Bảo hiểm trợ cấp nằm viện phẫu thuật.[r]
Trang 1BÀI 5 BẢO HIỂM CON NGƯỜI
Hướng dẫn học
Để học tốt bài này, sinh viên cần tham khảo các phương pháp học sau:
Đọc chương 15 giáo trình Bảo hiểm (2012) để nắm vững các vấn đề lý luận về bảo hiểm con người
Làm các bài tập thực hành tính phí bảo hiểm nhân thọ trong 4 trường hợp: bảo hiểm tử
kỳ phí nộp 1 lần; bảo hiểm tử kỳ phí nộp hàng năm; bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp phí nộp 1 lần; bảo hiểm nhân thọ phí nộp hàng năm
Học đúng lịch trình của môn học theo tuần, làm các bài luyện tập đầy đủ và tham gia thảo luận trên diễn đàn
Đọc tài liệu: Giáo trình Bảo hiểm, PGS TS Nguyễn Văn Định chủ biên, NXB Đại học KTQD
Sinh viên làm việc theo nhóm và trao đổi với giảng viên trực tiếp tại lớp học hoặc qua email
Trang Web môn học
Nội dung
Khái quát chung về bảo hiểm con người
Bảo hiểm nhân thọ
Bảo hiểm con người phi nhân thọ
Mục tiêu
Sau khi học xong bài này, sinh viên cần thực hiện được các việc sau:
Hiểu được thế nào là bảo hiểm con người; bảo hiểm con người có những tác dụng gì
Có những loại hình bảo hiểm con người nào;
Hiểu được đặc điểm của từng loại hình bảo hiểm nhân thọ cơ bản;
Hiểu được công thức và thực hành xác định được phí bảo hiểm nhân thọ;
Hiểu được thế nào là bảo hiểm con người phi nhân thọ và nêu được nội dung cơ bản của 3 loại hình bảo hiểm con người phi nhân thọ
Trang 2T ình huống dẫn nhập
Rủi ro tử vong – Lo sợ hay không lo sợ
Anh Minh là nhân viên kinh doanh của 1 công ty Công việc
của anh đòi hỏi phải đi công tác nhiều Gần đây, khi xem thời
sự, thấy tivi đưa tin nhiều về tai nạn giao thông, anh Minh rất
lo lắng: Nếu chẳng may khi đang đi công tác anh bị tai nạn và
tử vong thì vợ và 2 con gái anh, cả bố mẹ anh nữa sẽ sống như
thế nào đây? Anh Minh đang rất băn khoăn thì anh gặp chị Hà
là đại lý bảo hiểm cho 1 công ty bảo hiểm nhân thọ Sau khi
được chị Hà tư vấn, anh Minh thấy rất yên tâm Anh quyết
định sẽ tham gia bảo hiểm nhân thọ để bảo vệ gia đình trước
rủi ro tử vong Vậy:
1 Thế nào là bảo hiểm nhân thọ?
2 Tại sao bảo hiểm nhân thọ giúp các cá nhân và gia đình thoát khỏi lo lắng về rủi ro tử vong?
3 Trong trường hợp người được bảo hiểm bị tai nạn dẫn đến thương tật toàn bộ vĩnh viễn thì công ty bảo hiểm nhân thọ có chi trả các chi phí y
tế nhằm điều trị thương tật và chi trả một khoản tiền cho người được bảo hiểm không?
4 Nếu người được bảo hiểm bị tử vong do tai nạn khi đang đi trên các phương tiện giao thông với tư cách là hành khách thì thân nhân của họ nhận được những khoản chi trả nào từ các công ty bảo hiểm?
Trang 35.1 Khái quát chung về bảo hiểm con người
Bảo hiểm con người là một loại hình bảo hiểm
thương mại nhằm đảm bảo cho các rủi ro liên quan đến bản thân con người
Bảo hiểm con người là một loại hình bảo hiểm
thương mại nhằm đảm bảo ổn định đời sống cho mọi thành viên trong xã hội trước những rủi ro, tai nạn bất ngờ đối với thân thể, tính mạng, sự giảm sút hoặc mất thu nhập và đáp ứng một số nhu cầu khác của người tham gia bảo hiểm
Góp phần ổn định đời sống nhân dân, là chỗ dựa tinh thần cho người được bảo hiểm
Góp phần ổn định tài chính và sản xuất kinh doanh cho các doanh nghiệp, tạo lập mối quan hệ gần gũi, gắn bó giữa người lao động và người sử dụng lao động
Quỹ bảo hiểm nhàn rỗi là nguồn vốn đầu tư góp phần phát triển và tăng trưởng kinh tế
Bảo hiểm con người là một công cụ hữu hiệu để huy động những nguồn tiền mặt nhàn rỗi nằm ở các tầng lớp dân cư trong xã hội để thực hành tiết kiệm góp phần chống lạm phát
Bảo hiểm con người còn góp phần giải quyết một số vấn đề về mặt xã hội như: Tạo thêm việc làm cho người lao động, tăng vốn đầu tư cho việc giáo dục con cái, tạo ra một nếp sống đẹp, tiết kiệm, có kế hoạch
Bảo hiểm con người ngắn hạn: Là loại hình bảo hiểm con người trong đó thời
hạn bảo hiểm là từ 1 năm trở xuống
Bảo hiểm con người dài hạn: Là loại hình bảo hiểm con người trong đó thời hạn
bảo hiểm là trên 1 năm
Bảo hiểm con người bắt buộc: Loại hình bảo hiểm con người mà pháp luật bắt
buộc các đối tượng phải tham gia (VD: bảo hiểm tai nạn hành khách)
Bảo hiểm con người tự nguyện: Loại hình bảo hiểm con người được thực hiện
trên cơ sở sự thỏa thuận tự nguyện giữa doanh nghiệp bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm
Trang 45.1.3.3 Theo kỹ thuật quản lý
Bảo hiểm con người quản lý theo kỹ thuật phân chia: Các khoản thu và chi của
một hợp đồng bảo hiểm được cân bằng trong một thời hạn ngắn thường là 1 năm trở xuống (VD: Các nghiệp vụ bảo hiểm con người phi nhân thọ)
Bảo hiểm con người quản lý theo kỹ thuật tồn tích: Thực hiện với các hợp đồng
bảo hiểm con người có thời hạn dài, theo đó phí bảo hiểm thu được trong năm không được sử dụng hết để chi trả cho các tổn thất xảy ra trong năm, một phần phí bảo hiểm sẽ được tồn tích lại theo phương pháp lãi kép nhằm giúp người bảo hiểm thực hiện công việc thanh toán trong tương lai
5.1.3.4 Theo tính chất của rủi ro bảo hiểm
Bảo hiểm nhân thọ: Loại hình bảo hiểm con
người nhằm đảm bảo cho các rủi ro liên quan đến tuổi thọ của con người Bảo hiểm nhân thọ bao gồm: bảo hiểm nhân thọ trong trường hợp sống; bảo hiểm nhân thọ trong trường hợp tử vong; bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp
Bảo hiểm con người phi nhân thọ: Loại hình bảo hiểm con người nhằm đảm bảo
cho các rủi ro khác ngoài tuổi thọ của con người (bệnh tật, tai nạn, mất khả năng lao động, tử vong) Có nhiều nghiệp vụ bảo hiểm con người phi nhân thọ như: bảo hiểm tai nạn con người 24/24 giờ; bảo hiểm tai nạn hành khách; bảo hiểm trợ cấp nằm viện phẫu thuật; bảo hiểm học sinh; bảo hiểm khách du lịch…
Số tiền chi trả của công ty bảo hiểm là khoán trước, là ấn định trước Số tiền này được xác định dựa trên nhu cầu và khả năng tài chính của người tham gia bảo hiểm
Hệ quả của nguyên tắc khoán: 1 người có thể tham gia nhiều hợp đồng bảo hiểm con người và trong trường hợp gặp rủi ro sẽ được nhận tổng số tiền bảo hiểm trên các hợp đồng bảo hiểm này
5.2 Bảo hiểm nhân thọ
5.2.1 Sự ra đời và phát triển của bảo hiểm nhân thọ
Bảo hiểm nhân thọ là sự cam kết giữa người bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm theo đó người bảo hiểm sẽ trả cho người tham gia bảo hiểm một số tiền nhất định khi có những sự kiện đã định trước xảy ra, còn người tham gia bảo hiểm phải nộp phí bảo hiểm đầy đủ, đúng hạn
Vào năm 1583, Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ đầu tiên được ký kết tại nước Anh (bảo hiểm tử vong thời hạn 1 năm, phí bảo hiểm là 32 bảng Anh, số tiền bảo hiểm
là 400 bảng Anh.)
Năm 1759, công ty bảo hiểm nhân thọ đầu tiên ra đời tại Philadenphia (Mỹ)
Năm 1762, công ty bảo hiểm nhân thọ đầu tiên của nước Anh được thành lập (công ty Equitable)
Trang 5 Năm 1868, công ty bảo hiểm nhân thọ đầu tiên của châu Á ra đời (công ty Meiji của Nhật Bản)
Ở Việt Nam, bảo hiểm nhân thọ được triển khai từ năm 1996 bởi công ty bảo hiểm Bảo Việt với doanh thu phí bảo hiểm là 0,97tỷ đồng Năm 2011 trên thị trường bảo hiểm Việt Nam có 13 công ty bảo hiểm nhân thọ, tổng doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ khai thác được là 16.025 tỷ đồng (trong đó phí khai thác mới là 4.617 tỷ đồng) Đến cuối năm 2011, tại Việt Nam có 4,46 triệu hợp đồng bảo hiểm nhân thọ đang có hiệu lực
5.2.2.1 Bảo hiểm nhân thọ trong trường hợp tử vong
Đặc điểm: Số tiền bảo hiểm chỉ được chi trả khi
người được bảo hiểm không may tử vong
Mục đích:
o Đảm bảo cuộc sống cho những người phụ thuộc khi người lao động trụ cột không may qua đời;
o Đảm bảo chi phí mai táng;
o Thanh toán các khoản nợ
Bao gồm: bảo hiểm tử kỳ và bảo hiểm nhân thọ trọn đời
Bảo hiểm tử kỳ
o Đặc điểm:
Thời hạn bảo hiểm là xác định trước;
Số tiền bảo hiểm chỉ được chi trả khi người được bảo hiểm không may tử vong trong thời hạn hợp đồng
o Bao gồm:
Bảo hiểm tử kỳ cố định;
Bảo hiểm tử kỳ có số tiền bảo hiểm tăng;
Bảo hiểm tử kỳ có số tiền bảo hiểm giảm;
Bảo hiểm tử kỳ có thể tái tục hợp đồng;
Bảo hiểm thu nhập gia đình;
Bảo hiểm thu nhập gia đình tăng lên;
Bảo hiểm tử kỳ có điều kiện
Bảo hiểm nhân thọ trọn đời
o Đặc điểm:
Thời hạn bảo hiểm không xác định trước;
Số tiền bảo hiểm được chi trả bất cứ khi nào người được bảo hiểm không may tử vong
o Bao gồm:
Bảo hiểm nhân thọ trọn đời nộp phí liên tục;
Bảo hiểm nhân thọ trọn đời nộp phí 1 lần;
Trang 6 Bảo hiểm nhân thọ trọn đời có giới hạn thời gian nộp phí;
Bảo hiểm nhân thọ trọn đời có tham gia chia lãi;
Bảo hiểm nhân thọ trọn đời không tham gia chia lãi
5.2.2.2 Bảo hiểm nhân thọ trong trường hợp sống
Đặc điểm: Số tiền bảo hiểm chỉ được chi trả khi người được bảo hiểm còn sống
đến một thời điểm nhất định
Mục đích:
o Đầu tư, tiết kiệm cho tương lai;
o Tự đảm bảo cuộc sống khi về hưu;
o Chăm lo cho việc học tập của con cái
Bao gồm: bảo hiểm sinh kỳ thuần tuý và bảo hiểm trả tiền định kỳ
Bảo hiểm sinh kỳ thuần tuý:
o Thời hạn bảo hiểm là xác định trước;
o STBH chỉ được chi trả khi người được bảo hiểm còn sống tại thời điểm hết hạn HĐ
Bảo hiểm trả tiền định kỳ (Niên kim nhân thọ):
o Đặc điểm: Nếu người được bảo hiểm còn sống đến một độ tuổi nhất định, định
kỳ (hàng năm) họ sẽ nhận được một khoản tiền (1 niên kim) và nhận cho đến khi qua đời
o Bao gồm:
Niên kim cố định;
Niên kim biến đổi;
Niên kim có bảo đảm;
Niên kim không có bảo đảm
5.2.2.3 Bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp
Đặc điểm:
o Thời hạn bảo hiểm xác định trước;
o Số tiền bảo hiểm được chi trả khi người được bảo hiểm không may tử vong trong thời hạn hợp đồng hoặc người được bảo hiểm còn sống tại thời điểm hết hạn hợp đồng
o BHNT hỗn hợp có tham gia chia lãi;
o BHNT hỗn hợp không tham gia chia lãi
Trang 75.2.2.4 Các điều khoản bổ sung
Nhằm bổ sung cho sản phẩm BHNT chính, tăng tính hấp dẫn cho BHNT
Các sản phẩm bổ trợ gồm:
Bảo hiểm tai nạn con người;
Bảo hiểm chi phí y tế;
Bảo hiểm bệnh hiểm nghèo;
Bảo hiểm từ bỏ thu phí;
Đây là điểm khác nhau cơ bản giữa BHTN với bảo
hiểm phi nhân thọ Cụ thể, khi tham gia bảo hiểm,
định kỳ người tham gia bảo hiểm sẽ nộp một khoản
phí tương đối nhỏ để khi xảy ra sự kiện bảo hiểm sẽ
được công ty BHTN chi trả khoản tiền lớn hơn rất
nhiều so với số phí bảo hiểm đã nộp tính tiết kiệm
thể hiện ở từng cá nhân, từng gia đình: Tiết kiệm một
phần thu nhập thường xuyên để đảm bảo cuộc sống
cho bản thân và gia đình
Trong khi bảo hiểm phi nhân thọ chỉ đáp ứng một mục đích là khắc phục hậu quả khi tổn thất xảy ra, thì BHNT đáp ứng rất nhiều mục đích: Đảm bảo cuộc sống cho những người phụ thuộc, tự đảm bảo cuộc sống khi về hưu, chăm lo cho việc học hành của con cái…
Tính đa dạng và phức tạp trong các hợp đồng BHNT thể hiện ở ngay các sản phẩm của nó Cụ thể, mỗi sản phẩm có nhiều loại hợp đồng Các hợp đồng này khác nhau về thời hạn bảo hiểm, STBH, phương thức đóng phí… Ngay trong 1 bản hợp đồng, mối quan hệ giữa các bên cũng rất phức tạp (có thể có 4 bên liên quan: Bên bảo hiểm, bên tham gia bảo hiểm, bên được bảo hiểm, bên thụ hưởng bảo hiểm)
5.2.3.4 Phí BHNT chịu tác động tổng hợp của nhiều nhân tố, vì vậy quá trình định
phí khá phức tạp
Phí BHNT phụ thuộc vào độ tuổi của người được bảo hiểm, tuổi thọ bình quân, STBH, thời hạn bảo hiểm, lãi suất đầu tư, phụ thuộc vào chi phí khai thác, chi phí quản lý hợp đồng… Do đó khi định phí bảo hiểm phải dựa trên nhiều giả định: Tỷ lệ
tử vong, tỷ lệ hủy bỏ hợp đồng, tỷ lệ lạm phát…
Các điều kiện kinh tế:
o Tốc độ tăng trưởng của tổng sản phẩm quốc nội;
o Mức thu nhập của dân cư;
Trang 8o Tỷ lệ lạm phát của đồng tiền;
o Tỷ giá hối đoái
Các điều kiện xã hội:
o Điều kiện về dân số;
o Tuổi thọ bình quân của người dân;
o Tỷ lệ tử vong của trẻ sơ sinh
Môi trường pháp lý cũng ảnh hưởng đến sự ra đời và phát triển của BHNT (Luật kinh doanh bảo hiểm, chính sách thuế đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm…)
Phí được xác định sao cho các khoản thu trong
tương lai đủ để trang trải các khoản chi phí và các khoản tiền bảo hiểm, đồng thời mang lại lợi nhuận hợp lý cho công ty BHNT
Phí phải được tính toán trên những cơ sở khoa học
nhất định (quy luật số lớn trong toán học, bảng tỷ
lệ tử vong, qui luật về giới tính, qui luật tuổi thọ tăng dần trong dân số…)
Quá trình định phí phải dựa vào một số giả định
(giả định về tỷ lệ tử vong giữa các ngành nghề, các vùng địa lý; giả định về lãi suất đầu tư; về tỷ lệ hủy bỏ hợp đồng…)
Phí BHNT phải đảm bảo yếu tố cạnh tranh
Tỷ lệ tử vong là tỷ số giữa số người chết trong một khoảng thời gian nhất định trên tổng số người sống tại thời điểm khởi đầu khoảng thời gian đó
Tỷ lệ sống là tỷ số giữa số người còn sống sau một khoảng thời gian nhất định trên tổng số người sống tại thời điểm khởi đầu khoảng thời gian đó (Khoảng thời gian thường được tính là 1 năm)
Tỷ lệ tử vong và tỷ lệ sống được xác định theo giới tính và theo độ tuổi
Ví dụ:
Đầu độ tuổi 30, có 100.000 người nam giới sống;
Trong độ tuổi 30 có 100 người nam giới tử vong
Trang 9 tỷ lệ tử vong ở độ tuổi 30 của những nam giới này là 100/100.000 = 0,001; tỷ
lệ sống ở độ tuổi 30 của những nam giới này là 99.900/100.000 = 0,999; và Tỷ
lệ tử vong + tỷ lệ sống = 1
Kết cấu của 1 Bảng tỷ lệ tử vong: Độ tuổi đầu tiên đưa vào Bảng là 0 tuổi; Số người khởi đầu (Số người sống ở độ tuổi 0) thường là một số chẵn lớn (Ví dụ như 100.000 người hoặc 1.000.000 người) Độ tuổi cuối cùng trong Bảng là độ tuổi mà không ai còn sống)
Trên thế giới, các ký hiệu sau được sử dụng thống nhất để lập Bảng tỷ lệ tử vong:
x – độ tuổi
qx – tỷ lệ tử vong ở độ tuổi x
Px – tỷ lệ sống ở độ tuổi x
lx – Số người sống tại độ tuổi x
dx – Số người tử vong giữa độ tuổi x và (x+1) Mối quan hệ giữa các chỉ tiêu trong Bảng tỷ lệ tử vong:
o Bảng dân số: Cho biết mức tử vong của dân số ở một nước hay một vùng cụ
thể Bảng này được lập sau các cuộc điều tra dân số Số lượng tử vong được thu thập từ các số liệu thống kê dân số
o Bảng tỷ lệ tử vong kinh nghiệm: Cho biết tình hình tử vong của những người
được bảo hiểm tại các công ty BHNT, phản ánh mức tử vong thực tế đã xảy ra Thông thường Bảng tỷ lệ tử vong kinh nghiệm có tỷ lệ tử vong thấp hơn Bảng dân số vì các công ty BHNT lựa chọn rủi ro để bảo hiểm thông qua kiểm tra sức khỏe
Các Bảng tỷ lệ tử vong thường có những đặc điểm chung:
o Tỷ lệ tử vong hầu như tăng dần theo độ tuổi;
o Tỷ lệ tử vong của Nữ giới thường thấp hơn của Nam giới (trừ Băng–la–đét và
Ấn Độ);
o Tỷ lệ tử vong của những Bảng lập sau thường thấp hơn những Bảng lập trước
Các loại hợp đồng BHNT thường có thời gian dài và phần lớn lại thu phí định kỳ,
do vậy DNBH sau khi thu phí phải tiến hành đầu tư để thu lợi nhuận
Trong trường hợp đầu tư có hiệu quả, việc tính toán kết quả đầu tư thu được sau 1 khoảng thời gian nhất định gọi là tính toán tiền lãi
Một số khái niệm:
o Tiền lãi là số tiền thu nhập từ quỹ đầu tư;
o Tiền gốc là quỹ đầu tư để thu lãi;
Trang 10o Lãi suất là tỷ lệ % tiền lãi thu được trên tổng quỹ đầu tư sau những thời gian đều đặn, thường là 1 năm
Tiền lãi gồm 2 loại:
o Lãi đơn: Là tiền lãi thu được trong các thời kỳ đều không được tái đầu tư
là Giá trị tương lai PV = FV 1/ (1+i) n
Phí bảo hiểm thực tế người tham gia bảo hiểm nộp cho công ty bảo hiểm gọi là Phí toàn phần
Về mặt kết cấu: Phí toàn phần (P) = Phí thuần (f) + Phí hoạt động (h)
o Phí hoạt động (h) là khoản phí nhằm trang trải các chi phí cho các hợp đồng mới (chi hoa hồng cho đại lý bảo hiểm, chi kiểm tra y tế…), chi phí thu phí bảo hiểm, chi phí quản lý hợp đồng…
Phí hoạt động thường được giả định là tỷ lệ % nhất định của phí toàn phần khi xác định Phí toàn phần, chỉ cần xác định phí thuần, sau đó cộng thêm Phí hoạt động
o Phí thuần được xác định theo nguyên lý cân bằng: (Số thu) = (Số chi)
Khi xác định phí phải áp dụng các giả định:
o Tỷ lệ tử vong được xác định: Số tử vong xảy ra tương ứng với Bảng tỷ lệ tử vong được chọn lựa để tính phí;
o Cách tính tuổi phù hợp với tuổi của Bảng tỷ lệ tử vong;
o Lãi suất xác định: Lãi đầu tư thu được đúng theo giả định (lãi kỹ thuật);
o Tiền bảo hiểm tử vong trả vào cuối năm hợp đồng;
o Hợp đồng bảo hiểm chỉ chấm dứt khi người được bảo hiểm chết hoặc hết hạn hợp đồng (không có trường hợp hủy bỏ hợp đồng hoặc hợp đồng mất hiệu lực) Trường hợp 1: Xác định phí thuần nộp 1 lần trong bảo hiểm tử vong có kỳ hạn xác định
Điều kiện:
+ Phí nộp 1 lần;