1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Đặc tính con gà đẻ trứng vàng trong phát triển bền vững du lịch Việt Nam

10 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 163,34 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

chiến lược phát triển du lịch cần đảm bảo sự phát triển bền vững, tránh chạy theo doanh số, lợi nhuận nhất thời. Khi có bất kỳ vấn đề gì xảy ra đối với ngành, với nguồn tài n[r]

Trang 1

ĐẶC TÍNH CON GÀ ĐẺ TRỨNG VÀNG

TRONG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG DU LỊCH VIỆT NAM

LƯU TUẤN ANH

Tóm tắt

Con gà đẻ trứng vàng là một cách nói ví von về sự phát triển của du lịch Việt Nam Tuy nhiên, để đặc tính con gà đẻ trứng vàng mang lại hiệu quả cao cho ngành Du lịch Việt Nam thì cần phải hướng du lịch Việt Nam đến sự phát triển bền vững Vấn đề đặt ra là cần tiến hành khai thác, phát huy các nguồn tài nguyên du lịch một cách có kế hoạch, song song với việc bảo vệ, khôi phục chúng Đồng thời cần phát triển nguồn nhân lực du lịch có trình độ và năng lực chuyên môn cao, có đủ điều kiện thuận lợi

để cống hiến cho sự nghiệp phát triển du lịch Với những gì hiện có, cộng với mục tiêu phát triển bền vững và những chiến lược hiệu quả cụ thể, Việt Nam có quyền hy vọng sẽ sớm trở thành trung tâm du lịch quan trọng trong khu vực, đủ sức gây ấn tượng trên khắp thế giới vì một Việt Nam phát triển bền vững và đáng tự hào.

Từ khóa: Đặc tính con gà đẻ trứng vàng, du lịch bền vững, du lịch Việt Nam, quản lý du lịch, phát

triển du lịch

Abstract

“The chicken that lays golden eggs” is an analogy of the tourism development in Vietnam However,

in order to make the characteristics of “the golden egg-laying chicken” to bring high efficiency to Vietnam’s tourism industry, it is necessary to direct Vietnam’s tourism to sustainable development The matter is to conduct exploitation and promotion of tourism resources in a planned manner, simultaneously, protect and restore them At the same time, it is necessary to develop tourism human resources with high and professional qualifications, giving them favorable conditions to devote to the development of tourism With what is available, and the goals of sustainable development and specific effective strategies, Vietnam has the right to hope to become an important tourism center in the region soon and be charm enough to impress the world, for a sustainable and proud Vietnam.

Keywords: Characteristics of “golden egg-laying chickens”, sustainable tourism, Vietnam tourism,

tourism management, tourism development

Đặt vấn đề

Từ trước đến nay, nhiều người cứ mặc

định cho du lịch Việt Nam nói chung

hoặc một vài loại hình của du lịch Việt

Nam nói riêng đặc tính con gà đẻ trứng vàng

Sự mặc định này vô hình trung trở thành gánh

nặng cho sự phát triển du lịch và sự phát triển

kinh tế của Việt Nam nếu ngành du lịch không

thể đạt được kỳ vọng đó Nếu xem đặc tính con

gà đẻ trứng vàng là kỳ vọng đặt ra cho ngành

du lịch để làm động lực phát triển thì đó là một

kỳ vọng tốt Tuy nhiên, nếu xem đó là kết quả tất yếu phải có của ngành Du lịch thì sẽ tạo ra nhiều lực cản và thách thức, đôi khi là những thất vọng không đáng có cho sự phát triển của ngành Du lịch Việt Nam là một trong những ngành năng động và đang được đẩy mạnh thành trọng tâm để phát triển kinh tế Việt Nam Có người cho rằng, trong khoảng ít nhất

Trang 2

V Ă N HÓ A

60 năm nữa, ngành du lịch vẫn là ngành hấp

dẫn nhất trong cơ cấu ngành nghề ở Việt Nam

Tuy nhiên, hiện nay, du lịch Việt Nam thực chất

chỉ đang trên con đường phát triển, cần được

đổi mới, được đầu tư hơn nữa để có thể bắt kịp

với sự phát triển của thế giới, nói gần hơn là với

các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á (như

Thái Lan, Singapore)

Bài viết đưa ra cách nhìn mới mẻ về đặc

tính con gà đẻ trứng vàng mà bấy lâu nay người

ta vẫn hay kỳ vọng về du lịch Việt Nam Trên

cơ sở phân tích thực trạng sự phát triển du

lịch Việt Nam, nhận diện mặt trái của quá trình

phát triển ồ ạt, chạy theo lợi nhuận kinh doanh

trong du lịch, bài viết xác định sự bền vững phải

là mục tiêu quan trọng và là nền tảng chủ yếu

để du lịch Việt Nam được phát triển mạnh mẽ,

lâu dài hơn, xứng đáng với những tiềm năng

hiện có Từ đó đề xuất một vài định hướng

phát triển bền vững du lịch Việt Nam trên tinh

thần khai thác, phát huy đi đôi với bảo vệ, khôi

phục những nguồn lực tự nhiên và nhân văn

của Việt Nam

1 Mặt trái của thực trạng phát triển du lịch

Việt Nam

Theo quan sát của chúng tôi, ngành Du

lịch Việt Nam mới chính thức phát triển mạnh

mẽ trong khoảng 15 năm gần đây, mặc dù

trước đó nhiều công ty du lịch lớn đã ra đời

(như Saigontourist thành lập được 44 năm,

Vietravel thành lập 24 năm, Bến Thành Tourist

thành lập 30 năm) Trong khoảng thời gian

phát triển này, ngành Du lịch Việt Nam đã vận

động liên tục, đổi mới không ngừng nhằm tạo

ra những bước phát triển nhảy vọt Thực tế,

cần công nhận thời gian qua du lịch Việt Nam

đạt được nhiều thành tựu: cơ sở kinh doanh

du lịch được tăng thêm, nhà hàng cao cấp

ngày càng chuyên nghiệp với hoạt động ẩm

thực đa dạng, khách sạn cao cấp mọc lên ngày

càng nhiều từ sự đầu tư nước ngoài lẫn trong

nước, số lượng tour, tuyến ngày càng đa dạng,

mở rộng ra nhiều nước, đội ngũ nhân viên

làm nghề có trình độ cao và chuyên nghiệp

hơn… Kết quả đạt được xứng đáng là niềm

tự hào cho sự cố gắng của du lịch Việt Nam,

chủ chốt khác của kinh tế Việt Nam (bao gồm các ngành nghề đã có và các ngành nghề mới nổi như xuất khẩu, công nghiệp dệt may, thủy hải sản, thương mại, kinh doanh ngành hàng bán lẻ, công nghệ thông tin, vận tải biển và logistics, kỹ thuật cơ khí…) thì vẫn còn những khoảng cách và hạn chế nhất định, hoặc để so sánh với sự phát triển du lịch của các nước có ngành du lịch phát triển trong khu vực và trên thế giới thì du lịch Việt Nam vẫn còn phải học hỏi và cải thiện nhiều điều

Bất kể sự phát triển nào cũng có hai mặt: mặt phát triển và mặt hạn chế, tùy vào năng lực của chủ thể vận hành và những điều kiện xung quanh mà mặt nào sẽ nổi trội hơn, mặt nào sẽ

bị kiềm chế Người ta có thể sẽ bị lóa mắt với những con số phát triển của du lịch Việt Nam, chẳng hạn lượng khách quốc tế đến Việt Nam

6 tháng đầu năm 2019 ước đạt 8.480.993 lượt, tăng 7,5% so với năm 2018 [10]; lượng khách

du lịch nội địa năm 2018 là 80.000.000 lượt, tăng 9,3% [9]; tổng thu từ khách du lịch năm

2018 là 620 nghìn tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng

là 21,4% [11]; tổng số doanh nghiệp lữ hành quốc tế năm 2018 là 2.022 [8], số lượng cơ sở lưu trú 3 sao - 5 sao năm 2018 là 965 trong tổng số 28.000 cơ sở lưu trú [7]; hoặc giá trị đóng góp trực tiếp về kinh tế của du lịch vào tổng sản phẩm quốc nội (GDP) liên tục tăng từ 6,3% năm 2015 lên 6,9% năm 2016 và 7,9% năm 2017 [12] Mọi người có thể sẽ thán phục, tập trung chiêm ngưỡng những con số đó mà quên mất đằng sau chúng là những sự đánh đổi

Nhiều người thường thích nhìn vào kết quả

mà quên mất quá trình để đạt được kết quả đó cũng như ít khi ngồi xuống nghĩ đến tương lai

sẽ làm gì với những kết quả hiện tại đang đạt được Du lịch Việt Nam cũng vậy Để phát triển Phú Quốc thành một đảo ngọc phục vụ cho du lịch như mong đợi, chắc chắn nhiều cánh rừng nguyên sinh, nhiều bờ biển cát trắng sẽ mất

đi để thay vào đó là các công trình kiến trúc hiện đại (khách sạn, resort, casino…) Theo

sự phát triển của du lịch, đời sống người dân địa phương cũng sẽ thay đổi Người dân Phú Quốc bắt đầu rời bỏ ngành nghề truyền thống

Trang 3

chuyển sang làm hướng dẫn viên du lịch hoặc

kinh doanh du lịch… Nếu nhìn ở góc độ kinh tế

địa phương, thì đây là các tín hiệu đáng mừng

Tuy nhiên, nếu nhìn từ góc độ phát triển bền

vững văn hóa - xã hội của địa phương thì đây

là những tín hiệu đáng lo: thiên nhiên bị tàn

phá khiến cho hệ sinh thái của đời sống con

người thay đổi tiêu cực; ngành nghề truyền

thống dần bị lỗi thời và có khả năng biến mất

hoặc còn tồn tại thì cũng chỉ để phục vụ cho

du lịch; hiện tượng di dân từ nơi khác đến Phú

Quốc làm việc sẽ làm xáo trộn cấu trúc xã hội,

an ninh trật tự của địa phương, tăng mức độ

cạnh tranh việc làm với người dân bản địa…

Tác giả Nguyễn Minh Tuệ cho rằng “giữa xã hội

và môi trường trong lĩnh vực du lịch có mối

quan hệ chặt chẽ Một mặt xã hội cần đảm

bảo sự phát triển tối ưu của du lịch, nhưng mặt

khác lại phải bảo vệ môi trường tự nhiên khỏi

tác động phá hoại của dòng khách du lịch và

của việc xây dựng cơ sở vật chất phục vụ du

lịch Du lịch - bảo vệ môi trường là những hoạt

động gần gũi và liên quan với nhau” [13, tr.18]

Đây là quan niệm hoàn toàn đúng đắn cho du

lịch Việt Nam

Toàn cầu hóa mang lại sự tiến bộ và phát

triển mới, nhưng trong quá trình hội nhập nếu

con người bị hòa tan thì có nghĩa sẽ không còn

gì là bản sắc riêng Du khách tìm đến Việt Nam

vì Việt Nam khác biệt với những nước khác,

ở Việt Nam có nhiều điều để họ trải nghiệm,

họ thích thú Ngày nào còn khác biệt, thì Việt

Nam còn có thể tạo động lực và biến chúng

trở thành phương tiện để thu hút khách du

lịch Thử nghĩ, nếu Việt Nam trở thành một

Singapore hay Hàn Quốc thứ hai thì du khách

còn đến Việt Nam để làm gì? Có khách du lịch

nói rằng, họ đến Việt Nam không để mua sắm,

nếu có thì sẽ mua mặt hàng truyền thống làm

quà lưu niệm, còn để mua những mặt hàng

cao cấp thì quốc gia của họ cũng có, thậm chí

còn tốt hơn, hoặc là họ thích đến Singapore

hay Thái Lan mua hơn Nhận định này của du

khách chỉ là một ví dụ nhỏ nhưng qua đó có

thể nói đến phần nào bối cảnh hòa nhập của

Việt Nam trong sự phát triển chung của thế

giới Trở lại với trường hợp Phú Quốc, nếu biến

sòng bạc, vui chơi hiện đại thì liệu du lịch Phú Quốc thật sự có phát triển bền vững và nếu có thì nó có thể lâu dài không khi mà bối cảnh sống của người dân Phú Quốc bắt đầu giống Thành phố Hồ Chí Minh? Hay như trường hợp của đảo Hòn Tre ở Nha Trang cũng vậy Đây là đảo lớn nhất nằm trong vịnh Nha Trang, có hệ sinh thái tự nhiên với những bãi biển hoang sơ, những rừng cây nhỏ Hiện nay, tại đây những công trình hiện đại đã, đang được hoàn thiện như các khu du lịch, khu resort, cáp treo, khu biệt thự, sân golf… Dân số của đảo khoảng 1.500 người trên diện tích 32.5 km2, nhưng việc mở rộng du lịch đã thu hút nhiều người

di cư từ nơi khác đến làm việc và số lượng lớn

du khách đến đây tham quan Nếu nhìn thẳng vấn đề, tất cả những sự phát triển đó đều làm đảo lộn ít nhiều đến hệ sinh thái và đời sống xã hội của ngư dân trên đảo

Những vấn đề nêu trên tuy chưa thể khái quát hết các mặt trái của thực trạng phát triển nhanh chóng của du lịch Việt Nam hiện nay nhưng hy vọng có thể góp phần thúc giục sự nhìn nhận, đánh giá và tổ chức lại con đường phát triển du lịch Việt Nam, bao gồm trong đó các chính sách, mục tiêu, định hướng, kế hoạch, chiến lược, phương án hành động,… một cách thực tế, cụ thể, chính xác, bài bản

và hiệu quả nhất, tránh gây ảnh hưởng đến môi trường tự nhiên và nhân văn tốt đẹp của Việt Nam chỉ vì chạy theo lợi ích nhất thời Nói như thế, không có nghĩa là du lịch Việt Nam đang phát triển sai con đường hoặc đang gây

ra những tác động tiêu cực đến đời sống xã hội Việt Nam Chúng ta vẫn ghi nhận nhiều thành tựu mà sự phát triển của du lịch mang lại cho các địa phương và cả nước Những gì tích cực cần được duy trì, củng cố, bổ sung và phát triển một cách có định hướng để du lịch Việt Nam xứng đáng trở thành một “kỳ vọng” cho sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam

Theo thuyết kỳ vọng (expectancy theory) của

Victor Vroom, “sức mạnh của xu hướng hành động theo một cách nhất định của chúng ta phụ thuộc vào sức mạnh của sự kỳ vọng của chúng ta vào một kết quả được đưa ra và sự hấp dẫn của nó” [6, tr.224] Vậy vấn đề cần

Trang 4

V Ă N HÓ A

hành động ở đây là các nhà quản lý du lịch

phải thể hiện được kỳ vọng tối đa vào sự phát

triển bền vững du lịch Việt Nam bằng cách chỉ

ra sự hấp dẫn của nó dưới các hình thức nào

đó, chẳng hạn quảng bá thông qua các kênh

phương tiện truyền thông về những kết quả

và lợi ích tốt đẹp mà việc phát triển du lịch

bền vững mang lại để tác động vào sự tự ý

thức của mọi người, hoặc trực tiếp nhất vẫn

là đưa ra những khoản thu nhập hấp dẫn mà

mọi người có thể có được từ việc phát triển

du lịch bền vững ở các địa phương (bao gồm

lương bổng cho đội ngũ nhân viên vận hành

các hoạt động du lịch)… Từ đây tạo ra những

sức mạnh động lực để cùng làm việc, cùng

hợp tác, cùng chung tay phát triển bền vững

du lịch Việt Nam Ruth Benedict đã viết: “Xã

hội theo nghĩa đầy đủ của nó […] thì chưa

bao giờ là một thực thể tách rời khỏi những

cá nhân cấu thành nên nó” [5, tr.182] Nếu

mỗi người Việt Nam đều tự ý thức được tầm

quan trọng của du lịch bền vững đối với đời

sống và xã hội của họ thì mục tiêu phát triển

du lịch bền vững của Việt Nam sẽ trở nên dễ

dàng và nhanh chóng đạt được hơn

2 Nhận diện bản chất đặc tính con gà đẻ

trứng vàng của du lịch Việt Nam

Khi nói đến đặc tính con gà đẻ trứng vàng,

chúng ta đang đề cập đến cốt lõi của sự phát

triển của ngành Du lịch Việt Nam Trong mối

quan hệ giữa con gà và quả trứng, có người

cho rằng con gà có trước, lại có người cho rằng

quả trứng có trước Thực ra, vấn đề không cần

phải đi xác định con gà hay quả trứng có trước

mà cái cần xác định ở đây chính là đâu là nguồn

và đâu là đích đến Chúng tôi xem tất cả những

tài nguyên bao gồm tự nhiên và nhân văn của

Việt Nam sẽ là nguồn; sự phát triển bền vững

của du lịch Việt Nam sẽ là đích đến; hành động

thực hiện của con người là phương tiện kết nối

nguồn và đích đến đó Việc kết nối nhanh hay

chậm, hiệu quả hay không, tất yếu sẽ quy về

con người cùng những hành động của họ “Du

lịch bền vững (sustainable tourism) có thể hiểu

khái quát tức là nói sự phát triển của du lịch

luôn được liên tục, đồng đều, vững mạnh và

hiệu quả Sự bền vững không do một phía nào

yếu tố trong cấu trúc du lịch cùng vận hành đồng loạt hiệu quả, sự vận hành đó chung quy vẫn do con người quyết định và hướng đến con người” [1, tr.18] Con người, trong sự phát triển du lịch Việt Nam, bao gồm các ban ngành đoàn thể của Nhà nước, các cấp chính quyền của các địa phương, cộng đồng địa phương nơi có các hoạt động du lịch, các đơn vị kinh doanh du lịch, khách hàng và các đối tác khác của các đơn vị kinh doanh du lịch

Trong cách nói con gà đẻ trứng vàng, có thể làm một phép so sánh rằng: con gà sẽ là các

tài nguyên du lịch; quả trứng vàng sẽ là kết quả phát triển bền vững của du lịch Vậy nếu chỉ tập

trung bằng mọi cách, mọi giá, khai thác triệt

để nguồn tài nguyên để phát triển tối đa du

lịch mà không nghĩ đến việc nuôi dưỡng con

gà đó để trước hết nó có thể tiếp tục sống, sau

đó nó có đủ sức tiếp tục sinh sản ra các quả

trứng vàng, thì liệu con gà đó còn có thể tiếp

tục sống, tiếp tục sinh sản? Và rồi nếu không

có con gà thì liệu sẽ còn những quả trứng hoặc

quả trứng vàng nữa không? Du lịch Việt Nam sẽ

đi về đâu khi nguồn tài nguyên ngày càng bị khai thác cạn kiệt mà không được tính đến làm thế nào để bảo vệ, duy trì và phát triển chúng? Chẳng hạn, mỗi năm Sapa đón hàng trăm ngàn lượt khách quốc tế, nếu không có chiến lược

và chính sách cụ thể đúng đắn thì đồng bào ở Sapa khó có thể phát triển đời sống song song với việc bảo tồn các giá trị văn hóa tốt đẹp và không gian sống lâu đời của họ “Một nơi nào đó được quy hoạch phát triển du lịch thì sẽ kéo theo nhiều sự thay đổi trọng đại trong môi trường sống của con người, chẳng hạn thiên nhiên bị tàn phá, không gian xanh và những

vẻ đẹp hoang sơ sẽ bị thay thế bởi những kiến

trúc công nghiệp hiện đại… Quá trình lọc máu

được diễn ra, trong quá trình này có thể tạo ra những tế bào mới phát triển nhưng cũng có thể phá bỏ những tế bào truyền thống tốt đẹp,

mà nếu mất đi tế bào truyền thống (hay gọi là

tế bào cơ sở) thì liệu nơi du lịch A còn là nơi A hay nó đã bị biến đổi hoàn toàn thành một nơi

B nào đó Lúc đó, nơi du lịch đó có còn ý nghĩa

du lịch như ban đầu các nhà tổ chức muốn hướng đến hay không? Việc bảo tồn những gì

Trang 5

quan trọng của sự phát triển bền vững trong

du lịch Điều tốt nhất cần làm là biến nơi du

lịch A thành nơi du lịch A’, nơi A’ này là một sản

phẩm phát triển lên từ nền tảng nơi A, nó đẹp

đẽ hơn nhưng không đánh mất đi bản chất

ban đầu của nó” [1, tr.18] Đây là một bài toán

không khó cũng không dễ, đòi hỏi các bên liên

quan trong phát triển du lịch cần cùng nhau

phối hợp hiệu quả và đồng đều Nếu thiếu một

trong các bên hoặc bên nào đó không phối

hợp tốt vì lý do lợi ích nhóm nào đó thì đều

có thể gây ra tổn thương cho môi trường văn

hóa và môi trường tự nhiên của địa phương

nơi có hoạt động du lịch Người đứng đầu và

đóng vai trò quan trọng nhất trong sự kết hợp

giữa các bên trong phát triển du lịch bền vững

ở Việt Nam không ai khác chính là Nhà nước và

chính quyền địa phương các cấp

Chúng tôi đưa ra hai minh chứng về trường

hợp ở Sapa, trong đó minh chứng 1 về tính tích

cực và minh chứng 2 về tính hạn chế để có thể

nhìn nhận vấn đề phát triển du lịch bền vững

ở Việt Nam rõ ràng hơn

Minh chứng 1: Hiện nay có nhiều cô gái các

tộc người ở Sapa kết hôn với người chồng là

người phương Tây, sau đó họ cùng mở các cửa

hàng cà phê tự sản xuất, phục vụ cho khách

du lịch và thậm chí là xuất khẩu ra nước ngoài

Ở đây có sự kết hợp của kiến thức văn minh

phương Tây (thông qua người chồng Tây) và

kiến thức văn hóa vùng miền Việt Nam (thông

qua người vợ) Cà phê là nguồn nguyên liệu

sẵn có ở địa phương của cô gái, họ không phải

mất thời gian để tìm kiếm, học tập, nhập khẩu

mà vẫn có thể đạt được 2 mục đích: (1) làm

giàu cho bản thân và gia đình, cộng đồng; (2)

quảng bá sản phẩm văn hóa của cộng đồng,

của địa phương ra bên ngoài

Minh chứng 2: Thực trạng một vài cô gái các

tộc người ở Sapa mang thai khi chưa kết hôn

với du khách phương Tây trong thời gian họ đi

du lịch ở Sapa Có nhiều nguyên nhân dẫn đến

tình trạng này, có thể là sự gặp gỡ tương đồng

nào đó về văn hóa của hai bên, chẳng hạn hầu

hết người phương Tây nghĩ thoáng về chuyện

tình dục trong khi một vài tộc người ở Sapa có

tục ngủ qua đêm để các chàng trai tìm hiểu cô

giải là do lối sống cùng suy nghĩ giản đơn của các cô gái tộc người ở Sapa đã gặp phải kiểu sống phóng khoáng của các chàng trai người nước ngoài… Điều đáng quan tâm ở đây chính là hậu quả: Cô gái dân tộc mang thai mà không có chồng, làm mẹ đơn thân, đi ngược lại với những quy ước chung của cộng đồng tộc người, thậm chí sẽ phải đối mặt với những hình phạt nghiêm khắc từ cộng đồng Việc làm mẹ đơn thân hay mang thai mà không có chồng trong văn hóa hiện đại phương Tây có lẽ

là điều bình thường, thậm chí một số người hô hào nhau thành một phong trào kiểu tự do của giới trẻ hiện nay ở Việt Nam, nhưng đối với các tộc người ở Sapa và ở nhiều địa phương khác

ở Việt Nam thì đây không phải là điều đáng tự hào, đáng khích lệ Lúc này, vai trò của cơ quan chức năng, chính quyền địa phương là phải tuyên truyền, tổ chức các lớp tập huấn, các chương trình hành động mang tính cộng đồng

để cung cấp cho các cô gái ở Sapa những kiến thức về hôn nhân, về gia đình truyền thống và hiện đại, về tình dục, về văn hóa phương Tây,

về cách tự bảo vệ họ, tức là tiến hành nâng

cao năng lực nhận thức của họ Đồng thời có

chiến lược phát triển du lịch song song với bảo tồn và phát huy tích cực nhất các giá trị văn hóa của các cộng đồng địa phương nhằm mục đích phát triển đời sống cộng đồng vững

mạnh, tức là nâng cao năng lực kinh tế cho họ

Phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường sống tốt đẹp cho các cộng đồng địa phương nơi làm

du lịch là công việc cấp thiết của những người làm quản lý du lịch Việt Nam

Trong cách nói con gà đẻ trứng vàng, cần chú ý đến từ vàng ở đây Nếu hiểu vàng nghĩa

là tiền bạc, lợi nhuận, doanh thu, là mục đích kinh tế cao nhất phải đạt được của ngành Du lịch Việt Nam thì có lẽ cách hiểu này thật sự chưa đầy đủ, dễ gây ra hiểu lầm trong phương pháp vận hành ngành Du lịch và có thể tạo

ra những tổn thất cho môi trường xã hội Việt Nam Nếu mục đích phát triển du lịch chỉ là doanh thu, thì người ta sẽ xây dựng chiến lược

và thực hiện các chính sách chỉ nhằm mục đích này mà quên đi nghĩa vụ, trách nhiệm với văn hóa - xã hội Việt Nam và sự đóng góp

Trang 6

V Ă N HÓ A

quan trọng của nguồn tài nguyên du lịch Việt

Nam Khi nguồn tài nguyên cạn kiệt để phục

vụ cho du lịch, các bên liên quan quay lưng với

các chính sách phát triển du lịch thì làm sao để

con gà tiếp tục đẻ được trứng vàng khi chỉ còn

mỗi đội ngũ những người làm du lịch? Cái lợi

nhất thời chỉ là cái lợi trước mắt, cái lợi ngắn

hạn mà không phải lâu dài thường bị sụp đổ

rất nhanh, và khi nó sụp đổ thường kéo theo

nhiều hệ lụy do phát triển vội vã, khiến người

ta phải bỏ công sức nhiều lần hơn trước để

khắc phục chúng Chính vì vậy, chữ vàng ở đây

cần thiết được hiểu là sự phát triển bền vững

trong du lịch

“Phát triển du lịch bền vững phải được coi

là mục tiêu của quy hoạch du lịch; các nguyên

tắc cũng như các loại hình du lịch bền vững

phải được xem xét, vận dụng vào trong quá

trình quy hoạch du lịch” [14, tr.8] Khi xác định

mục đích và mục tiêu phát triển du lịch Việt

Nam đều là phát triển bền vững thì tất cả các

chính sách, chiến lược đưa ra cho ngành phải

đảm bảo được tính bền vững: Vừa đảm bảo có

được doanh thu từ các hoạt động du lịch, vừa

đảm bảo duy trì tính ổn định của môi trường

sống của cộng đồng địa phương (bao gồm

môi trường tự nhiên và môi trường nhân văn)

Kinh tế, môi trường tự nhiên, môi trường nhân

văn (văn hóa - xã hội) phải là 3 trụ cột quan

trọng của sự phát triển du lịch Việt Nam Chúng

phải được xây dựng hướng vào nhau, bổ sung

cho nhau, cùng định hướng cho nhau phát

triển vì mục tiêu chung phát triển du lịch bền

vững để phát triển xã hội Việt Nam ngày càng

vững mạnh Khoản 14, Điều 3, Chương 1 Luật

Du lịch Việt Nam 2017 giải thích: “Phát triển du

lịch bền vững là sự phát triển du lịch đáp ứng

đồng thời các yêu cầu về kinh tế - xã hội và môi

trường, bảo đảm hài hòa lợi ích của các chủ thể

tham gia hoạt động du lịch, không làm tổn hại

đến khả năng đáp ứng nhu cầu về du lịch trong

tương lai” [4] Khai thác nguồn lực tự nhiên

trong phát triển du lịch Việt Nam, cần biết khai

thác đúng và đủ, vừa khai thác vừa bảo vệ và

khôi phục hệ sinh thái tự nhiên, để 10 hay 20

năm nữa Việt Nam vẫn còn rừng vàng biển bạc,

còn đủ nguồn lực tự nhiên để khai thác phát

văn trong phát triển du lịch, chẳng hạn các di sản và sản phẩm văn hóa, cần thiết khai thác đúng (đúng người, đúng nơi, đúng lúc, đúng mục tiêu), vừa khai thác, phát huy vừa bảo tồn, phục hồi các giá trị tốt đẹp của dân tộc để Việt Nam luôn là điểm du lịch nhân văn thú vị cho khách du lịch khắp nơi tìm đến thưởng ngoạn, trải nghiệm

3 Một vài định hướng phát triển bền vững

du lịch Việt Nam nhằm đảm bảo đặc tính

con gà đẻ trứng vàng đi đúng hướng 3.1 Khai thác nguồn lực tự nhiên ở các địa phương theo kế hoạch cụ thể, tập trung từng giai đoạn để phát triển du lịch

Những nhà quản lý và tổ chức du lịch cần tiến hành khai thác tài nguyên thiên nhiên trong phát triển du lịch ở các địa phương tùy vào điều kiện tự nhiên thực tế ở những nơi đó Tài nguyên nào là chủ yếu, đại diện cho tự nhiên của vùng, có thể quảng bá cho vùng và tạo dấu ấn trong lòng du khách khi nhắc đến địa phương đó thì có thể được ưu tiên khai thác trước Tuy nhiên, không nên khai thác ồ

ạt, liên tục hay vội vã mà cần có kế hoạch khai thác theo từng giai đoạn cụ thể, khai thác từ

từ, khai thác kết hợp với bảo vệ và khôi phục tự nhiên nơi đó để đảm bảo tính nguyên vẹn cho môi trường tự nhiên của địa phương

Quá trình khai thác theo giai đoạn có hai lợi ích: 1) Giúp nhà quản lý du lịch kịp thời nhận

ra những thiếu sót, yếu kém để chỉnh sửa và hoàn thiện cho những giai đoạn khai thác kế tiếp; 2) Giúp nguồn tài nguyên tự nhiên có thời gian để tự phục hồi Nhà quản lý du lịch có thời gian để quan sát rõ hơn về tình trạng và khả năng cung cấp của các nguồn tài nguyên tự nhiên, nếu thấy đó là nguồn tài nguyên kém phong phú, sắp cạn kiệt thì nên đề xuất các phương án phục hồi và không được khai thác cho đến khi hệ sinh thái của chúng khôi phục trở lại

Hiện nay ở nhiều địa phương đang diễn ra tình trạng khai thác tự nhiên quá mức phục

vụ cho du lịch mà không có chính sách, chiến lược phát triển đúng đắn, lâu dài dẫn đến hệ sinh thái tự nhiên bị tổn hại nghiêm trọng,

Trang 7

nhiễm, tình trạng phân chia khu vực bãi biển

của các khách sạn cao cấp, rác thải sinh hoạt

của du khách khắp nơi mặc cho các biển cấm

xả rác xung quanh… Nếu cứ để các tình trạng

này diễn ra mà không có biện pháp chế tài, xử

phạt chặt chẽ hơn thì lâu dần hệ sinh thái tự

nhiên không thể tiếp tục đảm bảo cho phục

vụ du lịch, khi đó nhiều loại hình du lịch chủ

chốt sẽ biến mất khỏi Việt Nam

3.2 Khai thác nguồn lực văn hóa có trọng

điểm, phù hợp với bối cảnh xã hội của từng

địa phương; tiến hành bảo tồn, phục hồi các

tài nguyên văn hóa song song với khai thác

và phát huy

“Nếu chú trọng bảo tồn mà không phát huy

được giá trị của các di sản văn hóa thông qua

các sản phẩm du lịch thì việc bảo tồn đó không

mang lại lợi ích gì cho người dân, nhưng nếu

chú trọng vào khai thác mà không quan tâm

đến bảo tồn thì sẽ làm cho các di sản ngày

càng bị xuống cấp hoặc mất đi giá trị truyền

thống vốn có của chúng do bị thị trường hóa,

lúc đó hoạt động khai thác cũng khó tiếp tục

được” [3, tr.215] Các nhà quản lý và tổ chức

du lịch cần am hiểu rõ nguồn lực văn hóa của

từng địa phương Nếu đó là những nguồn lực

tiềm năng, cần được khai thác thì nên có chiến

lược cụ thể để nghiên cứu, khảo sát, tiến hành

thử nghiệm và chính thức đưa vào phục vụ

du lịch Chẳng hạn, hiện nay tỉnh Bình Phước

đang phối hợp với nhiều đơn vị tổ chức các hội

thảo xin ý kiến, xây dựng chiến lược cụ thể về

việc khai thác những tiềm năng văn hóa của

tộc người Stiêng trên địa bàn và triển khai ứng

dụng vào phát triển du lịch của tỉnh

Số lượng và các loại di sản ở Việt Nam rất

nhiều và đa dạng bao gồm các di sản văn hóa

thế giới, di sản văn hóa cấp quốc gia, cấp tỉnh

và những di sản chưa được công nhận chính

thức nhưng từ lâu đã gắn bó mật thiết với đời

sống của người dân các địa phương Việc đẩy

mạnh tiến độ lập hồ sơ đề xuất công nhận di

sản các cấp là việc làm rất tốt đối với Việt Nam,

góp phần quan trọng quảng bá văn hóa Việt

Nam đến với bạn bè quốc tế tích cực hơn Đây

cũng là nguồn lực văn hóa hiệu quả nhất để

khai thác và phát huy các di sản cũng cần có

kế hoạch cụ thể theo từng giai đoạn giống như định hướng về khai thác nguồn lực tự nhiên Khai thác phải song song với bảo tồn, khôi phục các di sản, tránh tình trạng khai thác vô tội vạ khiến cho di sản ngày càng bị tàn phá và mất đi giá trị của chúng Các cơ sở kinh doanh

du lịch cần tiến hành khai thác di sản một cách bài bản, có đầu tư, tránh việc chạy theo lợi nhuận khiến cho du khách hiểu lầm về di sản

và các giá trị của chúng

Chẳng hạn, nhiều điểm du lịch ở miền Tây Nam Bộ đang khai thác đờn ca tài tử phục vụ

du khách tham quan nhưng còn ở quy mô đơn

sơ, biểu diễn qua loa khiến cho khách trong nước không cảm nhận được nét đẹp của di sản và du khách nước ngoài, nếu không hiểu tiếng Việt, không hiểu văn hóa Việt Nam lại càng thấy nhạt nhẽo Họ không biết di sản đó

là gì, tại sao phải đưa ra phục vụ ở đây, nó có giá trị gì đối với người Việt Nam Chúng tôi xin

đề xuất các bước cần có khi phục vụ đờn ca tài tử ở các cơ sở kinh doanh du lịch như sau: 1) Giới thiệu sơ lược về đờn ca tài tử và các giá trị văn hóa của loại hình nghệ thuật này bằng tiếng Việt và tiếng nước ngoài (cho khách nước ngoài, tối thiểu là bằng tiếng Anh); 2) Biểu diễn có bài bản và kèm theo lời giới thiệu ngắn gọn

về các tiết mục biểu diễn để khách hiểu họ sắp được nghe cái gì, nhất là người nước ngoài; 3) Cho khách tham gia biểu diễn thử những bài bản đơn giản, đối với người nước ngoài thì chỉ cần cho họ tập làm quen với các giai điệu đơn giản Hiện nay, ở một số điểm du lịch ở miền Tây Nam Bộ có kết hợp biểu diễn một vài bài hát nổi tiếng của các quốc gia của du khách bằng bộ nhạc cụ trong đờn ca tài tử Đây là một sáng tạo rất hay giúp du khách gần gũi hơn với di sản

3.3 Khai thác hiệu quả nhất nguồn nhân lực có chuyên môn và trình độ cao để phát triển du lịch, đồng thời không ngừng đào tạo, nâng cấp chất lượng của nguồn lực này

Nguồn nhân lực du lịch ở đây bao gồm người quản lý, người vận hành các hoạt động

du lịch và cộng đồng địa phương nơi có hoạt

Trang 8

V Ă N HÓ A

động du lịch Đội ngũ quản lý và vận hành cần

được: 1) Đào tạo trình độ chuyên môn bắt kịp

với xu hướng phát triển của đất nước và thế

giới; 2) Tạo lập hệ giá trị văn hóa quản lý và vận

hành các hoạt động du lịch tốt đẹp cho họ;

3) Có kế hoạch đào tạo những ngoại ngữ cần

thiết, tối thiểu là giao tiếp được, để nguồn lực

nhân sự này phù hợp với các kế hoạch và từng

loại hình kinh doanh của các doanh nghiệp du

lịch, phù hợp với bối cảnh phát triển ở từng địa

phương có du lịch

Những người quản lý các hoạt động du

lịch phải là người có tâm và có tầm, được biểu

hiện thông qua các khía cạnh như: 1) Tự ý thức

không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn

để xứng tầm quản lý, chủ động thực hiện các

kế hoạch nghiên cứu thị trường để đưa ra

chiến lược phát triển cụ thể cho doanh nghiệp;

2) Tránh bè phái cục bộ và lợi ích nhóm hay lợi

ích cá nhân trong quá trình làm việc, tránh việc

quản lý nhân sự theo cảm tính; 3) Phối hợp với

doanh nghiệp du lịch để xây dựng chính sách

tuyển dụng, đãi ngộ, tạo điều kiện phát triển

và duy trì nguồn nhân sự, nhất là nhân sự cấp

cao để phục vụ cho công tác phát triển du lịch;

4) Có tư duy mở và nhạy để bắt kịp thông tin

và những đổi mới của thị trường du lịch trong

nước cũng như trên thế giới

Tùy vào điều kiện thực tế của các doanh

nghiệp, các tổ chức du lịch ở Việt Nam mà đội

ngũ quản lý và nhân viên sẽ có các phương

hướng hoạt động khác nhau Ở thời điểm mới

gia nhập thị trường, có thể sẽ còn nhiều khó

khăn để phát triển đội ngũ, tuy nhiên, quan

trọng là từng cá nhân trong đội ngũ phải tự

ý thức được vai trò và trách nhiệm trong công

việc Trách nhiệm ở đây gồm trách nhiệm với

bản thân, với tổ chức, với xã hội, với đất nước

trong công tác du lịch Để khiến họ ý thức

được trách nhiệm và tự nguyện tham gia vào

sự phát triển du lịch thì trước hết các tổ chức,

doanh nghiệp du lịch cần đảm bảo nhu cầu

kinh tế tối thiểu cho họ bằng chế độ lương

bổng hợp lý Kế đến là tạo điều kiện cho họ

được nâng cao tay nghề, trình độ, mở ra nhiều

cơ hội thăng tiến cho những người có khả

chiến lược phát triển du lịch cần đảm bảo sự phát triển bền vững, tránh chạy theo doanh số, lợi nhuận nhất thời Khi có bất kỳ vấn đề gì xảy ra đối với ngành, với nguồn tài nguyên tự nhiên và nhân văn phục vụ du lịch, thì người đầu tiên phải chịu trách nhiệm chính là đội ngũ quản lý du lịch

Ở đây, chúng tôi đưa cộng đồng địa phương vào nguồn nhân lực trong phát triển du lịch, vì thực tế từ trước đến nay họ luôn đóng vai trò rất quan trọng tại các điểm du lịch, tuyến

du lịch như một bên tham gia không thể thiếu trong các hoạt động du lịch Họ là người am hiểu nhất về tuyến điểm và địa phương du lịch, có thể hỗ trợ, tham gia vận hành các hoạt động

du lịch ở địa phương Các hoạt động tham quan, ăn uống, nghỉ ngơi của du khách ít nhiều đều phải tiếp xúc với người dân địa phương và cần đến sự tham gia của họ trong chừng mực nhất định “Du khách sẽ có tour du lịch khám phá đúng nghĩa khi người dân địa phương chủ động tham gia, tham gia tích cực và có trách nhiệm vào các tour tuyến đó” [2, tr.11] Vì thế, nếu nhà quản lý, nhà tổ chức, nhà nghiên cứu

du lịch phối hợp tốt với họ sẽ thu được nhiều kết quả tích cực ngoài mong đợi trong công tác phát triển du lịch Tuy nhiên, nếu xu thế du lịch phát triển nhưng nhận thức và kỹ năng về

du lịch của cộng đồng địa phương lại không phát triển tương xứng, chẳng hạn, người dân không biết cách làm du lịch, không biết ứng

xử khi gặp du khách nhất là người nước ngoài, không biết ngoại ngữ, không biết cách tận dụng hoạt động du lịch để phát triển bản thân, cộng đồng và địa phương; môi trường du lịch như nhà nghỉ, khách sạn, quán ăn, nhà hàng, cửa hàng do người dân quản lý không phục

vụ tốt cho du khách,… thì sẽ là những lực cản kìm hãm sự phát triển du lịch ở địa phương nói riêng, Việt Nam nói chung

Xuất phát từ vai trò quan trọng của cộng đồng địa phương trong phát triển du lịch, chúng tôi đề xuất một vài phương án để nâng cao chất lượng của nguồn lực cộng đồng địa phương như: 1) Các bên liên quan khác, nhất là chính quyền địa phương và các doanh nghiệp

Trang 9

dân địa phương làm du lịch bằng cách tiến

hành mở các lớp đào tạo, các buổi nói chuyện

chuyên đề để nâng cao trình độ và nhận thức

của họ về du lịch, thường xuyên tuyên truyền

các thông tin về du lịch đến người dân; 3)

Khuyến khích người dân địa phương tham

gia có trách nhiệm vào du lịch, hỗ trợ các hộ

dân liên quan đến hoạt động du lịch của địa

phương; 4) Đào tạo nhanh về ngoại ngữ giao

tiếp cho những người dân trực tiếp tham gia

vào hoạt động du lịch; 5) Chia sẻ lợi ích công

bằng cho những hộ dân tham gia vào hoạt

động du lịch Nếu làm được những điều này

thì cộng đồng địa phương sẽ là kênh trực tiếp

đóng góp tích cực trong sự nghiệp phát triển

du lịch ở các địa phương

Trong phạm vi bài viết, chúng tôi chưa

đề cập cụ thể đến yếu tố công nghệ mà gộp

nó vào trong định hướng 3, vì nếu không có

con người có trình độ cao để vận hành công

nghệ hiện đại thì dù công nghệ có hiện đại thế

nào cũng không thể phục vụ tốt cho du lịch

Việt Nam Hơn nữa, với những đặc thù riêng

về nguồn tài nguyên của ngành cùng với

điều kiện kinh tế của các doanh nghiệp kinh

doanh du lịch ở Việt Nam thì không thể đòi

hỏi phải đạt được những thành tựu ứng dụng

công nghệ cao như trong những ngành công

nghệ, kỹ thuật, khoa học cao khác Nói như thế

không có nghĩa là chúng tôi bị lạc hậu giữa

bối cảnh nhiều người đang hô hào về thời đại

4.0 Chúng tôi vẫn ủng hộ các chính sách phát

triển du lịch Việt Nam có sử dụng công nghệ

cao, hy vọng vào một tương lai vận dụng công

nghệ hiện đại vào phát triển du lịch, chẳng

hạn trong kinh doanh nhà hàng - khách sạn

hoặc trong hệ thống quản lý thông tin của các

công ty lữ hành

Tuy nhiên, nếu nhìn vào thực tế của ngành

Du lịch Việt Nam, công nghệ hiện đại vẫn chưa

phải là yếu tố quyết định cho toàn bộ định

hướng phát triển bền vững sắp tới của ngành

Đặc biệt là trong hầu hết các loại hình du lịch

ở Việt Nam như du lịch di sản, du lịch sinh

thái, du lịch cộng đồng, du lịch tham quan, du

lịch hành hương, du lịch về nguồn,… thì đôi

ra những kết quả trái với mong đợi Liên quan đến khía cạnh này, Ruth Benedict từng viết:

“Các xã hội loài người ở khắp mọi nơi đã đưa ra

sự lựa chọn trên cơ sở những thiết chế văn hóa của họ Văn hóa này không coi trọng những giá trị vật chất; văn hóa khác lại coi nó là nền tảng của mọi khía cạnh hành vi Trong xã hội này khoa học kỹ thuật xuất hiện thậm chí trong những khía cạnh cuộc sống cần thiết để đảm bảo sự sinh tồn; trong xã hội khác, không kém phần đơn giản, những thành tựu khoa học kỹ thuật tương tự lại là sự phức tạp và phù hợp với hoàn cảnh tốt đẹp đáng ngưỡng mộ” [5, tr.17] Thời đại 4.0 nên được hiểu là khoảng thời gian người ta ứng dụng công nghệ hiện đại vào đời sống, mà muốn ứng dụng thì cần phải tạo ra được công nghệ, điểm này Việt Nam còn nhiều hạn chế Hơn nữa, hiện nay vẫn đang trong giai đoạn đầu của thời đại 4.0, Việt Nam cần nhiều nỗ lực trên mọi phương diện để có thể trở thành đất nước mà ở đó công nghệ hiện đại là phần tất yếu của cả xã hội

Kết luận

Cách nói con gà đẻ trứng vàng nên được

xem là động lực và là mục tiêu phát triển bền vững của ngành Du lịch Việt Nam, không nên xem nó là mục tiêu lợi nhuận cần đạt được bất chấp những mặt trái trên phương diện kinh tế,

văn hóa, xã hội, môi trường tự nhiên Con gà

là một động vật có thể đẻ được nhiều trứng, nhưng nếu con gà đó không đủ sức khỏe,

không được nuôi dưỡng tốt thì liệu nó có thể

tiếp tục đẻ, hơn nữa lại là đẻ trứng vàng - quả

trứng khó tìm trong hàng ngàn quả trứng bình thường Cách ví von này nhằm hàm chỉ ngành

Du lịch Việt Nam cần được phát triển bền vững thật sự trên cơ sở bảo vệ những nguồn tài nguyên sẵn có của quốc gia, xây dựng và bổ sung thêm nguồn tài nguyên mới nếu có thể Tài nguyên càng phong phú, càng đa dạng thì việc phát triển du lịch Việt Nam sẽ càng thuận lợi Sự phát triển du lịch Việt Nam không sợ không có được kế hoạch hay chiến lược tốt,

mà chỉ sợ không có nguồn lực để vận hành, khi đó dù có chiến lược hay đến mấy cũng không thể sử dụng được, không có kết quả tốt được

Trang 10

V Ă N HÓ A

Các định hướng phát triển bền vững du lịch

Việt Nam đều phải xoay quanh hai nhiệm vụ

trọng tâm: khai thác đi đôi bảo vệ Các nguồn

tài nguyên du lịch cần được khai thác có định

hướng rõ ràng theo từng giai đoạn, tránh tình

trạng làm tổn hại đến khả năng duy trì và phục

hồi của nguồn tài nguyên Việt Nam có 54

tộc người với 6 vùng văn hóa; mỗi tộc người,

mỗi vùng văn hóa đều có những tài nguyên

tự nhiên và nhân văn riêng tạo nên chỉnh thể

bức tranh tài nguyên du lịch Việt Nam đa dạng

Những người quản lý và vận hành du lịch Việt

Nam, nếu biết tận dụng tốt nguồn tài nguyên

này theo định hướng vừa khai thác vừa bảo vệ,

có thể khiến cho du lịch Việt Nam tiến xa hơn

và lâu dài trong tương lai Điều đáng quan tâm

trong quá trình phát triển bền vững du lịch Việt

Nam đó là cần có sự phối hợp hiệu quả giữa

các bên liên quan trong tất cả các hoạt động

du lịch Việc tiến hành trao quyền phù hợp cho

các bên để họ chủ động phối hợp và tham gia

tích cực trong các dự án phát triển du lịch ở

Việt Nam là một phương án hữu hiệu cần được

thực hiện Với tất cả nguồn tài nguyên đang

có, nếu đi theo định hướng vừa khai thác vừa

bảo vệ, cộng thêm đội ngũ nhân lực có tâm

huyết, có trình độ và chuyên môn cao dưới

đường lối, chính sách phù hợp của Nhà nước

thì chắc chắn du lịch Việt Nam trong tương lai

sẽ đạt được mục tiêu phát triển bền vững, có

thể trở thành trung tâm du lịch của khu vực và

nổi tiếng trên toàn thế giới

L.T.A

(TS., Trường Đại học KHXH&NV Tp Hồ Chí Minh)

Tài liệu tham khảo

1 Lưu Tuấn Anh (2017), “Du lịch từ góc nhìn

văn hóa”, Tạp chí Văn hóa và nguồn lực, số 11(3),

tr.17-24

2 Lưu Tuấn Anh (2018), “Cộng đồng địa

phương trong công tác bảo tồn và phát huy các

di sản văn hóa ở miền Tây Nam Bộ từ lý thuyết

Các bên liên quan”, in trong Kỷ yếu Hội thảo quốc

tế Hội nhập quốc tế về bảo tồn - Cơ hội và thách

thức cho các giá trị di sản văn hóa, Nxb Đại học

3 Lưu Tuấn Anh (2019), “Vận dụng lý thuyết trò chơi trong phát triển sản phẩm du lịch từ các

di sản văn hóa ở tỉnh Bình Phước”, in trong Kỷ yếu

Hội thảo khoa học Thực trạng và các nhân tố ảnh

hưởng đến sản phẩm du lịch Bình Phước, lợi thế

so sánh và năng lực cạnh tranh của sản phẩm du lịch Bình Phước, Trường Đại học Bình Dương, Bình

Dương, tr.206-223

4 Quốc hội Việt Nam (2017), Luật Du lịch,

https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Van-hoa-Xa-hoi/Luat-du-lich-2017-322936.aspx

5 Ruth Benedict (1934), Patterns of Culture,

Houghton Mifflin company, New York

6 Stephen P.Robbins, Timothy A.Judge (2013),

Organizational behavior, Pearson Education,

United States

7 Tổng cục Du lịch (2019), “Cơ sở lưu trú du lịch giai đoạn 2000-2018”, http://vietnamtourism gov.vn/index.php/items/13461

8 Tổng cục Du lịch (2019), “Doanh nghiệp

lữ hành quốc tế giai đoạn 2005-2018”, http:// vietnamtourism.gov.vn/index.php/items/13466

9 Tổng cục Du lịch (2019), “Khách du lịch nội địa giai đoạn 2000-2018”, http://vietnamtourism gov.vn/index.php/items/13460

10 Tổng cục Du lịch (2019), “Khách quốc tế đến Việt Nam tháng 6 và 6 tháng năm 2019”, http://vietnamtourism.gov.vn/index.php/ items/29458

11 Tổng cục Du lịch (2019), “Tổng thu từ khách du lịch giai đoạn 2000-2018”, http:// vietnamtourism.gov.vn/index.php/items/13462

12 Khánh Trang (2018), “Thống kê du lịch có vai trò đặc biệt quan trọng trong công tác quản

lý và hoạch định chính sách phát triển ngành”, http://thongke.tourism.vn/

13 Nguyễn Minh Tuệ (chủ biên) (1999), Địa

lý du lịch, Nxb Tp Hồ Chí Minh, Tp Hồ Chí Minh.

14 Bùi Thị Hải Yến (2007), Quy hoạch du lịch,

Nxb Giáo dục, Hà Nội

Ngày nhận bài: 6 - 8 - 2019 Ngày phản biện, đánh giá: 26 - 8 - 2019 Ngày chấp nhận đăng: 25 - 9 - 2019

Ngày đăng: 09/04/2021, 23:29

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w