PHẦN MỞ ĐẦU Thành phố Đà Nẵng là một Thành phố trẻ đóng vai trò quan trọng tạo động lực phát triển cho khu kinh tế trọng điểm miền Trung – Tây Nguyên. Đà Nẵng trong những năm qua đã đạt được nhiều thành tựu trong việc phát triển kinh tế xã hội đồng thời cũng đã chịu những biến động kinh tế trên thế giới và trong khu vực tỷ lệ lạm phát cao, khủng hoảng tài chính toàn cầu tạo ra những tác động đáng kể đến nền kinh tế. Đà Nẵng trở thành Thành phố trực thuộc Trung ương vào ngày 01011997 và đến năm 2003, Thành phố chính thức trở thành đô thị loại I cấp quốc gia. Đà Nẵng có vị trí địa lý thuộc vùng trung Trung bộ, phía Bắc giáp tỉnh Thừa Thiên Huế, phía Tây và Nam giáp tỉnh Quảng Nam, phía Đông giáp biển Đông. Với vị trí địa lý, tự nhiên và giao thông hết sức thuận lợi, Đà Nẵng có một lợi thế quan trọng tạo điều kiện cho Thành phố phát huy nội lực để phát triển kinh tế và thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội. Đối với Thành phố Đà Nẵng tăng trưởng kinh tế có tầm quan trọng hàng đầu, không chỉ do xuất phát điểm của Thành phố còn thấp so với các Thành phố trực thuộc Trung ương khác, phải tăng trưởng nhanh để sớm trở thành một đô thị hiện đại của khu vực miền Trung – Tây Nguyên mà còn làm tiền đề để thực hiện nhiều mục tiêu kinh tế – xã hội như phát triển kết cấu hạ tầng đi trước một bước, tạo việc làm mới và giảm thất nghiệp, phát triển y tế, giáo dục, thực hiện các chính sách an sinh xã hội… 1. Đối tượng nghiên cứu Phát triển kinh tế xã hội trong những năm qua trên các lĩnh vực: cơ cấu kinh tế, du lịch, hạ tầng thương mại, công cuộc xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng, sản xuất công nghiệp. 3. Phạm vi nghiên cứu Nghiên cứu thức trạng kinh tế xã hội hiện nay và đề xuất các giải pháp đến năm 2035 của Thành phố Đà Nẵng.
Trang 1TRƯỜNG ĐÀO TẠO CÁN BỘ LÊ HỒNG PHONG LỚP TRUNG CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ K15A-18
*****
BÀI THU HOẠCH NGHIÊN CỨU THỰC TẾ
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU:
PHÁT TRIỂN KINH TẾ- XÃ HỘI TRÊN ĐỊA THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Người thực hiện: NGUYỄN VĂN CAO
Đơn vị công tác: UBND xã Hồng Sơn, Mỹ Đức, thành phố Hà Nội
Mỹ Đức, tháng 4 năm 2019
PHẦN MỞ ĐẦU
Trang 2Thành phố Đà Nẵng là một thành phố trẻ đóng vai trò quan trọng tạo động lực phát triển cho khu kinh tế trọng điểm miền Trung – Tây Nguyên Đà Nẵng trong những năm qua đã đạt được nhiều thành tựu trong việc phát triển kinh tế - xã hội đồng thời cũng đã chịu những biến động kinh tế trên thế giới và trong khu vực tỷ lệ lạm phát cao, khủng hoảng tài chính toàn cầu tạo ra những tác động đáng kể đến nền kinh tế Đà Nẵng trở thành thành phố trực thuộc Trung ương vào ngày 01/01/1997 và đến năm 2003, thành phố chính thức trở thành đô thị loại I cấp quốc gia Đà Nẵng có vị trí địa lý thuộc vùng trung Trung
bộ, phía Bắc giáp tỉnh Thừa Thiên Huế, phía Tây và Nam giáp tỉnh Quảng Nam, phía Đông giáp biển Đông
Với vị trí địa lý, tự nhiên và giao thông hết sức thuận lợi, Đà Nẵng có một lợi thế quan trọng tạo điều kiện cho thành phố phát huy nội lực để phát triển kinh tế và thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội
Đối với thành phố Đà Nẵng tăng trưởng kinh tế có tầm quan trọng hàng đầu, không chỉ do xuất phát điểm của Thành phố còn thấp so với các thành phố trực thuộc Trung ương khác, phải tăng trưởng nhanh để sớm trở thành một đô thị hiện đại của khu vực miền Trung – Tây Nguyên mà còn làm tiền đề để thực hiện nhiều mục tiêu kinh tế – xã hội như phát triển kết cấu hạ tầng đi trước một bước, tạo việc làm mới và giảm thất nghiệp, phát triển y tế, giáo dục, thực hiện các chính sách an sinh xã hội…
1 Đối tượng nghiên cứu
Phát triển kinh tế - xã hội trong những năm qua trên các lĩnh vực: cơ cấu kinh tế, du lịch, hạ tầng thương mại, công cuộc xây dựng và phát triển cơ sở
hạ tầng, sản xuất công nghiệp
3 Phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu thức trạng kinh tế - xã hội hiện này và đề xuất các giải pháp đến năm 2030 của thành phố Đà Nẵng
PHẦN NỘI DUNG
Trang 31 Cơ sở lý luận
- Đà Nẵng hướng tới mục tiêu trở thành đô thị có ý nghĩa quan trọng đối với cả nước “Vậy đô thị này có thế mạnh gì?” Diện tích của Đà Nẵng chỉ chiếm 0,4% cả nước Nghĩa là Đà Nẵng không mạnh về đất Dân số Đà Nẵng với 1 triệu người chỉ chiếm 1,1% so với 92 triệu dân của cả nước 30km bờ biển
Đà Nẵng cũng chỉ chiếm 0,9% so với 3.400km bờ biển của cả nước Trong khi
đó, đóng góp GDP của Đà Nẵng vào GDP của cả nước chiếm khoảng 1,3%
“Vậy Đà Nẵng đi lên bằng cái gì? Đất 0,4%, biển 0,9%, dân số 1,1% nhưng kinh tế là 1,3%, cho thấy năng suất của Đà Nẵng cao hơn bình quân cả nước Đặc biệt, vừa qua tốc độ tăng trưởng của Đà Nẵng đạt 9,7%, hơn bình quân cả nước 60% Đó là điều rất đáng tự hào
- Qua đó cho thấy lợi thế lớn nhất của Đà Nẵng chính là con người Tỉ
trọng con người chiếm lớn nhất trong cả nước!”
- Có vị trí chiến lược, đặc biệt thuận lợi cho sự phát triển nhanh chóng
và bền vững Đà Nẵng nằm ở vị trí chính giữa của Việt Nam, là cửa ngõ phía
Đông của Hành lang Kinh tế Đông - Tây (điểm đến cuối cùng là cảng Tiên Sa), nằm trên trục giao thông Bắc - Nam của quốc gia về đường bộ, đường sắt, đường hàng không, có vị trí thuận lợi về các tuyến đường biển, đường hàng không quốc tế Đà Nẵng cũng là cửa vào của các di sản văn hoá và di sản thiên nhiên thế giới, là trung điểm của sáu di sản thế giới là: Phong Nha - Kẻ Bàng, Quần thể di tích Cố đô Huế, Nhã nhạc Cung đình Huế, Phố cổ Hội An, Thánh địa Mỹ Sơn và Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, trung tâm của
“Con đường di sản thế giới” kết nối các di sản Việt Nam và hai di sản thế giới khác là cố đô Luang Prabang và quần thể Angkor Wat nên sẽ là điểm đến và điểm trung chuyển khách du lịch trong và ngoài nước
- Có đủ 4 loại đường giao thông thông dụng là: đường bộ, đường sắt,
đường biển và đường hàng không và cơ sở hạ tầng đồng bộ
- Truyền thống đoàn kết, đồng thuận của người dân và sự lãnh đạo năng động, sáng tạo của các cấp lãnh đạo.Truyền thống này đã khơi dậy, huy động
Trang 4sức mạnh, nguồn lực quan trọng và quyết định nhất đối với sự phát triển của Đà Nẵng: lãnh đạo, chính quyền và nhân dân thành phố có sự quyết tâm cao trong xây dựng các chương trình, đề án, kiên định với mục tiêu đặt ra Bên cạnh đó, là
sự quan tâm, ủng hộ của nhân dân, các nhà đầu tư, các doanh nghiệp… trong triển khai, thực thi các chủ trương, chính sách, đặc biệt là trong quá trình đền bù giải toả, giải phóng mặt bằng
Ngày 1/1/1997, Đà Nẵng trở thành thành phố trực thuộc Trung ương theo Nghị quyết kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa IX và bắt đầu thời kỳ phát triển mới
Từ đó đến nay, lãnh đạo và nhân dân Đà Nẵng đã chung sức, chung lòng quán triệt và thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, phát huy truyền thống cách mạng kiên cường, năng động, sáng tạo, tập trung khai thác tiềm năng nội ngoại lực, khơi dậy nguồn lực trong dân, đầu tư xây dựng nhiều công trình trọng điểm nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội thành phố; đồng thời chủ động tháo
gỡ, khắc phục khó khăn, vượt qua thách thức để xây dựng, phát triển Đà Nẵng thành một thành phố trung tâm trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội toàn khu vực miền Trung và cả nước
2 Thực trạng của kinh tế- xã hội Đà Nẵng
44 năm sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (1975 -2019), trải qua các chặng đường xây dựng và phát triển, lãnh đạo và nhân dân thành phố Đà Nẵng đã chung sức, chung lòng, tận dụng thời cơ, vượt qua khó khăn, thách thức, đưa thành phố phát triển đạt được nhiều thành tựu to lớn và
đáng tự hào: Sau ngày giải phóng 30/4/1975, Đà Nẵng tiếp quản một nền kinh
tế bị chiến tranh tàn phá nặng nề, phụ thuộc vào viện trợ là chính Trước tình hình đó, Đảng bộ và nhân dân Đà Nẵng đã kịp thời đề ra các chủ trương khắc phục khó khăn, bắt tay khôi phục sản xuất, khuyến khích dân nhập cư không có việc làm trở về quê sản xuất, ổn định cuộc sống, giảm tải các vấn đề bức xúc về
xã hội tại đô thị để xây dựng và phát triển Trong 10 năm sau giải phóng (1975-1985), kinh tế - xã hội thành phố có những chuyển biến tích cực, bước đầu hình thành các ngành sản xuất công nghiệp và thương mại, đời sống nhiều vùng được
Trang 5cải thiện, bộ mặt văn hóa - xã hội được nâng lên một bước Tuy nhiên, nền kinh
tế còn mang tính sản xuất nhỏ, chủ yếu là gia công dựa vào nguyên liệu nhập khẩu, trình độ trang thiết bị lạc hậu, năng suất lao động thấp, siêu lạm phát và khủng hoảng kinh tế xảy ra trên phạm vi cả nước, chất lượng các ngành văn hóa, y tế, giáo dục còn nhiều yếu kém v.v
2.1 Đánh giá kinh tế Đà Nẵng trong giai đoạn hiện nay
a Những thành tựu đạt được
Giai đoạn 1997-2010, kinh tế - xã hội thành phố phát triển có tính đột phá, tạo được thế và lực, cũng như xác lập được vị thế của Đà Nẵng trên cả nước, khu vực và quốc tế Những thành tựu đáng kể đó là: tổng sản phẩm quốc nội (GDP, giá so sánh năm 1994) tăng bình quân 11,4%/năm, trong đó: dịch vụ tăng 9,3%/năm, công nghiệp - xây dựng tăng 15,3%/năm; cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư chuyển dịch đúng định hướng “ Công nghiệp - Dịch vụ - Nông nghiệp”, đồng thời định hướng để chuyển dịch sang hướng “Dịch vụ Công nghiệp -Nông nghiệp” từ sau năm 2010; thu nhập bình quân đầu người năm sau cao hơn năm trước với GDP bình quân (giá hiện hành) năm 2010 đạt 33,2 triệu đồng/người, gấp 7 lần so với năm 1997 và gấp 1,7 lần so với bình quân cả nước (2010); tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn tăng 20,5%/năm Cũng trong giai đoạn này, Đà Nẵng được công nhận là đô thị loại I cấp quốc gia (năm 2003) và được Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 33-NQ/TW về “Xây dựng và phát triển thành phố Đà Nẵng trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hóa” Đây vừa là động lực, vừa là điều kiện thuận lợi để thành phố huy động các nguồn lực xã hội cho đầu tư, xây dựng và phát triển
Giai đoạn 2011-2015, trên cơ sở phát huy những thành tựu đã đạt được của giai đoạn trước, đồng thời tranh thủ sự hỗ trợ của Trung ương và huy động hiệu quả các nguồn ngoại lực, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Đà Nẵng tiếp tục xây dựng, phát triển thành phố, thay đổi tích cực diện mạo đô thị, quan tâm giải quyết các vấn đề an sinh xã hội, môi trường GRDP (giá so sánh 2010) giai đoạn 2011-2015 ước tăng bình quân 9,7%/năm; thu thập bình quân đầu người
Trang 6(giá hiện hành) năm 2015 ước đạt 56,1 triệu đồng/người, gấp 1,5 lần so với năm 2011; tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn tăng 9,4%/năm Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng “Dịch vụ - Công nghiệp - Nông nghiệp” với tỷ trọng dịch vụ, thuế nhập khẩu năm 2015 đạt 61,6%, công nghiệp - xây dựng 36% và nông nghiệp 2,4% và từng bước thực hiện mục tiêu phát triển bền vững trên cơ
sở chú trọng nâng cao chất lượng các ngành dịch vụ và tỷ trọng hàm lượng kỹ thuật, công nghệ trong các ngành sản xuất
Nhìn chung trong thời gian quan kinh tế Thành phố tăng trưởng nhanh với cơ cấu hợp lý và đúng định hướng: Năm 2016 so với 1997 tổng sản phẩm xã hội địa phương đạt 54.000 tỷ đồng, gấp 6 lần Tổng thu ngân sách Nhà nước đạt 19.000 tỷ đồng, tăng 16 lần Trong đó thu nội địa đạt 15.000 tỷ đồng, tăng 23 lần
Số liệu thống kê giai đoạn 2012 - 2016 cho thấy, tốc độ tăng trưởng GRDP Đà Nẵng đều từ 8-9% Tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người của Thành phố cũng tăng cao qua từng giai đoạn và luôn cao hơn bình quân chung của cả nước
Tổng sản phẩm nội địa (GRDP) tính theo giá hiện hành của Đà Nẵng cũng khá cao và tăng trưởng tốt qua các năm
Năm 2016, ước tính tốc độ tăng GRDP (tính theo giá 2010) tăng 9,04%
so với năm 2015; còn tính theo giá hiện hành là 69.806 tỷ đồng, tăng hơn 10%
so năm 2015
Bước sang năm 2017, GRDP 6 tháng đầu của Đà Nẵng ước tính tăng 8,1% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn mức tăng 6 tháng đầu năm 2016 (6 tháng 2016 tăng 8,54%)
Đóng góp vào tăng trưởng của Đà Nẵng trong nhiều năm trở lại đây chủ yếu do khu vực dịch vụ và khu vực công nghiệp - xây dựng
Riêng trong 6 tháng đầu năm 2017, mặc dù vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong
cơ cấu kinh tế địa phương, song khu vực dịch vụ có tốc độ tăng thấp hơn so với cùng kỳ năm trước
Trang 7Các lĩnh vực dịch vụ có bước phát triển vượt bậc, trong đó du lịch đã và đang trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của thành phố Với lợi thế bờ biển dài, cảnh quan thiên nhiên đẹp và là trung tâm của nhiều di sản văn hóa thế giới, Đà Nẵng đã dành sự đầu tư lớn về nhiều mặt cho phát triển du lịch, ưu tiên những
vị trí đẹp, những ưu đãi thỏa đáng cho các dự án du lịch quy mô lớn, đẳng cấp quốc tế, góp phần nâng cao sự hấp dẫn và sức cạnh tranh của du lịch thành phố
Hạ tầng thương mại cũng được tập trung đầu tư xây dựng khang trang, hiện đại, nhiều trung tâm thương mại, hệ thống siêu thị lớn được đưa vào hoạt động, phục vụ nhu cầu mua sắm của nhân dân và du khách như: Vĩnh Trung Plaza, Indochina Center, Siêu thị Coopmart, Siêu thị Metro, Siêu thị Big C (giai đoạn 1997-2010), Siêu thị Lotte mart, Khu Siêu thị điện máy Nguyễn Kim, TTTM Parkson……
Sản xuất công nghiệp xác định được một số ngành hàng và sản phẩm công nghiệp chủ lực như: thuỷ sản đông lạnh, dệt - may mặc, lốp ô tô, xi măng,
da giày và tiếp tục khuyến khích đầu tư, phát triển các sản phẩm có tiềm năng trở thành các sản phẩm công nghiệp chủ lực mới như: thiết bị điện - điện tử, linh kiện điện tử - tin học, sản xuất lắp ráp ô tô Thị trường xuất khẩu các sản phẩm công nghiệp được mở rộng trên 120 nước và vùng lãnh thổ với kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tăng bình quân 17,9%/năm trong giai đoạn 1997-2010 và ước tăng 15,4%/năm trong giai đoạn 2011-2015 Cơ cấu mặt hàng ngày càng đa dạng, tập trung vào các mặt hàng như: thủy sản, dệt may, giày, đồ chơi trẻ em, hàng thủ công mỹ nghệ v.v , và chuyển dịch theo hướng tăng giá trị hàng công nghiệp chế biến, hàm lượng công nghệ cao (điện, điện tử)
Công cuộc xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng, chỉnh trang đô thị được thực hiện quyết liệt với quyết tâm cao của Đảng bộ, chính quyền và sự đồng thuận của các tầng lớp nhân dân, tạo nên những đổi thay đáng kể cả về tầm vóc, quy mô và diện mạo của thành phố Nhiều công trình trọng điểm có kỹ thuật hiện đại và tầm cỡ đã được đầu tư xây dựng đưa vào sử dụng, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội trong giai đoạn mới như: Hầm đường bộ Hải Vân
Trang 8-hầm đường bộ dài nhất Đông Nam Á, Cung thể thao Tuyên Sơn (giai đoạn 1997-2010), đường Nguyễn Văn Linh nối dài, đường Trần Hưng Đạo nối dài, đường Võ Chí Công, đường Võ Văn Kiệt, đường nối từ cầu Hòa Xuân và Khu
đô thị sinh thái Hòa Quý, đường vành đai phía Nam (gđ1); các Khu tái định cư phục vụ giải tỏa Sân vận động Chi Lăng; quần thể du lịch sinh thái Sơn Trà, Bà
Nà - Suối Mơ; Bệnh viện Ung thư (500 giường), Bệnh viện Phụ sản-Nhi (600 giường), nâng cấp Bệnh viện Đa khoa Đà Nẵng quy mô 1.100 giường, Nhà ga sân bay quốc tế Đà Nẵng (gđ1, TW đầu tư), Trung tâm hành chính thành phố (giai đoạn 2011-2015) và một số công trình lớn đang triển khai như: Nút giao thông khác mức ngã ba Huế, Khu công nghệ cao, Công viên văn hóa Ngũ Hành Sơn (giai đoạn 1), Sân vận động Hòa Xuân 20.000 chỗ ngồi (khu liên hợp thể thao), đường vành đai phía Nam (giai đoạn 2), khu đô thị sinh thái Hòa Xuân, đường cao tốc Đà Nẵng - Quảng Ngãi (Trung ương đầu tư) v.v Nhiều cây cầu hiện đại được xây dựng nối liền hai bờ sông Hàn như: Cầu Sông Hàn, Cầu Thuận Phước, Cầu Tiên Sơn, Cầu Cẩm Lệ (1997-2010), Cầu Rồng, Cầu Trần Thị Lý, Cầu Nguyễn Tri Phương, Cầu Hòa Xuân, Cầu Khuê Đông (2011-2015)
…
Song song với đầu tư phát triển hạ tầng cơ sở, Đà Nẵng cũng quan tâm xây dựng và thực hiện các cơ chế, chính sách linh hoạt, tập trung đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, tạo môi trường đầu tư thông thoáng, thuận lợi để thu hút các nguồn lực cho đầu tư phát triển Công tác cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được thực hiện tốt, cơ chế một cửa, một cửa liên thông phát huy hiệu quả, 100% cơ quan chuyên môn, quận, huyện, phường, xã thực hiện đồng bộ cơ chế một cửa, góp phần giảm thủ tục hành chính, tiết kiệm thời gian và chi phí cho công dân, tổ chức
b, Những mặt còn hạn chế
Tuy nhiên, kinh tế - xã hội phát triển vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, quy mô nền kinh tế còn nhỏ, tích lũy để tái đầu tư còn hạn chế Chất lượng tăng trưởng nhiều mặt còn thấp, chậm được cải thiện Việc lãnh đạo, chỉ đạo thực
Trang 9hiện 5 đột phá kinh tế - xã hội vẫn còn những hạn chế Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt thấp; phần lớn doanh nghiệp thành phố có quy mô nhỏ và siêu nhỏ, chưa hình thành được những ngành hàng, sản phẩm, doanh nghiệp chủ lực,
có quy mô lớn Nguồn lực đầu tư còn hạn chế Kết cấu hạ tầng đô thị có mặt chưa đồng bộ Chất lượng giáo dục và đào tạo, nguồn nhân lực chưa đồng đều; các lĩnh vực văn hoá, văn nghệ phát triển chưa ngang tầm với tiềm năng, lợi thế của thành phố; các thiết chế văn hoá chậm được quan tâm đầu tư Đời sống, việc làm của một bộ phận nhân dân còn nhiều khó khăn, mức sống chậm được cải thiện
c, Nguyên nhân
- Kinh tế tăng trưởng khá nhưng chưa thật bền vững Quy mô nền kinh tế
còn tích lũy để tái đầu tư chưa đáp ứng yêu cầu phát triển, sức cạnh tranh và hiệu quả trên một số lĩnh vực còn thấp Việc lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện 5 đột phá về kinh tế - xã hội còn chậm, triển khai giải pháp và đầu tư nguồn lực chưa
đủ mạnh nên kết quả còn hạn chế trên một số lĩnh vực, nhất là phát triển công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp công nghệ thông tin Sức ảnh hưởng, lan tỏa
và vai trò đầu tàu, trung tâm phát triển của khu vực chưa rõ nét
- Lĩnh vực du lịch chưa có nhiều sản phẩm độc đáo, đặc trưng so với tiềm năng, lợi thế Chất lượng dịch vụ du lịch tuy có cải thiện nhưng vẫn chưa đáp ứng tốt nhu cầu của du khách Dịch vụ thương mại tuy phát triển nhưng chưa phát huy vai trò trung tâm bán buôn, phát luồng hàng hóa của khu vực Năng lực, quy mô sản xuất công nghiệp chưa có bứt phá mạnh mẽ, công nghệ chậm được đổi mới, chưa chú trọng đúng mức công nghiệp phụ trợ; tiến độ xây dựng
hạ tầng Khu Công nghệ cao, Khu Công nghệ thông tin tập trung chậm Lĩnh vực thu ngân sách còn để thất thu, nhất là trong hoạt động dịch vụ du lịch
2.2 Giải pháp và kiến nghị
2.2.1 Giải pháp
Trang 10Giải pháp 1: Phát triển kinh tế nhanh, bền vững gắn với tái cơ cấu và
chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao quy mô, chất lượng tăng trưởng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế
- Phát triển nhanh và bền vững các ngành dịch vụ, đẩy mạnh thực hiện Đề
án phát triển dịch vụ đến năm 2020, xây dựng Đà Nẵng trở thành một trong những trung tâm thương mại dịch vụ, du lịch chất lượng cao, thành phố sự kiện của khu vực và cả nước
- Tập trung phát triển các ngành công nghiệp theo hướng hiện đại, nhất là
các ngành công nghiệp công nghệ cao, công nghệ thông tin Hoàn thành cơ bản kết cấu hạ tầng và có cơ chế, chính sách đặc biệt thu hút đầu tư vào Khu Công nghệ cao, Khu Công nghệ thông tin tập trung, Công viên phần mềm số 2, Khu
đô thị công nghệ FPT Có chính sách khuyến khích phát triển mạnh công nghiệp phụ trợ, các sản phẩm chủ lực, có lợi thế cạnh tranh và tạo ra giá trị gia tăng cao; hỗ trợ xây dựng thương hiệu cho doanh nghiệp; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại trong sản xuất kinh doanh Tiếp tục rà soát, thúc đẩy tiến độ triển khai các dự án trong và ngoài các khu công nghiệp Quy hoạch, kêu gọi đầu tư xây dựng 1 - 2 cụm công nghiệp để bố trí cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ Khuyến khích phát triển các ngành nghề truyền thống sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ
- Tăng cường nguồn lực đầu tư để phát triển Đà Nẵng trở thành một trung tâm kinh tế biển; tập trung rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch phát triển các ngành, lĩnh vực kinh tế biển; khai thác bền vững, có hiệu quả tài nguyên biển đảo, gắn với bảo vệ môi trường biển Tập trung đầu tư nâng cấp cả về quy mô, chất lượng hệ thống cảng biển, phát triển Cảng Đà Nẵng trở thành cảng tổng hợp quốc gia, đầu mối khu vực (loại I); nâng cấp Cảng Tiên Sa giai đoạn 2; phấn đấu sản lượng hàng hóa qua khu vực Cảng Đà Nẵng tăng 8-10%/năm, sản lượng năm 2020 đạt 10 triệu tấn
Giải pháp 2: Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác quy hoạch và quản lý
đô thị; tiếp tục đầu tư phát triển nhanh, đồng bộ hệ thống kết cấu hạ tầng, xây