Với những ưu điểm như cá ít bị sốc với biến đổi của môi trường và có khả năng kháng được một số bệnh, thức ăn không đòi hỏi chất lượng quá cao, giá thành sản xuất thấp nên các quốc gia đ
Trang 1PHẠM VĂN CƯƠNG
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BỆNH TRUYỀN NHIỄM TRÊN CÁ RÔ PHI NUÔI THƯƠNG PHẨM TRONG HỆ THỐNG KHÁCH HÀNG CỦA TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN THUỶ SẢN - TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y
Khóa học: 2016 - 2021
THÁI NGUYÊN - 2020
Trang 2PHẠM VĂN CƯƠNG
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BỆNH TRUYỀN NHIỄM TRÊN CÁ RÔ PHI NUÔI THƯƠNG PHẨM TRONG HỆ THỐNG KHÁCH HÀNG CỦA TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN THUỶ SẢN - TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Trang 3Sau 6 tháng thực tập tốt nghiệp, em đã hoàn thành bản khóa luận tốt nghiệp này
Để có được kết quả như ngày hôm nay, bằng lòng biết ơn chân thành sâu sắc em xin cảm ơn thầy giáo Lê Minh Châu đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn em trong suốt quá trình em thực tập và thực hiện khóa luận tốt nghiệp
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới: Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y, các cán bộ Trung tâm Đào tạo, Nghiên cứu và Phát triển thuỷ sản đã tạo điều kiện thuận lợi cho em hoàn thành khóa luận đúng thời gian quy định
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình, bạn bè đã luôn động viên giúp đỡ cho em trong thờ gian qua
Do thời gian nghiên cứu có hạn và kinh nghiệm thực tế còn hạn chế, quá trình thực hiện đề tài không tránh khỏi những sai sót vì vậy em rất mong nhận được sự góp ý của các thầy, các cô và các bạn để khóa luận này được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 12 năm 2020
Sinh viên thực tập
Phạm Văn Cương
Trang 4
Bảng 4.1: Tỷ lệ cá rô phi mắc và chết tại các hộ nuôi của huyện Đại Từ 23 Bảng 4.2: Tỷ lệ cá rô phi mắc và chết tại HTX Bộc Nhiêu 24 Bảng 4.3: Tỷ lệ cá rô phi mắc và chết tại công ty Cường Thịnh - Hoà Bình 26 Bảng 4.4: Tỷ lệ cá mắc và chết ở các kích cỡ tại huyện Đại Từ 29 Bảng 4.5: Tỷ lệ cá mắc và chết ở các kích cỡ tại HTX Bộc Nhiêu 30 Bảng 4.6: Tỷ lệ cá mắc và chết ở các kích cỡ tại công ty Cường Thịnh - Hoà
Bình 31 Bảng 4.7 Kết quả phân lập tác nhân gây bệnh trên cá rô phi nuôi tại huyện
Đại Từ 34 Bảng 4.8 Kết quả phân lập tác nhân gây bệnh trên cá rô phi nuôi tại HTX
Bộc Nhiêu 35 Bảng 4.9 Kết quả phân lập tác nhân gây bệnh trên cá rô phi nuôi tại công ty
Cường Thịnh 36 Bảng 4.10 Kết quả xác định kháng sinh đồ trên chủng vi khuẩn phân lập tại
huyện Đại Từ 38 Bảng 4.11 Kết quả xác định kháng sinh đồ trên chủng vi khuẩn phân lập tại
HTX Bộc Nhiêu 39 Bảng 4.12 Kết quả xác định kháng sinh đồ trên chủng vi khuẩn phân lập tại
công ty Cường Thịnh – Hoà Bình 40
Trang 5BHIA Brain Heart Infusion Agar
Trang 6LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT iii
MỤC LỤC iv
Phần 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu yêu cầu 2
1.2.1 Mục tiêu 2
1.2.2 Yêu cầu 3
Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 4
2.1 Cơ sở khoa học 4
2.1.1 Một số đặc điểm sinh học của cá rô phi 4
2.1.2 Bệnh do vi khuẩn Streptococcus spp 6
2.1.3 Bệnh do virus TiLV 11
2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 14
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 14
2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 17
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 20
3.2 Địa điểm nghiên cứu và thời gian tiến hành 20
3.3 Nội dung nghiên cứu 20
3.3.1 Ðiều tra tình hình cá rô phi bị bệnh 20
3.3.2 Nghiên cứu một số đặc tính sinh học của vi khuẩn, virus phân lập được 20
3.3.3 Nghiên cứu biện pháp phòng trị 20
3.4 Phương pháp nghiên cứu 20
Trang 73.4.2 Nội dung điều tra, theo dõi 21
3.4.3 Các phương pháp đo lường trong dịch tễ: 21
3.4.4 Phương pháp thu mẫu bệnh phẩm 21
3.4.5 Phương pháp nuôi cấy phân lập vi khuẩn 22
3.4.6 Xây dựng phác đồ điều trị cá rô phi mắc bệnh xuất huyết 22
3.4.7 Phương pháp xử lý số liệu 22
Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 23
4.1 Kết quả điều tra cá rô phi mắc bệnh và chết do qua các tháng trong hệ thống khách hàng của trung tâm thuỷ sản 23
4.2 Kết quả điều tra cá rô phi mắc và chết do xuất huyết ở các kích cỡ 29
4.3 Kết quả phân lập tác nhân gây bệnh trên cá rô phi nuôi 33
4.4 Kết quả xác định khả năng mẫn cảm với một số kháng sinh của chủng vi sinh vật phân lập được theo kết quả xét nghiệm của trung tâm chẩn đoán thú y trung ương 37
Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 42
5.1 Kết luận 42
5.2 Đề nghị 43
TÀI LIỆU THAM KHẢO 44 PHỤ LỤC
Trang 8Phần 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Cá rô phi là đối tượng được nuôi phổ biến ở nhiều quốc gia với các hình thức nuôi khác nhau Trong đó hình thức nuôi thâm canh với mật độ cao, sản lượng lớn là phổ biến nhất Với những ưu điểm như cá ít bị sốc với biến đổi của môi trường và có khả năng kháng được một số bệnh, thức ăn không đòi hỏi chất lượng quá cao, giá thành sản xuất thấp nên các quốc gia đang phát triển đặc biệt chú trọng đến phát triển nuôi loài cá này
Theo thống kê của Tổng cục Thủy sản năm 2015, tổng sản lượng cá rô phi các vùng trên cả nước là 187.800 tấn, diện tích đạt 25.748 ha và 1.210.465
m3 lồng nuôi, giá trị ước đạt 4.200 tỷ đồng, tương đương 200 triệu USD, chiếm khoảng 3% giá trị nuôi trồng thủy sản Xuất khẩu cá rô phi năm 2015 hơn 27,5 triệu USD, với hơn 60 quốc gia và vùng lãnh thổ trong khi tiêu thụ
cá rô phi tại thị trường nội địa tiếp tục phát triển với khoảng 160 nghìn tấn Tuy nhiên, khi phát triển nuôi cá rô phi với mật độ cao và nuôi thâm canh thì cũng phát hiện một số bệnh ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng thực phẩm Qua nghiên cứu, người ta đã chỉ ra rằng bệnh ở cá rô phi chủ yếu
là do vi khuẩn, virus, nấm, và ký sinh trùng (Shoemaker và cs., 2008) [38]
Đặc biệt là bệnh do do vi khuẩn Streptococcus spp (liên cầu khuẩn) gây ra là
nguyên nhân gây nên thiệt hại lớn cho cá rô phi nói riêng và cá nước ngọt nói chung, làm ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của ngành nuôi trồng thủy sản Theo thống kê thì liên cầu khuẩn gây bệnh trên cá chủ yếu là hai loài
Streptococcus iniae và Streptococcus agalactiae
Ở Việt Nam năm 2009 - 2010, đã xảy ra dịch bệnh gây chết hàng loạt cá
rô phi nuôi thương phẩm (tới 90 - 100% cá trong ao), tại một số tỉnh phía Bắc Việt Nam như Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương, Bắc Ninh, Quảng Ninh và Hà
Trang 9Giang Đây được coi là đợt dịch lớn nhất từ trước đến nay đối với nghề nuôi
cá rô phi ở nước ta và nghiên cứu bước đầu đã xác định được đây là bệnh
Streptococcosis do liên cầu khuẩn Gram (+) Streptococcus spp gây ra
(Nguyễn Viết Khuê và cs., 2009) [4]
Theo Cục Thú y, kết quả giám sát tiến hành trên 163 mẫu cá rô phi có hiện tượng bất thường (cá chết hoặc có bệnh tích) tại một số tỉnh phía Bắc cho thấy: đã có 46/163 mẫu dương tính với bệnh TiLV, chiếm tỷ lệ 22,6% Cá rô phi giống và cá thương phẩm đều phát hiện nhiễm TiLV Các tỉnh được khuyến cáo về nguy cơ bùng phát bệnh do virus TiLV gây ra là Quảng Ninh, Hải Phòng, Hà Nội, Thái Nguyên, Thái Bình, Bắc Ninh và Tiền Giang
Xuất phát từ tình hình dịch bệnh thực tế của các nước trong khu vực và trên thế giới, tạo điều kiện cho ngành chăn nuôi cá Rô phi trong nước ngày càng phát triển, việc nghiên cứu về bệnh truyền nhiễm trên cá rô phi là một vấn đề cần thiết và cấp bách Các kết quả có được từ nghiên cứu sẽ giúp hiểu
rõ hơn về tình hình nhiễm bệnh trong hệ thống khách hàng của trung tâm thuỷ sản - Trường Đại học Nông Lâm để trung tâm có những kế hoạch sản xuất trong những năm tiếp theo thành công Được sự hướng dẫn tận tình của thầy
giáo Lê Minh Châu, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu một số bệnh
truyền nhiễm trên cá rô phi nuôi thương phẩm trong hệ thống khách hàng của trung tâm đào tạo, nghiên cứu và phát triển thuỷ sản - trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên”
1.2 Mục tiêu yêu cầu
1.2.1 Mục tiêu
- Đánh giá được tình hình mắc bệnh xuất huyết xảy ra trên cá rô phi trong
hệ thống khách hàng của trung tâm thuỷ sản - Trường Đại học Nông Lâm
Điều tra bám sát thực tế, phân tích tình hình dịch bệnh, tiến hành chẩn trị bệnh xảy ra trên đàn cá nuôi
Trang 10Đề xuất những biện pháp phòng và chữa bệnh ở cá rô phi có tính khả thi, phù hợp
1.2.2 Yêu cầu
- Xác định được tỷ lệ cá mắc và chết tại các hộ sản xuất, doanh nghiệp (khách hàng) của trung tâm thuỷ sản
- Xây dựng, đưa ra được phác đồ điều trị phù hợp nhất
- Chủ động, sẵn sàng hoàn thành nhiệm vụ mà cơ sở phân công
Trang 11Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở khoa học
2.1.1 Một số đặc điểm sinh học của cá rô phi
2.1.1.1 Phân loại
Cá rô phi có nguồn gốc từ Châu Phi, hiện chúng được nuôi tại hơn 100 quốc gia trên thế giới Dựa vào đặc điểm sinh sản và hình thái học người ta chia cá rô phi thành 3 giống (Trewavas, 1983) [40]: giống Tilapia đẻ trứng
bám vào giá thể; Giống Sarotherodon cá đực hay cá cái ấp trứng trong miệng; Giống Oreochromis cá cái ấp trứng trong miệng
Hiện nay trên thế giới có khoảng hơn 80 loài cá rô phi dòng Cichlidae
nhưng chỉ có khoảng 10 loài có giá trị kinh tế trong nuôi trồng thủy sản (Macintosh và Little, 1995) [29]
Hệ thống phân loại cá rô phi đơn tính dòng Đường nghiệp như sau:
Bộ cá vược: Perciforms
Bộ phụ: Percoidae
Họ: Cichlidae
Giống: Oreochormis
Loài: Con lai F1 giữa loài cá rô phi O aureus (cá bố) và O niloticus
(cá mẹ) có nguồn gốc Đài Loan
2.1.1.2 Đặc điểm hình thái
Cá rô phi đơn tính Đường nghiệp có thân hình màu hơi tím, vẩy sáng bóng, có 9 - 12 sọc đậm song song nhau từ lưng xuống bụng Vây đuôi có màu sọc đen sậm song song từ phía trên xuống phía dưới và phân bố khắp vây đuôi Vây lưng có những sọc trắng chạy song song trên nền xám đen Viền vây lưng và vây đuôi có màu hồng nhạt
Trang 122.1.1.3 Đặc điểm môi trường sống và tập tính dinh dưỡng
Rô phi là loài cá có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới, nên khả năng thích nghi với nhiệt độ cao tốt hơn nhiệt độ thấp Nhiệt độ thích hợp cho cá sinh trưởng, phát triển là 25 - 30°C Rô phi là loài cá có nguồn gốc nước ngọt, nhưng chúng có khả năng sống và phát triển trong môi trường nước lợ, mặn có nồng
độ muối tới 35‰ Khả năng thích ứng với độ mặn của mỗi loài đều khác
nhau Loài O niloticus có ngưỡng muối thấp nhất và loài có ngưỡng muối cao nhất là T zillii, O aureus (Philipart và Ruwet, 1982) [34] Cá rô phi có thể
sống trong môi trường nước có hàm lượng oxy hòa tan thấp tới 1mg/l nhưng không thể kéo dài khi hàm lượng oxy dưới 0,7mg/l (Balarin và Haller, 1982) [13] Khả năng chịu Amoniac tới 2,4mg/l Cá rô phi có khả năng sống trong môi trường nước có biên độ pH rất rộng 5 - 11, nhưng thích hợp nhất là 6,5 - 8,5 Cá Rô phi chết ở khoảng dao động của pH = 3,5 hay pH > 12 sau 2 - 3 giờ, theo Philipart và Ruwet (1982) [34]
Rô phi là loài cá ăn tạp, khi còn nhỏ cá ăn sinh vật phù du thủy sinh là chủ yếu, 20 ngày tuổi (17 - 18mm) cá chuyển dần sang thức ăn như cá trưởng thành Cá trưởng thành ăn mùn bã hữu cơ, tảo các loại, ấu trùng, côn trùng, sinh vật đáy, phù du sinh vật, thực vật thượng đẳng loại mềm, phân hữu cơ,… Ngoài ra, trong ao nuôi có thể cho thêm thức ăn bổ sung như cám gạo, bột ngô và các phụ phẩm nông nghiệp khác Đặc biệt cá rô phi có thể sử dụng rất hiệu quả thức ăn công nghiệp và thức ăn tự chế biến (Balarin và Haller, 1982) [13] Đây là một đặc điểm giúp cho việc nuôi cá rô phi thâm canh đạt năng suất cao Với những đặc điểm ưu việt đó cá rô phi được phân bố và ương nuôi khá rộng rãi trong các vùng miền của nước ta
2.1.1.4 Tốc độ sinh trưởng
Cá rô phi đơn tính dòng Đường Nghiệp có tốc độ tăng trưởng trung bình cao khoảng 125 - 142g/con/tháng, gấp 1,4 - 1,6 lần rô phi đơn tính dòng Gift,
Trang 13năng suất đạt khoảng 20 tấn/ha Có thời gian nuôi ngắn, hệ số tiêu tốn thức ăn thấp, ít bị phân đàn thuận lợi cho quá trình chăm sóc, quản lý và thu hoạch
Sự sinh trưởng của cá rô phi mang tính đặc trưng của loài, các loài rô
phi khác nhau có tốc độ sinh trưởng khác nhau Loài O niloticus có tốc độ tăng trưởng nhanh và vượt trội so với loài O mossambicus (Nguyễn Văn Hảo
và cs., 2009) [2] Cá rô phi loài O niloticus có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất sau đó đến O galilaeus và O aureus (Lowe - McConnell, 1982) [28]
2.1.2 Bệnh do vi khuẩn Streptococcus spp
Bệnh do vi khuẩn Streptococcus spp gây ra không chỉ trên cá rô mà còn
trên nhiều loài cá từ nước ngọt như cá trắm cỏ, cá tra, basa, đến các loài cá nước lợ như cá bớp và các loài cá nước mặn như cá Song, cá Chẽm, cá Giò và
cá Hồng Mỹ
Ở Việt Nam, dịch bệnh hường xảy ra với tỉ lệ cá chết rất cao vào các tháng cuối xuân - đầu hè và cuối hè - đầu thu Tại các thời điểm khác trong năm cá chết rải rác, ngoại trừ những tháng mùa đông lúc nhiệt độ nước xuống thấp nhất
ở các nước ôn đới không thấy xuất hiện bệnh Về độ tuổi cá thường có bệnh, hầu hết các báo cáo đề cập bệnh xảy ra trong giai đoạn nuôi thương phẩm
Cá bị bệnh thường có các triệu chứng như cá bơi lờ đờ, mất định hướng, trướng bụng, xuất huyết, lồi mắt, sưng ruột, các cơ quan nội tạng như gan, thận, lá lách bạc màu hoặc xuất huyết, sưng to Đặc biệt vi khuẩn tấn công niêm mạc mắt và não cá làm cho cá bơi không định hướng và có dấu hiệu tổn thương thần kinh Bệnh thường xảy ra vào mùa hè đặc biệt khi khi nhiệt độ nước cao Đối với mùa đông và mùa xuân, mật độ vi khuẩn thường thấp và không đủ ngưỡng gây bệnh Tác nhân gây bệnh quan trọng trên cá rô phi thường là vi khuẩn, virus hoặc protozoa trong đó đáng chú ý nhất là bệnh do
vi khuẩn mà đặc biệt là Streptococcus agalactiae và Streptococus iniae
Trang 14Vi khuẩn Streptococus iniae và Streptococus agalactiae có thể tồn tại
ngoài môi trường quanh năm Vi khuẩn gây bệnh có thể phân lập được từ nguồn đất, chất hữu cơ lắng tụ, chất nhầy của cá Vi khuẩn phát triển của ở 37°C và độ mặn 37‰, có khả năng sống sót tốt trong nước ao và bùn đáy từ 3
- 5 ngày ở hai mức nhiệt độ 25°C và 30°C
* Triệu chứng và bệnh tích của cá rô phi khi nhiễm Streptoccocus spp
- Triệu chứng:
Hành vi bất thường: Cá bị bệnh có triệu chứng chung khá điển hình trên nhiều loài Do vi khuẩn gây bệnh có hướng tấn công vào hệ thống thần kinh trung ương của cá nên cá bị bệnh sẽ có biểu hiện bị hôn mê và mất phương hướng, cá bơi lờ đờ hay mất định hướng gần mặt nước Những tổn thương mắt có thể gặp như viêm mắt hoặc lồi mắt, chảy máu mắt Tuy nhiên, không phải con cá nào bị bệnh cũng bị những tổn thương về mắt
Các ổ áp - xe: Những con cá bị nhiễm bệnh do vi khuẩn Streptococcus
spp thường thấy những vết áp - xe có đường kính từ 2 - 3mm và những vết
loét này nhanh chóng vỡ ra tạo thành những vết lở loét xuất huyết không lành Những vết áp - xe lớn hơn có thể gặp thấy ở vây ngực và phần đuôi của cá và những vết áp - xe đó có chứa vật chất như mủ ở bên trong
Xuất huyết ở da: Bệnh do vi khuẩn Streptococcus spp là nguyên nhân
gây xuất huyết bên ngoài da Nhìn chung các điểm xuất huyết thường được nhìn thấy ở quanh miệng cá hoặc ở các gốc vây Đôi khi cũng có thể quan sát thấy những vùng da hơi đỏ xung quanh hậu môn hoặc lỗ sinh dục của cá Dịch cổ trướng: Sự có mặt của dịch chất lỏng trong bụng của cá là dấu hiệu của dịch bệnh ở thời kỳ cấp tính Bên ngoài cá có biểu hiện bị chướng bụng Dịch này có thể được nhìn thấy chảy ra từ hậu môn của cá
Trang 15- Bệnh tích:
Cá bỏ ăn: Nhìn chung không có sự hiện diện của thức ăn khô trong dạ dày hoặc ruột của những con cá bị bệnh Tuy nhiên trong các ao nuôi cá thương phẩm khi cá bị bệnh ở giai đoạn đầu bệnh mới bùng phát cá vẫn có thể
ăn bằng cách lọc thức ăn Khi ruột và dạ dày của cá trống rỗng thức ăn thì sẽ quan sát thấy túi mật rất to, đó là đặc trưng của sự vắng mặt hoạt động tiêu hóa trong cơ thể
Nhiễm trùng máu: Trong giai đoạn cấp tính của bệnh vi khuẩn nhanh chóng đi đến hệ thống máu và lan toả đến tất cả các cơ quan nội tạng Những dấu hiệu lâm sàng chính liên quan đến sự nhiễm trùng máu là sự xuất huyết, viêm gan, thận, lá lách, tim, mắt và ống ruột Lá lách thường mở rộng ra (trương và sưng nhẹ)
Viêm màng bụng: Khi cá bị nhiễm bệnh nặng có sự dính nhau của các cơ quan nội tạng với màng trong khoang bụng của cá Hơn nữa lúc này sự hiện diện của các tơ huyết (fibrinous) có thể được quan sát thấy trong màng ở khoang bụng của cá
Ngoài ra khi cá bị nhiễm bệnh nặng, bệnh còn kết hợp với những vi khuẩn cơ hội khác gây bệnh cho cá có sẵn trong môi trường như vi khuẩn
Aeromonas spp ở nước ngọt hay vi khuẩn Vibrio spp ở nước lợ
- Sự phân bố và lan truyền của bệnh
Dịch bệnh thường xảy ra khi cá nuôi tiếp xúc với sự căng thẳng (stress) khi nhiệt độ nước tăng, lượng oxy trong nước thấp dưới mức cho phép hoặc
cá bị nuôi ở mật độ cao trong thời gian dài
Về mặt lý thuyết thì bệnh lây nhiễm cho cá ở mọi lứa tuổi, kích cỡ Tuy nhiên cá có kích thước lớn (từ 100g đến cỡ thương phẩm) dễ bị mắc bệnh hơn cả Bệnh ở giai đoạn cấp tính với đỉnh điểm tử vong trong khoảng từ 2 - 3 tuần khi nhiệt độ nước cao Tuy nhiên bệnh cũng có thể ở giai đoạn mãn tính khi nhiệt độ nước thấp có thể làm giảm tỷ lệ chết
Trang 16Bệnh lây lan theo chiều ngang từ cá với cá (cá khoẻ ăn cá bị bệnh, ăn thịt lẫn nhau, do vết thương trên da ) và cũng có thể lây truyền từ môi trường đến cá
- Cơ chế lây nhiễm của vi khuẩn Streptoccocus spp
Streptococcus spp cho ra ngoại độc tố, phá hỏng các khí quan trong cơ
thể cá, dẫn đến làm cho cá bị rối loạn chức năng như khi vi khuẩn tấn công vào hệ thống thần kinh trung ương của cá làm cá có biểu hiện bị hôn mê và mất phương hướng Do vậy khi chữa bệnh không chỉ diệt mầm bệnh mà đồng thời phải dùng thuốc để giải các độc tố hoặc nâng cao khả năng tự giải độc trong cơ thể vật nuôi
Streptococcus spp trực tiếp phá hỏng hệ thống máu, gây nên hiện tượng
cá bị xuất huyết toàn thân, hiện tượng này đối với vật nuôi rất quan trọng, ảnh hưởng đến toàn thân vật nuôi, khí quan và hệ thống máu bị tổn hại, lúc đó bệnh rất khó chữa
Hiện nay chưa có bất kỳ loại vaccine phòng bệnh Streptococcosis gây
bệnh trên cá rô phi được nghiên cứu và ứng dụng vào sản xuất tại Việt Nam
Vì vậy, việc phân lập và xác định đặc tính sinh học của Streptococcus spp là
cần thiết để giúp cho việc nghiên cứu và sản xuất vaccine phòng bệnh
Streptococcosis trên cá rô phi nuôi tại Việt Nam là rất cần thiết
Phòng bệnh do Streptococcus spp gây ra trên cá
Chủ yếu là phương pháp phòng bệnh chung, phương pháp phòng bệnh đặc hiệu chưa thật sự hiệu quả
Trang 17Nuôi ao: Cần cải tạo ao theo đúng quy chuẩn kỹ thuật trước và sau mỗi
vụ nuôi, định kỳ 15 - 20 ngày bón vôi với liều lượng 2 - 3 kg/100 m² Kiểm soát lượng phân động vật bón xuống ao đặc biệt là những ngày trời nắng nóng Cần có biện pháp bảo đảm hàm lượng ôxy hòa tan, đặc biệt vào những ngày thời tiết bất thường, đứng gió
Hạn chế lấy nước từ ngoài vào hệ thống nuôi cá rô phi khi vùng nuôi xảy
ra dịch Ương nuôi với mật độ thích hợp Hạn chế hoạt động đánh bắt, kéo lưới, làm xây xát, tổn thương cá
Bổ sung vitamin C, vitamin tổng hợp cho cá với liều lượng 30 mg/kg thức ăn, một tuần/lần Ngoài ra có thể sử dụng tỏi tươi, xay nhuyễn với liều lượng 3 - 5 g /kg thức ăn, 1 tuần/lần
- Điều trị bệnh do Streptococcus spp gây ra:
Việc lựa chọn kháng sinh thích hợp để điều trị bệnh do S agalactiae gây
ra phải dựa trên một số tiêu chí như khả năng mẫn cảm với kháng sinh của
các chủng S agalactiae phân lập được, dạng nhiễm trùng, serotype của vi
khuẩn, đường đưa thuốc Khả năng mẫn cảm của vi khuẩn với kháng sinh là khác nhau Trước hết là điều trị hỗ trợ với các biện pháp hồi sức tích cực, bệnh do vi khuẩn gây ra nên kháng sinh vẫn là thuốc điều trị đặc hiệu
Bệnh được chữa trị trong giai đoạn đầu phát hiện bệnh bằng kháng sinh kết hợp với xử lý môi trường nước nuôi
Một số loại kháng sinh có thể sử dụng để trị bệnh xuất huyết trên cá rô phi:
Cá thịt xử lý bằng phương pháp trộn Sulphamid với thức ăn, liều lượng
150 - 200 mg/kg cá/ngày Thuốc phối chế KN-O4-12 liều dùng 2 - 4 g/kg cá/ngày
Sử dụng thuốc để trị bệnh cho cá liên tục trong khoảng 5 - 7 ngày Riêng đối với kháng sinh từ ngày thứ 3 trở đi, liều lượng có thể giảm 1/3 - 1/2 lượng thuốc kháng sinh
Trang 18Trong thời gian điều trị bệnh lượng thức ăn giảm còn khoảng 1/2 - 2/3 lượng thức ăn thông thường Sau khi điều trị bệnh bằng kháng sinh có thể sử dụng một số loại men vi sinh để ổn định vi khuẩn đường ruột cho cá
2.1.3 Bệnh do virus TiLV
- Nguyên nhân: do virus Tilapia Lake Virus
- Điều kiện phát sinh:
Virus TiLV gây bệnh ở các loài cá rô phi nuôi, gồm: Cá rô phi vằn (Nile
hybrids) và cá rô phi đỏ/cá điêu hồng (Oreochromis sp.) Các loài cá rô phi
hoang dã như cá rô phi xanh (Oreochromis aureus), cá rô phi Mango (Sarotherodon galilaeus), Tilapia zilli và Tristamellasimonis intermedia cũng
mẫn cảm với virus này
Tỷ lệ chết trong các ổ dịch tự nhiên 9 - 90%; bệnh xuất hiện ở mọi lứa tuổi nhưng chủ yếu tập trung ở cá giống (cá con) Với giống cá rô phi đỏ nuôi lồng bị nhiễm bệnh, tỷ lệ chết có thể lên tới 90% trong vòng một tháng sau thả
Bệnh lây lan theo chiều ngang, từ cá bệnh sang cá khỏe trong cùng ao nuôi, trại nuôi, qua nguồn nước, dụng cụ nuôi
Trang 19- Phương pháp thu mẫu chẩn đoán, xét nghiệm
Phương pháp thu mẫu
Thu nguyên ấu trùng, cá bột, cá giống có biểu hiện bệnh lý bất thường; tùy theo kích cỡ cá, có thể thu 10 - 30 con/ao/lồng, cá giống nhỏ, có thể gộp 5 con thành một mẫu xét nghiệm; đối với cá có kích thước lớn, thu gan, thận, lách, não và chuyển về phòng thí nghiệm để sử dụng trong xét nghiệm bằng phương pháp PCR (có thể tách riêng từng cơ quan hoặc gộp 2 - 3 cơ quan thành một mẫu để xét nghiệm) Mẫu dùng trong chẩn đoán PCR có thể là mẫu tươi hoặc đã cố định bằng cồn 95% hoặc trong dung dịch RNAlater (QIAGEN) Gửi mẫu cá sống hoặc bảo quản lạnh đến các phòng thử nghiệm
có đủ năng lực xét nghiệm bệnh này
Phương pháp chẩn đoán
Chẩn đoán lâm sàng: Chẩn đoán dựa trên các đặc điểm dịch tễ và dấu hiệu bệnh như mô tả ở trên, đặc biệt chú ý khi có hiện tượng cá rô phi chết nhiều bất thường
Chẩn đoán phòng thí nghiệm: Sử dụng phương pháp semi-nested PCR,
có thể cho phát hiện nhanh TiLV với độ nhạy cao 7,5 copies/phản ứng PCR
và hạn chế cho kết quả dương tính giả
Trình tự cặp mồi:
(bp) First RT-PCR
Trang 2010 μM primer Nested ext-1
10 μM primer ME1 SuperScript One-Step RT/Platinum Taq mix (Invitrogen)
Sterile water Total reaction
1.5
12.5
1
1 0.5
8.5
25
Reverse transcription 50°C, 30 min
10 μM primer ME1 Taq DNA polymerase (5 units/μl)
Sterile water Total reaction
1
2 0.4 0.5 0.5 0.2
Và đây cũng là phương pháp để xác định chúng ở Việt Nam
Trang 21- Nếu có hiện tượng cá rô phi chết nhiều bất thường, phải báo ngay cho cơ quan thú y nơi gần nhất để triển khai kịp thời các biện pháp phòng chống bệnh
- Cá rô phi giống trước khi thả nuôi cần được lấy mẫu gửi phòng thử nghiệm có đủ năng lực để xét nghiệm sàng lọc đối với mầm bệnh TiLV
- Tuyệt đối không vận chuyển cá rô phi sống từ các ao nuôi đã bị bệnh sang các ao/vùng nuôi không bị bệnh để hạn chế dịch bệnh lây lan
- Không vứt cá chết, cá bệnh, xả thải nước ao nuôi bị bệnh nhưng chưa qua xử lý ra ngoài môi trường làm lây lan dịch bệnh Hố tiêu hủy cá chết phải cách xa nguồn nước, khu dân cư ít nhất 50 m Sử dụng vôi bột rắc xuống hố
và phun thuốc sát trùng quanh khu vực hố
- Áp dụng các biện pháp an toàn sinh học, tăng cường quản lý ao nuôi để hạn chế mầm bệnh lây lan qua dụng cụ, phương tiện và con người (sử dụng các biện pháp vệ sinh, tiêu độc sát trùng)
2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Cá Rô phi là một trong những đối tượng nuôi thủy sản nước ngọt chủ yếu trên thế giới và ở Việt Nam Theo Macintosh và Little (1995) [29] thế giới có khoảng 80 loài cá rô phi khác nhau trong đó có 10 loài đang được nuôi
trong các hệ thống khác nhau Loài nuôi chủ yếu đó là Oreochromis niloticus
với tổng sản lượng năm 2014 đạt 4,67 triệu tấn (FAO, 2014) [21] Theo El- Sayed (2006) [17] nghề nuôi cá rô phi ngày càng mở rộng và phát triển do có những ưu điểm như nhanh lớn, có khả năng nuôi với mật độ cao, chất lượng thịt ngon và sức chống chịu tốt với các điều kiện môi trường khác nhau Tuy nhiên cùng với sự phát triển của các hình thức nuôi mới với mật độ cao như nuôi công nghiệp và nuôi thâm canh thì cá rô phi cũng dễ bị nhiễm một số tác nhân gây bệnh như virus, vi khuẩn, ký sinh trùng và nấm (Shoemaker và cs., 2008) [38]
Trang 22Trước đây, cá rô phi đã được xem là có khả năng đề kháng tốt với vi khuẩn, ký sinh trùng, nấm và virus so với các loài cá khác trong cùng môi trường nuôi Tuy nhiên trong thời gian gần đây, cá Rô phi đã được tìm thấy là mẫn cảm với cả vi khuẩn và ký sinh trùng Các tác nhân gây bệnh phổ biến
cho cá rô phi bao gồm Streptococcus spp., Flavobacterium columnare,
Aeromonas hydrophyla, Edwarsiella tarda, Ichthyophitirius multifillis, Tricodhina sp., Gyrodactylus niloticus (Klesius và cs., 2008) [26] Điều quan
trọng cần lưu ý rằng nhiễm liên cầu khuẩn đã trở thành một vấn đề lớn trong
nuôi cá rô phi và gây thiệt hại kinh tế nặng nề Streptococcus iniae và
Streptococcus agalactiae là những loài vi khuẩn chính ảnh hưởng đến việc
sản xuất cá rô phi trên thế giới (Evan và cs., 2006) [4]
Vi khuẩn gây bệnh Streptococcus gây bệnh trên cá rô phi bao gồm hai loài chính đó là Streptococcus iniae và Streptococcus agalactiae Đây là
nhóm liên cầu khuẩn gram dương là tác nhân gây bệnh chính trên các hệ thống nuôi cá rô phi thâm canh và gây thiệt hại lớn cho nghề này trên toàn thế giới (Perera và cs., 1994) [33]
Theo nghiên cứu của tác giả Yuasa và cs (2005) [42] dịch bệnh trên cá
rô phi nuôi ở Thái Lan được quan sát thấy ở các lồng nuôi trên sông Mekong tại thành phố Mukudahan tháng 5 năm 2001 Sau hai tuần bị nhiễm bệnh tỉ lệ
cá bị chết do dịch bệnh vào khoảng 40 - 60% Dấu hiệu điển hình của cá bị bệnh là chướng bụng, trong xoang bụng chứa dịch và hậu môn bị sưng Trong năm 2002 và 2003, tại thành phố Lubuk Linggau, miền Nam Sumatra, Indonesia cá rô phi nuôi lồng cũng đã xuất hiện hiện tượng cá bị chết với dấu hiệu bệnh lý hai mắt đục và đổi màu Vi khuẩn phân lập từ bộ não và các cơ quan khác của cá rô phi bị ảnh hưởng từ Thái Lan và Indonesia đã được xác
định là Streptococcus agalactiae và Streptococcus iniae
Trang 23Cũng theo tác giả Yuasa và cs., (2005) [42] ở Malaysia trong năm 2005 tại một số hồ chứa ghi nhận hiện tượng cá rô phi nuôi lồng bị chết kết quả thu mẫu đã phân lập được vi khuẩn từ các cơ quan Đặc biệt là mẫu thu ở mắt,
thận, não Trong đó vi khuẩn S agalactiae chiếm 70% tổng số loài vi khuẩn
Streptococcus được xác định, 30% còn lại là Leuconostoc spp và S constellatus Các dấu hiệu điển hình quan sát được bao gồm cá bơi lội không
bình thường và bỏ ăn Hầu như tất cả các cá rô phi bị bệnh mắt như đục giác mạc hoặc tối màu, mắt bị lồi hoặc xẹp
Streptococcus agalactiae ngày càng được phát hiện và khẳng định là
nguyên nhân gây bệnh cho cá, đặc biệt là cá nước ngọt (Plumb, 1999 [35]; Pretto-Giordano và cs., 2010 [36]) Những năm gần đây rất nhiều đợt dịch
bệnh do nhiễm Streptococcus agalactiae đã được ghi nhận ở nhiều trang trại
nuôi cá rô phi đặc biệt là cá trang trại ở Châu Á (Musa và cs., 2009; Suanyuk
và cs., 2005)
Từ tháng 7 đến tháng 12 năm 2009 bệnh Streptococcosis trên cá rô phi
đã bùng phát tại bốn tỉnh Guangdong, Guangxi, Hainan and Fujian nơi chiếm
tới 90% sản lượng nuôi đối tượng này tại Trung Quốc Bệnh Streptococcosis
không chỉ xảy ra tại nơi có sản lượng nuôi cá rô phi lớn nhất thế giới (1.1 triệu tấn năm 2009) Tại Thái Lan theo (Wongtavatchai và Maisak, 2008) [41]
tỷ lệ Streptococcus agalactiae trên Streptococcus iniae là 112/8 ở cá rô phi vằn (Oreochromis nilotica), nghiên cứu về dịch tễ học cho kết quả là
Streptococcus agalactiae chiếm 82% và Streptococcus iniae 18% trong tổng
số 500 mẫu phân lập từ 13 nước Châu Á và Châu Mỹ La Tinh trong 8 năm
(Sheehan và cs., 2009) [37] Trên cá rô phi đỏ (Oreochromis spp) các kết quả
đã nghiên cứu của Hernandez và cs., 2009 [124], Mian và cs., 2009 [30] và Zamri-saad và cs., 2010 [43] đều kết luận tác nhân chính gây bệnh
Streptococcosis là Streptococcus agalactia Theo Bromage và cs., 1999 [15]
Trang 24vi khuẩn gây bệnh Streptococus iniae có thể do cá bị bệnh qua khỏi đợt dịch thải ra ngoài môi trường Do vi khuẩn gây bệnh Streptococcosis thích hợp với
điều kiện nhiệt độ cao nên vào mùa đông rất ít khi phân lập được các loài vi khuẩn này
Vào cuối những năm 2000, đã có một sự giảm đáng kể trong khai thác tự nhiên hàng năm ở vùng biển Galilee của Israel, sản lượng từ 316 tấn năm
2005 xuống mức 8 tấn trong năm 2009 (Eyngor và cs., 2014) [20] Trong cùng thời gian này cá rô phi nuôi bị thiệt hại lớn được ghi nhận khắp đất nước Israel (Eyngor và cs., 2014) [20] Một loại virus RNA mới sau đó đã được xác định và gọi là virus hồ cá rô phi Tilapia lake virus (TiLV) (Eyngor và cs., 2014) [20] Sau công bố này, các nghiên cứu khác đều cho thầy rằng TiLV được tìm thấy ở Colombia (Kembou Tsofack và cs., 2017) [25], Ecuador (Ferguson và cs., 2014 [23); Bacharach và cs., 2016) [12], Ai Cập (Fathi và cs., 2017 [22]; Nicholson và cs., 2017) [31], Ấn Độ (Behera và cs., 2018) [14], Indonesia (Koesharyani và cs., 2018) [27], Malaysia (Amal cs., 2018) [11] và Thái Lan (Dong và cs., 2017 [17]; Surachetpong và cs., 2017) [39] Vào tháng 5 năm 2017, FAO đã phát hành thông báo trên toàn cầu và đặt cảnh báo đặc biệt đối với bệnh do TiLV trên cá rô phi (FAO 2017)
2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Theo thống kê FAO (2014) [21], năm 2014 sản lượng cá rô phi
(Oreochromis spp) của Việt Nam đạt 171.360 tấn Trong nhóm cá nước ngọt,
có hai loài có khả năng nuôi với số lượng lớn phục vụ chế biến xuất khẩu là
cá tra và cá rô phi Theo Tổng cục Thủy sản năm 2015, tổng sản lượng cá rô phi các vùng trên cả nước là 187.800 tấn, diện tích đạt 25.748 ha và 1.210.465
m3 lồng nuôi, giá trị ước đạt 4.200 tỷ đồng, tương đương 200 triệu USD, chiếm khoảng 3% giá trị nuôi trồng thủy sản Xuất khẩu cá rô phi năm 2015 hơn 27,5 triệu USD, với hơn 60 quốc gia và vùng lãnh thổ, tăng nhẹ so với
Trang 25năm 2014 Ba nước nhập khẩu cá rô phi Việt Nam lớn nhất là Mỹ (trên 6 triệu USD), Tây Ban Nha (trên 3 triệu USD), và Colombia (trên 3 triệu USD) Tiêu thụ cá rô phi tại thị trường nội địa tiếp tục phát triển với khoảng 160 nghìn tấn (năm 2015) Như vậy, có thể khẳng định cá rô phi là đối tượng cá nước ngọt
có tiềm năng phát triển với sản lượng lớn cho chế biến xuất khẩu và tiêu thụ nội địa quan trọng của Việt Nam
Năm 2009 và gần đây nhất là năm 2016, dịch bệnh gây chết hàng loạt cá
rô phi nuôi thương phẩm tại một số tỉnh Miền Bắc Việt Nam Đây được coi là đợt dịch bệnh lớn nhất kể từ trước đến nay đối với nghề nuôi cá rô phi ở nước
ta Bước đầu, nguyên nhân gây chết đã được xác định đó chính là bệnh
Streptococcosis do vi khuẩn Gram (+), Streptococus spp gây ra
Ở Việt Nam rất nhiều loài cá bị nhiễm vi khuẩn Streptococus spp từ
nước ngọt như cá rô phi, cá trắm cỏ, cá tra, basa, đến các loài cá nước lợ như
cá bớp và các loài cá nước mặn như cá song, cá chẽm, cá giò và cá hồng mỹ Bệnh thường xảy ra vào mùa hè đặc biệt khi khi nhiệt độ nước cao Đối với mùa đông và mùa xuân, mật độ vi khuẩn thường thấp và không đủ ngưỡng gây bệnh Tác nhân gây bệnh quan trọng trên cá rô phi thường là vi khuẩn, virus hoặc protozoa trong đó đáng chú ý nhất là bệnh do vi khuẩn
mà đặc biệt là Streptococcus agalactiae đã gây chết hàng loạt cá nuôi trong
thời gian qua (Đồng Thanh Hà và cs., 2010) [1]
Kết quả nghiên cứu của Đinh Thị Thủy, (2007) [10] - các bệnh nguy
hiểm thường gặp ở cá rô phi Oreochromis spp nuôi thâm canh cho thấy bệnh
Streptococosis thường xuất hiện vào mùa hè đặc biệt khi nhiệt độ nước cao, tỷ
lệ thiệt hại từ 7 - 10% và cá ở giai đoạn 1 - 4 tháng tuổi Từ tháng 4 đến tháng
9 năm 2009, hiện tượng cá rô phi bị chết đã xuất hiện ở tất cả các vùng nuôi tập trung ở miền Bắc như Hà Nội, Hải Dương, Hải Phòng, Quảng Ninh, Bắc Ninh, Bắc Giang và Hà Giang Tỷ lệ chết cao nhất là 100% và trung bình là
Trang 2642,56% Đây được coi là đợt dịch bệnh lớn nhất trên cá rô phi nuôi tại miền Bắc Việt Nam Kết quả nuôi cấy phân lập tác nhân gây bệnh trên cá rô phi
cho thấy vi khuẩn gram dương Streptococus spp có xuất hiện trên mẫu bệnh Kết quả nghiên cứu tác nhân gây bệnh Streptococcosis trên cá rô phi cho thấy vi khuẩn Streptococus iniae và Streptococus agalactiae có thể tồn tại
ngoài môi trường quanh năm Ngoài ra vi khuẩn gây bệnh có thể phân lập được từ nguồn đất, chất hữu cơ lắng tụ, chất nhầy của cá
Đồng Thanh Hà và cs., (2010) [1] dịch bệnh xảy ra lần đầu vào mùa hè năm 2009 ở các tỉnh như: Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương, Quảng Ninh, Bắc Ninh, Hà Giang; gây chết với tỷ lệ 90 - 100% cá nuôi (cả cá giống và thương phẩm) Tác giả chỉ ra rằng tác nhân gây bệnh trên cá rô phi ở miền Bắc Việt
Nam là Streptococus agalactiae và về khả năng phát triển của vi khuẩn ở
37°C và độ mặn 37o/oo được xem là yếu tố nguy cơ lây nhiễm bệnh cho động vật có vú và con người Theo tác giả Đặng Thị Hoàng Oanh và Nguyễn Thanh Phương, (2012) [5] từ những mẫu cá điêu hồng bị bệnh phù mắt và xuất huyết được thu từ những bè nuôi cá điêu hồng thâm canh ở Tiền Giang
tiến hành kiểm tra vi khuẩn học xác định do vi khuẩn Streptococus agalactiae
gây ra
Theo báo cáo kết quả quan trắc, cảnh báo và giám sát môi trường vùng nuôi trồng thủy sản (trung tâm khảo nghiệm, kiểm định, kiemr nghiệm nuôi trồng thuỷ sản của tổng cục thuỷ sản) (11/2019) [8] cho thấy rằng đã phát
hiện vi khuẩn Streptococcus agalactiae gây bệnh trên cá rô phi tại 02/11 điểm
quan trắc tại Vĩnh Long (QV8) và Đồng Tháp (QĐ5) Kết quả cũng cho thấy
rằng không phát hiện vi khuẩn Aeromonas hydrophila và virut Tilapia Lake
Virus gây bệnh trên cá rô phi
Trang 27Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Cá rô phi nuôi thương phẩm của các khách hàng của trung tâm đào tạo, nghiên cứu và phát triển thuỷ sản - trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên
3.2 Địa điểm nghiên cứu và thời gian tiến hành
Địa điểm: Thái Nguyên, Hoà Bình
Thời gian tiến hành: Từ ngày 1/2020 đến 05/2020
3.3 Nội dung nghiên cứu
3.3.1 Ðiều tra tình hình cá rô phi bị bệnh
- Điều tra tình hình cá rô phi mắc bệnh tại hệ thống khách hàng của Trung tâm thuỷ sản, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, theo thời gian
và theo khối lượng tại :
+ Các hộ nuôi tại huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên ;
+ Các thành viên của HTX Bộc Nhiêu, Định Hoá
+ Công ty Cường Thịnh, tỉnh Hoà Bình
3.3.2 Nghiên cứu một số đặc tính sinh học của vi khuẩn, virut phân lập được
Phân lập, xác định một số đặc tính sinh vật, hóa học của chủng vi khuẩn virut phân lập được trên cá bệnh
Xác định khả năng mẫn cảm với một số kháng sinh
3.3.3 Nghiên cứu biện pháp phòng trị
Thử nghiệm phác đồ điều trị bệnh
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Chọn mẫu điều tra
Chọn mẫu theo phương pháp ngẫu nhiên
Tiến hành theo dõi, điều tra trong toàn bộ thời gian thực tập
Trang 283.4.2 Nội dung điều tra, theo dõi
Điều tra:
Tổ chức thống kê số cá rô phi được điều tra, theo dõi, điều trị,…
Phương pháp: Trực tiếp quan sát để phát hiện cá mắc bệnh, tất cả bao gồm cá bị bệnh còn sống và cá chết đều được quan sát, lấy mẫu Ghi chép tất
cá các biểu hiện quan sát được khi ở hiện trường (nếu được)
Phỏng vấn người nuôi về những thông tin cần thiết
Tiến hành lấy mẫu đối với những con có triệu chứng điển hình
Tỷ lệ mắc theo kích cỡ (%) = Số cá xuất huyết theo kích cỡ
Tổng số cá theo kích cỡ điều tra x 100
3.4.4 Phương pháp thu mẫu bệnh phẩm
3.4.4.1 Phương pháp thu mẫu cá bệnh
Dụng cụ: túi nilon và găng tay
Nguyên tắc thu mẫu cá bệnh:
Phải kiểm tra ngay khi cá được vớt lên khỏi mặt nước, các biểu hiện bệnh tích bên ngoài Ghi các triệu chứng cá bệnh trước khi thu mẫu
Cơ quan sử dụng để nuôi cấy phân lập màm bệnh bao gồm gan, thận, lách, não và mắt của cá rô phi có dấu hiệu bệnh điển hình, sử dụng cá còn đang sống hoặc mới chết
Triệu chứng đặc trưng của cá: dấu hiệu bên ngoài (cá có biểu hiện bất thường, lồi mắt hoặc nổ mắt, xuất huyết ở da, xương nắp mang), dấu hiệu bên trong (nội quan bị xuất huyết), gan mủ, sưng, ruột nhiều dịch
Dùng găng tay cho mẫu cá bệnh vào túi nilon