lớn trong phát triển kinh tế - xH hội và bảo vệ môi trường Nền kinh tế tăng trưởng với tốc độ cao và tương đối ổn định
Kinh tế càng phát triển, quá trình công nghiệp hoá nông thôn được đẩy mạnh góp phần làm cho đời sống của người dân từng bước được cải thiện Mặt khác, dưới áp lực của sự gia tăng dân số và sự phát triển kinh tế nông thôn, nhu cầu của người dân ngày càng nâng cao Từ đó, xuất hiện nhu cầu chuyển
đổi mục đích sử dụng đất theo xu thế từ đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp
Quá trình đô thị hoá diễn ra mạnh mẽ khắp cả nước, sự phát triển các khu công nghiệp trong thời gian qua đH góp phần đẩy nhanh sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nhất là đối với các tỉnh thuần nông Tuy nhiên việc ưu tiên thu hút đầu tư để phát triển các khu công nghiệp đH tạo nên sự mất cân đối trong phát triển kinh tế xH hội nông thôn, nhất là đối với những vùng đất chật người đông như đồng bằng sông
Trang 9Hồng Một số diện tích đất phù sa màu mỡ chuyên trồng lúa đH phải chuyển sang sử dụng làm mặt bằng sản xuất công nghiệp trong khi có thể sử dụng diện tích ở những vị trí khác hợp lý hơn Người nông dân có đất bị thu hồi chưa được giúp đỡ trong việc sử dụng tiền bồi thường, hỗ trợ vào việc đầu tư phát triển sản xuất nên đời sống gặp khó khăn và không ổn định Bên cạnh đó, hoạt động của nhiều khu công nghiệp chưa chấp hành nghiêm Luật Môi trường, vi phạm các cam kết thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường Từ đó dẫn đến tài nguyên đất bị suy thoái, môi trường bị ô nhiễm, đời sống người nông dân trong vùng phát triển công nghiệp còn bấp bênh, ngay cả trong vùng nông nghiệp thì việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi cũng mang tính tự phát không theo quy hoạch Nhiều văn bản pháp luật quan trọng về quản lý,
sử dụng tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường đH không được đáp ứng kịp thời nhu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn
Tất cả những vấn đề đó đe doạ tính bền vững trong quá trình phát triển Bắc Ninh là tỉnh thuộc vùng đồng bằng Bắc Bộ, liền kề với thủ đô Hà Nội, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, khu vực có mức tăng trưởng kinh tế cao, giao lưu kinh tế mạnh Từ sau khi tái lập tỉnh, nền kinh tế có mức tăng trưởng khá, bình quân 11,2%/năm Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng ngành công nghiệp, dịch vụ; giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp Để tiếp tục thực hiện công nghiệp hoá, hiện
đại hoá nông nghiệp nông thôn theo tinh thần Nghị quyết trung ương 5 khoá
IX, Bắc Ninh cần ưu tiên cho đầu tư xây dựng khu công nghiệp tập trung, phát triển các cụm công nghiệp làng nghề truyền thống ở nông thôn, kết hợp với việc xây dựng một nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá, dịch vụ và kết cấu hạ tầng kinh tế xH hội hoàn chỉnh, giảm bớt khoảng cách giữa thành thị và nông thôn theo hướng đô thị hoá nông thôn
Cùng chung với nhịp đập của cả nước thì thị xH Từ Sơn cũng không nằm ngoài quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn
Trang 10Mặc dù đất chật người đông nhưng do vị trí địa lý thuận lợi nằm ở phía Tây tỉnh Bắc Ninh, do môi trường đầu tư thông thoáng nên nền kinh tế của thị xH những năm qua đạt mức tăng trưởng khá, bình quân 21,05%/năm Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp được chú trọng, ngành nghề truyền thống đang
được khôi phục và phát triển góp phần giải quyết lao động nông nhàn ở khu vực nông thôn Song song với đó thì đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp, rác thải ô nhiễm môi trường ngày càng gia tăng Các quá trình này đH và đang gây
áp lực mạnh mẽ đến việc quản lý và sử dụng đất bền vững của thị xH
Vì vậy, một vấn đề đặt ra là: việc nghiên cứu thực trạng quá trình chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất khi thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn để tìm được nguyên nhân và ảnh hưởng của quá trình này đH và đang tác động như thế nào tới quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn trên các mặt: kinh tế - xH hội - môi trường trên địa bàn thị xH, từ đó
đề xuất những giải pháp quản lý, sử dụng đất hợp lý đem lại hiệu quả cao và bền vững là rất cần thiết
Xuất phát từ những lý do trên, được sự hướng dẫn của PGS - TS Nguyễn Tất Cảnh, chúng tôi thực hiện đề tài Đánh giá quá trình chuyển đổi
đất nông nghiệp sang đất công nghiệp, dịch vụ của thị x Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2005-2008
1.2 Mục đích, yêu cầu của đề tài
Trang 11- Đề xuất các giải pháp quản lý sử dụng đất bền vững đáp ứng mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế xH hội của địa phương giai đoạn 2006 - 2015 1.2.2 Yêu cầu
- Đề tài nghiên cứu trên cơ sở số liệu điều tra trung thực, chính xác,
đảm bảo độ tin cậy và phản ánh đúng thực trạng sử dụng đất trên địa bàn nghiên cứu
- Việc phân tích, xử lý số liệu trên cơ sở khoa học, có định tính, định lượng bằng các phương pháp nghiên cứu thích hợp
- Đánh giá đúng thực trạng, đề xuất những giải pháp, kiến nghị trong việc sử dụng đất bền vững trên cơ sở tuân thủ Luật đất đai, Luật bảo vệ Môi trường và một số Luật có liên quan Đồng thời việc phát triển phải phù hợp với
điều kiện tự nhiên, kinh tế xH hội của địa phương nhằm đạt được hiệu quả cao nhất, đảm bảo tính ổn định, bền vững trong quá trình phát triển
Trang 122.Tổng quan các vấn đề nghiên cứu
2.1 Lý luận về phát triển bền vững và sử dụng đất bền vững
2.1.1 Cơ sở lý luận về phát triển bền vững
2.1.1.1 Khái niệm phát triển bền vững
Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm đáp ứng những yêu cầu của hiện tại, nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai đảm bảo sự phát triển hài hoà cả về 3 mặt: kinh tế, xH hội, môi trường
Mục tiêu tổng quát của phát triển bền vững là đạt được sự đầy đủ về vật chất, sự giàu có về tinh thần và văn hoá, sự bình đẳng của các công dân và sự
đồng thuận của xH hội, sự hài hoà giữa con người và tự nhiên, phát triển phải kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hoà được ba mặt là phát triển kinh tế, phát triển
xH hội và bảo vệ môi trường [12]
2.1.1.2 Những lý luận cơ bản về phát triển bền vững
+ Bền vững về kinh tế
Phát triển bền vững về kinh tế là việc đảm bảo kết hợp hài hoà giữa mục tiêu tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hoá xH hội, cân đối tốc độ tăng trưởng kinh tế với việc sử dụng các điều kiện nguồn lực, tài nguyên thiên nhiên, khoa học, công nghệ đặc biệt chú trọng phát triển công nghệ sạch
Mục tiêu phát triển bền vững về kinh tế là đạt được sự tăng trưởng ổn
định với cơ cấu kinh tế hợp lý, đáp ứng được yêu cầu nâng cao đời sống của nhân dân, tránh được sự suy thoái hoặc đình trệ trong tương lai, tránh để lại gánh nợ nần lớn cho các thế hệ mai sau
+ Phát triển bền vững về xã hội
Phát triển bền vững về xH hội là việc phải xây dựng một xH hội có nền kinh tế tăng trưởng nhanh, ổn định, đi đôi với dân chủ công bằng và tiến bộ xH hội, trong đó, giáo dục, đào tạo, y tế và phúc lợi xH hội phải được chăm lo đầy
Trang 13đủ và toàn diện cho mọi đối tượng trong xH hội Mục tiêu phát triển bền vững
về xH hội là nâng cao chất lượng cuộc sống, mọi người đều có cơ hội được học hành và có việc làm, giảm tình trạng đói nghèo và hạn chế khoảng cách giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư, giảm các tệ nạn xH hội
+ Phát triển bền vững về môi trường
Phát triển bền vững về môi trường là việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên tái tạo trong phạm vi chịu tải của chúng nhằm khôi phục được cả về số lượng và chất lượng, các dạng tài nguyên không tái tạo phải được sử dụng tiết kiệm và hợp lý nhất Môi trường tự nhiên (không khí, đất, nước, cảnh quan thiên nhiên ) và môi trường xH hội (dân số, chất lượng dân số, sức khỏe, môi trường sống, lao động và học tập của con người ) không bị các hoạt động của con người làm ô nhiễm, suy thoái và tổn hại Các nguồn phế thải từ sản xuất
và sinh hoạt được xử lý, tái chế kịp thời, vệ sinh môi trường được bảo đảm, con người được sống trong môi trường sạch
Mục tiêu của phát triển bền vững về môi trường là khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, phòng ngừa, ngăn chặn
xử lý và kiểm soát có hiệu quả ô nhiễm môi trường, bảo vệ tốt môi trường sống, bảo vệ được các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, khu dự trữ sinh quyển và bảo tồn sự đa dạng sinh học, khắc phục suy thoái và cải thiện chất lượng môi trường [12]
2.1.2 Lý luận về sử dụng đất bền vững
2.1.2.1 Những lợi ích khác nhau về sử dụng đất
Những người trực tiếp sử dụng đất và những người có liên quan đến việc sử dụng đất có những lợi ích khác nhau về việc sử dụng đất Đất là nguồn tài nguyên được sử dụng để thoả mHn nhu cầu cho những người có mối quan
hệ gắn bó với đất Có những vấn đề ưu tiên trước mắt và có những vấn đề lâu dài, tuỳ thuộc vào mục tiêu của từng người sử dụng đất, từ đó họ có những quyết định sử dụng đất theo hướng mục tiêu của mình
Trang 14Vấn đề ưu tiên trước mắt của người nông dân là sản xuất lương thực và thu nhập Do đó các quyết định sử dụng đất của người nông dân với những mục tiêu cho thời gian gần, còn các lợi ích về lâu dài thường ít được chú trọng
và quan tâm
Một cộng đồng lớn hơn - như ở cấp quốc gia - cũng là một đối tượng sử dụng đất theo cách nhìn nhận đất đai được dùng cho: đô thị, điều kiện cơ sở vật chất, công nghiệp, giải trí ở phạm vi này, các mục tiêu cơ bản là nâng cao mức sống và đáp ứng mọi nhu cầu của người dân Các mục tiêu của quốc gia có xu hướng lâu dài, bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên cho tương lai Vì vậy, thường tồn tại một sự phân biệt cơ bản về lợi ích giữa các mục tiêu của người sử dụng đất thực tế và của cộng đồng nơi họ sinh sống Cộng đồng - dù
là địa phương, tỉnh hoặc quốc gia - sẽ thường xuyên cố gắng gây ảnh hưởng lên cách thức sử dụng đất hoặc là bằng việc mở rộng các chương trình, trợ cấp hoặc là bằng pháp luật
Vậy trong sử dụng đất đai phải tính đến lợi ích đa dạng của mọi tổ chức, cá nhân từ lợi ích của người sử dụng đất trực tiếp, lợi ích của khu vực, lợi ích địa phương và lợi ích quốc gia
Ngoài ra, việc sử dụng đất của người dân và quốc gia này cũng ảnh hưởng tới các nước lân cận và các nước khác trên toàn thế giới Đó là tình hình
ô nhiễm hoặc những tác động có hại gây ảnh hưởng từ nước này sang nước khác, hoặc là nơi mà các hoạt động của một nước hoặc một nhóm các nước trong khu vực gây ảnh hưởng đến các hệ thống toàn cầu làm tổn hại tới tất cả chúng ta.[22]
2.1.2.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng đất
+ Nhân tố tự nhiên
Con người sử dụng đất đai thường bao gồm 2 mặt sau: một là trực tiếp sử dụng đất cho các yêu cầu sinh hoạt tiêu dùng, hai là dùng làm tư liệu sản xuất
Trang 15- Điều kiện khí hậu: Đất đai, ngoài không gian bề mặt như đất trồng trọt, đất xây dựng, còn gồm những yếu tố bao quanh mặt đất như ánh sáng, nhiệt độ, không khí và các khoáng sản dưới lòng đất Đất đai vốn là một trạng thái vật chất của tự nhiên Do vậy, khi sử dụng đất phải tính đến việc thích ứng với điều kiện tự nhiên và quy luật sinh thái tự nhiên
- Điều kiện đất: Chủ yếu là điều kiện địa lý và thổ nhưỡng Sự sai khác giữa đá mẹ, địa hình, địa mạo, độ cao so với mặt nước biển, độ dốc và hướng dốc, sự bào mòn mặt đất và mức độ xói mòn dẫn tới sự khác nhau về đất đai
và khí hậu, từ đó ảnh hưởng đến sản xuất và phân bố ngành nông, lâm nghiệp, hình thành sự phân dị địa hình theo chiều thẳng đứng của nông nghiệp Địa hình và độ dốc ảnh hưởng đến phương hướng sử dụng đất và xây dựng đồng ruộng để thuỷ lợi hoá và canh tác bằng máy móc, cũng ảnh hưởng đến sử dụng đất nông nghiệp.[16]
Đặc điểm của nhân tố điều kiện tự nhiên nói trên là có tính khu vực Do
vị trí địa lý của vùng quyết định sự sai khác về tình trạng nguồn nước, nhiệt
độ, ánh sáng và các điều kiện tự nhiên khác của đất đai, ở một mức độ tương
đối lớn, chúng quyết định khả năng sử dụng của đất đai Vị trí của đất đai và mức độ thuận lợi, khó khăn, quyết định công dụng tối ưu và hiệu quả sử dụng
đất đai Do vậy, trong quá trình thực tiễn nên sử dụng theo quy luật tự nhiên, phục tùng điều kiện tự nhiên, lợi dụng thế mạnh, tận dụng mặt có lợi để có thể
đạt tới sử dụng đất với hiệu quả cao về kinh tế, xH hội và môi trường [22]
Trang 16Nhân tố kinh tế - xH hội thường có tác dụng quyết định đối với sử dụng
đất đai Việc xác định phương hướng sử dụng đất được quyết định bởi yêu cầu của xH hội và một mục tiêu kinh tế nhất định Trong một vùng hoặc trong một nước thì điều kiện vật chất tự nhiên của đất đai là cố định, nhưng
do điều kiện kinh tế xH hội khác nhau, nên việc khai thác và sử dụng đất đai cũng khác nhau
Chế độ sở hữu tư liệu sản xuất và chế độ kinh tế - xH hội khác nhau, cũng có tác dụng khống chế và quản lý đối với sử dụng đất đai khác nhau, phương thức và hiệu quả sử dụng đất cũng không giống nhau Trình độ phát triển xH hội và kinh tế cũng làm cho trình độ sử dụng đất đai phát triển ngày càng cao
Cần phải xuất phát từ hiệu quả sử dụng đất để xem xét về ảnh hưởng của điều kiện kinh tế đến sử dụng đất Trạng thái sử dụng đất có liên quan tới lợi ích kinh tế của người sở hữu và kinh doanh đất Chỉ đơn thuần nghĩ đến lợi nhuận trước mắt thì đôi khi sẽ làm cho đất đai bị sử dụng không hợp lý, thậm chí đi ngược lại lợi ích xH hội
Những nhân tố về điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế - xH hội kết hợp gây ảnh hưởng tổng hợp đến việc sử dụng đất đai Do đó, cần phải dựa vào quy luật tự nhiên và quy luật kinh tế xH hội, nhằm vào các nhân tố xH hội
và nhân tố tự nhiên của việc sử dụng đất để nghiên cứu và xử lý mối quan hệ giữa các nhân tố này Căn cứ vào yêu cầu của thị trường và của xH hội, xác
định mục đích sử dụng đất, kết hợp chặt chẽ yêu cầu của sử dụng với ưu thế tài nguyên của đất đai, để đạt tới cơ cấu tổng thể cao nhất, làm cho số đất hữu hạn này cho hiệu quả kinh tế - xH hội ngày càng cao và sử dụng được bền vững [13]
+ Nhân tố không gian
Đất là nơi sản xuất của các ngành nông nghiệp, công nghiệp, khai khoáng để sản xuất ra sản phẩm Đối với ngành phi sản xuất như đất xây dựng, nó cung cấp không gian mà không sản xuất ra sản phẩm cụ thể Trên
Trang 17thực tế, dù cho đất được dùng cho sản xuất hoặc phi sản xuất, nó đều cung cấp khả năng phục vụ về không gian Không gian, bao gồm cả vị trí và mặt bằng,
đều là những nhu cầu không thể thiếu đối với ngành sản xuất vật chất và phi sản xuất, mọi hoạt động kinh tế và hoạt động xH hội đều cần đến Chính vì vậy, không gian cũng là một trong những nhân tố hạn chế đến sử dụng đất
Nhân tố không gian của đất đai có đặc tính là không thể thay thế và cũng không thể dịch chuyển được Từ đó, việc phân bổ sử dụng đất của con người không thể vượt qua phạm vi giới hạn không gian hiện có Điều này nói lên rằng, theo đà phát triển của dân số và kinh tế - xH hội tác dụng hạn chế của không gian đất đai sẽ thường xuyên xảy ra
Sự cố định bất biến của tổng diện tích đất đai, không chỉ hạn chế sự mở rộng không gian sử dụng đất, mà còn qui định giới hạn thay đổi của cơ cấu dùng đất Do vậy, trong khi tiến hành điều chỉnh cơ cấu sử dụng đất, cần phải chú ý tới yêu cầu của xH hội đối với loại đất và số lượng đất đai mà sản xuất cần, đồng thời xác định sức sản xuất và diện tích cần có để đảm bảo sức tải của đất đai [16]
2.1.2.3 Xu thế phát triển sử dụng đất
+ Sử dụng đất phát triển theo chiều rộng và tập trung
Qúa trình phát triển xH hội, cũng là quá trình diễn biến sử dụng đất Khi con người còn sống trong phương thức săn bắn và hái lượm, họ chỉ có thể dựa vào sự ban hưởng của tự nhiên, sự thích ứng với tự nhiên để tồn tại, không tồn tại ý thức về sử dụng đất Cho đến thời kỳ du mục, con người sống trong những túp lều lợp bằng cỏ, những vùng đất có nước và có cỏ bắt đầu được sử dụng Đến sau khi xuất hiện ngành trồng trọt, nhất là sau khi đH xuất hiện những công cụ sản xuất thô sơ, năng lực sử dụng đất được tăng cường, diện tích đất đai được sử dụng tăng lên nhanh chóng, ý nghĩa kinh tế của đất đai cũng gia tăng Nhưng trình độ sử dụng đất lúc đó còn rất thấp, phạm vi sử dụng cũng rất hạn chế, vẫn thuộc trạng thái kinh doanh thô, đất khai phá nhiều nhưng thu thập rất thấp Theo mức tăng trưởng của dân số và sự phát triển của
Trang 18kinh tế, văn hoá và khoa học, kỹ thuật, quy mô, phạm vi và chiều sâu của việc
sử dụng đất ngày một nâng cao Yêu cầu sinh hoạt vật chất và tinh thần của người dân cũng ngày càng cao, sự phát triển của các ngành nghề cũng theo xu hướng ngày càng phức tạp và đa dạng, phạm vi sử dụng đất ngày càng gia tăng, từ một vùng có tính cục bộ phát triển ra nhiều vùng kể cả những vùng
đất mà trước kia chưa có khả năng khai thác sử dụng Không chỉ phát triển theo không gian, mà trình độ tập trung cao hơn nhiều Cho dù là đất canh tác hoặc đất phi canh tác cũng đều phát triển theo hướng kinh doanh tập trung, đất
ít, hiệu quả cao [22]
Tuy nhiên, quá độ từ kinh doanh quảng canh sang kinh doanh thâm canh cao trong sử dụng đất là một tiến trình lịch sử lâu dài, muốn nâng cao sức sản xuất và sức tải của một đơn vị diện tích, nhất thiết phải không ngừng nâng mức đầu tư về lao động, vốn liếng, thường xuyên cải tiến kỹ thuật và quản lý ở những khu vực khác nhau của một vùng hoặc một quốc gia muốn thực hiện đường lối cơ bản này cũng không thể sử dụng cùng một phương thức trong cùng một thời gian Bởi vì tình hình của mỗi quốc gia một khác, trình độ phát triển kinh tế kỹ thuật không giống nhau, ngay trong cùng một quốc gia
mà những vùng khác nhau, các điều kiện cũng rất khác nhau [7]
+ Cơ cấu sử dụng đất phát triển theo hướng đa dạng hoá và chuyên môn hoá
Theo đà phát triển khoa học kỹ thuật và kinh tế của xH hội, cơ cấu sử dụng đất cũng chuyển dần sang xu thế phức tạp hoá và chuyên môn hoá, yêu cầu của con người về vật chất, văn hoá, tinh thần và môi trường ngày một cao, chúng sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp có yêu cầu cao hơn đối với đất đai Khi con người có mức sống còn thấp, đang còn đấu tranh với cuộc sống, thì việc sử dụng đất thường mới tập trung vào nông nghiệp, nhất là vấn đề ăn, mặc, ở, nhưng khi cuộc sống đH nâng cao, bước vào giai đoạn hưởng thụ, trong sử dụng đất còn nghĩ tới nhu cầu vui chơi văn hóa, thể thao và môi trường [22]
Trang 19+ Sử dụng đất đai theo hướng xã hội hoá và công hữu hoá
Sự phát triển của khoa học, kỹ thuật và xH hội dẫn tới việc xH hội hoá sản xuất, một vùng đất thực hiện sản xuất tập trung một loại sản phẩm là tiền
đề cho nơi khác sản xuất tập trung sản phẩm khác Sự hỗ trợ bổ sung lẫn nhau hình thành sự phân công hợp tác, sự xH hội hoá sản xuất này cũng là xH hội hoá trong sử dụng đất
Đồng thời do đất đai là cơ sở vật chất và công cụ để con người sinh sống và xH hội tồn tại, trên cơ sở chuyên môn hoá của yêu cầu xH hội hoá sản xuất, cần cố gắng thích ứng nhu cầu của xH hội, để thúc đẩy phúc lợi công cộng và tiến bộ xH hội, cho dù ở xH hội mà mục tiêu sử dụng đất chủ yếu vì lợi ích của tư nhân thì những vùng đất đai hướng dụng công cộng như : nguồn nước, núi rừng, khoáng sản, sông ngòi, mặt hồ, biển cả, cầu cảng, hải cảng, danh lam thắng cảnh, khu bảo tồn động thực vật quý hiếm đại bộ phận đều
do Nhà nước quy định chính sách thực thi hoặc tiến hành công quản, kinh doanh để phòng ngừa việc tư hữu sẽ tạo nên mâu thuẫn xH hội
XH hội hoá sử dụng đất là sản phẩm tất yếu của sự phát triển xH hội hoá sản xuất, nó được quyết định bởi yêu cầu khách quan của xH hội hoá sản xuất, cho nên xH hội hoá sử dụng đất và công hữu hoá là xu thế tất yếu Muốn kinh
tế phát triển, thúc đẩy cao hơn nữa xH hội hóa sản xuất, về cơ bản phải thực hiện xH hội hoá và công hữu hoá sử dụng đất [22]
2.1.2.4 Sử dụng đất đai bền vững với các mục tiêu kinh tế, x> hội và môi trường
Sử dụng đất đai bao giờ cũng gắn với mục tiêu kinh tế, những mục tiêu kinh tế trong sử dụng đất đai giữa chủ sử dụng thực tế và cộng đồng lớn hơn, có lúc trùng với nhau và có lúc không trùng nhau
Các hộ nông dân trong việc sử dụng đất đai của mình luôn đặt ra mục tiêu làm ra sản phẩm để bán hoặc tự tiêu dùng Nếu thấy việc đó không có lợi
họ có thể thay đổi cây trồng để sản xuất có hiệu quả hơn hoặc nếu việc canh
Trang 20tác không có lợi họ có thể bán phần đất của họ cho người nông dân khác, những người mà sản xuất nông nghiệp đem lại lợi nhuận cao hơn hoặc họ cũng có thể thay đổi mục đích sử dụng đất của mình, kể cả việc bán đất sét cho nhà máy gạch, bán cát dưới dạng vật liệu xây dựng hoặc sử dụng đất làm khu vui chơi giải trí cho khách du lịch
Trong khi đó cộng đồng (xH, huyện, tỉnh, cả nước) luôn có những mối quan tâm kinh tế lâu dài trong sử dụng đất đai Trước hết, đó là đảm bảo các mục tiêu kinh tế lâu dài và cần thiết cho cả cộng đồng, đó là vấn đề an toàn lương thực, có đất để mở rộng đô thị, xây dựng cơ sở hạ tầng, xây dựng các khu công nghiệp, bảo vệ môi trường và các khu vui chơi, giải trí
Như vậy, các mối quan tâm kinh tế nhất thời của người sử dụng đất cụ thể mâu thuẫn với mối quan tâm lâu dài của cả cộng đồng [22]
+ Sử dụng đất đai bền vững với mục tiêu xã hội
Sử dụng đất đai trước tiên là liên quan tới những người sống trên mảnh
đất đó, họ có những nhu cầu thiết yếu của mình và đó là mục tiêu xH hội rõ rệt của bất cứ một Nhà nước nào, nhằm tạo ra hay duy trì các điều kiện mà nó có tác dụng giúp thoả mHn những nhu cầu thiết yếu này Việc tạo ra công ăn việc làm trong quá trình phát triển bền vững là một phương pháp hữu hiệu, nhằm cùng một lúc đạt được 3 mục tiêu là kinh tế, xH hội và môi trường [22] Những nhu cầu thiết yếu này bao gồm các cơ sở vật chất công cộng hoặc các phương tiện phục vụ cho sức khoẻ, giáo dục, định cư, thu nhập Ngoài ra, còn tạo ra một ý thức về công bằng xH hội và kiểm soát chính tương lai của họ
Một mục tiêu xH hội nữa cần phải kể đến là mâu thuẫn giữa các thế hệ
về việc sử dụng đất đai Đó là việc sử dụng đất đai của thế hệ hiện tại không nghĩ đến lợi ích của các thế hệ con cháu mai sau
Tóm lại, mục tiêu xH hội luôn thay đổi và biến động theo từng thời kỳ,
điều đó dẫn đến sự chuyển đổi mục đích sử dụng đất để đáp ứng các nhu cầu mới của xH hội về nông sản, thực phẩm và các dịch vụ xH hội khác [22]
Trang 21+ Sử dụng đất đai bền vững với mục tiêu môi trường
Đối với bất kỳ vùng nào, một quốc gia nào trong sử dụng đất đai gắn với mục tiêu môi trường thì điều quan trọng là phải phân biệt được mục tiêu chung và mục tiêu riêng Chính phủ các nước đều đưa ra các tiêu chuẩn và mục tiêu về môi trường Các tiêu chuẩn và mục tiêu này thường được thành lập dựa trên thuật ngữ hoá học, vì nó liên quan đến sức khoẻ và thế hệ mai sau Việc nhìn nhận "môi trường" không chỉ có nghĩa là một hệ thống các tiêu chuẩn về hoá học, đất nước phong cảnh thiên nhiên là các tài sản có giá trị Vì thế, những vấn đề về môi trường chỉ có thể giải quyết một cách có hiệu quả nếu nó được thực hiện kết hợp với các mục tiêu kinh tế - xH hội
Hơn nữa, mục tiêu môi trường ngoài những quan tâm chung mang tính toàn cầu, thì mỗi quốc gia tuỳ thuộc vào đặc điểm, hoàn cảnh của mình có những quan tâm riêng, song quan trọng hơn đó là lũ lụt, hạn hán, động đất, sóng thần [22]
Việc đánh giá và đề xuất sử dụng đất đai theo quan điểm sinh thái bền vững [4] Những đánh giá tổng quát về môi trường và hiện tượng suy thoái đất
có liên quan tới các điều kiện tự nhiên và quá trình sử dụng đất [8] Những nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề ô nhiễm môi trường đất Việt Nam đH phản
ánh được nhiều vấn đề về môi trường, nhằm đưa ra các giải pháp chiến lược, cũng như các giải pháp khắc phục cho sử dụng đất trên quan điểm sinh thái lâu bền [13]
2.2 Những nghiên cứu về quản lý sử dụng đất bền vững trên thế giới và Việt Nam
2.2.1 Những nghiên cứu về sử dụng đất bền vững một số nước trên thế giới
Để duy trì được khả năng bền vững đối với đất đai Smyth A.J và J.Dumanski (1993) [29] đH xác định 5 nguyên tắc có liên quan đến sử dụng
đất bền vững đó là:
- Duy trì, nâng cao các hoạt động sản xuất
- Giảm mức độ rủi ro đối với sản xuất
Trang 22- Bảo vệ tiềm năng của các nguồn tài nguyên tự nhiên, chống lại sự thoái hoá chất lượng đất và nước
- Khả thi về mặt kinh tế
- Được sự chấp nhận của xH hội
Năm nguyên tắc trên đây được coi như những trụ cột của việc sử dụng
đất bền vững Nếu trong thực tế đạt được cả 5 mục tiêu trên thì khả năng bền vững sẽ thành công, còn nếu chỉ đạt được một vài mục tiêu chứ không phải tất cả thì khả năng bền vững chỉ thành công được ở từng bộ phận
2.2.1.1 Trung Quốc
Trung Quốc đH có 30 năm xây dựng chủ nghĩa xH hội theo lý luận kinh
tế “chủ nghĩa xH hội hiện thực”, chính sách cải cách thành công của Trung Quốc đH đem lại những thành tựu to lớn, trong 20 năm cải cách kinh tế, mức tăng trưởng GDP của Trung Quốc đạt 9,7%/năm được xếp vào nước có mức tăng trưởng nhanh nhất thế giới, khoảng 200 triệu người dân đH được đưa lên khỏi mức đói nghèo, năm 1998, Trung Quốc đứng đầu thế giới về sản lượng nông sản, thu nhập của nông dân Trung Quốc đH tăng lên 16 lần Nông nghiệp Trung Quốc đH làm nên kỳ tích góp phần quan trọng đáp ứng nhu cầu ăn, mặc cho 1,3 tỷ dân có mức sống ngày càng tăng, tạo cơ sở căn bản cho quá trình công nghiệp hoá
Bên cạnh những thành công to lớn về kinh tế, xH hội của công cuộc đổi mới, quá trình phát triển kinh tế của Trung Quốc đH và đang chứa đựng nhiều nguy cơ và thách thức lớn Trong đó, chính sách sử dụng đất nông nghiệp, chính sách đô thị hoá và công nghiệp hoá đ> có những tác động không nhỏ
đến kinh tế, x> hội Trung Quốc
Quá trình chuyển dịch đất nông nghiệp sang các loại đất khác (chủ yếu
là đất công nghiệp và đất ở) của Trung Quốc tăng đH làm cho diện tích đất canh tác ngày càng giảm, diện tích canh tác bình quân đầu người của Trung Quốc chỉ bằng 1/3 mức trung bình trên thế giới Cạnh tranh giữa sản xuất nông nghiệp và sản xuất công nghiệp, phát triển đô thị ngày càng nhanh về tài
Trang 23nguyên tự nhiên làm cho giá thành sản xuất nông nghiệp ngày càng tăng nhanh, theo Z.Tang [19] tốc độ tăng thu nhập của nông thôn giảm dần (từ 3,09% năm 1980 xuống 2,47 % năm 1997), ngày càng tụt hậu so với mức tăng ngày càng nhanh của thu nhập cư dân thành phố Khoảng cách chênh lệch về thu nhập giữa nông thôn và thành thị ngày càng xa nhau năm 1978 cư dân thành phố chiếm 18% dân số cả nước và có thu nhập chiếm 34% tổng thu nhập cả nước, năm 1996 tỷ lệ dân số thành phố tăng lên 28% nhưng chiếm tới 50% tổng thu nhập cả nước” Thu nhập bình quân đầu người ở 10 thành phố lớn của Trung Quốc từ năm 1997 đến 1999 tăng từ 2.490 USD lên 2670 USD/năm, trong khi thu nhập bình quân đầu người ở nông thôn cùng giai đoạn giảm từ 966 xuống 870 USD/năm
Đối với đất nông nghiệp, Luật đất đai hiện nay của Trung Quốc (Điều 31) [28] quy định “Nhà nước bảo hộ đất canh tác, khống chế nghiêm ngặt chuyển đất canh tác thành phi canh tác”
Mỗi một giai đoạn thăng trầm của lịch sử kinh tế, chính trị, xH hội Trung Quốc đều ẩn chứa sự thành bại bởi tác động của một cơ chế, chính sách
về nông nghiệp nói chung và sử dụng đất nông nghiệp nói riêng Song, những hậu quả tác động của quá trình chuyển dịch đất nông nghiệp sang đất công nghiệp và đất ở đến đời sống xH hội Trung Quốc là rất lớn Chính sách “… khống chế nghiêm ngặt chuyển đất canh tác thành phi canh tác” tại Trung Quốc ra đời chậm hơn một số nước trong khu vực; song đH thu được nhiều thắng lợi trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước
2.2.1.2 Nhật Bản
Nhật Bản là một nước tiến hành cải cách kinh tế sớm nhất ở Châu á, quá độ từ nền kinh tế phong kiến tiểu nông lên công nghiệp hoá Trải qua một thế kỷ phát triển, Nhật đH trở thành một quốc gia công nghiệp hiện đại nhưng
đơn vị sản xuất nông nghiệp chính vẫn là các hộ gia đình nhỏ, mang đậm tính chất của nền văn hoá lúa nước, đặc điểm này rất giống với Việt Nam
Trang 24Trước công cuộc duy tân, như mọi nước châu á, nền kinh tế Nhật là nền nông nghiệp sản xuất nhỏ, tiểu nông phong kiến, năng suất thấp, địa tô cao Như Việt Nam, Nhật luôn luôn, bị giới hạn bởi tài nguyên đất đai ngày càng ít và dân số ngày càng tăng Tuy nhiên, muốn tạo đà công nghiệp hóa, nhất thiết phải tăng năng suất nông nghiệp, trong hoàn cảnh đất chật người
đông, cách duy nhất là thâm canh tăng năng suất (trên đơn vị diện tích và trên
đơn vị lao động)
Khoa học kỹ thuật nông nghiệp được Nhật Bản coi là biện pháp hàng
đầu ngay từ thế kỷ XIX, Nhật chú trọng phát triển các công nghệ thu hút lao
động và tiết kiệm đất như: kỹ thuật tưới nước, dùng phân bón và lai tạo giống tạo nên năng suất cây trồng cao Chính sách khuyến khích phát triển sản xuất
được ban hành cũng tạo ra động lực thúc đẩy nông dân áp dụng khoa học công nghệ tăng năng suất cây trồng Đất đai được chia cho mọi nông dân tạo nên tầng lớp nông dân sở hữu nhỏ ruộng đất
Do chính sách phi tập trung hoá công nghiệp, đưa sản xuất công nghiệp
về nông thôn làm cho cơ cấu kinh tế nông thôn thay đổi, tỷ lệ đóng góp của các ngành phi nông nghiệp trong thu nhập cư dân nông thôn ngày càng tăng (năm 1950 là 29%, năm 1990 là 85%) Năm 1990 phần thu nhập từ phi nông nghiệp cao hơn 5,6 lần phần thu từ nông nghiệp Ngược lại, công nghiệp lại tạo nên nhu cầu cao và thị trường ổn định cho nông nghiệp, thu nhập của người dân Nhật tăng nhanh trong quá trình công nghiệp hoá Công nghiệp phát triển tạo nên kết cấu hạ tầng (giao thông, thông tin, đào tạo, nghiên cứu ) hoàn chỉnh, thúc đẩy nông nghiệp tăng trưởng, tạo nên năng suất đất
đai cao
Về sự gắn kết giữa nông nghiệp, công nghiệp, nông thôn và thành thị của Nhật Bản, Đặng Kim Sơn cho rằng “Một trong những bài học quan trọng nhất trong “sự thần kỳ Nhật Bản” là sự liên kết hài hoà giữa nông nghiệp, nông thôn với công nghiệp và đô thị trong qúa trình công nghiệp hoá”.[19]
Trang 25Sau Đại chiến thế giới lần thứ hai, kinh tế Nhật Bản bị suy thoái nghiêm trọng, hơn 3 triệu người chết đói, kết cấu hạ tầng bị huỷ hoại, tài chính bị thiếu hụt, lạm phát phi mH ; Nhật Bản đH tiến hành một loạt các cải cách kinh tế, trong đó có cải cách ruộng đất, hình thành thị trường đất
đai Nhật Bản đH thực hiện nhiều chính sách kích thích (kích cầu) nền kinh tế phát triển, trong đó, chính sách kích cầu cơ bản nhất là tăng thu nhập và lương cho người tiêu dùng nông thôn Đây là chiến lược phát triển nông nghiệp áp dụng rất thành công, biến nông thôn thành thị trường to lớn cho hàng hoá công nghiệp
Cuối những năm của thập kỷ 1960, mức phát triển nhanh của công nghiệp hoá của Nhật đH thu hút hết lao động dư thừa ở nông thôn Tuy nhiên, công nghiệp nặng làm tăng chi phí chống ô nhiễm môi trường, mặt khác, lệ thuộc nước ngoài về năng lượng, nguyên liệu thì phát triển công nghiệp nặng
và hoá chất sẽ không bền vững; Nhật Bản đH chuyển hướng sang phát triển công nghiệp quy mô nhỏ, thu hút nhiều chất xám, sử dụng nhiều vốn
Tỷ trọng của nông nghiệp trong GDP dần dần “nhường chỗ” cho công nghiệp và dịch vụ phát triển; từ đó kết cấu kinh tế Nhật Bản đH chuyển dịch nhanh và vững chắc sang công nghiệp
Với chính sách tiết kiệm đất triệt để, chính sách bảo hộ sản xuất nông nghiệp đồng nghĩa với sự hạn chế tối đa chuyển dịch đất nông nghiệp sang đất công nghiệp và đất ở, các cơ chế chính sách uyển chuyển phù hợp với từng giai đoạn phát triển của kinh tế - xH hội, nông nghiệp Nhật Bản đH tác động một cách tích cực đến sự phát triển kinh tế - xH hội của Nhật Bản
2.2.1.3 Đài Loan
Quá trình phát triển xH hội trước đây cũng giống với giai đoạn phát triển hiện nay của Việt Nam, tức là nền nông nghiệp là chính Vào cuối thế kỷ XIX, cải cách ruộng đất ở Đài Loan được tiến hành Quyền sử dụng đất chuyển từ địa chủ thu tô sang chủ đất thực sự quản lý đất đai Nông nghiệp cùng với sự phát triển của kỹ thuật đH phát triển theo hướng thâm canh,
Trang 26chuyên sâu và nông nghiệp thực sự là nền tảng vững chắc cho sự phát triển kinh tế ổn định và mạnh mẽ ở Đài Loan
Đài Loan đH tiến hành cuộc “cải cách ruộng đất lần thứ hai” vào năm
1981 Với mục tiêu mở rộng quy mô nông trại, các chính sách: hợp tác sản xuất, hợp đồng khoán được áp dụng song song với việc áp dụng các kỹ thuật mới như cơ khí hoá, tự động hoá, các ngành sản xuất “không sạch” như chăn nuôi, trồng trọt được thay thế bằng sản phẩm sạch, chất lượng cao, không dùng hoá chất Cũng trong quá trình công nghiệp hoá này, giá đất, giá lao
động tăng nhanh làm cho sản xuất lúa bị chững lại và giảm sút hẳn Lúa dần
được thay thế bằng các cây trồng có giá trị kinh tế cao hơn và tới thập kỷ
1990, việc ưu tiên phát triển môi trường đH trở thành mục tiêu quan trọng của ngành nông nghiệp Đài Loan
Trong giai đoạn đầu công nghiệp hoá, công nghiệp phát triển chậm,
Đài Loan thực hiện khẩu hiệu “ly nông bất ly hương” như Trung Quốc hiện nay, sản xuất nông nghiệp và ngành nghề nông thôn đH thu hút hầu hết lao
động tăng thêm hàng năm Tỷ lệ thất nghiệp giảm từ 6,5% năm 1952 xuống còn thấp hơn 3% và giữ ở mức này cho đến nay Từ năm 1952 - 1964, mỗi năm chỉ có khoảng 0,3 - 2,3 tổng số lao động nông thôn chuyển ra thành phố vừa đủ với khả năng tạo việc làm của công nghiệp Khi tốc độ công nghiệp hoá chậm lại (sau năm 1971), kinh tế nông thôn có vai trò điều tiết, giữ lao
động tăng thêm hàng năm ở lại nông thôn Khi kinh tế tăng trưởng trở lại (cuối thập kỷ 1980) lại thu hút lao động ra thành phố Nguyên nhân tạo nên sự
điều tiết về lao động nói trên của Đài Loan không chỉ do chính sách về nông nghiệp và công nghiệp mà còn do chính sách đầu tư phát triển hệ thống giáo dục phổ cập (đào tạo nguồn nhân lực) nên chất lượng tay nghề lao động nông thôn luôn đáp ứng được nhu cầu công nghiệp hoá, chính sách lương kích thích người lao động đầu tư nâng cao trình độ và chủ trương phát triển nông nghiệp giai đoạn đầu, phát triển công nghiệp giai đoạn sau hướng về xuất khẩu, thu hút lao động, tăng thu nhập cho lao động
Trang 27Trong suốt 30 năm công nghiệp hoá (bắt đầu từ năm 1949) Đài Loan tập trung phát triển cơ sở hạ tầng (hệ thống: giao thông đường bộ, đường sắt, thuỷ lợi, thông tin liên lạc, mạng lưới điện ) và hoàn thành vào cuối thập kỷ
1980 Chính phủ nắm 100% vốn kinh doanh sản xuất điện, thực hiện điện khí hoá toàn quốc Hệ thống cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh, cho phép phân bổ sản xuất công nghiệp trên toàn lHnh thổ Nhờ đó, phân tán mạnh công nghiệp về nông thôn Một số lớn nhà máy liên doanh với nước ngoài được đầu tư để tận dụng nguồn nhân công rẻ Đây là những yếu tố quyết định tạo nhiều việc làm ở nông thôn
Giữa Đài Loan và Trung Quốc về lịch sử chung một cội nguồn; song, với chính sách sử dụng đất đai khác nhau, các tác động của các chính sách này
đH mang lại hiệu quả hoàn toàn khác nhau Sự chuyển dịch đất nông nghiệp sang đất công nghiệp đH được định hướng về nông thôn đH mang lại hiệu quả vô cùng to lớn ngay trong cả ngắn hạn dài hạn cho nền kinh tế đất nước
Thực tế trên đH cho thấy: chính sách phát triển nông nghiệp (trong đó
có sử dụng đất nông nghiệp hay chuyển dịch đất nông nghiệp) thích hợp đH tác động rất lớn đến sự phát triển kinh tế xH hội của một quốc gia có xuất phát
điểm từ một nền kinh tế nông nghiệp; ngược lại, sẽ phải gánh chịu một hậu quả nghiêm trọng cho nền kinh tế xH hội.[18]
2.2.2 Nghiên cứu trong nước về sử dụng đất bền vững
2.2.2.1 Chiến lược sử dụng đất bền vững ở Việt Nam
Tổng diện tích đất của Việt Nam vào khoảng 33 triệu ha Trong đó khoảng gần 2 triệu ha thuộc các thành phố và thị xH, khu dân cư nông thôn và chuyên dùng, khoảng 9 triệu ha là đất sản xuất nông nghiệp nằm chủ yếu ở các vùng đồng bằng và trung du, khoảng 630.000 ha được dùng cho nuôi trồng thuỷ sản, 12 triệu ha là đất rừng Hơn 9 triệu ha còn lại là đất chưa sử dụng gồm chủ yếu là đồi trọc và đất trống
Chủ trương của Chính phủ Việt nam là sử dụng đất có hiệu quả và sự cần thiết phải có tầm nhìn lâu dài Chính phủ cũng luôn chú ý đến các nhu cầu
Trang 28đa dạng của nhân dân, cùng với sự gia tăng dân số nhanh chóng Để thực hiện
điều này, chiến lược của Chính phủ là chỉ đạo thực hiện 6 nhiệm vụ sau đây:
1 Cố gắng không mở rộng các thành phố và nếu có thể tránh việc xây
dựng trên đất nông nghiệp có chất lượng cao
2 Duy trì diện tích đất sản xuất nông nghiệp, và tăng diện tích đất
nông nghiệp ở những nơi có điều kiện, bằng vịêc khai hoang, mở rộng tưới tiêu
3 Giao đất sản xuất nông nghiệp để trồng trọt hoặc để chăn nuôi gia
súc tuỳ theo khả năng của đất và nhu cầu của thị trường nội địa hoặc xuất khẩu đối với các sản phẩm này
4 Tăng diện tích đất cho nuôi trồng thuỷ sản bằng việc chuyển đất sản
xuất nông nghiệp hoặc khai hoang đất chưa sử dụng ở những nơi mà điều kiện thiên nhiên phù hợp
5 Bảo vệ các rừng hiện có và tăng nhanh diện tích rừng bằng việc
trồng rừng mới hoặc khoanh nuôi tái sinh rừng tự nhiên
6 Khuyến khích việc quản lý đất bền vững lâu dài bằng việc giao đất
sử dụng ổn định lâu dài cho các hộ dân và cộng đồng địa phương.[2]
2.2.2.2 Những chính sách về đất đai liên quan đến quản lý sử dụng đất bền vững ở Việt Nam
Chiến lược phát triển bền vững ở Việt nam là một chiến lược chung đưa
ra các nội dung phát triển bền vững, kết hợp chặt chẽ và hài hoà giữa phát triển kinh tế, phát triển xH hội và bảo vệ môi trường Điều này gắn liền với việc quản lý sử dụng đất bền vững
Theo thống kê, từ 24/7/1993 đến 15/6/2004, Quốc hội đH ban hành 9 văn bản, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ ban hành 42 văn bản liên quan
đến quản lý và sử dụng đất đai Chính sách đất đai nhằm điều tiết nguồn lực
đặc biệt nhất đối với sản xuất nông nghiệp, chính sách đất đai khẳng định quyền sở hữu cao nhất thuộc về toàn dân, Nhà nước làm đại diện chủ sở hữu
Trang 29Đối với đất nông nghiệp, việc quản lý được đổi mới theo hướng tăng dần quyền chủ động cho người sử dụng đất bắt đầu bằng chỉ thị 100 (1981) của Ban Bí thư Trung ương về cải tiến công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong nông nghiệp Chỉ thị 100 về cải tiến công tác khoán đH làm thay đổi cơ chế quản lý HTX, tạo động lực khuyến khích lợi ích vật chất đối với người nhận khoán, nông dân phấn khởi, đầu tư thêm công sức, tiền vốn, vật tư, áp dụng tiến bộ kỹ thuật, tận dụng đất đai để phát triển sản xuất Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị về đổi mới quản lý kinh tế trong nông nghiệp được ban hành năm 1988 nhằm vào giao khoán ổn định ruộng đất cho nông dân (15 năm), người nông dân được chủ động thực hiện các khâu canh tác, ngoài các chi phí dịch vụ cho HTX, thuế cho nhà nước, xH viên được tự do sử dụng và tiêu thụ sản phẩm trên thị trường.[5]
Chính sách đất đai đH góp phần thúc đẩy mở rộng diện tích đất nông nghiệp nhờ khai hoang phục hoá, chuyển một số diện tích có khả năng sang
đất sản xuất nông nghiệp, hạn chế tối đa việc chuyển đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp (công nghiệp, thương mại, dịch vụ) nhờ đó diện tích đất cho sản xuất nông nghiệp (bao gồm cả lâm nghiệp và thuỷ sản) đH tăng từ 6,9 triệu
ha lên 9,4 triệu ha (tăng 2,41 triệu ha), đất lâm nghiệp từ 9,3 triệu ha lên 12,1 triệu ha trong thời gian 1990 – 2002 góp phần tăng thêm nguồn lực và tư liệu sản xuất cho nông nghiệp
Thời gian 1981 - 1985, Ban Bí thư TW Đảng ban hành Chỉ thị 29 CT/TW ngày 21/11/1983, chỉ thị 36 CT/TW ngày 19/1/1985 Nội dung 2 chỉ thị này đH khẳng định chủ trương giao đất, giao rừng cho hộ nông dân Mặc dầu chưa có nhiều thay đổi lớn trong chính sách đất đai nhưng việc bước đầu gắn lợi ích của nông dân với hiệu quả sử dụng đất đH tạo ra sự thay đổi lớn trong hiệu quả sử dụng đất và phát triển nông nghiệp Trong 5 năm (1981 – 1985), sản lượng lương thực quy ra thóc cả nước tăng 27% năng suất lúa tăng 23,8%, diện tích cây công nghiệp hàng năm tăng 62,1% Năm 1988, Bộ chính trị ban hành Nghị quyết 10 – NQ/TW về đổi mới cơ chế quản lý trong
Trang 30nông nghiệp Về đất đai, Nghị quyết 10 chỉ rõ, đất đai được giao khoán ổn
định đến hộ xH viên khoảng 15 năm và sản lượng giao khoán ổn định trong 5 năm và bảo đảm cho các hộ nhận khoán được hưởng trên, dưới 40% sản lượng khoán Trên cơ sở Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị và các Nghị quyết khác của
Đảng, Nhà nước ta đH ban hành nhiều chính sách mới về quản lý, sử dụng đất trong nông nghiệp nhờ đó, hiệu quả sử dụng đất không ngừng tăng lên Ví dụ, giá trị thu nhập sản phẩm nông nghiệp tính trên 1 ha đất nông nghiệp được sử dụng không ngừng tăng lên Nếu như năm 1996, chỉ tiêu trên mới đạt 13,5 triệu đồng, năm 2000 là 17,5 triệu đồng, năm 2003 đạt 19,3 triệu đồng
Việc giao đất ổn định lâu dài cho người nông dân đH tạo ra động lực mới thúc đẩy phát triển kinh tế và sử dụng đất đai hiệu quả, người dân mạnh dạn đầu tư những đối tượng cây trồng trên mảnh đất của mình Trong việc quản lý sử dụng đất đai đH có những thay đổi đáng kể, kể cả phương thức sử dụng và cơ chế ràng buộc đối với người sử dụng Ruộng đất đH được quản lý chặt chẽ hơn so với khi còn quản lý theo hình thức tập thể kiểu cũ Giá trị sản xuất ngành trồng trọt tính bình quân trên 1 ha canh tác đH tăng từ 5,94 triệu
đồng (năm 1994) lên 7,8 triệu đồng (năm 2003) Trước năm 1988, Việt Nam luôn ở trong tình trạng mất an ninh lương thực Nhờ những chính sách đúng đắn về giao quyền sử dụng đất cho nông dân, phát triển kinh tế hộ, nền nông nghiệp Việt Nam đH không những đáp ứng được lương thực trong nước mà còn dư để xuất khẩu Trồng trọt và chăn nuôi đều phát triển theo hướng đa dạng hoá sản phẩm, xoá dần tính độc canh để tăng hiệu quả sử dụng đất đai.[5]
Chính sách đất đai cùng với nhiều chính sách nông nghiệp đH góp phần bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, từng bước thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và cơ cấu kinh tế nông thôn Trước đổi mới, giải quyết lương thực còn nhiều khó khăn Hàng năm, nước ta phải nhập khẩu hàng năm hàng triệu tấn lương thực Nhờ thay đổi chính sách nên từ năm 1989 đến nay, nước ta liên tục xuất khẩu gạo với số lượng lớn và ổn định thu ngoại tệ về cho
đất nước Năm 1990, sản lượng lương thực cả nước đạt 21,5 triệu tấn, lương
Trang 31thực bình quân theo đầu người đạt 327,5 kg Đến năm 2003 sản lượng lương thực đH đạt 37,5 triệu tấn, đưa lương thực bình quân đầu người lên 464,8 kg Nhờ
đảm bảo vững chắc lương thực, sản xuất nông nghiệp có điều kiện chuyển sang chuyên môn hoá sản xuất hàng hoá có giá trị cao nhằm xuất khẩu
Vào những năm 1990, trước tình trạng nhiều địa phương tuỳ tiện chuyển đất trồng luá sang sử dụng vào mục đích khác (như làm nhà ở, sản xuất gạch ngói, trồng cây ăn quả ), Chính phủ đH ban hành chỉ thị số 247 ngày 28/4/1995 để kiểm soát việc sử dụng đất trồng lúa Khi an ninh lương thực quốc gia được đảm bảo, chính sách đất đai cho phép chuyển một phần đất trồng lúa kém hiệu quả sang mục đích khác có hiệu quả hơn như nuôi trồng thuỷ sản và cây trồng khác tránh sự lHng phí nguồn lực (thể hiện ở Nghị quyết 09/NĐ - CP ngày 15/6/2000 của Chính phủ về một số chủ trương và chính sách về chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp)
Chính sách đất đai nhằm vào khuyến khích nông dân tăng cường sử dụng có hiệu quả đất đai, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp
và cơ cấu kinh tế nói chung Chính phủ đH ban hành Quyết định 64/CP ngày 27/9/1993 về giao đất nông nghiệp cho hộ nông dân Nông dân không những
được giao quyền sử dụng đất đai lâu dài mà kèm theo các quyền được xác
định như quyền sử dụng, chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, thế chấp Ngoài
ra, do nhu cầu của phát triển KTXH, một phần đất nông nghiệp được chuyển sang mục đích phi nông nghiệp (như làm đường giao thông, khu công nghiệp, nhà ở ), Nhà nước đH ban hành những chính sách về cấp đất, cho thuê đất cho các đơn vị kinh tế trong và ngoài nước, chính sách về giá thuế đất, giá đền
bù, giải toả Nhờ đó, trên địa bàn nông thôn, hệ thống kết cấu hạ tầng được nâng cấp nhanh chóng, nhiều khu công nghiệp và đô thị mới được hình thành
đóng góp tích cực vào việc ổn định và phát triển kinh tế xH hội nông thôn
Chính sách đất đai góp phần điều chỉnh đất nông nghiệp, vừa tạo điều kiện cho người làm nông nghiệp có đất vừa hướng tới tập trung đất đai để sản
Trang 32xuất chuyên môn hoá góp phần thúc đẩy tăng trưởng nông nghiệp, đặc biệt là nâng cao tỷ trọng hàng hoá nông sản
Việc Nhà nước ban hành các chính sách liên quan đến đất đai gần đây nhằm tạo điều kiện để các hộ nông dân tiếp cận và quản lý tốt quỹ đất, giữ
được đất và có đất để kinh doanh nông nghiệp có tác dụng rất lớn trong việc bảo đảm sự ổn định kinh tế, chính trị xH hội nông thôn – nhất là ở miền núi, vùng dân tộc ít người
Chính sách đất đai cho phép tích tụ ruộng đất cho phát triển sản xuất hàng hoá lớn thông qua cho phép người sử dụng đất thực hiện các quyền về chuyển đổi, chuyển nhượng, góp vốn kinh doanh.[5]
Bên cạnh đó, qúa trình công nghiệp hoá, hiện đại hóa đH đạt được những thành tựu to lớn Sau 15 năm phát triển (1991 – 2006), mô hình Khu công nghiệp đH gặt hái được những thành tựu to lớn [14] Việc xây dựng các khu công nghiệp không những tạo ra động lực thúc đẩy phát triển sản xuất công nghiệp mà còn kéo theo sự phát triển của các ngành dịch vụ phục vụ trực tiếp cho sản xuất công nghiệp trong khu công nghiệp và hình thành mạng lưới dịch vụ phục vụ cho nhu cầu của người lao động Việc phát triển các khu công nghiệp sẽ thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu theo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ và giảm tỷ trọng nông nghiệp trong nền kinh tế
Sự ra đời của các khu công nghiệp là những mảnh đất màu mỡ cho ra đời trên 4400 doanh nghiệp trong và ngoài nước hoạt động trong lĩnh vực sản xuất và dịch vụ công nghiệp, với giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân 31,9% (cao gấp đôi so với mức tăng giá trị công nghiệp cả nước), các khu công nghiệp Việt Nam đH thúc đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa Việt Nam
Theo tính toán gần 30.000 ha đất nông nghiệp hoặc vùng thị tứ kém phát triển trở thành các khu công nghiệp có cơ sở hạ tầng hiện đại và các vùng
đô thị khang trang (xung quanh khu công nghiệp), thu hút hàng vạn doanh nghiệp trong và ngoài nước Đây là những hạt nhân quan trọng thực hiện quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn
Trang 33Đến hết năm 2005, các KCN là nơi đào tạo thực tế 750.000 người nông dân, người lao động phổ thông ở những nơi thị tứ trở thành công nhân, và với tốc độ tăng trưởng này, đến 2010 các KCN Việt nam sẽ thu hút 2,5 triệu người Đây là nguồn tài lực để đưa Việt Nam từ một nước nông nghiệp phát triển ở trình độ thấp trở thành một nước công nghiệp mới ở thập niên thứ 2 của thế kỷ 21
Nhiều ngành công nghiệp như sản xuất xe hơi, sản xuất máy móc trang thiết bị, nguyên vật liệu cao cấp tại các KCN, đặc biệt khi công nghiệp hoá dầu tại khu Dung Quất đi vào hoạt động, sẽ góp phần nâng cao chất lượng phát triển các ngành công nghiệp Việt Nam
Tuy nhiên, sự phát triển của các khu công nghiệp làm thu hẹp diện tích
đất canh tác đất nông nghiệp, gây ảnh hưởng đến an ninh lương thực quốc gia, nhiều khu công nghiệp mang tính tự phát, thiếu các quy hoạch chiến lược, nhiều KCN nằm liền kề với các đô thị lớn gây ảnh hưởng đến chất lượng môi trường đô thị trong tương lai gần Các khu công nghiệp góp phần giải quyết việc làm, tạo thu nhập cho người lao động và thúc đẩy chuyển đổi cơ cấu lao
động Các khu công nghiệp đH tạo ra một số lượng lớn việc làm, nâng cao trình độ tay nghề và tương ứng với nó là tăng thu nhập của người lao động, góp phần tạo ra sự ổn định kinh tế và xH hội.Tính đến hết năm 2005, các KCN
đH tạo việc làm cho trên 0,74 triệu lao động trực tiếp tăng gấp 3 lần so với năm
2001, 14 lần so với năm 1995 và khoảng 2 triệu lao động gián tiếp
Tuy nhiên sự tập trung cao của lao động xung quanh các khu công nghiệp cũng nảy sinh không ít các vấn đề xH hội cần phải giải quyết tình trạng thiếu nhà ở, điều kiện sinh hoạt khó khăn, sự phát sinh của các tệ nạn xH hội Ngoài ra sự xuống cấp về môi trường của khu vực dân cư xung quanh các khu công nghiệp cũng đang nổi lên là một trong những vấn đề cấp bách cần có sự quan tâm nghiên cứu [14]
Trang 342.3 Chủ trương, chính sách của Nhà nước, của tỉnh về phát triển công nghiệp
- Chỉ thị 32/1998/CT-TTg ngày 23/8/1998 của Thủ tướng Chính Phủ về công tác quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xH hội
- Quyết định số 1208/QĐ-TTg ngày 06/11/2003 của Thủ tướng Chính Phủ phê duyệt điều chỉnh, bổ sung quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 tỉnh Bắc Ninh
- Quyết định số 1214/QĐ-TTg ngày 04/11/2003 của Thủ tướng Chính Phủ phê duyệt điều chỉnh, bổ sung kế hoạch sử dụng đất 5 năm giai đoạn 2001
- 2005 tỉnh Bắc Ninh
- Công văn số 241/BTNMT-ĐKTKĐĐ ngày 26/01/2005 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc lập dự án điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất tỉnh Bắc Ninh đến năm 2010 và tầm nhìn đến năn 2020
- Công văn số 96/NN-CT ngày 26/01/2005 của Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Ninh về việc lập dự án điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất tỉnh Bắc Ninh
đến năm 2010 và lập kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2006-2010) tỉnh Bắc Ninh
- Quyết định số 145/2004/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính Phủ về phương hướng chủ yếu phát triển kinh tế - xH hội vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020
- Chỉ thị 49/2004/CT-TTg của Thủ tướng Chính Phủ về phát triển dịch
vụ trong kế hoạch phát triển kinh tế - xH hội 5 năm giai đoạn 2006-2010
- Quyết định số 118/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính Phủ về việc thành lập Ban chỉ đạo quy hoạch và đầu tư xây dựng vùng thủ đô Hà Nội
- Thông báo số 108/TB-VPCP ngày 30/7/2003 về Kết luận của Thủ tướng Chính Phủ tại Hội nghị vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ
- Quyết định số 1107/2006/QĐ-TTg về quy hoạch phát triển các khu công nghiệp ở Việt Nam đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020
- Sự thay đổi của bối cảnh quốc tế và trong nước trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 35- Các đề án về phát triển kinh tế - xH hội vùng Đồng bằng Sông Hồng và vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ
- Một số quy hoạch của các ngành ở Trung ương có liên quan đến tỉnh, thị xH
- Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh, thị xH Từ Sơn
- Các văn bản quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xH hội của tỉnh Bắc Ninh đH được phê duyệt mới chỉ cho thời kỳ đến năm 2010, cần thiết phải
bổ sung cho giai đoạn đến năm 2020
- Kế hoạch phát triển kinh tế - xH hội của tỉnh, của thị xH các năm
- Quyết định của UBND tỉnh về phê duyệt đề cương và dự toán của dự
án quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xH hội tỉnh Bắc Ninh đến năm 2020
- Nguồn dữ liệu thống kê của Cục thống kê, Sở kế hoạch và đầu tư, các
Sở ngành có liên quan, phòng Thống kê thị xH, Văn phòng UBND thị xH
Trang 363 Đối tượng, phạm vi, nội dung và phương pháp nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tổng quỹ đất và cơ cấu sử dụng
đất trên địa bàn thị xH Từ Sơn - tỉnh Bắc Ninh
- Các yếu tố về ĐKTN - KTXH có liên quan đến đề tài
- Người sử dụng đất
- Việc thực hiện sách về quản lý, sử dụng đất đai trên địa bàn
- Chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất tác động đến đời sống dân cư
3.3 Nội dung nghiên cứu
1 Nghiên cứu thực trạng điều kiện tự nhiên kinh tế - xH hội
2 Nghiên cứu thực trạng việc chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất giai đoạn
2005 - 2008 trên địa bàn thị xH Từ Sơn
a Tình hình quản lý và sử dụng đất đai
b Phân tích thực trạng chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất trong các lĩnh vực: nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ
c Tác động của sự chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất
d Những tồn tại và khó khăn nảy sinh trong quá trình chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất
3 Đề xuất các giải pháp quản lý, sử dụng đất hợp lý, bền vững trong toàn thị xH
Trang 373.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp lựa chọn điểm nghiên cứu
- Khu vực được chọn có tốc độ thu hồi đất nông nghiệp nhanh trong những năm gần đây do chuyển sang đất công nghiệp, dịch vụ
- Khu vực nghiên cứu có vị trí địa lý, kinh tế quan trọng có tính chất là trung tâm kinh tế, thúc đẩy sự phát triển kinh tế của vùng
3.4.2 Phương pháp điều tra, thu thập tài liệu, số liệu
Phương pháp điều tra số liệu thứ cấp: thu thập và xử lý các nguồn tài liệu, số liệu sẵn có tại các phòng ban của thị xH, tỉnh về dân số, lao động, việc làm,…
3.4.3 Phương pháp thống kê, phân tích tổng hợp số liệu
Phân tích toàn bộ số liệu từ các đối tượng được điều tra theo nhóm chỉ tiêu, đánh giá sự ảnh hưởng của các yếu tố đó đến quá trình phát triển các khu, cụm công nghiệp nhằm đưa ra những giải pháp quản lý, sử dụng theo hướng bền vững
Trang 384 Kết quả nghiên cứu và thảo luận
4.1 Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và cảnh quan môi trường 4.1.1 Điều kiện tự nhiên
4.1.1.1 Vị trí địa lý và ranh giới hành chính
Thị xH Từ Sơn nằm ở phía Tây tỉnh Bắc Ninh, cách trung tâm tỉnh 13
km về phía Tây Nam, cách thủ đô Hà Nội 18 km về phía Đồng Bắc Toạ độ
địa lý của thị xH nằm trong khoảng:
- Phía Bắc giáp huyện Yên Phong
- Phía Nam giáp huyện Gia Lâm - TP Hà Nội
- Phía Đông giáp huyện Tiên Du
- Phía Tây giáp huyện Gia Lâm, huyện Đông Anh – TP Hà Nội
Thị xH Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh có 12 đơn vị hành chính gồm 7 phường:
Đồng Nguyên, Đông Ngàn, Tân Hồng, Trang Hạ, Đồng Kỵ, Châu Khê, Đình Bảng và 5 xH: Phù Chẩn, Phù Khê, Hương Mạc, Tam Sơn, Tương Giang Diện tích tự nhiên 6.133,23 ha chiếm 7,45% diện tích tự nhiên của tỉnh
Có đường Quốc lộ 1A (nay là tỉnh lộ 295B), 1B và đường sắt Hà Lạng chạy qua Việc đầu tư xây dựng, mở rộng nâng cấp tỉnh lộ 287 nối liền QL1A
cũ với QL38 và thông thương với sân bay quốc tễ Nội Bài
Hệ thống các tuyến đường quốc lộ, tỉnh lộ cùng với hệ thống các tuyến
đường huyện lộ hình thành nên mạng lưới giao thông rất thuận lợi, tạo cho thị
xH có thế mạnh trong việc giao lưu kinh tế, văn hoá và tiêu thụ sản phẩm
Từ Sơn là thị xH đồng bằng, đất đai màu mỡ, hệ thống thuỷ lợi tương đối hoàn chỉnh thuận lợi cho việc phát triển thâm canh lúa chất lượng cao Là thị
Trang 39xH có truyền thống cách mạng và văn hoá lâu đời với nhiều di tích lịch sử văn hoá: đền Đô, đền Bính Hạ, đền Đầm, chùa Tiêu, chùa ứng Tâm, Từ Sơn còn
là thị xH có các làng nghề truyền thống như: Sơn mài Đình Bảng, đồ gỗ mỹ nghệ Phù Khê, Đồng Kỵ, rèn sắt Đa Hội, dệt Tương Giang,
Với vị trí địa lý như trên tạo điều kiện thuận lợi cho Từ Sơn trong giao lưu kinh tế, mở rộng thị trường, thu hút vốn đầu tư phát triển công nghiệp, thương mại và dịch vụ, khai thác lợi thế nguồn nhân lực để phát triển sản xuất hàng hoá
4.1.1.2 Địa hình, địa chất
a/ Địa hình
Do nằm trong vùng đồng sông Hồng nên địa hình Từ Sơn tương đối
và cây công nghiệp ngắn ngày
b/ Địa chất
Đặc điểm địa chất thị xH Từ Sơn tương đối đồng nhất Nằm gọn trong vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng nên Từ Sơn mang những nét đặc trưng của cấu trúc địa chất sụt trũng sông Hồng, trong khối kết tinh ackêi - palêzôi Mặt khác, do nằm trong miền kiến tạo Đông Bắc nên có những nét mang tính chất của vùng Đông Bắc, bề dày trầm tích đệ tứ chịu ảnh hưởng rõ rệt của cấu trúc mỏng, càng xuống phía Nam cấu trúc địa chất càng dầy hơn phía Bắc 4.1.1.3 Khí hậu thuỷ văn
Từ Sơn nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, thuận lợi cho việc phát triển nền nông nghiệp đa dạng và phong phú
Trang 40Mùa khô - lạnh bắt đầu từ tháng 11 kết thúc vào tháng 4 năm sau, với lượng mưa/tháng biến động từ 11,6 - 82,9 mm, nhiệt độ trung bình tháng từ
Mùa mưa - nóng bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10 với lượng mưa/tháng
Lượng mưa trong các tháng mùa mưa chiếm 84,64% tổng lượng mưa cả năm
Số giờ nắng trung bình các tháng/năm 139,32 giờ, số giờ nắng tháng thấp nhất 46,9 giờ vào tháng 2, tháng 7 có số giờ nắng cao nhất 202,8 giờ Tổng số giờ nắng trong năm 1.671,9 giờ
Độ ẩm không khí trung bình năm 84%, trong đó tháng có độ ẩm không khí lớn nhất là 88% vào tháng 3, tháng có độ ẩm không khí thấp nhất 70% vào tháng 12
Nhìn chung, Từ Sơn có điều kiện khí hậu thuận lợi cho phát triển một nền nông nghiệp đa dạng và phong phú Yếu tố hạn chế lớn nhất đối với sử dụng đất là mưa lớn tập trung theo mùa thường gây ngập úng các khu vực thấp trũng và uy hiếp các công trình thuỷ lợi gây khó khăn cho việc tăng vụ và mở rộng diện tích
4.1.2 Các nguồn tài nguyên
4.1.2.1 Tài nguyên nước
a/ Nguồn nước mặt
Từ Sơn có nguồn nước mặt tương đối dồi dào bao gồm sông Ngũ Huyện Khê, ngòi Ba XH và hàng trăm ha mặt nước, ao hồ Sông Ngũ Huyện Khê nối liền sông Cầu, rất thuận lợi cho tưới tiêu tuy nhiên tuy nhiên nó lại tiếp nhận nguồn nước thải từ các làng nghề nhiều nhất tỉnh Ước tính tổng khối lượng
xuống cấp nghiêm trọng, dòng sông trở thành một mương thoát nước thải của làng nghề Đến nay người dân hai bên bờ sông không còn sử dụng nước sông vào sinh hoạt nữa