1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng phòng, trị bệnh cho lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại trại lợn của công ty cổ phần nam việt, xã phượng tiến, huyện định hóa, tỉnh thái nguyên

63 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng phòng, trị bệnh cho lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại trại lợn của công ty cổ phần nam việt, xã phượng tiến, huyện định hóa, tỉnh thái nguyên
Tác giả Đỗ Viết Chính
Người hướng dẫn GS.TS. Từ Quang Hiển
Trường học Đại học Thái Nguyên
Chuyên ngành Thú y
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2020
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 1,57 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để giúp sinh viên tiếp cận với thực tế sản xuất trước khi ra trường, được sự đồng ý của ban chủ nhiệm khoa chăn nuôi thú y cùng giảng viên hướng dẫn và cơ sở thực tập, tôi đã tiến hành t

Trang 1

TẠI TRẠI LỢN CÔNG TY CỔ PHẦN NAM VIỆT

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Thú y

Khóa học : 2016 - 2021

Thái Nguyên - năm 2020

Trang 2

MẸ TẠI TRẠI LỢN CÔNG TY CỔ PHẦN NAM VIỆT

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Thú y

Khóa học : 2016 - 2021 Giảng viên hương dẫn : GS.TS TỪ QUANG HIỂN

Thái Nguyên - năm 2020

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Qua một thời gian học tập và rèn luyện tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và 6 tháng thực tập tốt nghiệp tại trại lợn của công ty cổ phần Nam Việt xã Phượng Tiến huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên, đến nay tôi đã hoàn thành khóa luận tốt nghiệp Qua đây tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc

và kính trọng tới Ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y cùng toàn thể các thầy, cô giáo trong khoa Chăn nuôi Thú y đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập tại trường

Đặc biệt tôi xin cảm ơn sự quan tâm, giúp đỡ của thầy giáo GS.TS Từ Quang Hiển, người đã tận tình chỉ bảo hướng dẫn tôi trong suốt thời gian

thực hiện chuyên đề và hoàn thành khóa luận này

Nhân dịp này, tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo trại chăn nuôi lợn của công ty Nam Việt cùng toàn thể anh chị em công nhân viên đã tạo điều kiện, giúp đỡ cho tôi thực hiện chuyên đề tốt nghiệp và học hỏi nâng cao tay nghề

Một lần nữa tôi xin gửi tới các thầy, cô giáo, các bạn bè đồng nghiệp cùng gia đình lời cảm ơn sâu sắc và lời chúc sức khỏe cùng mọi điều may mắn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, tháng năm 2020

Sinh viên

Đỗ Viết Chính

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

MỤC LỤC ii

DANH MỤC CÁC BẢNG iv

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v

Phần 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề 2

1.2.1 Mục tiêu 2

1.2.2 Yêu cầu 2

Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 3

2.1.2 Tình hình sản xuất và cơ sở vật chất của trang trại 4

2.2 Tổng quan tài liệu liên quan đến nội dung của chuyên đề 9

2.2.1 Những hiểu biết về sự thành thục của lợn nái 9

2.2.2 Những hiểu biết về quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái đẻ và lợn nái nuôi con 12

2.2.3 Những hiểu biết về phòng, trị bệnh cho vật nuôi 18

2.2.4 Những hiểu biết về bệnh thường gặp tại cơ sở 21

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 30 3.1 Đối tượng 30

3.2 Địa điểm và thời gian 30

3.3 Nội dung nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi 30

3.4 Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp thực hiện 30

3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi 30

3.4.2 Phương pháp thực hiện 30

Trang 5

3.4.3 Một số công thức tính các chỉ tiêu 39

Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 40

4.1 Cơ cấu đàn lợn của trang trại Nam Việt qua 3 năm (2018 - 5/2020) 40

4.2 Kết quả thực hiện quy trình chăn nuôi lợn nái 41

4.2.1 Số lượng lợn nái và lợn con trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng 41

4.2.2 Tình hình sản xuất của đàn lợn nái nuôi tại trại 42

4.2.3 Kết quả chăm sóc nuôi dưỡng lợn con 43

4.3 Kết quả thực hiện phòng và trị bệnh cho lợn nái 44

4.3.1 Thực hiện biện pháp vệ sinh phòng bệnh trên đàn lợn nái tại trại 44

4.3.2 Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản nuôi tại trại 46

4.3.3 Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh cho lợn con theo mẹ 48

4.4 Kết quả thực hiện công việc khác 50

Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 52

5.1 Kết luận 52

5.2 Đề nghị 52

TÀI LIỆU THAM KHẢO 54

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Lịch vaccine cho lợn con 16

Bảng 2.2 Lịch vaccine cho lợn nái và hậu bị 17

Bảng 4.1 Quy mô và cơ cấu đàn lợn của trại Nam Việt qua 3 năm (2018 - 5/2020) 40

Bảng 4.2 Số lợn nái và lợn con trực tiếp chăm sóc 41

Bảng 4.3 Một số chỉ tiêu về quá trình sinh đẻ của đàn lợn nái nuôi tại trại 42

Bảng 4.4 Kết quả thực hiện các công việc trên đàn lợn con 43

Bảng 4.5 Kết quả công tác vệ sinh sát trùng chuồng trại 45

Bảng 4.6 Kết quả theo dõi tình hình mắc bệnh trên đàn lợn nái của trại 46

Bảng 4.7 Kết quả trực tiếp điều trị bệnh trên đàn nái sinh sản tại trại 47

Bảng 4.8 Tình hình mắc bệnh trên đàn lợn con theo mẹ 48

Bảng 4.9 Kết quả trực tiếp điều trị bệnh cho đàn lợn con 50

Bảng 4.10 Kết quả thực hiện công việc khác 51

Trang 8

Phần 1

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi nước ta đang phát triển mạnh mẽ theo hướng trang trại và hộ gia đình Chăn nuôi lợn ngày càng chiếm một vị trí quan trọng trong nền nông nghiệp Việt Nam Nó đã góp phần rất lớn vào tăng trưởng kinh tế nông thôn nước ta Chăn nuôi lợn không chỉ để phục vụ cho tiêu dùng, nâng cao chất lượng bữa ăn hàng ngày mà còn phải tiến tới xuất khẩu với số lượng lớn Đây là nguồn cung cấp thực phẩm với tỉ trọng cao và chất lượng tốt cho con người, là nguồn cung cấp phân bón cho ngành trồng trọt và là nguồn cung cấp các sản phẩm phụ như: Da, mỡ, nội tạng cho ngành công nghiệp chế biến

Bên cạnh sự phát triển mạnh mẽ thì ngành chăn nuôi trong những năm gần đây gặp những vấn đề khó khăn rất lớn gây thiệt hại nhiều của cải kinh tế của người chăn nuôi đó là “dịch tả lợn châu phi” Một dịch bệnh kéo theo sự mất mát vô cùng lớn về kinh tế của cả người chăn nuôi và nhà nước Bộ nông nghiệp đã đưa ra nhiều chính sách hỗ trợ và khắc phục tình trạng khó khăn, phần nào cũng được mức độ thiệt hại, giúp người chăn nuôi vực dậy sau dịch bệnh

Với vị trí quan trọng hàng đầu trong việc cung cấp một lượng thực phẩm lớn cho tiêu dùng của người dân, nên chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng đang được Đảng và Nhà nước ta hết sức quan tâm đến việc phát triển Nhờ vậy, công tác lai tạo giống cũng được triển khai và thu được nhiều kết quả to lớn như: Tạo ra các giống lợn có tầm vóc lớn, sinh trưởng nhanh, tỷ

lệ nạc cao Bên cạnh đó là việc áp dụng phương thức chăn nuôi theo hướng công nghiệp, quy mô chăn nuôi lớn, áp dụng các biện pháp kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng tiên tiến, chế biến thức ăn chất lượng cao, các loại thức ăn thay thế, thức ăn bổ sung, phối hợp khẩu phần ăn có đầy đủ các chất dinh dưỡng

Trang 9

Để giúp sinh viên tiếp cận với thực tế sản xuất trước khi ra trường, được sự đồng ý của ban chủ nhiệm khoa chăn nuôi thú y cùng giảng viên

hướng dẫn và cơ sở thực tập, tôi đã tiến hành thực hiện chuyên đề: “Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng phòng, trị bệnh cho lợn nái sinh sản

và lợn con theo mẹ tại trại lợn của công ty cổ phần Nam Việt, xã Phượng Tiến, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên

1.2 Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề

- Thực hiện tốt các yêu cầu, quy định tại cơ sở,

- Chăm chỉ học hỏi để nâng cao kỹ thuật, tay nghề cá nhân,

- Cải thiện kĩ năng giao tiếp và cách làm việc nhóm trong phân chia công việc,

- Nhiệt tình tham gia các hoạt động của trại,

- Có những đóng góp giúp cải thiện trang trại

Trang 10

Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

* Vị trí địa lý

Định Hoá là huyện miền núi của tỉnh Thái Nguyên, nằm trong khoảng toạ độ 105029” đến 105043” kinh độ đông, 21045” đến 22030” vĩ độ bắc.

Huyện Định Hóa là một trong các huyện miền núi phía Bắc

Phía Tây giáp với Tuyên Quang

Phía Bắc giáp với Bắc Cạn

Phía Nam giáp huyện Đại Từ

Phía Đông giáp với huyện Phú Lương

Các dãy núi cao trung bình từ 200m - 400m so với mực nước biển

* Điều kiện tự nhiên

Về địa hình: Huyện định hóa có nhiều đồi núi hiểm trở chủ yếu là núi

đá, cũng chính nhờ những địa hình như thế đã tạo nên nhiều những thung lũng rất phù hợp để xây chuồng trại chăn nuôi

Khí hậu:

- Thời tiết Định Hóa có thời tiết đặc trưng của vùng núi phía Bắc Việt Nam, nóng ẩm, mưa nhiều, nhiệt độ xuống rất thấp vào mùa Đông và tăng rất cao vào mùa hè, có 4 mùa xuân, hạ, thu, đông tương đối rõ rệt Trong đó, từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau là khí hậu của một mùa Đông lạnh và khô, mùa Đông là 12 - 200C, có khi còn xuống đến 50C, từ tháng 5 đến tháng 10 là khí hậu của mùa hè, nồm mát và mưa nhiều, nhiệt độ trung bình vào mùa hè là khoảng 320C - 370C

- Lượng mưa trung bình từ 1.655mm/năm Nhiệt độ trung bình trong năm từ 250C - 320C, tháng nóng nhất (tháng 6 và 7) nhiệt độ có thể lên đến

440C và tháng lạnh nhất (tháng 1 và 2), nhiệt độ có thể xuống dưới 50C Độ

Trang 11

ẩm trung bình vào khoảng 80 - 85%, cao nhất vào tháng 7, 8, 9 và thấp nhất là tháng 11 và tháng 12

Giao thông: Đường quốc lộ DT 254 đoạn qua huyện dài 12km, Các tuyến đường trên đều được rải nhựa và bê tông, cơ bản đảm bảo yêu cầu giao thông của nhân dân

Thông tin liên lạc: Tất cả các xã đều có cơ sở bưu điện văn hóa xã tại khu trung tâm, các hộ gia đình ở các thôn, xóm, bản, làng đã có điện thoại Báo chí hàng ngày luôn đảm bảo tới người đọc trong ngày

* Điều kiện kinh tế - xã hội

Dân số toàn huyện là 87.089 người (tính đến năm 2017), diện tích đất

tự nhiên là 52.075km2, mật độ bình quân 172 người /km2

Kinh tế huyện Định Hóa chủ yếu dựa vào nông nghiệp, lâm nghiệp và buôn bán kinh doanh nhỏ lẻ

2.1.2 Tình hình sản xuất và cơ sở vật chất của trang trại

2.1.2.1 Quá trình thành lập

Trại lợn của công ty cổ phần Nam Việt thuộc xã Phượng Tiến, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên

Trại đi vào hoạt động từ năm 2017

2.1.2 2 Cơ cấu tổ chức của trang trại lợn

Cơ cấu tổ chức: Gồm 3 nhóm

+ Nhóm quản lý: 1 chủ trại,1 người quản lý trại lợn

Trang 12

+ Nhóm kỹ thuật: 1 kỹ sư và 4 tổ trưởng của chuồng bầu, chuồng đẻ, chuồng cai sữa, chuồng thịt

+ Nhóm công nhân: 1 nhà bếp, 1 làm vườn, 11 công nhân, 13 sinh viên thực tập

2.1.2.3 Cơ sở vật chất của trang trại

Trại lợn nằm ở ngã ba xã phượng tiến đi vào 500m nằm vỏn vẹn trong thung lũng được tạo nên bởi các dãy núi đá chạy dài, có địa hình chăn nuôi bằng phẳng rộng lớn, có thể nói đây là địa lợi vì là nơi kín gió, chỉ có 1 cửa ra vào hạn chế nguồn dịch bệnh, nhất là dịch tả châu phi đang hành hoành như hiện nay, với diện tích trại là khoảng 82ha Trong đó:

- Diện tích chuồng: 40.000 m2

- Diện tích đất trồng cây: 500.000 m2

- Diện tích đất xây dựng: 2.000 m2

- Ao, hồ chứa nước và nuôi cá: 250.000 m2

Trang trại đã dành khoảng 2.000 m2 đất để xây dựng nhà điều hành, nhà ở cho công nhân, bếp ăn, các công trình phục vụ cho công nhân và các hoạt động khác của trại

Xung quanh khu chăn nuôi có núi đá bao phủ không cần phải xây tường bao bọc, xung quanh trại trồng rất nhiều cây ăn quả như mít, na, ổi và chuối

Có một cổng ra vào, thống sát trùng tự động Chuồng trại được quy hoạch bố trí xây dựng phù hợp với hướng chăn nuôi công nghiệp (hướng trại Tây Bắc), hệ thống chuồng nuôi lồng, nền sàn bê tông cho lợn nái, lợn đực, sàn nhựa cho lợn con cùng với hệ thống vòi nước tự động và máng ăn tự động Chuồng nuôi được xây dựng đảm bảo đủ cho 1200 nái giống chủ yếu là giống Landrace và Yorkshire, cơ cấu bao gồm:

+ Hệ thống chuồng đẻ: Gồm có 3 chuồng là chuồng đẻ 1, chuồng đẻ 2, chuồng đẻ 3, mỗi chuồng gồm 112 ô chia làm 2 ngăn, mỗi ngăn có 56 ô,trong mỗi ngăn có 2 dãy, các ô được đánh thứ tự để dễ dàng chăm sóc và quản lý

Trang 13

Sàn chuồng lợn mẹ làm bằng sàn sắt chịu lực có kẽ hở, sàn lợn con làm bằng nhựa cứng Mỗi lồng úm được trang bị một bóng đèn sưởi ấm, bên ngoài là một máng tập ăn cho lợn con

+ Hệ thống chuồng bầu: Gồm 2 chuồng bầu, chia thành bầu 1 và bầu 2 Chuồng bầu 1 được chia làm 8 dãy gồm 95 ô Bên cạnh là chuồng bầu 2 được chia thành 4 dãy và mỗi dãy gồm 81 ô, chuồng này để nuôi nhốt lợn nái mới cai sữa và chờ nên giống để phối

+1 chuồng lợn đực gồm 25 ô tương ứng với 25 con đực

+ 1 chuồng cách ly: Dùng để nuôi lợn hậu bị được nhập các chuồng nuôi thị của trại, do tình hình dịch bệnh của dịch tả châu phi rất phức tạp nên trong những tháng đỉnh điểm của dịch trại đã không nhập lợn từ trại khác Chuồng cách ly được xây xa khu chăn nuôi với quy mô là 150 con lợn hậu bị, chia làm 5 ô, mỗi ô nuôi được 30 con Sau khi đã làm vaccine đầy đủ và trước khi được đưa lên chuồng bầu 2 chờ phối

+ 2 chuồng cai sữa: Dành cho lợn con cai sữa (sau 21 ngày) gồm 8 dãy chuồng, mỗi dãy gồm 8 ô, các ô đầu để lợn to khỏe, 2 ô cuối dãy chuồng dùng

để chứa lợn còi chậm lớn và lợn con bị bệnh

Hệ thống chuồng xây dựng khép kín hoàn toàn Phía đầu chuồng là hệ thống giàn mát, cuối chuồng được thiết kế quạt hút gió, có hệ thống điện chiếu sáng và một hệ thống đo nhiệt độ, độ ẩm trong chuồng đảm bảo thoáng mát về mùa hè ấm áp vào mùa đông Mỗi chuồng được lắp đặt máy bơm nước

để tắm cho lợn và vệ sinh chuồng trại hằng ngày, cuối mỗi chuồng đều có hệ thống thoát phân và nước thải Trong khu chăn nuôi, đường đi lại giữa các ô chuồng, các khu khác đều được đổ bê tông, trước cửa mỗi chuồng có các chậu nước sát trùng và được rắc vôi quét dọn định kì

Trại chăn nuôi theo dây chuyền tự động của Đan Mạch thì mỗi đầu chuồng đều có 1 sino chứa khoảng 7 tấn cám cho lợn ăn

Trang 14

Cùng một số công trình phụ phục vụ cho chăn nuôi như: 1 kho thuốc, 3 kho thức ăn, 1 phòng ăn và 6 phòng nghỉ trưa cho công nhân, 1 phòng nghỉ của kỹ sư, 1 kho rác, 1 nhà chứa vôi bột và 1 bể vôi tôi

Một số thiết bị khác cũng được trang bị đầy đủ: Tủ lạnh bảo quản vaccine, tủ thuốc để bảo quản và dự trữ thuốc cho trại, xe chở thức ăn hỗn hợp từ nhà kho xuống chuồng và 2 xe ô tô chở cám bao và cám sino từ công

ty lên trang trại

2.1.2.4 Tình hình sản xuất của trang trại

* Công tác chăn nuôi

Nhiệm vụ chính của trang trại là sản xuất con giống, sản xuất lợn thương phẩm, lợn nái giống, Trại lợn công ty cổ phần Nam Việt nuôi lợn nái sinh sản, gồm hai giống lợn: Lợn cái Landrace và Yorkshire, còn lợn đực Duroc, Landrace và Yorkshire

Hiện nay, trung bình lợn nái của trại sản xuất được 2,2 lứa/năm Số con

sơ sinh trung bình là 12,8 con/đàn

Tại trại, lợn con theo mẹ được nuôi đến 21 ngày tuổi, chậm nhất là 28 ngày thì tiến hành cai sữa, sau đó được chuyển sang chuồng cai sữa

* Công tác vệ sinh thú y của trại

Vệ sinh phòng bệnh là công tác rất quan trọng Nó có tác dụng tăng sức đề kháng cho vật nuôi, giảm nguy cơ xảy ra dịch bệnh, hạn chế những những bệnh có tính chất lây lan từ đó phát huy tốt tiềm năng của giống

Công tác vệ sinh: Chuồng trại được thiết kế và xây dựng theo đúng tiêu chuẩn kỹ thuật đảm bảo thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông; xung quanh các chuồng nuôi đều trồng các cây xanh tạo cho các chuồng nuôi có độ thông thoáng và mát tự nhiên Sau mỗi lứa lợn, chuồng trại đều được tẩy uế bằng phương pháp rửa sạch ô nhốt lợn, để khô sau đó phun thuốc sát trùng và tiến hành xông formol trộn với thuốc tím đóng kín của chuồng và để trống chuồng nuôi tối thiểu là 3 ngày mới đưa lợn nái chờ đẻ khác lên Với lợn con

Trang 15

tuyệt đối không tắm rửa để tránh lạnh và ẩm ướt Định kỳ tiêu độc ở các chuồng nuôi lợn nái, lợn đực sản xuất bằng thuốc sát trùng Hàng ngày công nhân quét dọn vệ sinh chuồng trại, thu gom phân, nước tiểu, khơi thông cống rãnh, đường đi trong trại được quét dọn, phát quang bụi rậm, diệt chuột, phun thuốc sát trùng, hành lang đi lại được quét dọn và rắc vôi theo quy định

Công tác phòng bệnh: Trong khu vực chăn nuôi hạn chế đi lại giữa các chuồng, hành lang giữa các chuồng và bên ngoài chuồng đều được rắc vôi bột, hoặc rắc vôi đỏ, các phương tiện vào trại được sát trùng một cách nghiêm ngặt ngay tại cổng vào Quy trình phòng bệnh bằng vaccine luôn được trang trại thực hiện nghiêm túc, đầy đủ và đúng kỹ thuật Đối với từng loại lợn có quy trình tiêm riêng, từ lợn nái, lợn hậu bị, lợn đực, lợn con Lợn được tiêm vaccine ở trạng thái khỏe mạnh, được chăm sóc nuôi dưỡng tốt, không mắc các bệnh truyền nhiễm và các bệnh mãn tính khác để tạo được trạng thái miễn dịch tốt nhất cho đàn lợn Tỷ lệ tiêm phòng vaccine cho đàn lợn luôn đạt 100%

Công tác trị bệnh: Kỹ thuật và công nhân có nhiệm vụ theo dõi, kiểm tra đàn lợn thường xuyên, các bệnh xảy ra ở lợn nuôi tại trại luôn được phát hiện sớm, cách ly, điều trị ở ngay giai đoạn đầu, nên điều trị đạt hiệu quả từ

85 - 98% trong một thời gian ngắn Vì vậy, không gây thiệt hại lớn về số lượng và chất lượng đàn gia súc

2.1.2.5 Thuận lợi và khó khăn của trại

- Thuận lợi:

+ Trang trại được xây dựng ở vị trí thuận lợi: Xa khu dân cư, thuận tiện đường giao thông

+ Chủ tịch của công ty có năng lực, năng động, nắm bắt được tình hình

xã hội, xu hướng thị trường để lên kế hoạch sản xuất con giống hay con thương phẩm để đêm lại hiệu quả kinh tế cao

+ Quản lý: Luôn quan tâm đến đời sống vật chất và tinh thần của cán

bộ kỹ thuật và công nhân

Trang 16

+ Đội ngũ cán bộ kỹ thuật, công nhân của trại có năng lực, năng động, nhiệt tình và có trách nhiệm trong công việc

+ Con giống tốt, thức ăn, thuốc chất lượng cao, quy trình chăn nuôi khép kín và khoa học đã mang lại hiệu quả chăn nuôi cao cho trang trại

bò nữa nên có thể làm lây lan bệnh xoắn khuẩn

2.2 Tổng quan tài liệu liên quan đến nội dung của chuyên đề

2.2.1 Những hiểu biết về sự thành thục của lợn nái

2.2.1.1 Sự thành thục về tính

Sự thành thục về tính

Tuổi thành thục về tính là tuổi mà con vật bắt đầu có phản xạ tính dục

và có khả năng sinh sản Khi gia súc đã thành thục về tính, bộ máy sinh dục

đã phát triển hoàn thiện, con vật bắt đầu xuất hiện các phản xạ về sinh dục Con cái có hiện tượng động dục, con đực có phản xạ giao phối

Theo Nguyễn Mạnh Hà và cs (2012) [8], sự thành thục về tính dục ngoài sự phụ thuộc vào sự điều hòa của thần kinh, thể dịch còn phụ thuộc vào các yếu tố ngoại cảnh khác như: Giống, dinh dưỡng, khí hậu, mùa vụ, sự tiếp xúc giữa con đực và con cái

Trang 17

+ Giống: Các giống khác nhau thì thành thục về tính cũng khác nhau, những giống thuần hóa sớm hơn thì tính thành thục sớm hơn những giống thuần hóa muộn, những giống có tầm vóc nhỏ thường thành thục sớm hơn những giống có tầm vóc lớn

Theo Phạm Hữu Doanh và Lưu Kỷ (2003) [4], cho rằng: Tuổi động dục đầu khi lợn đạt 80 - 110kg Ở lợn nái lai tuổi động dục lần đầu muộn hơn so với lợn nội thuần, ở lợn lai F1 (có sẵn máu nội) động dục từ lúc 6 tháng tuổi khi khối lượng cơ thể đạt 50 - 55 kg Ở lợn ngoại động dục muộn hơn so với lợn nái lai, tức là lúc động dục 6 - 7 tháng khi lợn có khối lượng 60 - 80 kg Tùy theo giống, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng và quản lý mà có thuổi động dục lần đầu khác nhau Lợn Ỉ, Móng Cái có tuổi động dục lần đầu vào 4 - 5 tháng tuổi (121 - 158 ngày tuổi) các giống lợn ngoại (Yorkshire, Landrace) có tuổi động dục lần đầu muộn hơn từ 7 - 8 tháng tuổi

- Tuổi thành thục về tính của gia súc: Tuổi thành thục về tính thường sớm hơn tuổi thành thục về thể vóc, nghĩa là sau khi con vật đã thành thục về tình thì vẫn tiếp tục sinh trưởng lớn lên Đây là đặc điểm cần chú ý trong chăn nuôi Theo Phạm Hữu Doanh và Lưu Kỷ (2003) [4], cho rằng không nên cho phối giống ở lần động dục đầu tiên vì thời kỳ này cơ thể lợn chưa phát triển đầy đủ, chưa tích tụ được chất dinh dưỡng nuôi thai, trứng chưa chín một cách hoàn chỉnh Để đạt dược hiệu quả sinh sản tốt và duy trì con cái lâu bền cần bỏ qua 1 - 2 chu kỳ động dục lần đầu rồi mới cho phối giống

Trang 18

mẹ có thể thụ thai nhưng cơ thể mẹ chưa đảm bảo cho bào thai phát triển tốt, nên chất lượng đời con kém, đồng thời cơ quan sinh dục, đặc biệt là xương chậu vẫn còn hẹp dễ gây hiện tượng khó đẻ Điều này ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn nái sau này Do đó không nên cho phối giống quá sớm Đối với lợn cái nội khi được 7 - 8 tháng tuổi khối lượng đạt 40 - 50kg nên cho phối, đối với lợn ngoại khi được 8 - 9 tháng tuổi, khối lượng đạt 100 - 110kg mới nên cho phối

2.2.1.3 Chu kì động dục

Chu kỳ động dục là một quá trình sinh lý phức tạp sau khi toàn bộ cơ thể đã phát triển hoàn hảo, cơ quan sinh dục không có bào thai và không có hiện tượng bệnh lý thì bên trong buồng trứng có quá trình phát triển của noãn bao, noãn bao thành thục, trứng chín và thải trứng Song song với quá trình thải trứng thì toàn bộ cơ thể nói chung đặc biệt là cơ quan sinh dục có hàng loạt các biến đổi về hình thái cấu tạo và chức năng sinh lý Tất cả các biến đổi

đó được lặp đi, lặp lại có tính chất chu kỳ nên gọi là chu kỳ tính

Theo Trần Thanh Vân và cs, (2017) [16] lợn nái sau khi thành thục về tính thì bắt đầu biểu hiện động dục, lần thứ nhất biểu hiện không rõ ràng, cách sau đó 15 - 16 ngày động dục trở lại, lần này biểu hiện rõ ràng hơn và sau đó

đi vào quy luật mang tính chu kỳ

+ Giai đoạn trước khi chịu đực: Lợn nái kêu rít, âm hộ xung huyết, chưa cho phối và lợn chưa chịu đực Thời gian rụng trứng khi có hiện tượng trên đối với lợn ngoại và lợn nái lai là 35 - 40h, với lợn nội là 25 - 30h

+ Giai đoạn chịu đực: Lợn kém ăn, mê ì, lợn đứng yên khi ấn tay lên lưng gần mông, âm hộ giảm độ sưng, nước nhờn chảy ra, dính, đục, đứng yên khi có đực đến gần và cho đực nhảy Giai đoạn này kéo dài 2 ngày, nếu được phối giống lợn sẽ thụ thai, lợn nội có thời gian ngắn hơn 28 - 30h

Trang 19

+ Giai đoạn sau chịu đực: Lợn trở lại bình thường, âm hộ giảm độ nở, đuôi cụp và không chịu đực

- Thời điểm phối giống thích hợp theo Nguyễn Văn Thanh (2014) [15] trứng rụng tồn tại trong tử cung 2 - 3h và tinh trùng sống trong âm đạo lợn cái 30 - 48h Thời điểm phối giống thích hợp nhất đối với lợn nái ngoại và lợn nái lai cho phối vào chiều ngày thứ 3 và sáng ngày thứ 4, tính từ lúc bắt đầu động dục Đối với lợn nái nội hơn một ngày vào cuối ngày thứ 2 và sáng ngày thứ 3 do thời gian động dục ở lợn nái nội ngắn hơn Thời điểm phối giống có ảnh hưởng đến tỷ lệ đậu thai và sai con Phối sớm hoặc phối chậm đều đạt kết quả kém nên cho nhảy kép hoặc thụ tinh nhân tạo kép vào thời điểm tối ưu

2.2.1.4 Qúa trình nái mang thai và nái đẻ

Sau thời gian lưu lại ở ống dẫn trứng khoảng 3 ngày để tự dưỡng (noãn hoàng và dịch thể do ống dẫn trứng tiết) hợp tử bắt đầu di chuyển xuống tử cung, tìm vị trí thích hợp để làm tổ, hình thành bào thai Sự biến đổi nội tiết tố trong cơ thể mẹ trong thời gian có chửa như sau: Progesterone trong 10 ngày đầu có chửa tăng rất nhanh cao nhất vào ngày chửa thứ 20 rồi nó hơi giảm xuống một chút ở

3 tuần đầu, sau đó duy trì ổn định trong thời gian có chửa để an thai, ức chế động dục 1 - 2 ngày trước khi đẻ progesterone giảm đột ngột Estrogen trong suốt thời

kỳ có chửa duy trì ở mức độ thấp, cuối thời kỳ có chửa khoảng 2 tuần thì bắt đầu tăng dần, đến khi đẻ thì tăng cao nhất Thời gian có chửa của lợn nái bình quân

là 114 ngày (Jose Bento và cs, 2013) [17]

2.2.2 Những hiểu biết về quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái đẻ và lợn nái nuôi con

2.2.2.1 Quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái đẻ

Mục đích chăn nuôi lợn nái đẻ nhằm đảm bảo cho lợn đẻ an toàn, lợn con có tỷ lệ sống cao, lợn mẹ có sức khỏe tốt, đủ khả năng tiết sữa nuôi con

Trang 20

Chính vì vậy quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng có vai trò rất quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của lợn mẹ và lợn con (Theo Trần Văn Phùng

và cs 2004 [12])

- Quy trình nuôi dưỡng:

Thức ăn dùng cho lợn nái đẻ phải là những thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao, dễ tiêu hóa Không cho lợn ăn quá nhiều trong những ngày sắp đẻ gây chèn ép thai sinh ra đẻ non, đẻ khó hoặc ép thai chết ngạt Một tuần trước khi lợn đẻ phải căn cứ vào tình trạng sức khỏe cụ thể của lợn nái đẻ có kế hoạch giảm dần lượng thức ăn Đối với lợn nái có sức khỏe tốt thì 1 tuần trước khi đẻ giảm 1/3 lượng thức ăn, trước đẻ 2 - 3 ngày giảm 1/2 lượng thức

ăn Đối với lợn nái có sức khỏe yếu thì không giảm lượng thức ăn mà giảm dung tích của thức ăn bằng các tăng cường cho ăn các loại thức ăn dễ tiêu hóa Những ngày lợn đẻ phải căn cứ vào tình trạng sức khỏe của lợn nái, sự phát dục của bầu vú mà quyết định chế độ dinh dưỡng cho hợp lý Ngày lợn nái cắn ổ đẻ, cho lợn nái ăn ít thức ăn tinh (0,5kg) hoặc không cho thức ăn tinh nhưng uống nước tự do Sau khi đẻ 2 - 3 ngày không cho lợn nái ăn nhiều một cách đột ngột mà tăng từ từ đến ngày thứ 4 - 5 thì cho ăn đủ tiêu chuẩn Thức ăn cần chế biến tốt, dung tích nhỏ, có mùi vị thơm ngon để kích thích tính thèm ăn cho lợn nái

- Quy trình chăm sóc

Trước khi lợn đẻ 10 - 15 ngày cần chuẩn bị đầy đủ chuồng đẻ Tẩy rửa

vệ sinh, khử trùng toàn bộ ô chuồng, nền chuồng, sàn chuồng dùng cho lợn mẹ

và lợn con Yêu cầu chuồng phải khô ráo, ấm áp, sạch sẽ, có đầy đủ ánh sáng Sau khi vệ sinh tiêu độc nên để trống chuồng từ 3 - 5 ngày trước khi lợn nái vào đẻ Trước khi đẻ 1 tuần, cần vệ sinh lợn nái sạch sẽ, lợn nái được lau rửa sạch sẽ đất hoặc phân bám dính trên người, dùng khăn thấm nước xà phòng lau sạch bầu vú và âm hộ Làm như vậy tránh được nguy cơ lợn con mới sinh bị nhiễm khuẩn do tiếp xúc trực tiếp với lợn mẹ có vi khuẩn gây bệnh

Trang 21

Trong quá trình chăm sóc lợn nái đẻ, công việc cần thiết và rất quan trọng đó là việc chuẩn bị ô úm cho lợn con, ô úm rất quan trọng đối với lợn con, nó có tác dụng phòng ngừa lợn mẹ đè chết lợn con, đặc biệt những ngày mới đầu sinh lợn con còn yếu ớt, mà lợn mẹ mới đẻ xong sức khỏe còn yếu ớt chưa hồi phục Ô úm tạo điều kiện để khống chế nhiệt độ thích hợp cho lợn con, đặc biệt là những lợn con đẻ vào tháng mùa đông Ngoài ra ô úm tạo điều kiện thuận lợi cho việc tập ăn sớm cho lợn con (để máng tập ăn vào ô úm cho lợn con lúc 7 - 10 ngày tuổi) mà không bị lợn mẹ húc đẩy và ăn thức ăn của lợn con Vào ngày dự kiến đẻ của lợn nái, cần chuẩn bị xong ô úm cho lợn con Kích thước ô úm: 1,2 m × 1,5 m Ô úm được cọ rửa sạch, phun khử trùng

và để trống từ 3 - 5 ngày trước khi đón lợn con sơ sinh

2.2.2.2 Quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái nuôi con

- Quy trình nuôi dưỡng

Thức ăn cho lợn nái nuôi con phải là những thức ăn có tác động tốt đến sản lượng và chất lượng sữa Đó là các loại thức ăn xanh non như rau xanh, các loại củ quả như bí đỏ, cà rốt, đu đủ Thức ăn tinh tốt như gạo tấm, cám gạo, bột mỳ, các loại thức ăn bổ sung đạm động vật, đạm thực vật, các loại khoáng, vitamin, Không cho lợn nái nuôi con ăn các loại thức ăn thối mốc, biến chất, hư hỏng Thức ăn hỗn hợp cho lợn nái nuôi con dùng trong chăn nuôi công nghiệp phải đảm bảo đủ protein, năng lượng và các thành phần vitamin, khoáng theo đúng tiêu chuẩn quy định như năng lượng trao đổi 3100 kcal, protein 15%, Ca từ 0,9 - 1,0%, phospho 0,7% Trong quá trình nuôi con, lợn nái được cho ăn như sau:

+ Ngày cắn ổ đẻ: Cho lợn nái ăn ít thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh (0,5 kg) hoặc không cho ăn, nhưng cho uống nước tự do

+ Sau ngày đẻ thứ 1, 2 và 3 cho ăn thức ăn hỗn hợp với lượng thức ăn

từ 1 - 2 - 3 kg tương ứng

+ Ngày nuôi con thứ 4 đến ngày thứ 7: Cho ăn 4 kg thức ăn hỗn

Trang 22

hợp/nái/ngày

+ Từ ngày thứ 8 đến cai sữa cho ăn theo công thức:

Lượng thức ăn/nái/ngày = số con x 0,5 kg/con

Số bữa ăn trên ngày: 2 (sáng và chiều)

+ Nếu lợn mẹ gầy thì cho ăn thêm 0,5 kg, lợn mẹ béo thì giảm 0,5 kg thức ăn/ngày

+ Ngoài ra cho lợn nái ăn bổ sung từ 1 - 2kg rau xanh/ ngày sau bữa ăn tinh (nếu có rau xanh)

+ Một ngày trước ngày cai sữa lượng thức ăn của lợn mẹ giảm đi 20 - 30% + Ngày cai sữa cho lợn mẹ nhịn ăn, hạn chế uống nước

- Quy trình chăm sóc

Theo Nguyễn Ngọc Phụng (2004) [13], vận động tắm nắng là điều kiện tốt giúp cho lợn nái nhanh phục hồi sức khỏe và nâng cao sản lượng sữa của lợn mẹ Do vậy sau khi lợn đẻ được từ 3 - 7 ngày, trong điều kiện chăn nuôi

có sân vận động, nếu thời tiết tốt thì có thể cho lợn nái vận động, thời gian vận động lúc đầu là 30 phút/ngày, sau tăng dần số giờ vận động lên Trong chăn nuôi công nghiệp, hầu hết lợn nái nuôi con đều bị nhốt trong các cũi đẻ, không được vận động, vì vậy cần chú ý đến thành phần dinh dưỡng của thức

ăn, đặc biệt là chất khoáng và vitamin

Chuồng trại của lợn nái nuôi con yêu cầu phải đảm bảo luôn khô ráo, sạch sẽ, không có mùi hôi thối, ẩm ướt, hàng ngày phải vệ sinh chuồng trại, máng ăn, máng uống sạch sẽ Nhiệt độ chuồng nuôi thích hợp là 200C - 250C

và độ ẩm từ 70 - 75%

* Tiêm vaccine phòng bệnh :

Bên cạnh công tác vệ sinh phòng bệnh, công tác nuôi dưỡng, chăm sóc cần phòng những bệnh thông thường như dịch tả, cầu trùng, khô thai, giả dại Lịch tiêm phòng tại trại cụ thể như sau:

Trang 23

- Đối với lợn con

Bảng 2.1 Lịch vaccine cho lợn con Loại

lợn

Thời gian tiêm

Bệnh được tiêm

Loại vaccine

Liều dùng (ml)

Đường tiêm

Lợn con

theo mẹ

7 ngày Tai xanh Igelvac

14 ngày Circo vius Cercovac 2 ml bắp

21 ngày mycoplasma Myco lex 2 ml bắp Lợn con

7 tuần Donoban Donoban 1.5 ml bắp

8 tuần AD (giả dại) Pocilis

Trang 24

- Đối với lợn nái và hậu bị

Bảng 2.2 Lịch vaccine cho lợn nái và hậu bị Loại

Đường tiêm

Nái mang thai 15

Trang 25

2.2.3 Những hiểu biết về phòng, trị bệnh cho vật nuôi

2.2.3.1 Phòng bệnh

Với phương châm “Phòng bệnh hơn chữa bệnh”, nên khâu phòng bệnh được đặt lên hàng đầu, nếu phòng bệnh tốt thì có thể hạn chế hoặc ngăn chặn được bệnh xảy ra Do vậy, việc phòng bệnh cũng như trị bệnh phải kết hợp với nhiều biện pháp khác nhau

- Phòng bệnh bằng vệ sinh và chăm sóc nuôi dưỡng tốt

Bệnh xuất hiện trong một đàn lợn thường do nguyên nhân phức tạp, có thể là bệnh truyền nhiễm, hoặc không truyền nhiễm hoặc có sự kết hợp cả hai

Có rất nhiều biện pháp đã đưa ra áp dụng nhằm kiểm soát các khả năng xảy ra bệnh trên đàn lợn Phần lớn các biện pháp này đều nhằm làm giảm khả năng lây truyền tác nhân gây bệnh và nâng cao sức đề kháng của đàn lợn

Trong chăn nuôi việc đảm bảo đúng quy trình kỹ thuật là điều rất cần thiết, chăm sóc nuôi dưỡng tốt sẽ tạo ra những gia súc khoẻ mạnh, có khả năng chống đỡ bệnh tật tốt và ngược lại Ô chuồng lợn nái phải được vê ̣sinh tiêu độc trước khi vào đẻ Nhiệt độ phải phù hợp, đối với lợn mẹ nhiệt độ thích hợp dao động từ 15 - 240C, nhiệt độ lợn con theo mẹ dao động từ 21 -

310C Việc giữ gìn chuồng trại sạch sẽ kín, ấm áp vào mùa đông và đầu xuân

là rất quan trọng Nên dùng các thiết bị sưởi điện hoặc đèn hồng ngoại trong những ngày thời tiết lạnh ẩm để đề phòng bệnh lợn con phân trắng mang lại hiệu quả cao trong chăn nuôi Từ 3 - 5 ngày trước dự kiến đẻ, ô chuồng lợn nái đã được cọ rửa sạch, phun khử trùng bằng hóa chất như crezin 5% hoặc bằng loại hóa chất khác nhằm tiêu độc khử trùng chuồng lợn nái trước khi đẻ

- Phòng bệnh bằng vaccine là biện pháp phòng bệnh chủ động có hiệu quả nhất

Theo Nguyễn Bá Hiên và Huỳnh Thị Mỹ Lệ (2012) [9], vaccine là một chế phẩm sinh học mà trong đó chứa chính mầm bệnh cần phòng cho một bệnh nào đó (mầm bệnh này có thể là vi khuẩn, virus, độc tố hay vật liệu di

Trang 26

truyền như ARN, ADN…) đã được làm giảm độc lực hay vô hoạt bằng các tác nhân vật lý, hóa học, sinh học hay phương pháp sinh học phân tử (vaccine thế hệ mới - vaccine công nghệ gen) Lúc đó chúng không còn khả năng gây bệnh cho đối tượng sử dụng, nhưng khi đưa vào cơ thể động vật nó sẽ gây ra đáp ứng miễn dịch làm cho động vật có miễn dịch chống lại sự xâm nhiễm gây bệnh của mầm bệnh tương ứng

Khi đưa vaccine vào cơ thể vật nuôi, chưa có kháng thể chống bệnh ngay mà phải sau 7 - 21 ngày (tùy theo từng loại vaccine) mới có miễn dịch

+ Diệt căn bệnh là chủ yếu kết hợp với chữa triệu chứng

+ Tiêu diệt mầm bệnh phải đi đôi với tăng cường sức đề kháng của cơ thể, làm cho cơ thể tự nó chống lại mầm bệnh thì bệnh mới chóng khỏi, ít bị tái phát và biến chứng, miễn dịch mới lâu bền

+ Phải có quan điểm khi chữa bệnh, chỉ nên chữa những gia súc có thể chữa lành mà không giảm sức kéo và sản phẩm Nếu chữa kéo dài, tốn kém vượt quá giá trị gia súc thì không nên chữa

+ Những bệnh rất nguy hiểm cho người mà không có thuốc chữa thì không nên chữa

Theo Nguyễn Bá Hiên và Huỳnh Thị Mỹ Lệ (2012) [9], các biện pháp chữa bệnh truyền nhiễm là:

+ Hộ lý: Cho gia súc ốm nghỉ ngơi, nhốt riêng ở chuồng có điều kiện

vệ sinh tốt (thoáng mát, sạch sẽ, yên tĩnh) Theo dõi thân nhiệt, nhịp tim, hô

Trang 27

hấp, phân, nước tiểu Phát hiện sớm những biến chuyển của bệnh để kịp thời đối phó Cho gia súc ăn, uống thức ăn tốt và thích hợp với tính chất của đối tượng bệnh

+ Dùng kháng huyết thanh: Chủ yếu dùng chữa bệnh đặc hiệu vì vậy thường được dùng trong ổ dịch, chữa cho gia súc mắc bệnh Chữa bệnh bằng kháng huyết thanh là đưa vào cơ thể những kháng thể chuẩn bị sẵn, có tác dụng trung hòa mầm bệnh hoặc độc tố của chúng (huyết thanh kháng độc tố)

+ Dùng hóa dược: Phần lớn hóa dược được dùng để chữa triệu chứng, một số hóa dược dùng để chữa nguyên nhân vì có tác dụng đặc hiệu đến mầm bệnh Dùng hóa dược chữa bệnh phải tác động mạnh và sớm, vì nhiều loài vi khuẩn có thể thích ứng với liều lượng nhỏ Chúng có thể chống lại thuốc và tính chất quen thuốc được di truyền cho thế hệ sau Khi cần, có thể phối hợp nhiều loại hóa dược để tăng hiệu quả điều trị, vì nếu một loại thuốc chưa có tác dụng đến mầm bệnh thì có loại thuốc khác tác dụng tốt hơn

+ Dùng kháng sinh: Kháng sinh là những thuốc đặc hiệu có tác dụng ngăn cản sự sinh sản của vi khuẩn hoặc tiêu diệt vi khuẩn Tuy nhiên sử dụng kháng sinh có thể gây nhiều tai biến do thuốc có tính độc, do phản ứng dị ứng,

do một lúc tiêu diệt nhiều vi khuẩn làm giải phóng một lượng lớn độc tố, làm giảm phản ứng miễn dịch của cơ thể Việc dùng kháng sinh bừa bãi còn gây nên hiện tượng kháng thuốc, làm giảm thấp tác dụng chữa bệnh của kháng sinh Vì vậy, khi dùng thuốc cần theo nguyên tắc sau đây:

- Phải chẩn đoán đúng bệnh để dùng đúng thuốc, dùng sai thuốc sẽ chữa không khỏi bệnh mà làm cho việc chẩn đoán bệnh về sau gặp khó khăn

- Chọn loại kháng sinh có tác dụng tốt nhất đối với mầm bệnh đã xác định Dùng liều cao ngay từ đầu, những lần sau có thể giảm liều lượng

- Không nên vội vàng thay đổi kháng sinh mà phải chờ một thời gian để phát huy tác dụng của kháng sinh

Trang 28

- Phải dùng phối hợp nhiều loại kháng sinh đẻ làm giảm liều lượng và độc tính của từng loại, làm diện tác động đến vi khuẩn rộng hơn, tác dụng điều trị và hạn chế hiện tượng vi khuẩn kháng thuốc

- Phải tăng cường sức đề kháng của cơ thể gia súc như nuôi dưỡng tốt, dùng thêm vitamin, tiêm nước sinh lý…

2.2.4 Những hiểu biết về bệnh thường gặp tại cơ sở

2.2.4.1 Bệnh viêm tử cung

* Nguyên nhân bệnh viêm tử cung

Theo Nguyễn Văn Điền (2015) [7], đối với lợn nái viêm nhẹ, điều trị bằng cách đặt viên thuốc kháng sinh oxytetracyclin vào âm đạo từ 5 - 7 ngày Tiêm amoxi 15% 3 lần liên tiếp, mỗi lần cách nhau 48 giờ Đây là dạng viêm

có kết quả điều trị khỏi bệnh cao

Theo tác giả Nguyễn Xuân Bình (2000) [1], bệnh viêm tử cung ở lợn nái thường do các nguyên nhân sau:

+ Cơ quan sinh dục lợn nái phát triển không bình thường gây khó đẻ hoặc lợn nái khó đẻ do thai quá to, thai ra ngược, thai phát triển không bình thường,

+ Phối giống quá sớm đối với lợn đẻ lứa đầu hoặc lợn nái già mang nhiều thai Khi đẻ tử cung co bóp yếu, do lứa đẻ trước đã bị viêm tử cung làm cho niêm mạc tử cung biến đổi nên nhau thai không ra gây sát nhau, thối rữa tạo điều kiện cho sự phát triển của vi khuẩn

+ Trong quá trình có thai, lợn nái ăn uống nhiều chất dinh dưỡng, tinh bột, protein và ít vận động cơ thể nên cơ thể béo dẫn đến khó đẻ Hoặc do thiếu dinh dưỡng lợn nái sẽ ốm yếu, sức đề kháng giảm nên không chống lại

vi trùng xâm nhập cũng gây viêm

+ Do dụng cụ thụ tinh nhân tạo cứng, gây xây sát sẽ tạo ra các ổ viêm nhiễm trong âm đạo hoặc tử cung hoặc do tinh dịch bị nhiễm khuẩn Những thao tác đỡ đẻ không đúng kỹ thuật, đưa dụng cụ vào cổ tử cung không an toàn, không đảm bảo vệ sinh

Trang 29

+ Kế phát từ các bệnh khác như bệnh viêm âm đạo, tiền đình, bàng quang hoặc các bệnh truyền nhiễm: Sảy thai truyền nhiễm, phó thương hàn, bệnh lao thường gây ra các bệnh viêm tử cung

+ Bệnh còn xảy ra khi chăm sóc, nuôi dưỡng, quản lý kém hoặc do thời tiết khí hậu thay đổi đột ngột, thời tiết quá nóng, quá lạnh, ẩm ướt kéo dài

Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [6], viêm tử cung là một quá trình bệnh lý thường xảy ra ở gia súc cái sau sinh sản Quá trình viêm phá hủy các

tế bào tổ chức của các lớp hay các tầng tử cung gây rối loạn sinh sản ở gia súc cái làm ảnh hưởng lớn, thậm chí làm mất khả năng sinh sản ở gia súc cái

Yếu tố thời tiết, khí hậu, ảnh hưởng rõ rệt đến tỷ lệ mắc hội chứng viêm

tử cung: Mùa hạ có tỷ lệ phần trăm nhiễm cao nhất 53,37%, mùa đông 46,05%, mùa thu 43,70%

Theo Nguyễn Văn Thanh (2014) [15], tỷ lệ lợn nái mắc viêm tử cung tương đối cao, bệnh thường tập trung ở lợn nái đẻ lứa đầu hoặc đã đẻ nhiều lứa

Khảo sát tình hình viêm nhiễm đường sinh dục lợn nái sau khi sinh và hiệu quả điều trị của một số loại kháng sinh trên 143 lợn nái sau khi sinh đã phát hiện 106 con tiết dịch nghi viêm đường sinh dục, chiếm tỷ lệ 74,13% (Trần Ngọc Bích và cs, 2016) [2]

Trang 30

* Triệu chứng

Sản dịch của lợn nái bình thường kéo dài trong vòng 4 - 5 ngày, cá biệt tới 6 - 7 ngày, sản dịch có màu sắc hơi đỏ do lẫn máu, sau chuyển dần sang vàng hay trắng và trong Trong trường hợp viêm thì sản dịch có màu đen hôi thối, mùi tanh rất khó chịu

Theo tác giả Trần Tiến Dũng và cs (2002) [6], khi gia súc bị bệnh viêm

tử cung ở thể viêm cơ, viêm tương mạc thì không nên tiến hành thụt rửa bằng các chất sát trùng với thể tích lớn Vì khi bị tổn thương nặng, cơ tử cung co bóp yếu, các chất bẩn không được đẩy ra ngoài, lưu trong đó làm cho bệnh nặng thêm Các tác giả đề nghị nên dùng oxytoxin kết hợp PGF2α hoặc kết hợp với kháng sinh điều trị toàn thân và cục bộ

Bệnh viêm tử cung ở lợn nái được chia làm hai thể:

+ Thể cấp tính: Con vật sốt 41 - 420C trong vài ngày đầu âm môn sưng tấy

đỏ, dịch xuất tiết từ trong âm đạo chảy ra trắng đục đôi khi có máu

+ Thể mãn tính: Không sốt, âm môn không sưng đỏ nhưng vẫn có dịch nhầy trắng đục chảy ra từng đợt từ vài ngày đến 1 tuần Lợn nái thường thụ tinh không có kết quả hoặc khi đã có thai sẽ bị tiêu thai vì quá trình viêm nhiễm niêm mạc âm đạo tử cung lan sang thai làm chết thai

* Hậu quả của viêm tử cung

Tử cung là một trong những bộ phận quan trọng nhất trong cơ quan sinh dục của lợn nái, nếu tử cung xảy ra bất kỳ quá trình bệnh lý nào thì đều ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh sản của lợn mẹ và sự sinh trưởng, phát triển của lợn con

Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [6], Trần Thị Dân (2004) [3],

Nguyễn Văn Thanh và cs (2013) [14], khi lợn nái bị viêm tử cung sẽ dẫn tới một số hậu quả chính sau:

- Khi lợn bị viêm tử cung dễ dẫn tới sảy thai

- Lợn mẹ bị viêm tử cung bào thai cũng phát triển kém hoặc chết lưu

Trang 31

- Sau khi sinh con lượng sữa giảm hoặc mất hẳn sữa nên lợn con trong giai đoạn theo mẹ thường bị tiêu chảy

- Lợn nái bị viêm tử cung mãn tính sẽ không có khả năng động dục trở lại

- Tỷ lệ phối giống không đạt tăng lên ở đàn lợn nái viêm tử cung sau khi sinh đẻ

Nguyễn Văn Thanh và cs (2013) [14], cho rằng: Bệnh viêm tử cung, viêm vú là nguyên nhân chính gây ra mất sữa ở lợn nái nuôi con, làm lợn nái đau đớn, giảm sút cân nhanh

* Chẩn đoán lâm sàng bệnh viêm tử cung

Xuất phát từ quan điểm lâm sàng thì bệnh viêm tử cung thường biểu hiện vào lúc đẻ và thời kỳ tiền động đực, vì đây là thời gian cổ tử cung mở nên dịch viêm có thể chảy ra ngoài Số lượng mủ không ổn định, từ vài ml cho tới 200 ml hoặc hơn nữa Tính chất mủ cũng khác nhau, từ dạng dung dịch màu trắng loãng cho tới màu xám hoặc vàng, đặc như kem, có thể màu máu cá Người ta thấy rằng thời kỳ sau sinh đẻ hay xuất hiện viêm tử cung cấp tính, viêm tử cung mãn tính thường gặp trong thời kỳ cho sữa Hiện tượng chảy mủ ở âm hộ có thể cho phép nghi viêm nội mạc tử cung

Tuy nhiên, cần phải đánh giá chính xác tính chất của mủ, đôi khi có những mảnh trắng giống như mủ đọng lại ở âm hộ nhưng lại có thể là chất kết tinh của nước tiểu từ trong bàng quang chảy ra Các chất đọng ở âm hộ lợn nái còn có thể là do viêm bàng quang có mủ gây ra

Khi lợn nái mang thai, cổ tử cung sẽ đóng rất chặt vì vậy nếu có mủ chảy ra thì có thể là do viêm bàng quang Nếu mủ chảy ra ở thời kỳ động đực thì có thể bị nhầm lẫn

Ngày đăng: 09/04/2021, 20:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Xuân Bình (2000), Phòng trị bệnh heo nái - heo con - heo thịt, Nxb Nông nghiệp - Hà Nội, tr.29 - 35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng trị bệnh heo nái - heo con - heo thịt
Tác giả: Nguyễn Xuân Bình
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp - Hà Nội
Năm: 2000
3. Trần Thị Dân (2004), Sinh sản heo nái và sinh lý heo con, Nxb Nông nghiệp thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh sản heo nái và sinh lý heo con
Tác giả: Trần Thị Dân
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2004
4. Phạm Hữu Doanh, Lưu Kỷ (2003), Kỹ thuật nuôi lợn nái mắn đẻ sai con. Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật nuôi lợn nái mắn đẻ sai con
Tác giả: Phạm Hữu Doanh, Lưu Kỷ
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2003
5. Đoàn Thị Kim Dung, Lê Thị Tài (2002), Phòng và trị bệnh lợn nái để sản xuất lợn thịt siêu nạc xuất khẩu, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng và trị bệnh lợn nái để sản xuất lợn thịt siêu nạc xuất khẩu
Tác giả: Đoàn Thị Kim Dung, Lê Thị Tài
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2002
6. Trần Tiến Dũng, Dương Đình Long, Nguyễn Văn Thanh (2002), Sinh sản gia súc, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh sản gia súc
Tác giả: Trần Tiến Dũng, Dương Đình Long, Nguyễn Văn Thanh
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2002
7. Nguyễn Văn Điền (2015), Kinh nghiệm xử lý bệnh viêm tử cung ở lợn nái sinh sản, Trung tâm giống vật nuôi Phú Thọ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm xử lý bệnh viêm tử cung ở lợn nái sinh sản
Tác giả: Nguyễn Văn Điền
Năm: 2015
8. Nguyễn Mạnh Hà, Đào Đức Thà, Nguyễn Đức Hùng (2012), Giáo trình công nghệ sinh sản vật nuôi, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình công nghệ sinh sản vật nuôi
Tác giả: Nguyễn Mạnh Hà, Đào Đức Thà, Nguyễn Đức Hùng
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2012
9. Nguyễn Bá Hiên, Huỳnh Thị Mỹ Lệ (2012), Giáo trình bệnh truyền nhiễm thú y, Nxb đại học Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình bệnh truyền nhiễm thú y
Tác giả: Nguyễn Bá Hiên, Huỳnh Thị Mỹ Lệ
Nhà XB: Nxb đại học Nông nghiệp
Năm: 2012
10. Nguyễn Huy Hoàng (1996), Tự trị bệnh cho heo, Nxb Tổng hợp, Đồng Tháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự trị bệnh cho heo
Tác giả: Nguyễn Huy Hoàng
Nhà XB: Nxb Tổng hợp
Năm: 1996
11. Nguyễn Đức Hùng, Nguyễn Mạnh Hà, Trần Huê Viên, Phan Văn Kiểm (2003), Giáo trình truyền thống nhân tạo, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình truyền thống nhân tạo
Tác giả: Nguyễn Đức Hùng, Nguyễn Mạnh Hà, Trần Huê Viên, Phan Văn Kiểm
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2003
12. Trần Văn Phùng, Từ Quang Hiển, Trần Thanh Vân, Hà Thị Hảo (2004), Giáo trình chăn nuôi lợn, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chăn nuôi lợn
Tác giả: Trần Văn Phùng, Từ Quang Hiển, Trần Thanh Vân, Hà Thị Hảo
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2004
13. Nguyễn Ngọc Phụng (2004), Công tác vệ sinh thú y trong chăn nuôi lợn, Nxb Lao động xã hội Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác vệ sinh thú y trong chăn nuôi lợn
Tác giả: Nguyễn Ngọc Phụng
Nhà XB: Nxb Lao động xã hội Hà Nội
Năm: 2004
14. Nguyễn Văn Thanh, Nguyễn Thị Hồng Minh, Trịnh Đình Thâu (2013), “Thực trạng hội chứng viêm tử cung, viêm vứ, mất sữa (M.M.A) và ảnh hưởng của hội chứng này đến năng suất sinh sản của lợn nái”, Tạp chí khoa học kiến thức thú y, Tập XX, số 6, tr.47 - 52 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng hội chứng viêm tử cung, viêm vứ, mất sữa (M.M.A) và ảnh hưởng của hội chứng này đến năng suất sinh sản của lợn nái”, "Tạp chí khoa học kiến thức thú y
Tác giả: Nguyễn Văn Thanh, Nguyễn Thị Hồng Minh, Trịnh Đình Thâu
Năm: 2013
15. Nguyễn Văn Thanh (2014), Sinh sản gia súc 2, Nxb Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh sản gia súc 2
Tác giả: Nguyễn Văn Thanh
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2014
16. Theo Trần Thanh Vân, Nguyễn Thị Thúy Mỵ, Mai Anh Khoa, Bùi Thị Thơm, Nguyễn Thu Quyên, Hà Thị Hảo, Nguyễn Đức Trường (2017), Giáo trình chăn nuôi chuyên khoa, Nxb Nông nghiệp Hà Nội.II,Tài liệu tiếng anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chăn nuôi chuyên khoa
Tác giả: Theo Trần Thanh Vân, Nguyễn Thị Thúy Mỵ, Mai Anh Khoa, Bùi Thị Thơm, Nguyễn Thu Quyên, Hà Thị Hảo, Nguyễn Đức Trường
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội. II
Năm: 2017
18. White B. R., Mc Laren D. G., Dzink P. J., Wheeler M. B. (2013), “Attain ment of puberty and the mechanism of large litter size in Chinese Meishan females versus Yorkshire females”, Biology of Reproduction 44 (Suppl. 1), pp. 160 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Attain ment of puberty and the mechanism of large litter size in Chinese Meishan females versus Yorkshire females”
Tác giả: White B. R., Mc Laren D. G., Dzink P. J., Wheeler M. B
Năm: 2013
2. Trần Ngọc Bích, Nguyễn Thị Cẩm Loan, Nguyễn Phúc Khánh (2015), Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thú y, tập XXIII (số 5), tr. 51 - 56 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm