1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tieng hat con tau Che Lan Vien

6 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 17,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

VÒ víi nh©n d©n lµ vÒ víi ngän nguån bÊt tËn cña cuéc sèng, vÒ víi ngän nguån cña sù s¸ng t¹o nghÖ thuËt, vÒ víi nh÷ng g× th©n thiÕt, s©u nÆng nhÊt cña lßng m×nh.. b..[r]

Trang 1

Tiếng hát con tàu

Chế Lan Viên

A Mục tiêu bài học:

- Cảm nhận đợc tình cảm hớng về nhân dân và đất nớc, với những kỉ niệm sâu nặng nghĩa tình trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp cũng là về với ngọn nguồn của nghệ thuật, của cảm hứng sáng tạo thơ ca

- Nắm đợc những nét đặc sắc về nghệ thuật của bài thơ: cảm xúc gắn bó với suy tởng, triết lí, khai thác những tơng quan đối lập; khả năng liên tởng phong phú và đặc biệt là nghệ thuật xây dựng những hình ảnh

đa dạng, đầy sáng tạo

B Nội dung bài học:

I Tiểu dẫn:

1 Tác giả:

- Chế Lan Viên ( 1920 - 1989 ) tên khai sinh là Phan Ngọc Hoan, sinh ngày 23 - 10 - 1920, quê gốc ở xã Cam An, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị Nhng thuở nhỏ và nhiều năm thời thanh niên sống cùng gia đình ( từ năm 1927, gia đình ông chuyển vào An Nhơn, Bình Định ) ở Bình Định nên đây cũng là quê hơng thứ hai của nhà thơ

- Chế Lan Viên làm thơ từ lúc 12, 13 tuổi

- Sau khi tốt nghiệp Trung học, ông đi dạy học ở trờng t , làm báo ở Sài Gòn và các tỉnh miền Trung Tập

thơ đầu tay - Điêu tàn - xuất bản lúc tác giả mới 17 tuổi ( năm 1937 - khi ông đang là học sinh trung học )

đợc d luận đặc biệt chú ý, đã khẳng định Chế Lan Viên là một trong số những nhà thơ tiêu biểu của Phong trào Thơ mới

- Ông tham gia cách mạng tháng Tám ở Quy Nhơn, rồi trong kháng chiến chống thực dân Pháp, ông hoạt

động văn nghệ và báo chí ở khu liên IV và chiến trờng Bình Trị Thiên, Chế Lan Viên đã tìm đợc con đờng cho thơ mình đến với nhân dân và đời sống cách mạng

- Sau năm 1954, ông về Hà Nội tiếp tục hoạt động văn học, nhiều năm tham gia lãnh đạo Hội Nhà văn Việt Nam, là đại biểu quốc hội các khóa IV, V, VI và VII

- Sau 1975, ông vào sống ở TP HCM, tiếp tục hoạt động văn học cho tới lúc qua đời ( 19 - 6 - 1989 )

- Năm 1996, ông đợc Nhà nớc phong tặng Giải thởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật ( đợt I )

2 Sự nghiệp sáng tác:

- Chế Lan Viên là nhà thơ lớn của nền văn học hiện đại Việt Nam Con đờng thơ của Chế Lan Viên trải qua nhiều chặng đờng với những bớc ngoặt đánh dấu sự chuyển biến t tởng và những tìm tòi về đổi mới nghệ thuật của nhà thơ

- Trớc cách mạng, với tập thơ Điêu tàn ( 1937 ), Chế Lan Viên đã đột ngột xuất hiện ra giữa làng thơ Việt

Nam nh một niềm kinh dị ( Hoài Thanh ), chinh phục ngời đọc bằng một t duy thơ độc đáo, khác thờng với

chí tởng tợng phong phú, mãnh liệt, những hình ảnh mới lạ, đã tạo ra một thế giới kinh dị, thần bí và sớm

đi vào bế tắc

- Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã hồi sinh hồn thơ Chế Lan Viên, mở ra một chân trời mới cho thơ

ông Từ sau 1945 đến 1975, thơ Chế Lan Viên càng ngày càng bắt rễ sâu vào đời sống rộng lớn của nhân dân và đất nớc Trong những năm cao trào chống Mĩ cứu nớc, thơ Chế Lan Viên nóng hổi tính thời sự, giàu chất sử thi, chất anh hùng ca và chất chính luận, có vẻ đẹp trí tuệ độc đáo

- Sau năm 1975, thơ Chế Lan Viên lại trở về với đời sống thế sự và những trăn trở, chiêm nghiệm về cái tôi

trong mối quan hệ phong phú, phức tạp của đời sống

- Thơ Chế Lan Viên có phong cách rõ nét và độc đáo: có vẻ đẹp trí tuệ, luôn có ý thức khai thác triệt để những tơng quan đối lập, giàu chất suy tởng triết lí với thế giới hình ảnh đa dạng, phong phú, đầy sức sáng tạo của thế giới hình ảnh thơ đợc sáng tạo bởi một ngòi bút thông minh, tài hoa

- Những tác phẩm chính:

+ Các tập thơ: Điêu tàn ( 1937 ); ánh sáng và phù sa ( 1960 ); Hoa ngày thờng, chim báo bão (

1967 ); Những bài thơ đánh giặc ( 1972 ); Đối thoại mới ( 1973 ); Hoa trớc lăng Ngời ( 1976 );

Hái theo mùa ( 1977 ); Hoa trên đá ( 1984 ); Di cảo thơ, tập I ( 1992 ), tập II ( 1993 ) và tập III

( 1996 )

+ Các tập tiểu luận - phê bình: Vào nghề ( 1962 ), Phê bình văn học ( 1962 ), Suy nghĩ và bình

luận ( 1971 ), Từ gác Khuê Văn đén quán Trung Tân ( 1981 ), Nghĩ cạnh dòng thơ (1981 ).

3 Xuất xứ, hoàn cảnh sáng tác và những hình ảnh mang ý nghĩa biểu tợng:

a Xuất xứ:

Bài thơ rút từ tập Ánh sáng và phù sa ( 1960 ), một tập thơ xuất sắc, kết tinh t tởng và nghệ thuật thơ Chế

Lan Viên trên con đờng thơ cách mạng

b Hoàn cảnh sáng tác:

- Bài thơ có liên quan đến một sự kiện kinh tế - chính trị, xã hội: cuộc vận động đồng bào miền xuôi lên xây dựng kinh tế ở miền núi Tây Bắc vào những năm 1958 - 1960 ở miền Bắc

+ Vào những năm 1958 - 1960, có phong trào vận động đồng bào miền xuôi ( chủ yếu là thanh niên ) lên xây dựng kinh tế ở miền núi Tây Bắc Cũng từ giữa năm 1958, theo tiếng gọi của Đảng, nhiều văn nghệ sĩ đi thâm nhập thực tế công cuộc xây dựng đất nớc ở nhiều vùng, trong đó lên Tây Bắc có Nguyễn Tuân, Nguyễn Huy Tởng, Nguyễn Khải Lúc ấy Chế Lan Viên cha đến đợc Tây

Trang 2

Bắc, ông đã gửi lòng mình vào bài thơ này Bài thơ Lên miền Tây của Bùi Quốc Minh với những câu thơ đầy hào hứng: Lứa tuổi hai mơi khi hớng đời đã thấy - Thì xa xôi biết mấy cũng lên đờng rất quen thuộc với thanh niên hồi bấy giờ Nhng Tiếng hát con tàu không đơn giản chỉ là bài thơ

minh họa sự kiện kinh tế - chính trị trên Phong trào vận động đồng bào miền xuôi lên xây dựng kinh tế ở miền núi chỉ là một trong những nhân tố tạo nên cảm hứng sáng tác ở Chế Lan Viên, là cái nguyên cớ để nhà thơ thể hiện khát vọng về với nhân dân, với những kỉ niệm sâu nặng nghĩa tình của nhân dân trong những năm tháng chiến đấu gian khổ, cũng là sự tìm về nơi ngọn nguồn của hồn thơ, của cảm hứng sáng tạo thơ ca

Sự kiện chính trị đã lùi xa, nhng bài thơ thì vẫn còn lại nh một chứng tích tâm hồn của nhà thơ, với những tình cảm và khát vọng vừa sôi nổi, vừa lắng đọng, những suy ngẫm và cảm nhận về đời sống kết tinh đợc sự trải nghiệm của tác giả qua nhiều năm tháng

+ Lấy sự kiện chính trị - xã hội làm điểm xuất phát, khơi gợi cảm hứng sáng tác là một cách khai thác đề tài khá quen thuộc của Chế Lan Viên Song, từ những điểm xuất phát đó, xu h ớng chung của thơ Chế Lan Viên là vơn lên nhằm đạt tới sự khái quát sâu sắc về cuộc sống và nghệ thuật

- Hoàn cảnh và tâm trạng riêng của tác giả khi viết bài thơ Tiếng hát con tàu: sau kháng chiến chống Pháp,

Chế Lan Viên ốm nặng, phải đi chữa bệnh dài ở Trung Quốc Trở về nớc, ông vẫn còn rất yếu Trong không khí sôi động của miền Bắc những năm bớc vào công cuộc xây dựng cuộc sống mới, Chế Lan Viên không thể đi đến các vùng đất xa xôi của Tổ quốc, ông đã thể hiện khát vọng lên đờng qua bài thơ này Nhng xét sâu hơn, bài thơ ra đời chủ yếu vì nhu cầu giải bày tình cảm ân nghĩa của tác giả đối với nhân dân, đối với cuộc đời và cách mạng

c Những hình ảnh và địa danh mang ý nghĩa biểu tợng:

Trong bài thơ, con tàu và Tây Bắc là những hình ảnh có ý nghĩa biểu tợng:

- Con tàu:

Khi bài thơ ra đời thì cha có đờng tàu và con tàu nào lên Tây Bắc Hình ảnh con tàu là biểu tợng cho tâm

hồn nhà thơ đang khao khát lên đờng, vợt ra khỏi cuộc sống chật hẹp, quẩn quanh để đến với cuộc sống rộng lớn, đến những miền xa xôi, đến với nhân dân, đất nớc và cũng còn là đến với những mơ ớc, những ngọn nguồn của cảm hứng nghệ thuật

- Tây Bắc:

í nghĩa cụ thể: chỉ địa danh một vùng đất xa xôi của Tổ quốc - nơi có cuộc sống gian lao mà nặng nghĩa tình của nhân dân, nơi đã khắc ghi những kỉ niệm không thể quên của một đời ng ời trải qua cuộc kháng

chiến, nơi đang vẫy gọi đi tới Ngoài ý nghĩa cụ thể thỡ Tây Bắc còn là một biểu tợng của cuộc sống lớn

của nhân dân và đất nớc, là cội nguồn cảm hứng của nghệ thuật, cội nguồn cảm hứng của hồn thơ và những sáng tạo thơ ca Vì vậy, lời giục giã ra đi, kêu gọi lên Tây Bắc cũng là lời kêu gọi hãy trở về với chính lòng mình, tìm đến tâm hồn mình với những tình cảm trong sáng, nghĩa tình sâu nặng gắn bó nhân dân và đất nớc

4 í nghĩa nhan đề bài thơ:

- Bài thơ ra đời khi cha có đờng tàu lên Tây Bắc Hình ảnh con tàu thực chất là hình ảnh biểu tợng, thể hiện

khát vọng lên đờng và niềm mong ớc của nhà thơ đợc đến với mọi miền đất nớc

- Tiếng hát con tàu, nh vậy là tiếng hát của tâm hồn nhà thơ đầy xỳc động, khỏt khao hướng đến hiện thực

của đất nước, một tâm hồn tràn ngập niềm tin vào lí tởng vào cuộc đời Tâm hồn nhà thơ đã hóa thân thành con tàu, hăm hở làm cuộc hành trình đến với Tây Bắc, đến với cuộc sống lớn của nhân dân Đến với đất n

-ớc, nhân dân cũng là đến với cội nguồn của cảm hứng sáng tạo nghệ thuật, trong đó có thơ ca

- Tiếng hỏt con tàu là tiếng hỏt của niềm vui được trở về với nhõn dõn, được hũa nhập vào cuộc sống mới

và sức mạnh của cộng đồng, để tỡm lại chớnh mỡnh, vươn tới những chõn trời mới mẻ của đời sống và thi

ca

II Bố cục tác phẩm:

Bài thơ có thể chia làm 3 đoạn:

- Đoạn 1 ( hai khổ thơ đầu ): thể hiện sự trăn trở của nhà thơ trước hiện thực đất nước đang cần sự cống hiến của những bàn tay khối úc, cần khai phỏ những đề tài mới mẻ trong văn học và lời giục giã, mời gọi lên đờng

- Đoạn 2 ( chín khổ thơ tiếp theo ): niềm hạnh phúc và khát vọng về với nhân dân, gợi lại những kỉ niệm sâu nặng đầy tình nghĩa trong những năm kháng chiến

- Đoạn 3 ( bốn khổ thơ cuối ): khỳc hỏt lờn đường sôi nổi, tin tởng và say mê đó giục gió nhà thơ đến với cuộc sống mới, tỡm thấy nguồn đề tài mới (4 khổ thơ cuối)

III Đọc hiểu văn bản:

1 Khổ đề từ:

- Bốn câu thơ đề từ của bài ( mà tác giả có ý định làm đề từ chung cho một chùm thơ ) có tính khái quát rộng hơn, vợt lên các sự việc cụ thể Cấu trúc vần thơ dới hình thức hỏi - đáp Không chỉ bằng câu hỏi mà

đáp cũng bằng câu hỏi Giọng điệu ngân vang, say mê, hào hứng:

Tây Bắc ? Có riêng gì Tây Bắc Khi lòng ta đã hóa những con tàu

Trang 3

Khi Tổ quốc bốn bề lên tiếng hát Tâm hồn ta là Tây Bắc chứ còn đâu ?

- Bao trùm lên khổ đề từ là niềm tự hào về một tình yêu lớn của nhà thơ Hỏi - đáp để tự khẳng định sự thức nhận của tâm hồn mình

+ Câu một nói lên tình cảm cao đẹp, rộng lớn: không chỉ yêu riêng Tây Bắc mà nhà thơ còn h ớng tâm hồn mình đến với mọi miền bao la của đất nớc bao la với tất cả tình yêu thơng tha thiết

+ Câu hai và ba chỉ rõ nguồn gốc của tình cảm cao đẹp đó Điều kiện chủ quan là khi lòng ta đã

hóa những con tàu, tự thân ta đã sống với một khát vọng đẹp muốn đi tới mọi miền của Tổ quốc

thân yêu để hiến dâng và phục vụ Điều kiện khách quan là hiện thực xã hội, là không khí của thời

đại: Khi Tổ quốc bốn bề lên tiếng hát Đó là một thời kì rất đẹp, rất sôi động trên miền Bắc nớc ta.

Nhân dân phấn khởi, hào hứng xây dựng đất nớc và cuộc sống mới

+ Câu bốn là hệ quả tất yếu mà điều kiện chủ quan và khách quan đa tới: Tâm hồn ta là Tây Bắc

chứ còn đâu ? Câu hỏi tu từ vang lên kiêu hãnh biểu lộ tâm hồn mình đã hòa nhập, đã gắn bó, đã

yêu mến nồng hậu Tây Bắc

 Có thể nói, với Chế Lan Viên, hành trình đến với nhân dân, đến với cuộc đời rộng lớn cũng là sự trở về với chính tâm hồn mình, làm giàu có thêm tâm hồn thơ của mình Ông đã tìm ra một cách diễn đạt thông minh, sắc sảo nhng cũng khá cầu kì để thể hiện sự hòa nhập t tởng, tình cảm tâm hồn của ngời nghệ sĩ với cuộc đời rộng lớn của nhân dân, đất nớc Tình cảm, tâm hồn của nhà thơ (

Khi lòng ta đã hóa những con tàu ) một khi đã hòa nhập với không khí nào nức, tng bừng, với niềm

vui chung của nhân dân trong cuộc dựng xây đất nớc ( Khi Tổ quốc bốn bề lên tiếng hát ) thì cũng

là lúc soi vào lòng mình, nhà thơ có thế thấy đợc cả cuộc đời rộng lớn ( Tâm hồn ta là Tây Bắc chứ

là đâu ) ý tởng này đã đợc Chế Lan Viên diễn tả trong bài thơ Chim lợn trăm vòng:

Tâm hồn tôi khi Tổ quốc soi vào Thấy ngàn núi trăm sông diễm lệ

Với cách so sánh và cách nói hấp dẫn, mới mẻ, hình ảnh biểu tợng thì khổ đề từ không chỉ nói lên tình yêu Tây Bắc, tình yêu Tổ quốc mà còn thể hiện sự biện luận sắc sảo - một nét đẹp trong thi pháp của Chế Lan Viên

2 Sự trăn trở của nhà thơ trước hiện thực đất nước đang cần sự cống hiến của những bàn tay khối úc, cần khai phỏ những đề tài mới mẻ trong văn học và lời giục giã, mời gọi lên đờng:

- Đoạn đầu là lời giục giã với những câu hỏi tu từ ngày càng dồn dập, tăng tiến nhằm diễn tả sự trăn trở, bức xúc:

Con tàu này lên Tây Bắc anh đi chăng ?

Ngoài cửa ô ? Tàu đói những vành trăng.

Tàu gọi anh đi, sao chửa ra đi ?

- Nhân vật trữ tình anh:

Có sự phân thân trong chủ thể của chính tác giả: con ngời mặt trái của nhà thơ - con ngời này đã một

thời chìm đắm trong cái triết lí siêu hình

- Sự trăn trở của nhà thơ đợc thể hiện qua một loạt hình ảnh nh gió ngàn, vành trăng, Đây là những hình

ảnh đẹp, thể hiện đợc thực tế cuộc sống rộng lớn, khêu gợi khát vọng lớn lao, đẹp đẽ của con ngời Đồng thời, nó còn thể hiện đợc sự nhận thức của tác giả đó là nhận thực về một thế giới nhỏ hẹp, đóng khép của các nhân với cuộc đời rộng lớn để từ đó, tác giả dẫn đến sự nhận thức rất sáng tạo trong thơ ca: nguồn thơ chỉ có giữa cuộc đời chung, chất thơ phải nằm trong cuộc đời sôi động chứ không nằm trong thế giới của trí tởng tợng siêu hình:

Chẳng có thơ đâu giữa lòng đóng khép Tâm hồn anh chờ gặp anh trên kia.

3 Niềm khao khát mãnh liệt và niềm hạnh phúc lớn lao của nhà thơ khi trở về với nhân dân cùng với những kỉ niệm sâu nặng đầy tình nghĩa trong những năm kháng chiến:

a Niềm khao khát mãnh liệt và niềm hạnh phúc lớn lao của nhà thơ khi trở về với nhân dân:

- Cảm xúc chung của tác giả về Tây Bắc, có tính chất khái quát:

Bài thơ của Chế Lan Viên viết khi đất nớc đã qua 5, 6 năm trong hòa bình Kháng chiến đã lùi xa vào kỉ niệm, nhng đó là những năm tháng không thể nào quên, những kỉ niệm không thể nào phai nhạt Với lớp

trí thức, văn nghệ sĩ tiền chiến, sau 1945 đi với cách mạng thì cuộc kháng chiến chống Pháp càng có một

ý nghĩa đặc biệt: những năm kháng chiến chính là thời kì diễn ra sự biến chuyển của cuộc đời và con đ ờng nghệ thuật của họ đến với nhân dân, dân tộc và cách mạng Nên Chế Lan Viên nói về kháng chiến với lòng biết ơn sâu nặng:

Ơi kháng chiến ! Mời năm qua nh ngọn lửa Nghìn năm sau, còn đủ sức soi đờng.

Trang 4

Cảm xúc này đợc bắt nguồn từ mời năm trong kháng chiến, từ sự hi sinh lớn lao của dân tộc Giờ đây

Tây Bắc đã trở thành một miền đất thiêng liêng, anh hùng, trở thành thành quả của dân tộc Từ gọi Ơi

kháng chiến là tiếng gọi vô cùng thân thiết và thiêng liêng lại đợc kết hợp với hình ảnh ngọn lửa để nhằm

nói đến hình ảnh thắp sáng và có ý nghĩa soi đờng để từ đó Chế Lan Viên đã nâng lên thành hình ảnh khái quát: một ngọn lửa đã tỏa sáng trong mời năm và còn mãi mãi tỏa sáng trong nghìn năm sau

- Tình cảm gắn bó với Tây Bắc ruột thịt, thiêng liêng: từ Mẹ là nói đến mẹ nhân dân, lại đợc kết hợp với

định ngữ yêu thơng nhằm khẳng định tấm lòng tri ân, thiết tha của tác giả đối với Tây Bắc.

- Cảm xúc sâu sắc cụ thể để diễn tả niềm khát khao mãnh liệt vào niềm hạnh phúc tột bậc của nhà thơ khi

trở về với nhân dân Tình cảm bao trùm là lòng biết ơn sâu nặng và niềm hạnh phúc lớn lao của cái tôi trữ

tình khi từ bỏ thế giới nhỏ hẹp của cá nhân để về với nhân dân:

Con gặp lại nhân dân nh nai về suối cũ

Cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa

Nh đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đa.

+ Đối với ngời con ở đây, nhân dân là những gì thân thơng mật thiết, là ngọn nguồn của sự sống, là bầu sinh khí, là nguồn sinh lực, luôn cu mang, che chở, tiếp sức, Cho nên về với nhân dân là một

lẽ sống lớn, một hạnh phúc lớn ý nghĩa đó đợc thể hiện qua một loạt những hình ảnh so sánh

Những hình ảnh này vừa có vẻ thơ mộng, mợt mà ( nai về suối cũ, cỏ đón giêng hai, chim én gặp

mùa ), vừa có sự hòa hợp giữa nhu cầu, khát vọng của bản thân với hiện thực ( trẻ thơ đói lòng gặp sữa, nôi ngừng gặp cánh tay đa ) Đây cũng chính là mối quan hệ thiêng liêng giữa cá nhân và cộng

đồng, giữa con ngời và cuộc sống nói chung

+ Thiên nhiên và con ngời đợc đặt trong cái lẽ tự nhiên, phù hợp với quy luật cũng nh đối với nhà

thơ, đợc trở về với nhân dân không chỉ là niềm vui, niềm khao khát mà còn là một lẽ tự nhiên và

phù hợp với quy luật

 Những câu thơ đã diễn tả thật sâu sắc và cảm động về niềm hạnh phúc tột độ và ý nghĩa sâu xa của việc trở về với nhân dân Về với nhân dân là về với ngọn nguồn bất tận của cuộc sống, về với ngọn nguồn của sự sáng tạo nghệ thuật, về với những gì thân thiết, sâu nặng nhất của lòng mình

b Những kỉ niệm gắn bó nghĩa tình trong kháng chiến:

- Đoạn thơ tràn ngập trong nỗi nhớ da diết, bồi hồi về những kỉ niệm với Tây Bắc của một ng ời con luôn khắc cốt ghi tâm bao ơn nghĩa

- Khát vọng trở về với nhân dân đợc tác giả thể hiện thông qua những cảm xúc chân thành, những tình cảm

cụ thể, những tình cảm sâu sắc gắn liền với những con ngời tiêu biểu cho sự hi sinh, cu mang đùm bọc của nhân dân trong kháng chiến Nhân dân ở đây không còn là một khái niệm chung chung, trừu tợng mà hiện

ra qua những hình ảnh, những con ngời cụ thể, gần gũi, xiết bao thơng mến Đứng đầu mỗi khổ thơ là điệp

từ con nhớ và sau đó là những đối tợng cụ thể:

+ Anh con, ngời anh du kích với chiếc áo nâu một đời vá rách:

Con nhớ anh con, ngời anh du kích Chiếc áo nâu anh mặc đêm công đồn.

Chiếc áo nâu suốt một đời vá rách

Đêm cuối cùng anh cởi lại cho con.

Nhớ đến ngời anh là tác giả nhớ đến màu áo nâu, chiếc áo giản dị gắn với những chiến công và

kết tinh lại là hình ảnh rất cảm động của sự hi sinh, san sẻ: Đêm cuối cùng anh cởi lại cho con + Em con, thằng em liên lạc:

Con nhớ em con, thằng em liên lạc Rừng tha em băng, rừng rậm em chờ Sáng bản Na, chiều em qua bản Bắc Mời năm tròn ! cha mất một phong th.

Khi nhớ tới ngời em là tác giả nhớ tới công việc giao liên, tinh thần vợt khó khăn để hoàn thành

xuất sắc nhiệm vụ ( Mời năm tròn ! cha mất một phong th ).

+ Bà mế già:

Con nhớ mế ! Lửa hồng soi tóc bạc Năm con đau, mế thức một mùa dài, Con với mế không phải hòn máu cắt Nhng trọn đời con nhớ mãi ơn nuôi.

Mế là hình ảnh kết tinh lại một cách cảm động từ những kỉ niệm tình cảm yêu thơng, hành động

hết lòng chăm sóc những đứa con đi kháng chiến Hình ảnh mế cũng là hình ảnh của những ngời

mẹ Việt Nam

 Với những điệp ngữ Con nhớ anh con, Con nhớ em con, Con nhớ mế, bài thơ chồng chất, ăm ắp

những kỉ niệm đợc gợi ra từ niềm hoài niệm về nhân dân của nhà thơ Cách xng hô của chủ thể trữ tình bộc lộ một tình cảm thân tình, ruột thịt với những con ngời đã từng gắn bó mật thiết với mình trong những năm kháng chiến Bằng những chi tiết cụ thể, gợi cảm, tác giả khắc họa hình ảnh những con ngời này với những hi sinh thầm lặng, lớn lao, với tình thơng và sự che chở, đùm bọc

trọn vẹn và rộng lớn: suốt một đời, đêm cuối cùng, mời năm tròn, một mùa dài, trọn đời, ( đây

là những từ ngữ bao hàm ý nghĩa trọng vẹn )

Trang 5

Đồng thời, qua đây chúng ta hiểu đợc sự rung động vừa sâu sắc, thân thiết, vừa say mê, mãnh liệt của một hồn thơ trong những giây phút bừng sáng của sự giác ngộ một chân lí đời sống và cũng là chân lí của nghệ thuật: phải trở về thủy chung gắn bó với nhân dân Tổ quốc và nhân dân đã hồi sinh cho một hồn thơ đã từng một thời gian giam mình trong cái tôi cô đơn, đóng khép Những câu thơ nói về tình nghĩa nhân dân biểu lộ một lòng biết ơn sâu nặng, sự gắn bó chân thành và những xúc động thấm thía của một tấm lòng, một trái tim; những câu thơ đợc viết bằng sự trải nghiệm thấm thía của chính nhà thơ qua những năm kháng chiến

- Từ những kỉ niệm ân tình, những hoài niệm về nhân dân, tác giả đã nâng lên thành những suy ngẫm, những chiêm nghiệm giàu sức khái quát, những chân lí đợc rút ra từ những trải nghiệm của chính mình:

Nhớ bản sơng giăng, nhớ đèo mây phủ Nơi nào qua, lòng lại chẳng yêu thơng ?

+ Điệp từ nhớ nh để khắc sâu, nhấn mạnh về một miền đất cụ thể nhng vẫn có nét riêng đó là sơng

giăng, mây phủ - những từ này gợi liên tởng cho chúng ta đến những miền đất xa xôi của Tổ quốc

vẫn còn đọng lại vấn vơng, bồi hồi trong kí ức của nhà thơ

+ Từ đây, tác giả nâng lên thành một triết lí của cuộc sống:

Khi ta ở, chỉ là nơi đất ở Khi ta đi, đất đã hóa tâm hồn !

Đất: khi ta ở, khi ta đến thì đất tồn tại nh một khái niệm địa lí thông thờng nhng khi rời xa, thì

đất đã hóa tâm hồn - khi chúng ta rời xa mảnh đất đã từng gắn bó với bao nghĩa tình đó thì tất cả sẽ

đợc bao bọc bởi những kỉ niệm khắc sâu trong tâm khảm, kỉ niệm đó sẽ lắng sâu vào kí ức thành

máu thịt thiêng liêng Tác giả đã tạo ra sự phi lí bề ngoài ( đất hóa tâm hồn ) là hình thức chứa

đựng chân lí bên trong: tình cảm gắn bó giữa con ngời với những miền đất sẽ theo thời gian mà âm thầm bồi đắp nên tâm hồn cho con ngời Đó là điều kì diệu mà tình cảm con ngời đã làm đợc để biến kỉ niệm với những miền đất mà mình đã từng qua thành tâm hồn của chính mình Đây là một triết lí sâu sắc, thâu tóm đợc một quy luật phổ biến trong đời sống nhân sinh Từ cảm xúc suy t đúc kết thành những triết lí chính là một nét độc đáo của nghệ thuật thơ Chế Lan Viên

- Tác giả đa ra suy ngẫm về tình yêu và về miền đất lạ:

Anh bỗng nhớ em nh đông về nhớ rét Tình yêu ta nh cánh kiến hoa vàng

Nh xuân đến chim rừng lông trở biếc

Nói đến tình yêu trong nỗi nhớ, câu thơ Chế Lan Viên lấp lánh, rực rỡ những sắc màu, bồi hồi, xôn xao những xúc động Chế Lan Viên đã diễn tả thật hóm hỉnh, độc đáo và sâu sắc mối quan hệ khăng khít, sự gắn bó chặt chẽ giữa những ngời đang yêu Hai hình ảnh so sánh thật độc đáo: rét là một thuộc tính của mùa đông, là quy luật của tự nhiên Nói đến mùa đông là phải nói đến rét cũng nh trong tình yêu, trong nỗi nhớ của con ngời cũng vậy

 Từ đây, tác giả nâng lên thành tình cảm sâu sắc và thiêng liêng:

Tình yêu làm đất lạ hóa quê hơng

Một câu thơ ngắn gọn nhng có sự cô đúc, khái quát sâu sắc Câu thơ không chỉ giới hạn trong tình yêu

đôi lứa của anh và em mà còn là sự kết tinh của những tình cảm sâu nặng đối với quê h ơng, đất nớc: ở đâu thắm thiết nghĩa tình thì ở đó là quê hơng Mạch thơ tởng nh đột ngột rẽ sang một bớc khác, nhng kì thực

là khơi sâu thêm cái mạch suy nghĩ, triết luận của khổ thơ trớc Nói về tình yêu nhng lại hớng tới sự cắt nghĩa, lí giải, làm bừng sáng ý nghĩa của cả đoạn thơ Chế Lan Viên đã nói tới phép màu của tình yêu Chính tình yêu đã biến thành những miền đất xa lạ trở thành thân thiết nh quê hơng ta, hóa thành máu thịt tâm hồn ta

Những câu thơ cô đúc nh một châm ngôn chứa đựng những phát hiện sâu sắc về quy luật của tình cảm

này không xuất phát, không lấy điểm tựa làm trí tuệ sắc sảo mà chủ yếu đợc Chế Lan Viên kiến tạo trên cái nền của những xúc động của chính tâm hồn mình, lắng nghe tiếng lòng của chính mình mà chiêm nghiệm ra một chân lí phổ quát của đời sống tình cảm con ngời Chính vì triết lí đợc rút ra từ tình cảm, cảm xúc chân thành, cho nên triết lí mà vẫn không khô khan, vẫn tự nhiên, dung dị Đó là những câu thơ vào loại hay nhất của đời thơ Chế Lan Viên

4 Khúc hát lên đờng đầy lôi cuốn, sôi nổi và say mê:

Bốn khổ thơ cuối là khúc hát lên đờng đầy lôi cuốn, sôi nổi say mê, nhng cũng tiếp tục phát triển mạch suy tởng của bài thơ lên một bớc nữa:

- Những câu hỏi tu từ thể hiện sự giục giã, nó giống nh tiếng gọi của đât nớc, của nhân dân, của đời sống

đã thành sự thôi thúc bên trong, thành lời giục giã của chính lòng mình nên càng không thể chần chừ:

Đất nớc gọi ta hay lòng ta gọi ? Tình em đang mong tình mẹ đang chờ

thành nỗi khao khát bồn chồn không thể cỡng đợc:

Mắt ta thèm mái ngói đỏ trăm ga Mắt ta nhớ mặt ngời, tai ta nhớ tiếng.

- Nỗi khao khát mãnh liệt ấy càng thôi thúc tâm hồn thơ vì đó cũng là về với những ngọn nguồn của hồn thơ, của cảm hứng sáng tạo Những năm tháng gian khổ, những hi sinh lớn lao, những đâu thơng chiến

tranh, nay đã kết tinh thành Mùa nhân dân giăng lúc chín rì rào trên Mặt đất nồng nhựa nóng của cần lao, thành vàng của tâm hồn, thành trái đầu xuân, đang mời gọi những tâm hồn thơ, đang vẫy gọi cả những cơn

mơ, những mộng tởng.

Trang 6

- Trong đoạn này, cùng với âm hởng sôi nổi, lôi cuốn của các câu thơ là những hình ảnh phong phú, biến

hóa sáng tạo, chủ yếu là những hình ảnh biểu tợng và ẩn dụ: đó là hình ảnh con tàu trên đoạn đầu đợc trở lại thành hình ảnh trung tâm, cùng với những mùa nhân dân giăng lúa chín, vàng ta đau trong lửa, vầng

trăng, Mặt hồng em tròn suối lớn mùa xuân,

- Tạo ra âm hởng lôi cuốn, trùng điệp của đoạn thơ kết thúc này có vai trò của một từ ngữ của câu cuối khổ thơ trên xuống câu đầu của khổ thơ dới, làm cho các khổ thơ liền mạch, dồn dập, trùng điệp:

Mắt ta thèm mái ngói đỏ trăm ga Mắt ta nhớ mặt ngời, tai ta nhớ tiếng.

.

Mặt đất nồng nhựa nóng của cần lao Nhựa nóng mời năm nhân dân đổ máu.

5 Nghệ thuật đặc sắc của tác phẩm:

- Nhà thơ đã sáng tạo ra một hệ thống hình ảnh đa dạng, phong phú:

+ Có những hình ảnh thị giác do quan sát đợc trong đời sống thực: bản sơng giăng, đèo mây phủ,

lửa hồng soi tóc bạc, chim rừng lông trở biếc, Vắt xôi nuôi quân em giấu giữa rừng,

+ Có những hình ảnh đợc miêu tả từ cụ thể đến chi tiết: Chiếc áo nâu suốt một đời vá rách, + Có những hình ảnh thực nhng lại giàu sức gợi: Con nhớ mế ! Lửa hồng soi tóc bạc,

+ Nhng phong phú hơn là loại hình ảnh đợc xây dựng thành những hình ảnh - biểu tợng, hình ảnh

ẩn dụ - tợng trng: con tàu, vầng trăng, trái đầu xuân, vàng ta đau trong lửa, Mặt hồng em trong

suối lớn mùa xuân,

- Chế Lan Viên thờng có thói quen xây dựng, thiết kế những hình ảnh độc đáo, tân kì, mới lạ, hoặc là xâu chuỗi, hoặc là tầng tầng lớp lớp liên kết với nhau bằng những liên tởng bất ngờ, có chiều sâu trí tuệ

- Tác giả sử dụng nhiều biện pháp xây dựng hình ảnh So sánh đợc dùng phổ biến nhng cũng rất đa dạng ( khổ 5 và khổ 10 ), cùng với ẩn dụ đợc dùng rộng rãi Sức tởng tợng, liên tởng rất mạnh mẽ và nhiều khi bất ngờ tạo ra những so sánh mới lạ, những hình ảnh gợi tởng tợng phong phú của ngời đọc:

Anh bỗng nhớ em nh đông về nhớ rét Tình yêu ta nh cánh kiến hoa vàng.

- Có nhiều biện pháp tu từ, đặc biệt là cách chuyển nghĩa đợc dùng rộng rãi cùng với hình ảnh phong phú, làm cho bài thơ có vẻ đẹp tinh tế, có lúc rực rỡ và một chút cầu kì ( có ngời đã nhận xét thơ của Chế Lan Viên nh ngời phụ nữ a trang sức và biết cách trang điểm )

- Thơ Chế Lan Viên không thể nào trần trụi và mộc mạc đợc Ông là nhà thơ dùng văn chơng tới mức tối

đa Thói quen này gắn liền với quan niệm về văn chơng của ông: Có những cách cày bừa tăng năng suất

cho cây trồng Có những cách dùng chữ, viết văn tăng năng suất cho ý Chính vì lẽ đó, Chế Lan Viên luôn

có ý thức tìm tòi, đổi mới hình thức thơ Và khi nào những tìm tòi về mặt hình thức ấy hòa hợp đợc với t t-ởng sâu sắc, với cảm xúc phong phú, chân thành thì Chế Lan Viên có đợc những bài thơ có giá trị

IV Ghi nhớ:

- Nội dung:

Bài thơ là lời giục giã, là khúc hát lên đờng say mê, náo nức đến với những miền đất xa xôi đang cần xây dựng của đất nớc, đến với cuộc đời rộng lớn Đồng thời, bài thơ đã khơi dậy những kỉ niệm sâu sắc, thắm thiết nghĩa tình khi gặp lại nhân dân trong những năm kháng chiến chống Pháp gian lao và thể hiển khát vọng của một hồn thơ muốn vợt ra khỏi những giới hạn nhỏ hẹp riêng t để đến với chân trời rộng lớn, về với nhân dân và đất nớc Về với nhân dân, với những kỉ niệm sâu nặng nghĩa tình trong những năm kháng chiến gian khổ cũng là con đờng tìm về ngọn nguồn của hồn thơ, của cảm hứng sáng tạo thi ca

- Nghệ thuật:

Bài thơ hấp dẫn ngời đọc bởi nghệ thuật sử dụng ngôn từ, hình ảnh, bởi cách nói sáng tạo độc đáo của tác

giả Nhà thơ đã xây dựng nhiều hình ảnh giàu tính biểu tợng nh con tàu, Tây Bắc, vầng trăng, Những

hình ảnh này liên kết với nhau rất phong phú và biến hóa Các thủ pháp xây dựng hình ảnh, lối so sánh, biện pháp trùng điệp, giọng điệu thiết tha, chân thành, chứng tỏ chất trí tuệ sắc sảo của nhà thơ

V Luyện tập:

Trong Tiếng hát con tàu, Chế Lan Viên đã nói tới mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa thơ ca với hiện thực

cuộc sống Một mặt, ông thấy đợc vai trò quyết định của đời sống:

Chẳng có thơ đâu giữa lòng đóng khép Tâm hồn anh chờ gặp anh trên kia.

Mặt khác, ông vẫn nhấn mạnh, đề cao vai trò của ngời nghệ sĩ với t cách là chủ thể sáng tạo Ông đòi hỏi phải có sự hòa hợp giữa tình cảm, tâm hồn nhà thơ với cuộc sống của nhân dân, đất nớc Bốn câu thơ đề từ của bài thơ thể hiện rất rõ điều này

Ngày đăng: 09/04/2021, 23:04

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w