Người chăn nuôi và các cán bộ cơ sở vẫn chưa được trang bị đầy đủ những kiến thức về thú y, chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố ngoại cảnh như: Những bất ổn về giá cả, nguồn gốc thức ăn, chấ
Trang 1PHẠM THỊ THANH NHÀN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y
Thái Nguyên - 2020
Trang 2PHẠM THỊ THANH NHÀN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Trang 3Đặc biệt thầy giáo hướng dẫn PGS.TS Từ Trung Kiên đã tận tâm, tận
lực hướng dẫn, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi để em thực hiện thành công đề tài và sửa chữa giúp em hoàn thành tốt khoá luận tốt nghiệp
Đồng thời, em xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới tập thể, cán bộ kỹ thuật và các anh chị em công nhân viên tại trại lợn công ty Phát Đạt, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc đã giúp đỡ em trong quá trình thực hiện khóa luận này
Cuối cùng, em xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình và người thân
đã luôn ở bên em động viên về tinh thần và ủng hộ về vật chất để em có thể hoàn thành khóa học này
Một lần nữa em xin được gửi tới các thầy giáo, cô giáo và các bạn bè đồng nghiệp lời cảm ơn sâu sắc, lời chúc sức khoẻ cùng những điều tốt đẹp nhất
Em xin trân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2020
Sinh viên
Phạm Thị Thanh Nhàn
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC BẢNG iv
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT v
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu và yêu cầu 2
1.2.1 Mục tiêu 2
1.2.2 Yêu cầu 2
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 4
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 4
2.1.2 Cơ sở vật chất của trang trại 5
2.1.3 Cơ cấu tổ chức của cơ sở thực tập 7
2.1.4 Thuận lợi, khó khăn 7
2.2 Tổng quan tài liệu 8
2.2.1 Những hiểu biết về quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái đẻ
và lợn nái nuôi con 8
2.2.2 Đặc điểm của lợn con giai đoạn theo mẹ 15
2.2.3 Một số bệnh sinh sản ở lợn nái và lợn con theo mẹ 20
2.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 29
2.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 29
2.3.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 31
PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN 33
3.1 Đối tượng 33
3.2 Địa điểm và thời gian thực hiện 33
3.3 Nội dung thực hiện 33
Trang 53.4 Các chỉ tiêu và phương pháp thực hiện 33
3.4.1 Các chỉ tiêu thực hiện 33
3.4.2 Phương pháp thực hiện 33
3.4.3 Chẩn đoán và điều trị bệnh tại cơ sở 34
3.4.4 Các công việc khác 34
3.4.5 Phương pháp xử lý số liệu với công thức tính 34
Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 36
4.1 Tình hình chăn nuôi lợn tại trại lợn công ty Phát Đạt 36
4.2 Kết quả thực hiện biện pháp phòng bệnh cho lợn cho đàn lợn 37
4.2.1 Công tác vệ sinh, sát trùng chuồng trại 37
4.2.2 Kết quả thực hiện quy trình tiêm phòng cho đàn lợn tại trại 40
4.3 Kết quả thực hiện quy trình chăm sóc và nuôi dưỡng đàn lợn 42
4.3.1 Kết quả tìm hiểu quy trình chăm sóc nuôi dưỡng cho đàn lợn nuôi tại cơ sở 42
4.3.2 Số lợn trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 45
4.4 Chẩn đoán bệnh tại cơ sở 46
4.4.1 Tìm hiểu bệnh của lợn nái và lợn con theo mẹ 46
4.4.2 Kết quả chẩn đoán bệnh ở lợn nái 50
4.4.3 Kết quả chẩn đoán bệnh cho lợn con theo mẹ 51
4.5 Kết quả điều trị bệnh trên lợn nái nuôi con và lợn con tại cơ sở 52
4.6 Kết quả thực hiện các thao tác khác tại trại 54
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 55
5.1 Kết luận 55
5.2 Đề nghị 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO 57
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1 Tình hình chăn nuôi lợn qua 3 năm (2018 - 2020) 36
Bảng 4.2 Lịch vệ sinh, sát trùng chuồng trại 37
Bảng 4.3 Kết quả vệ sinh, sát trùng 39
Bảng 4.4 Lịch tiêm vaccine cho lợn 40
Bảng 4.5 Công tác phòng bệnh bằng vaccine cho đàn lợn 41
Bảng 4.6 Số lợn nái và lợn con theo mẹ trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng 45
Bảng 4.7 Kết quả chẩn đoán bệnh cho lợn nái tại trại 50
Bảng 4.8 Kết quả chẩn đoán bệnh cho lợn con theo mẹ 51
Bảng 4.9 Kết quả điều trị bệnh trên lợn nái đẻ 52
Bảng 4.10 Kết quả điều trị bệnh trên đàn lợn con theo mẹ 53
Bảng 4.11 Kết quả thực hiện các thao tác trên lợn con theo mẹ 54
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
BCN : Ban chủ nhiệm
LMLM : Lở mồm long móng Nxb : Nhà xuất bản
PGS TS : Phó giáo sư Tiến sĩ
TTTN : Thực tập tốt nghiệp
Trang 8ý nghĩa quan trọng, chi phối chỉ số phát triển chăn nuôi và thị trường thực phẩm nước ta
Hiện nay, chăn nuôi lợn không chỉ là chăn nuôi nhỏ lẻ tận dụng phế phụ phẩm như trước kia mà chăn nuôi lợn theo mô hình kiểu trang trại, với số lượng lợn lớn ngày càng đi lên và không ngừng phát triển về quy mô số đầu lợn, đồng thời giống lợn đa dạng hơn đã dần trở thành ngành sản xuất hàng hóa, góp phần tăng thu nhập cho người nông dân, cải thiện bữa ăn cho nhiều gia đình, nâng cao sức khỏe, dân trí và văn minh xã hội
Các giống lợn nội không còn phù hợp nữa mà phải phát triển nhanh đàn lợn lai và lợn ngoại Bởi vì chăn nuôi lợn ngoại có năng suất cao, tăng trọng nhanh đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng, nhất là khu vực thành phố
và các khu công nghiệp do đó giá trị hàng hóa cao
Tuy nhiên, hiện nay ngành chăn nuôi lợn đang phải liên tục đối mặt với nhiều khó khăn Trình độ dân trí còn hạn chế trong việc áp dụng khoa học kĩ thuật vào thực tế sản xuất, vẫn còn tồn tại những phương thức chăn nuôi phân tán, nhỏ lẻ Người chăn nuôi và các cán bộ cơ sở vẫn chưa được trang bị đầy
đủ những kiến thức về thú y, chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố ngoại cảnh như: Những bất ổn về giá cả, nguồn gốc thức ăn, chất tồn dư trong sản phẩm chăn nuôi và tình hình dịch bệnh đang bùng phát ngày càng phức tạp gây
Trang 9nhiều khó khăn và thách thức, đặc biệt là chăn nuôi lợn nái sinh sản và đàn lợn con theo mẹ
Bên cạnh đó, ngành chăn nuôi lợn còn phải đối mặt với tình hình dịch bệnh Lợn hay mắc một số bệnh như: Bệnh truyền nhiễm, bệnh sản khoa, bệnh kí sinh trùng… Đối với các trang trại nuôi lợn nái sinh sản còn gặp nhiều loại bệnh xảy ra, do khả năng thích nghi của những giống lợn nái ngoại với khí hậu nước ta còn kém, đặc biệt là các bệnh hay hảy ra ở cơ quan sinh dục như: Đẻ khó, viêm tử cung, viêm vú, sảy thai truyền nhiễm… Các bệnh này do nhiều yếu tố gây nên như điều kiện vệ sinh, chăm sóc nuôi dưỡng kém, vi khuẩn, virus gây nên… Chính vì vậy, việc chăm sóc, nuôi dưỡng và tìm hiểu về bệnh ở cơ quan sinh sản cho đàn lợn nái là việc rất cần thiết
Để phát triển, nâng cao giá trị kinh tế cho ngành chăn nuôi lợn, chăn nuôi lợn nái là một trong những khâu quan trọng góp phần quyết định đến sự thành công trong chăn nuôi lợn Xuất phát từ thực tế trên, được sự đồng ý của BCN Khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên và
thầy giáo hướng dẫn, em tiến hành chuyên đề: “Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng trị bệnh trên đàn lợn nái sinh sản và lợn con theo
mẹ tại trại lợn công ty Phát Đạt - thị xã Phúc Yên - tỉnh Vĩnh Phúc”
1.2 Mục tiêu và yêu cầu
1.2.1 Mục tiêu
- Đánh giá tình hình chăn nuôi tại trang trại lợn công ty Phát Đạt
- Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng cho lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại trại
- Nắm được các bệnh hay xảy ra đối với lợn nái sinh sản và lợn con đồng thời có phương pháp phòng trị bệnh hiệu quả nhất
1.2.2 Yêu cầu
- Đánh giá tình hình chăn nuôi tại trại chăn nuôi công ty Phát Đạt
Trang 10- Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ nuôi tại trại
- Xác định tình hình nhiễm bệnh trên đàn lợn nái sinh sản và áp dụng các biện pháp phòng trị bệnh
- Chăm chỉ, học hỏi để nâng cao kỹ thuật, tay nghề của bản thân
Trang 11PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
đô thị, có vùng đồi rừng, bán sơn địa, vùng đồng bằng
Trang trại chăn nuôi lợn Phát Đạt thuộc thôn Cao Quang, xã Cao Minh, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc Trang trại nằm trên vùng bán sơn địa thuộc
xã Cao Minh
+ Phía Đông giáp phường Xuân Hòa
+ Phía Tây giáp xã Nam Viêm
+ Phía Nam giáp xã Bá Hiến
+ Phía Bắc giáp xã Ngọc Thanh
Khí hậu:
Thị xã Phúc Yên nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ bình quân năm là 23○C, có nét đặc trưng nóng ẩm mưa nhiều về mùa hè, hanh khô kéo dài và lạnh về mùa đông
Nhiệt độ không khí có nét đặc trưng sau: Cực đại trung bình năm 20,5○C; cực đại tuyệt đối là 41,6○C; cực tiểu tuyệt đối là 3,1○C
Độ ẩm không khí tương đối trung bình năm là 83%
Hướng gió chủ yếu về mùa đông là Đông - Bắc, về mùa hè là Đông -
Trang 12Nam, vận tốc gió trung bình năm là 2,4m/s Vận tốc gió cực đại có thể xảy ra theo chu kỳ thời gian 5 năm là 25 m/s; 10 năm là 32 m/s, 20 năm là 32 m/s
Nhìn chung, điều kiện khí hậu của xã khá là thuận lợi cho nông nghiệp phát triển cả về trồng trọt và chăn nuôi Tuy nhiên, có những tháng bất lợi như mùa hè nhiệt độ, độ ẩm cao là điều kiện thuận lợi cho vi sinh vật phát triển và gây bệnh Chính vì vậy việc phòng và trị bệnh trong chăn nuôi lợn khá là quan trọng
18 mm, lượng mưa trung bình tháng cao nhất là 237,8 mm
2.1.2 Cơ sở vật chất của trang trại
Trang trại chăn nuôi lợn Phát Đạt là trang trại tư nhân bắt đầu hoạt động chăn nuôi từ năm 2009 với quy mô là 120 nái, đến năm 2013 công ty có
mở thêm quy mô lên 300 nái và 800 lợn thịt trên diện tích là 3 ha Khu chăn nuôi rộng tới 2000 m2 với 5 dãy chuồng
Cơ sở vật chất ở trại tương đối đầy đủ để phục vụ cho chăn nuôi như: Hệ thống nước, hệ thống điện, kho thức ăn, kho thuốc, phòng pha tinh…
Trang trại có hệ thống chuồng nuôi theo mô hình khép kín Phía đầu chuồng là hệ thống giàn mát, cuối mỗi chuồng có 3 quạt thông gió đối với các chuồng đẻ, chuồng lợn nái chửa, chuồng thịt, 2 quạt thông gió đối với chuồng cách ly và 2 quạt thông gió đối với chuồng lợn đực và chuồng lợn loại Hai bên tường có dãy cửa sổ lắp kính Mỗi cửa sổ có diện tích 1,5 m2, cách nền 1,2 m, mỗi cửa sổ cách nhau 40 cm Có bạt phủ bên ngoài khi nắng nóng
Trang 13chiếu vào Trên trần được lắp hệ thống chống nóng bằng tôn lạnh Mỗi dãy chuồng đều được trang bị hệ thống phun nước trên mái Đầu chuồng bên ngoài lắp đặt hệ thống phun sương tự động
Hệ thống điện: Nguồn cấp điện có điện lưới và máy phát dự phòng Đảm bảo cung cấp điện cho các dãy chuồng ngay khi vừa mất điện Đối với chuồng bầu, hệ thống điện được cung cấp đầy đủ đảm bảo độ sáng phục vụ cho công tác chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái bầu
Hệ thống nước trong khu chăn nuôi đều là nước giếng khoan Nước uống cho lợn được cấp từ hai bể lớn, một bể xây dựng ở đầu chuồng thịt 1 và một bể ở đầu chuồng đẻ 2 Nước tắm và nước xả gầm, phục vụ cho công tác khác, được bố trí từ các bể lọc và được bơm qua hệ thống ống dẫn tới bể chứa
ở giữa các chuồng
Phòng pha tinh được trang bị các dụng cụ hiện đại: Kính hiển vi, thiết
bị cảm ứng nhiệt, các dụng cụ đóng liều tinh, nồi hấp cách thủy và một số thiết bị khác
Hệ thống xử lý môi trường: Chất thải được xử lý bằng hệ thống biogas trước khi thải ra môi trường, có giàn khử mùi phía sau quạt hút gió, có hố hủy lợn xa khu vực chăn nuôi
Một số dụng cụ và trang thiết bị khác: Tủ lạnh bảo quản vaccine, tủ thuốc để bảo quản và dự trữ thuốc cho trại, xe chở thức ăn từ nhà kho xuống chuồng, máy nén khí phun sát trùng di động khu vực ngoài chuồng nuôi
Tổng trại có 10 chuồng nuôi, trong đó có: hai chuồng đẻ với 96 ô đẻ kích thước 1,8 m x 2,2m/ô, hai chuồng lợn nái chửa với 246 ô lợn nái chửa kích thước 2,2 m x 0,65 m/ô, một chuồng đực với 9 ô đực, một chuồng hậu bị
có ba ô quy mô là 50 con/lứa, một chuồng cai sữa có 26 ô quy mô là 650 con/lứa và ba chuồng thịt có 16 ô quy mô là 2000 lợn thịt/lứa
Trại có một nhà khách, một phòng họp, ba dãy nhà ở công nhân viên,
Trang 14ba khu vệ sinh và nhà tắm cho công nhân viên cũng như khách thăm trại và một nhà bếp ăn
2.1.3 Cơ cấu tổ chức của cơ sở thực tập
Trại hoạt động theo phương thức trại của công ty Cán bộ kỹ thuật của Công ty Green Feed chịu trách nhiệm và giám sát mọi hoạt động của trại
+ 01 giám đốc Công ty
Vị trí thuận lợi: Xa khu dân cư, bệnh viện, trường học, gần đường quốc
lộ thuận tiện đường giao thông, địa thế bằng phẳng, xa hướng gió chính
Chủ trại có năng lực, năng động, nắm bắt được tình hình xã hội, luôn quan tâm đến đời sống vật chất và tinh thần của cán bộ kỹ thuật và công nhân
Đội ngũ quản lý, cán bộ kỹ thuật có trình độ chuyên môn cao, có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc
Công nhân có tay nghề cao, năng động, nhiệt tình và có trách nhiệm với công việc Con giống tốt, thức ăn, thuốc chất lượng cao, quy trình chăn nuôi khép kín và khoa học đã mang lại hiệu quả chăn nuôi cao cho trang trại
Khó khăn:
Do thời tiết diễn biến phức tạp, khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm về mùa hè, hanh khô về mùa đông nên khâu phòng trừ dịch bệnh còn gặp nhiều khó khăn
Trang 15Đội ngũ công nhân trại còn thiếu về số lượng, do đó ảnh hưởng đến tiến
2.2 Tổng quan tài liệu
2.2.1 Những hiểu biết về quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái đẻ và lợn nái nuôi con
2.2.1.1 Quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái đẻ
Quy trình nuôi dưỡng:
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [12], thức ăn dùng cho lợn nái đẻ
phải là những thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao, dễ tiêu hóa Không cho lợn nái ăn thức ăn có hệ số choán cao gây chèn ép thai sinh ra đẻ non, đẻ khó hoặc ép thai chết ngạt
Một tuần trước khi lợn đẻ phải căn cứ vào tình trạng sức khỏe cụ thể của lợn nái để có kế hoạch giảm dần lượng thức ăn Đối với những lợn nái có sức khỏe tốt thì một tuần trước khi đẻ giảm 1/3 lượng thức ăn, trước đẻ 2 - 3 ngày giảm 1/2 lượng thức ăn Đối với những lợn nái có sức khỏe yếu thì không giảm lượng thức ăn mà giảm dung tích của thức ăn bằng cách tăng cường cho ăn các loại thức ăn dễ tiêu hóa
Những ngày lợn đẻ phải căn cứ vào thể trạng của lợn nái, sự phát dục của bầu vú mà quyết định chế độ dinh dưỡng cho hợp lý
Ngày lợn nái cắn ổ đẻ, cho lợn nái ăn ít thức ăn tinh (0,5 kg) hoặc không cho thức ăn tinh nhưng uống nước tự do Ngày lợn nái đẻ có thể không cho lợn nái ăn mà chỉ có uống nước ấm có pha muối hoặc ăn cháo loãng Sau khi đẻ 2 - 3 ngày không cho lợn nái ăn nhiều một cách đột ngột mà tăng từ từ
Trang 16đến ngày thứ 4 - 5 thì cho ăn đủ tiêu chuẩn Thức ăn cần chế biến tốt, dung tích nhỏ, có mùi vị thơm ngon để kích thích tính thèm ăn cho lợn nái
đủ ánh sáng Sau khi vệ sinh tiêu độc nên để trống chuồng từ 3 - 5 ngày trước khi lợn nái vào đẻ Chuồng đẻ cần phải trải đệm lót, có che chắn và thiết bị sưởi ấm trong những ngày mùa đông giá rét Trước khi đẻ 1 tuần, cần vệ sinh lợn nái sạch sẽ, lợn nái được lau rửa sạch sẽ đất hoặc phân bám dính trên người, dùng khăn thấm nước xà phòng lau sạch bầu vú và âm hộ Làm như vậy tránh được nguy cơ lợn con mới sinh bị nhiễm khuẩn do tiếp xúc trực tiếp với lợn mẹ có vi khuẩn gây bệnh Sau khi vệ sinh sạch sẽ cho lợn nái, cho lợn nái di chuyển nhẹ nhàng từ chuồng bầu sang chuồng đẻ để lợn quen dần với chuồng mới
Trong quá trình chăm sóc lợn nái đẻ, công việc cần thiết và rất quan trọng là việc chuẩn bị ô úm cho lợn con Ô úm rất quan trọng đối với lợn con,
nó có tác dụng phòng ngừa lợn mẹ đè chết lợn con, đặc biệt những ngày đầu mới sinh lợn con còn yếu ớt, lợn mẹ mới đẻ xong sức khỏe còn rất yếu chưa hồi phục Ô úm có thể giúp khống chế nhiệt độ thích hợp cho lợn con, đặc biệt là lợn con đẻ vào những tháng mùa đông Ngoài ra, ô úm tạo điều kiện thuận lợi cho việc tập ăn sớm cho lợn con (để máng ăn vào ô úm cho lợn con lúc 5 - 7 ngày tuổi) mà không bị lợn mẹ húc đẩy và ăn thức ăn của lợn con
Theo dõi thường xuyên sức khỏe của lợn mẹ, quan sát bầu vú, thân nhiệt lợn mẹ liên tục trong 3 ngày đầu sau khi đẻ để phát hiện sát nhau, sốt sữa hoặc nhiễm trùng để có biện pháp xử lý kịp thời
Trang 172.2.1.2 Quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái nuôi con
Quy trình nuôi dưỡng:
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [12], thức ăn cho lợn nái nuôi con
phải là những thức ăn có ảnh hưởng tốt đến sản lượng và chất lượng sữa Đó
là các loại thức ăn xanh non như các loại rau xanh, các loại củ quả như bí đỏ,
cà rốt, đu đủ Thức ăn tinh tốt như gạo tấm, cám gạo, bột mỳ, các loại thức ăn
bổ sung đạm động vật, đạm thực vật, các loại khoáng, vitamin Không cho lợn nái nuôi con ăn các loại thức ăn thối mốc, biến chất, hư hỏng Thức ăn hỗn hợp cho lợn nái nuôi con dùng trong chăn nuôi công nghiệp phải đảm bảo
đủ protein, năng lượng và các thành phần vitamin, khoáng theo đúng tiêu chuẩn quy định như năng lượng trao đổi 3100 kcal; protein 15%; canxi từ 0,9
- 1,0 %; photpho 0,7 %
Lượng thức ăn cho lợn nái nuôi con cũng đóng vai trò quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng và khả năng điều tiết sữa của lợn mẹ, chính vì vậy ta cần phải có một khẩu phần ăn hợp lý và đầy đủ dinh dưỡng cho lợn mẹ Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [12], trong quá trình nuôi con, lợn nái được cho ăn như sau:
+ Đối với lợn nái ngoại:
Ngày cắn ổ đẻ: Cho lợn nái ăn ít thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh (0,5 kg) hoặc không cho ăn, nhưng cho uống nước tự do
Sau ngày đẻ thứ 1, 2 và 3 cho ăn thức ăn hỗn hợp với lượng thức ăn từ
1 - 2 - 3 kg tương ứng
Ngày nuôi con thứ 4 đến ngày thứ 7: Cho ăn 4 kg thức ăn hỗn hợp/ nái/ ngày
Từ ngày thứ 8 đến cai sữa cho ăn theo công thức:
Lượng thức ăn/ nái/ ngày = 2 kg + (số con x 0,35 kg/ con)
Số bữa ăn trên ngày: 2 (sáng và chiều)
Nếu lợn mẹ gầy thì cho ăn thêm 0,5 kg, lợn mẹ béo thì giảm 0,5 kg
Trang 18+ Đối với lợn nái nội:
Công thức tính nhu cầu thức ăn cho lợn nái nội nuôi con/ ngày đêm Lợn nái nội có khối lượng cơ thể dưới 100 kg, mức ăn trong 1 ngày đêm được tính như sau:
Thức ăn tinh = 1,2 kg + (số lợn con theo mẹ x 0,18 kg)
Thức ăn thô xanh: 0,3 đơn vị
Lợn nái nội có khối lượng cơ thể từ 100 kg trở lên, mức ăn cho 1 ngày đêm giai đoạn nuôi con được tính như sau:
Thức ăn tinh = 1,4 kg + (số con theo mẹ x 0,18 kg)
Thức ăn thô xanh: 0,4 đơn vị
Quy trình chăm sóc:
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [12], vận động tắm nắng là điều
kiện tốt giúp cho lợn nái nhanh hồi phục sức khỏe và nâng cao sản lượng sữa của lợn mẹ Do vậy sau khi lợn đẻ được từ 3 - 7 ngày, trong điều kiện chăn nuôi có sân vận động, nếu thời tiết tốt thì có thể cho lợn nái vận động, thời gian vận động lúc đầu là 30 phút/ngày, sau tăng dần số giờ vận động lên Trong chăn nuôi công nghiệp, hầu hết lợn nái nuôi con đều bị nhốt trong các cũi đẻ, không được vận động, vì vậy cần phải chú ý đến thành phần dinh dưỡng của thức ăn, đặc biệt các chất khoáng và vitamin
Chuồng trại của lợn nái nuôi con yêu cầu phải đảm bảo luôn khô ráo, sạch sẽ, không có mùi hôi thối, ẩm ướt Do vậy hàng ngày phải vệ sinh chuồng trại, máng ăn, máng uống sạch sẽ Chuồng lợn nái nuôi con phải có ô
Trang 19úm lợn con và ngăn tập ăn sớm cho lợn con Nhiệt độ chuồng nuôi thích hợp
- Phòng bệnh bằng vệ sinh và chăm sóc nuôi dưỡng tốt:
Theo Nguyễn Ngọc Phụng (2005) [13], bệnh xuất hiện trong một đàn lợn thường do nguyên nhân phức tạp, có thể là bệnh truyền nhiễm, hoặc không truyền nhiễm hoặc có sự kết hợp cả hai Có rất nhiều biện pháp đã được đưa ra áp dụng nhằm kiểm soát các khả năng xảy ra bệnh tật trên đàn lợn Phần lớn các biện pháp này đều nhằm làm giảm khả năng lan truyền các tác nhân gây bệnh và nâng cao sức đề kháng của đàn lợn
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [12], từ 3 - 5 ngày trước dự kiến đẻ,
ô chuồng lợn nái đã được cọ rửa sạch, phun khử trùng bằng hóa chất như crezin 5 % hoặc bằng loại hóa chất khác nhằm tiêu độc khử trùng chuồng lợn
nái trước khi đẻ
- Vệ sinh chuồng trại và thiết bị chăn nuôi:
Chuồng trại phải đảm bảo phù hợp với từng đối tượng vật nuôi, thoáng mát mùa hè, ấm áp mùa đông, đảm bảo cách ly với môi trường xung quanh Tẩy uế chuồng trại sau mỗi lứa nuôi bằng phương pháp: Rửa sạch, để khô sau
đó phun sát trùng bằng các loại thuốc sát trùng và trống chuồng ít nhất 15 ngày với vật nuôi thương phẩm, 30 ngày đối với vật nuôi sinh sản Với những chuồng nuôi lưu cữu hoặc chuồng nuôi có vật nuôi bị bệnh truyền nhiễm, cần
Trang 20phải vệ sinh tổng thể và triệt để Sau khi đưa hết vật nuôi ra khỏi chuồng, xử
lý theo hướng dẫn của thú y, cần phun sát trùng kỹ (pha dung dịch sát trùng
và phun theo hướng dẫn khi chống dịch) toàn bộ chuồng nuôi từ mái, các dụng cụ và môi trường xung quanh, để khô và dọn, rửa Các chất thải rắn trong chăn nuôi cần thu gom để đốt hoặc ủ sinh học; chất thải lỏng, nước rửa chuồng cần thu gom để xử lý, không thải trực tiếp ra môi trường Cần phun sát trùng 1 - 2 lần/tuần trong suốt thời gian trống chuồng, ít nhất trong 30 ngày Các thiết bị, dụng cụ chăn nuôi cần rửa sạch, phơi khô, sát trùng và đưa vào kho bảo quản Vệ sinh và phun sát trùng xung quanh chuồng nuôi
Khi đưa vắc xin vào cơ thể vật nuôi, chưa có kháng thể chống bệnh ngay mà phải sau 7 - 21 ngày (tuỳ theo từng loại vắc xin) mới có miễn dịch
Điều trị bệnh:
Theo Nguyễn Bá Hiên và cs (2012) [6], nguyên tắc để điều trị bệnh là: Toàn diện: Phải phối hợp nhiều biện pháp như hộ lý, dinh dưỡng, dùng thuốc
Trang 21Điều trị sớm trên cơ sở chẩn đoán đúng bệnh để dễ lành bệnh và hạn chế lây lan
Diệt căn bệnh là chủ yếu kết hợp chữa triệu chứng
Tiêu diệt mầm bệnh phải đi đôi với tăng cường sức đề kháng của cơ thể, làm cho cơ thể tự nó chống lại mầm bệnh thì bệnh mới chóng khỏi, ít bị tái phát và biến chứng, miễn dịch mới lâu bền
Phải có quan điểm khi chữa bệnh, chỉ nên chữa cho những gia súc có thể chữa lành mà không giảm sức kéo và sản phẩm Nếu chữa kéo dài, tốn kém vượt quá giá trị gia súc thì không nên chữa
Những bệnh rất nguy hiểm cho người mà không có thuốc chữa thì không nên chữa
Các biện pháp chữa bệnh truyền nhiễm là:
Hộ lý: Cho gia súc ốm nghỉ ngơi, nhốt riêng ở chuồng có điều kiện vệ sinh tốt (thoáng mát, sạch sẽ, yên tĩnh) Theo dõi thân nhiệt, nhịp tim, hô hấp, phân, nước tiểu, phát hiện sớm những biến chuyển của bệnh để kịp thời đối phó Cho gia súc ăn uống thức ăn tốt và thích hợp với tính chất của bệnh
Dùng kháng huyết thanh: Chủ yếu dùng chữa bệnh đặc hiệu vì vậy thường được dùng trong ổ dịch, chữa cho gia súc đã mắc bệnh Chữa bệnh bằng kháng huyết thanh là đưa vào cơ thể những kháng thể chuẩn bị sẵn, có tác dụng trung hòa mầm bệnh hoặc độc tố của chúng (huyết thanh kháng độc tố)
Dùng hóa dược: Phần lớn hóa dược được dùng để chữa triệu chứng, một số hóa dược dùng chữa nguyên nhân vì có tác dụng đặc hiệu đến mầm bệnh Dùng hóa dược chữa bệnh phải tác động mạnh và sớm, vì nhiều loài vi khuẩn có thể thích ứng với liều lượng nhỏ Chúng có thể chống lại thuốc và tính chất quen thuộc được truyền cho những thế hệ sau Khi cần, có thể phối hợp nhiều loại hóa dược để tăng hiệu quả điều trị, vì nếu một loại thuốc chưa
có tác dụng đến mầm bệnh thì có loại thuốc khác tác dụng tốt hơn
Trang 22Dùng kháng sinh: Kháng sinh là những thuốc đặc hiệu có tác dụng ngăn cản sự sinh sản của vi khuẩn hoặc tiêu diệt vi khuẩn Tuy nhiên sử dụng kháng sinh có thể gây nhiều tai biến do thuốc có tính độc, do phản ứng dị ứng,
do một lúc tiêu diệt nhiều vi khuẩn làm giải phóng một lượng lớn độc tố, làm giảm phản ứng miễn dịch của cơ thể Việc dùng kháng sinh bừa bãi còn gây nên hiện tượng kháng thuốc, làm giảm thấp tác dụng chữa bệnh của kháng sinh Vì vậy, khi dùng thuốc cần theo những nguyên tắc sau đây:
Phải chẩn đoán đúng bệnh để dùng đúng thuốc, dùng sai thuốc sẽ chữa không khỏi bệnh mà làm cho việc chẩn đoán bệnh về sau gặp khó khăn
Chọn loại kháng sinh có tác dụng tốt nhất đối với mầm bệnh đã xác định Dùng liều cao ngay từ đầu, những lần sau có thể giảm liều lượng
Không nên vội vàng thay đổi kháng sinh mà phải chờ một thời gian để phát huy tác dụng của kháng sinh
Phải dùng phối hợp nhiều loại kháng sinh để làm giảm liều lượng và độc tính của từng loại, làm diện tác động đến vi khuẩn rộng hơn, tăng tác dụng điều trị và hạn chế hiện tượng vi khuẩn kháng thuốc
Phải tăng cường sức đề kháng của cơ thể gia súc như nuôi dưỡng tốt, dùng thêm vitamin, tiêm nước sinh lý…
2.2.2 Đặc điểm của lợn con giai đoạn theo mẹ
Đặc điểm về sinh trưởng, phát dục:
Đối với chăn nuôi lợn con nói riêng và gia súc nói chung, thời kỳ gia súc mẹ mang thai được chăm sóc chu đáo, bào thai sẽ phát triển tốt sinh con khỏe mạnh
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [12], so với khối lượng sơ sinh thì khối lượng lợn con lúc 10 ngày tuổi tăng gấp 2 lần, lúc 21 ngày tuổi tăng gấp
4 lần, lúc 30 ngày tuổi tăng gấp 5 - 6 lần, lúc 40 ngày tuổi tăng gấp 7 - 8 lần, lúc 50 ngày tuổi tăng gấp 10 lần, lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 12 - 14 lần
Trang 23Lợn con bú sữa sinh trưởng và phát triển nhanh nhưng không đồng đều qua các giai đoạn, nhanh trong 21 ngày đầu sau đó giảm dần Có sự giảm này
là do nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là do lượng sữa mẹ bắt đầu giảm và hàm lượng hemoglobin trong máu của lợn con bị giảm Thời gian bị giảm sinh trưởng kéo dài khoảng 2 tuần hay còn gọi là giai đoạn khủng hoảng của lợn con Chúng ta hạn chế sự khủng hoảng này bằng cách cho ăn sớm Do lợn con sinh trưởng nhanh nên quá trình tích lũy các chất dinh dưỡng mạnh
Lợn con sau 3 tuần tuổi mỗi ngày có thể tích lũy được 9 - 14 gam protein/1kg khối lượng cơ thể, trong khi đó lợn trưởng thành chỉ tích lũy được 0,3 - 0,4 gam protein/1kg khối lượng cơ thể
Hơn nữa, để tăng 1kg khối lượng cơ thể, lợn con cần ít năng lượng nghĩa là tiêu tốn năng lượng ít hơn lợn trưởng thành Vì vậy, cơ thể của lợn con chủ yếu là nạc, mà để sản xuất ra 1kg thịt nạc cần ít năng lượng hơn để tạo ra 1kg mỡ
Đặc điểm về tiêu hóa:
Đặc điểm chung về giải phẫu cơ quan tiêu hóa của lợn: Miệng, hầu, thực quản, dạ dày, ruột non, ruột già, hậu môn
Cơ quan tiêu hóa của lợn con phát triển nhanh nhưng chưa hoàn chỉnh, các tuyến tiêu hóa phát triển chưa đồng bộ, dung tích của bộ máy tiêu hóa còn nhỏ, thời kỳ bú sữa cơ quan phát triển hoàn thiện dần
Dung tích bộ máy tiêu hóa tăng nhanh trong 60 ngày đầu: Dung tích dạ dày lúc 10 ngày tuổi gấp 3 lần, lúc 20 ngày tuổi gấp 8 lần và lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 60 lần so với lúc sơ sinh (dung tích dạ dày lúc sơ sinh khoảng 0,03 lít) Dung tích ruột non lúc 10 ngày tuổi gấp 3 lần lúc sơ sinh, lúc 20 ngày tuổi gấp 6 lần, lúc 60 ngày tuổi gấp 50 lần (dung tích lúc sơ sinh khoảng 0,12 lít) Còn dung tích ruột già lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 50 lần so với lúc sơ sinh
Sự tăng về kích thước cơ quan tiêu hóa giúp lợn con tích lũy được nhiều thức
Trang 24ăn và tăng khả năng tiêu hóa các chất
Mặc dù vậy, ở lợn con, các cơ quan chưa thành thục về chức năng, đặc biệt là hệ thần kinh Do đó, lợn con phản ứng rất chậm chạp đối với các yếu tố tác động lên chúng Do chưa thành thục nên cơ quan tiêu hóa của lợn con cũng rất dễ mắc bệnh, dễ rối loạn tiêu hóa
Một đặc điểm cần lưu ý ở lợn con là có giai đoạn không có axit HCl trong dạ dày Giai đoạn này được coi như một tình trạng thích ứng tự nhiên Nhờ vậy nó tạo được khả năng thẩm thấu các kháng thể có trong sữa đầu của lợn mẹ Trong giai đoạn này dịch vị không có khả năng phân giải protein mà chỉ có khả năng làm vón sữa đầu và sữa Còn huyết thanh chứa albumin và globulin được chuyển xuống ruột và thẩm thấu vào máu
Ở lợn con từ 14 - 16 ngày tuổi, tình trạng thiếu axit HCl ở dạ dày không còn gọi là trạng thái bình thường nữa Việc tập cho lợn con ăn sớm có tác dụng thúc đẩy bộ máy tiêu hóa của lợn con phát triển nhanh và sớm hoàn thiện Vì thế sẽ rút ngắn được giai đoạn thiếu HCl Bởi vì khi được bổ sung thức ăn thì thức ăn sẽ kích thích tế bào vách dạ dày tiết ra HCl ở dạng tự do sớm hơn và tăng cường phản xạ tiết dịch vị (giai đoạn con non khác với con trưởng thành là chỉ tiết dịch vị khi thức ăn vào dạ dày)
Lợn con dưới 1 tháng tuổi, dịch vị không có HCl tự do, lúc này lượng axit tiết ra rất ít và nhanh chóng kết hợp với dịch nhày của dạ dày, hiện tượng này gọi là hypohydric Do dịch vị chưa có HCl tự do nên men pepsin trong dạ dày lợn chưa có khả năng tiêu hóa protein của thức ăn Vì HCl tự do có tác dụng kích hoạt men pepsinnogen không hoạt động thành pepsin hoạt động và men này mới có khả năng tiêu hóa protein
Enzym trong dịch vị dạ dày lợn con đã có từ lúc mới đẻ, tuy nhiên lợn trước 20 ngày tuổi không thấy khả năng tiêu hóa thực tế của dịch vị có enzym, sự tiêu hao của dịch vị tăng theo tuổi một cách rõ rệt khi cho ăn các
Trang 25loại thức ăn khác nhau, thức ăn hạt kích thích tiết ra dịch vị mạnh Hơn nữa, dịch vị thu được khi cho thức ăn hạt kích thích tiết HCl nhiều hơn và sự tiêu hóa nhanh hơn dịch vị thu được khi cho uống sữa Đây là cơ sở cho việc bổ sung sớm thức ăn và cai sữa sớm cho lợn con
Thực nghiệm còn xác nhận rằng nhiều loại vi khuẩn đường ruột đã sinh
ra các chất kháng sinh ức chế sự phát triển của vi khuẩn gây bệnh, khi lợn con sinh ra hệ vi sinh vật đường ruột chưa phát triển đầy đủ số lượng vi khuẩn có lợi, chưa có khả năng kháng lại vi khuẩn gây bệnh nên rất dễ nhiễm bệnh đường tiêu hóa Vi khuẩn gây bệnh phó thương hàn, vi khuẩn gây thối rữa ở lợn con mới sinh
Đặc điểm về cơ năng điều tiết của lợn con:
Cơ năng điều tiết thân nhiệt của lợn con chưa hoàn chỉnh vì vỏ đại não của lợn con chưa phát triển hoàn thiện Do đó việc điều tiết thân nhiệt và năng lực phản ứng kém, dễ bị ảnh hưởng bởi môi trường (nhiệt độ, độ ẩm)
Ở lợn con, khả năng sinh trưởng và phát triển nhanh, yêu cầu về dinh dưỡng ngày càng tăng cao Trong khi đó sản lượng sữa của lợn mẹ tăng dần đến 2 tuần sau khi đẻ và sau đó giảm dần cả về chất và lượng Đây là mâu thuẫn giữa nhu cầu dinh dưỡng của lợn con và khả năng cung cấp sữa của lợn
mẹ Nếu không kịp thời bổ sung thức ăn cho lợn con thì lợn thiếu dinh dưỡng dẫn đến sức đề kháng yếu, lợn con gầy còm, nhiều lợn con mắc bệnh Vì vậy nên tiến hành cho lợn con tập ăn sớm để khắc phục tình trạng khủng hoảng trong thời kỳ 3 tuần tuổi và giai đoạn sau cai sữa
Lợn con dưới 3 tuần tuổi cơ năng điều tiết thân nhiệt chưa hoàn chỉnh nên thân nhiệt chưa ổn định, nghĩa là sự thải nhiệt và sinh nhiệt chưa cân bằng
Khi còn là bào thai, các chất dinh dưỡng được mẹ cung cấp qua nhau thai, điều kiện sống tương đối ổn định Lợn con sơ sinh gặp điều kiện sống hoàn toàn mới, nếu chăm sóc không tốt rất dễ mắc bệnh còi cọc và chết
Trang 26Ngoài ra lớp mỡ dưới da của lợn con còn mỏng, lượng mỡ glycogen dự trữ trong cơ thể lợn còn thấp, trên cơ thể lợn con lông còn thưa, mặt khác diện tích bề mặt cơ thể so với khối lượng cơ thể chênh lệch tương đối cao nên lợn con dễ bị mất nhiệt và khả năng cung cấp nhiệt cho lợn con chống rét còn thấp dẫn đến lợn con rất dễ mắc bệnh khi thời tiết thay đổi
Ở điều kiện nhiệt độ thấp, độ ẩm không khí cao gây ra hiện tượng tăng tỏa nhiệt ở lợn con bằng phương thức bức xạ Vì thế ở nước ta vào cuối mùa đông đầu mùa xuân, khí hậu lạnh và ẩm, lợn con sẽ bị toả nhiệt theo phương thức này, làm cho nhiệt lượng cơ thể mất đi, lợn bị lạnh Đây là điều kiện thuận lợi dẫn đến phát sinh bệnh, nhất là bệnh đường tiêu hoá
Đặc điểm về khả năng hình thành kháng thể miễn dịch của lợn con:
Phản ứng miễn dịch là khả năng đáp ứng của cơ thể Phần lớn các chất
lạ là mầm bệnh Mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể lợn con tương đối dễ dàng, do chức năng của các tuyến chưa hoàn chỉnh Ở lợn con lượng enzym tiêu hoá và lượng HCl tiết ra còn ít, chưa đủ để đáp ứng cho quá trình tiêu hoá, gây rối loạn trao đổi chất, dẫn tới khả năng tiêu hoá kém, hấp thu kém Trong giai đoạn này
mầm bệnh (Salmonella spp, E.coli…) dễ dàng xâm nhập vào cơ thể qua đường
tiêu hoá và gây bệnh
Lợn con mới đẻ ra trong cơ thể hầu như chưa có kháng thể Lượng kháng thể tăng rất nhanh sau khi lợn con được bú sữa đầu của lợn mẹ Cho nên khả năng miễn dịch của lợn con là hoàn toàn thụ động, phụ thuộc vào lượng kháng thể hấp thu được nhiều hay ít từ sữa đầu của lợn mẹ
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [12], trong sữa đầu của lợn mẹ hàm lượng protein rất cao Những ngày đầu mới đẻ, hàm lượng protein trong sữa chiếm 18 - 19%, trong đó lượng - globulin chiếm số lượng khá lớn (30 - 35%) Nó có tác dụng tạo sức đề kháng, vì vậy sữa đầu có vai trò quan trọng đối với khả năng miễn dịch của lợn con Lợn con hấp thu lượng - globulin
Trang 27bằng con đường ẩm bào Quá trình hấp thu nguyên vẹn nguyên tử - globulin giảm đi rất nhanh theo thời gian Nó chỉ có khả năng hấp thu qua ruột non của lợn con rất tốt trong 24 giờ đầu sau khi đẻ ra nhờ trong sữa đầu có kháng men antitripsin làm mất hoạt lực của men tripsin tuyến tụy và nhờ khoảng cách tế bào vách ruột của lợn con khá rộng, cho nên 24 giờ sau khi được bú sữa đầu, hàm lượng - globulin trong máu lợn con đạt tới 20,3mg/100ml máu Sau 24 giờ, lượng kháng men trong sữa đầu giảm dần và khoảng cách giữa các tế bào vách ruột của lợn con hẹp dần, sự hấp thu - globulin kém hơn, hàm lượng - globulin trong máu lợn con tăng lên chậm hơn Đến 3 tuần tuổi chỉ đạt khoảng 24mg/100ml máu (máu bình thường của lợn trưởng thành có khoảng 65mg/100ml máu), do đó lợn con cần được bú sữa đầu càng sớm càng tốt Nếu lợn con không được bú sữa đầu thì từ 20 - 25 ngày tuổi mới có khả năng
tự tổng hợp kháng thể, những lợn con không được bú sữa đầu thì sức đề kháng kém, dễ mắc bệnh, tỷ lệ chết cao
2.2.3 Một số bệnh sinh sản ở lợn nái và lợn con theo mẹ
2.2.3.1 Bệnh viêm tử cung
Nguyên nhân:
Bệnh viêm tử cung thường xảy ra ở lợn sau khi đẻ, có thể xảy ra ở lợn nái sau khi phối giống, ít thấy ở những lợn nái hậu bị
Thời gian chửa, khẩu phần không cân đối, ít vận động hoặc nhiễm một
số bệnh truyền nhiễm: Tai xanh (PRRS), lợn nghệ (Leptospirosis), sảy thai
truyền nhiễm (Brucellosis), Pavrovirus và một số bệnh nhiễm khuẩn khác
Lợn nái khó đẻ, sẩy thai, thai chết lưu và viêm tử cung Trong khi đẻ, điều kiện vệ sinh kém, sự can thiệp của người đỡ đẻ không đúng kỹ thuật, nhau thai bị sót là nguyên nhân dẫn đến lợn nái bị viêm dạ con
Do phối trực tiếp với lợn đực bị bệnh và truyền nhiễm cho lợn cái Dụng cụ thụ tinh nhân tạo không sạch từ đó vi khuẩn xâm nhập, gây bệnh
Trang 28Những vi khuẩn thường hay gặp là E.coli, Streptococcus, Staphylococcus,
Proteuspyogenes
Triệu chứng và bệnh tích:
Triệu chứng thường thấy ở lợn nái đẻ trong vòng 12 - 72 giờ
Lợn kém ăn, sốt 39,5 - 41,5°C, tiết sữa kém
Toàn bộ bầu vú nóng đỏ hơn bình thường
1 - 3 ngày sau đó thấy từ âm đạo có những chất nhờn đục trắng chảy ra liên tục và có mùi hôi tanh
Nếu trong trường hợp chết lưu thai, âm đạo sưng tấy, đỏ, có chất chứa dịch tiết màu vàng xẫm, nâu và có mùi rất hôi thối, thân nhiệt tăng, lợn nái đi lại mệt mỏi, khó khăn
Mổ khám thấy thành tử cung có màu xanh sẫm, mỏng, bở, một phần nhau thai bị sót nát, có khi còn một vài thai chết lưu
Thể mạn tính: Lợn không sốt, âm hộ không sưng đỏ nhưng vẫn có dịch
nhầy, trắng đục tiết ra từ âm đạo dịch nhầy thường không liên tục mà chỉ chảy
ra từng đợt từ vài ngày đến một tuần Lợn nái thường không đậu thai hoặc khi
đã có thai sẽ bị tiêu đi vì quá trình viêm nhiễm từ niêm mạc âm đạo, tử cung lan sang thai
Chẩn đoán:
Dựa vào những triệu chứng lâm sàng để chẩn đoán bệnh Ngoài ra ta thấy lợn nái có những biểu hiện mất sữa, âm đạo có những dịch tiết không bình thường 3 - 4 ngày sau khi đẻ
Nếu sau khi đẻ, kiểm tra âm đạo sẽ thấy nhưng miếng nhau thai sót hay thai chết lưu ở tử cung sẽ có mùi hôi thối đặc biệt
Phòng bệnh:
Nái chửa phải được vận động thường xuyên, ăn uống đầy đủ dinh dưỡng, hợp vệ sinh, thực hiện đúng quy trình vệ sinh thú y khi phối giống và
Trang 29thụ tinh nhân tạo
Không sử dụng lợn đực bị nhiễm khuẩn đường sinh dục để phối trực tiếp hoặc lấy tinh
Phòng bệnh truyền nhiễm Leptospirosis, Brucellosis… bằng cách dùng
vắc xin đúng quy định, đúng thời gian cho đàn lợn sinh sản tránh những trường hợp bị sốt đột ngột gây sẩy thai
Điều trị:
Điều trị cục bộ: Bơm rửa tử cung ngày 1 - 2 lần, mỗi lần 2 - 4 lít nước đun sôi để nguội pha thuốc tím 0,1% hay nước muối sinh lý 0,9%, sau đó bơm hoặc đặt kháng sinh như: penicilin 2 - 3 triệu UI; tetramycine hay sulfanilamid 2 - 5 g hoặc clorazol 4 - 6 viên vào tử cung để chống viêm
Điều trị toàn thân:
Tiêm thuốc hạ sốt analgin 2 - 3 ống/ ngày
Tiêm kháng sinh:
Phác đồ 1: Tiêm tetramycin tiêm bắp liều 10 - 15 mg/ kg thể trọng, liên tục 3 - 4 ngày Kết hợp tiêm septotryl tiêm bắp hoặc tĩnh mạch 1 ml/ 10 - 15
kg thể trọng/ ngày Liên tục 3 - 4 ngày
Phác đồ 2: tylan + polysul: Tiêm bắp hoặc tiêm tĩnh mạch 1 ml/ 5 - 10
kg thể trọng/ ngày Điều trị liên tục 3 - 4 ngày
Tiêm thuốc giảm viêm: Hydrocortizone, dectancyl, prednizolone… Tiêm thuốc trợ sức: Vitamin B1, C, B12 Lưu ý khi pha thuốc tiêm vitamin
C không dùng chung với kháng sinh peniciline, sufamid và vitamin B12
Tiêm thuốc tạo sữa: Thyroxine ngày 1 - 2 ống, liên tiếp 2 - 3 ngày, chỉ dùng khi nhiệt độ cơ thể đã hạ xuống bình thường
2.2.3.2 Bệnh viêm vú
Nguyên nhân:
Trầy xước vú do sàn, nền chuồng nhám, vi trùng xâm nhập vào tuyến
Trang 30sữa Hai loài vi trùng chính gây bệnh là Staphylococcus aureus và
Streptococcus agalactiae… Ngoài ra còn các nguyên nhân gây viêm như số
con quá ít không bú hết lượng sữa sản xuất, kế phát từ viêm tử cung nặng hoặc do kỹ thuật cạn sữa không hợp lý trong trường hợp cai sữa sớm Do vệ sinh không đảm bảo, chuồng trại quá nóng hoặc quá lạnh Do lợn mẹ sát nhau, lợn con khi sinh ra không được bấm răng nanh ngay Lợn mẹ ăn quá nhiều thức ăn có hàm lượng dinh dưỡng cao làm sữa tiết ra quá nhiều ứ đọng lại trong vú tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập phát triển mạnh mẽ về số lượng và độc lực
Triệu chứng:
Viêm vú thường xuất hiện ở một vài vú nhưng đôi khi cũng lan ra toàn
bộ các vú Vú có màu hồng, sưng đỏ, sờ vào thấy nóng, hơi cứng ấn vào lợn nái có phản ứng đau Lợn nái giảm ăn, trường hợp nặng thì bỏ ăn, sốt cao 40,5 -
42oC kéo dài trong suốt thời gian viêm, sản lượng sữa giảm, lợn nái thường nằm úp đầu vú xuống sàn, ít cho con bú Lợn con thiếu sữa kêu la chạy vòng quanh lợn mẹ đòi bú, lợn con ỉa chảy, xù lông, gầy tọp, tỷ lệ chết cao 30 - 100%, vắt sữa ở những vú bị viêm thấy sữa loãng, trong sữa có những cặn hoặc cục sữa vón lại, xuất hiện những mảnh cazein màu vàng, xanh lợn cợn, đôi khi
Trang 31hưởng đến khả năng tiết sữa của lợn nái ở lứa đẻ sau
Điều trị:
Điều trị viêm vú trong thời kỳ cho sữa là một yếu tố cơ bản trong khống chế bệnh viêm vú Nó phải được tiến hành sớm và đạt kết quả Xác định nguyên nhân không chỉ dựa vào triệu chứng lâm sàng mà phải tính đến các chỉ tiêu chăn nuôi và có thể dựa vào các kết quả của phòng thí nghiệm Sự hiểu biết đầy đủ các phương pháp điều trị, nhất là về dược lực học và dược độc học cho phép đáp ứng tốt hơn cách điều trị
Chữa bệnh viêm vú cho lợn nái hướng vào việc đưa ra phương pháp chữa kết hợp Dùng Novocain phong bế phối hợp với điều trị bằng kháng sinh cho kết quả tốt Để phong bế thần kinh tuyến sữa, tác giả đã dùng dung dịch novocain 0,5% liều từ 30 - 40ml cho mỗi vú Thuốc tiêm vào mỗi thùy vú bệnh sâu 8 - 10cm Dung dịch novocain còn được bổ sung 100 - 200 ngàn đơn
vị penicillin hay kháng sinh khác Đồng thời lợn nái còn được tiêm bắp cùng một loại kháng sinh trong novocain này liều từ 400.000 - 600.000 UI, mỗi ngày 2 - 3 lần
Nếu điều trị hợp lý lợn sẽ khỏi trong vòng 3 - 5 ngày
Các loại kháng sinh thường dùng: Dufamox, ampicilline, cephalexine, gentamycine, norfloxacine và có thể dùng corticoide để giảm viêm kết hợp với vitamin Ngoài ra trong trường hợp nái đẻ bị viêm nặng chúng ta có thể chườm cát nóng kết hợp xoa bóp bầu vú trong lúc đẻ
2.2.3.3 Lợn nái mất sữa sau khi đẻ
Trang 32mô bào bị giảm ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất, nhất là quá trình hấp thu chất dinh dưỡng trong đường tiêu hóa bị giảm dần dẫn đến mất sữa, khả năng phục hồi chức năng tiết sữa sẽ bị hạn chế thường xảy ra ở lứa đẻ tiếp theo
2.2.3.4 Bệnh sát nhau
Nguyên nhân:
Sau khi đẻ tử cung co bóp yếu trong thời gian mang thai nhất là giai đoạn cuối con vật không được vận động thỏa đáng Trong thức ăn thiếu các chất khoáng, nhất là canxi và photpho Hoặc tử cung bị sa liệt, con vật quá gầy yếu hoặc quá béo, chửa quá nhiều thai, thai quá to, khó đẻ, nước ối quá nhiều làm tử cung giãn nở quá mức
Do viêm niêm mạc tử cung trước lúc đẻ làm dính nhau với tử cung hoặc nhau chưa ra hết thì người đỡ đẻ đã kéo đứt còn lại một ít sót lại trong tử cung
Trang 33Do lợn con còn sót lại ở trạng thái nằm sai vị trí làm tắc đường ra của nhau
Triệu chứng:
Sau khi đẻ 4 - 5 giờ không thấy nhau ra hoặc không hết là bị sát nhau Lợn nái rặn nhiều, đôi khi bỏ ăn, sốt cao liên tục 40 - 41°C trong vòng 1 - 2 ngày, lợn mẹ cắn con, không cho con bú, niêm dịch chảy ra màu đục, lẫn máu
Điều trị:
Can thiệp kịp thời ngay khi nái có biểu hiện bệnh, không để quá muộn
sẽ gây ra viêm tử cung, can thiệp đúng kỹ thuật, không quá mạnh tay, tránh những tổn thương Tiêm oxytoxin để kích thích co bóp tử cung cho nhau còn sót lại đẩy ra ngoài hết Sau khi nhau thai ra dùng nước muối sinh lý 0,9% để rửa tử cung trong ba ngày liên tục
2.2.3.5 Bệnh rối loạn sinh sản và hô hấp
Nguyên nhân:
Hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp trên heo, gọi tắt là bệnh PRRS (Porcine Reproductive & Respiratory Syndrome) còn gọi là bệnh tai xanh, là một bệnh do virus gây ra
Triệu chứng:
Lợn bệnh sốt rất cao, hơn 40oC, phổ biến ở mức 41oC đi kèm với các triệu chứng liên quan đến rối loạn hô hấp và rối loạn sinh sản trên toàn đàn
Trên nái: Sảy thai, đẻ non, chết thai, da ửng đỏ
Trên đực giống: Giảm chất lượng tinh, số lượng tinh trùng giảm
Trên lợn thịt: Kém ăn, triệu chứng hô hấp, da ửng đỏ, tím tái
Ở các trại lợn sinh sản khi bị nhiễm bệnh PRRS số lợn con chết khi sinh, thai chết khô, tỷ lệ sinh non và lợn con sinh ra yếu sẽ gia tăng Tỷ lệ thai chết tươi và chết khô có thể tăng đến 25 - 30%, và tỷ lệ sảy thai có thể nhiều hơn 10%, tỷ lệ chết của lợn con theo mẹ có thể đến 30 - 50% Lợn con bị