Đỗ Quốc Tuấn, em đã tiến hành thực hiện chuyên đề tốt nghiệp: “Áp dụng quy trình chẩn đoán, phòng và điều trị một số bệnh thường gặp trên gà tại đại lý thuốc thú y Thu Khiêm của công
Trang 1NGUYỄN THU HƯƠNG
Tên chuyên đề:
“ÁP DỤNG QUY TRÌNH CHẨN ĐOÁN, PHÒNG VÀ TRỊ MỘT SỐ BỆNH THƯỜNG GẶP TRÊN GÀ TẠI ĐẠI LÝ THUỐC THÚ Y THU KHIÊM CỦA CÔNG TY DINH DƯỠNG THÚ Y HÀ THÀNH”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y
Khóa học: 2016 - 2021
Thái Nguyên - 2020
Trang 2NGUYỄN THU HƯƠNG
Tên chuyên đề:
“ÁP DỤNG QUY TRÌNH CHẨN ĐOÁN, PHÒNG VÀ TRỊ MỘT SỐ BỆNH THƯỜNG GẶP TRÊN GÀ TẠI ĐẠI LÝ THUỐC THÚ Y THU KHIÊM CỦA CÔNG TY DINH DƯỠNG THÚ Y HÀ THÀNH”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Suốt quá trình học tập trên giảng đường đại học, thời gian thực tập là khoảng thời gian mà mỗi sinh viên chúng ta đều mong đợi Đây là khoảng thời gian để cho tất cả sinh viên có cơ hội đem những kiến thức đã tiếp thu được trên ghế nhà trường ứng dụng vào thực tiễn sản xuất
Được sự nhất trí của trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban Chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y, em được phân công thực tập tại Công ty TNHH Dinh Dưỡng Thú y Hà Thành Sau 6 tháng thực tập tốt nghiệp, em đã hoàn thành bản khóa luận tốt nghiệp Để có được kết quả này, ngoài sự nỗ lực của bản thân,
em luôn nhận được sự giúp đỡ chu đáo, tận tình của các thầy cô giáo trong Khoa Chăn nuôi Thú y, cùng gia đình và bạn bè Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới thầy giáo TS Đỗ Quốc Tuấn cùng toàn thể cán bộ, nhân viên Công ty TNHH Dinh Dưỡng Thú Y Hà Thành đã trực tiếp hướng dẫn, tạo mọi điều kiện giúp đỡ em trong suốt quá trình thực tập tốt nghiệp
Em xin chân thành cảm ơn anh Đào Ngọc Khiêm và chị Lăng Thị Thu chủ đại lý thuốc thú y Thu Khiêm đã giúp đỡ và chỉ bảo tận tình trong suốt thời gian em thực tập tại cơ sở Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban lãnh đạo UBND huyện Phù Ninh – Tỉnh Phú Thọ, cùng nhân dân địa phương
đã tạo điều kiện thuận lợi để em thực hiện đề tài tốt nghiệp
Em xin kính chúc các thầy giáo, cô giáo cùng toàn thể gia đình luôn mạnh khỏe, hạnh phúc và công tác tốt
Em xin trân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2020
Sinh viên
Nguyễn Thu Hương
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU
Với phương châm “Học đi đôi với hành”, “Lý thuyết gắn liền với thực
tiễn”, thực tập tốt nghiệp là giai đoạn cuối cùng trong chương trình đào tạo
của các trường Đại học nói chung và trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên nói riêng Đây là khoảng thời gian cần thiết để sinh viên tiếp cận với thực tiễn sản xuất, nhằm nâng cao kiến thức đã được học trong nhà trường đồng thời giúp sinh viên có được những kinh nghiệm thực tế, từ đó nâng cao được trình
độ chuyên môn, rèn luyện cho sinh viên kỹ năng tổ chức, triển khai các hoạt động sản xuất, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất Tạo cho mình tác phong làm việc nghiêm túc đúng đắn, đáp ứng được nhu cầu xã hội góp phần xây dựng nền nông nghiệp nước nhà ngày càng phát triển
Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân, được sự đồng ý của trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban Chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y cùng với
sự giúp đỡ, hướng dẫn của thầy giáo TS Đỗ Quốc Tuấn, em đã tiến hành thực
hiện chuyên đề tốt nghiệp: “Áp dụng quy trình chẩn đoán, phòng và điều
trị một số bệnh thường gặp trên gà tại đại lý thuốc thú y Thu Khiêm của
công ty Dinh Dưỡng Thú Y Hà Thành” Do bước đầu làm quen với công
tác nghiên cứu khoa học, kiến thức chuyên môn chưa sâu, kinh nghiệm thực
tế chưa nhiều và thời gian thực tập ngắn nên bản khóa luận của em không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo cùng các bạn đồng nghiệp để bản khóa luận của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2020
Sinh viên
Nguyễn Thu Hương
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1 Kết quả thực hiện công việc tại đại lý Thu Khiêm 442
Bảng 4.2 Kết quả thực hiện phòng bệnh bằng vắc-xin cho gà 43
Bảng 4.3 Các triệu chứng lâm sàng điển hình của gà bị bệnh 46
Bảng 4.4 Bệnh tích mổ khám của gà nhiễm bệnh 48
Bảng 4.5 Một số phác đồ sử dụng điều trị bệnh cho đàn gà đạt hiệu quả 50
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Ý nghĩa
CRD: Choronic Respiratory Diseae
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI NÓI ĐẦU ii
DANH MỤC CÁC BẢNG iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv
MỤC LỤC v
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề 2
1.2.1 Mục tiêu 2
1.2.2 Yêu cầu 2
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3
2.1.1 Vài nét về Công ty TNHH Dinh Dưỡng Thú y Hà Thành 3
2.2 Cơ sở khoa học của chuyên đề 8
2.2.1 Cách nhận biết gà mắc bệnh 8
2.2.2 Nguyên tắc phòng chống dịch bệnh cho vật nuôi 9
2.2.3 Các nguyên tắc điều trị bệnh cho vật nuôi 16
2.2.4 Một số bệnh thường gặp trên gà trong thời gian thực tập 19
2.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 31
2.3.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới về một số bệnh ở gà 31
2.3.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 34
PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 37
3.1 Đối tượng 37
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 37
3.3 Nội dung thực hiện 37
Trang 83.4 Các chỉ tiêu và phương pháp thực hiện 37
3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi 37
3.4.2 Phương pháp thực hiện 37
3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 40
PHẦN 4 KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC 41
4.1 Kết quả đánh giá tình hình chăn nuôi gà thịt trên địa bàn huyện Phù Ninh, tỉnh Phú thọ đến tháng 5/2020 41
4.2 Kết quả thực hiện quy trình chẩn đoán, phòng và trị bệnh cho gà ở đại lý thuốc thú y Thu Khiêm của Công ty Hà Thành 41
4.2.1 Tổng hợp kết quả thực hiện công việc tại đại lý Thu Khiêm 41
4.2.2 Kết quả thực hiện quy trình phòng bệnh cho gà thịt bằng vắc-xin 43
4.2.3 Một số triệu chứng bệnh tích điển hình của các bệnh trực tiếp mổ khám trên đàn gà trong thời gian thực tập 46
4.2.4 Một số bệnh tích điển hình của gà mắc một số bệnh thường gặp 48
4.2.5 Kết quả điều trị gà mắc bệnh trong quá trình thực tập 50
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 552
5.1 Kết luận 552
5.2 Tồn tại 53
5.3 Đề nghị 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO 54 PHỤ LỤC
Trang 9PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Chăn nuôi là ngành kinh tế quan trọng trong sản xuất nông nghiệp Tăng
tỷ trọng chăn nuôi là giải pháp chủ yếu để duy trì và nâng cao giá trị của sản xuất nông nghiệp Phát triển chăn nuôi nhằm tạo việc làm, nâng cao thu nhập, góp phần cải thiện chất lượng dinh dưỡng cho người dân và thúc đẩy tiến trình xóa đói giảm nghèo
Phú Thọ là một tỉnh thuộc vùng Đông Bắc Bộ Huyện Phù Ninh có rất nhiều thuận lợi để phát triển chăn nuôi, đặc biệt là chăn nuôi gà lông màu thả vườn Trong những năm gần đây, chăn nuôi gà được người nông dân đầu tư
và phát triển cả ở quy mô gia trại và trang trại Các sản phẩm từ gà như trứng, thịt là nguồn thực phẩm quan trọng trong đời sống của nhân dân Phát triển chăn nuôi gà đã mang lại một khoản lợi nhuận không nhỏ cho người dân, cũng như tạo thêm công ăn việc làm, tăng thu nhập, góp phần giảm nghèo Đặc biệt người dân biết tiếp cận với khoa học và công nghệ, ứng dụng nhiều tiến bộ khoa học và công nghệ vào chăn nuôi, lựa chọn các giống gà có năng suất, chất lượng cao đưa vào sản xuất
Tuy nhiên, bên cạnh việc đầu tư con giống tốt, chăn nuôi gà muốn phát triển, đạt năng suất và hiệu quả cao thì vấn đề quan trọng hàng đầu là công tác phòng bệnh cho gà phải tốt
Huyện Phù Ninh - tỉnh Phú Thọ là một trong những địa phương có số lượng gà khá lớn trong tỉnh, nhằm cung cấp lượng thực phẩm lớn cho người dân trên địa bàn và góp phần cải thiện kinh tế cho người chăn nuôi Tuy nhiên, các hộ chăn nuôi vẫn còn gặp phải một số khó khăn trong quá trình phòng trừ dịch bệnh cho gà Nước ta có khí hậu nhiệt đới gió mùa, ở miền
Trang 10Bắc mùa Hè nóng ẩm, mùa Đông có mưa phùn gió bấc Những yếu tố thời tiết
đó rất thuận lợi cho các mầm bệnh phát triển Khi gà bị bệnh sẽ gây thiệt hại lớn cho người chăn nuôi gia cầm Để khắc phục tình trạng trên, cần phải có những giải pháp quan trọng như: Nâng cao nhận thức của người chăn nuôi, nâng cao trình độ chuyên môn của đội ngũ thú y cơ sở và nâng cao kỹ thuật chăm sóc, bảo vệ, phòng tránh dịch bệnh từ chính phía người chăn nuôi
Xuất phát từ thực tiễn và để góp phần giảm thiểu thiệt hại về kinh tế cho người chăn nuôi Dưới sự hỗ trợ kỹ thuật của Công ty Dinh Dưỡng Thú Y Hà
Thành, em tiến hành thực hiện chuyên đề: “Áp dụng quy trình chẩn đoán,
phòng và trị một số bệnh thường gặp trên gà tại đại lý thuốc thú y Thu Khiêm của Công ty TNHH Dinh Dưỡng Thú y Hà Thành”.
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề
1.2.1 Mục tiêu
- Rèn luyện và nâng cao kỹ năng chẩn đoán lâm sàng trên gà bị bệnh
- Thực hành kê đơn và điều trị bệnh cho đàn gà mắc bệnh
- Áp dụng quy trình phòng và điều trị một số bệnh thường gặp trên gà
1.2.2 Yêu cầu
- Nắm vững các nguyên tắc phòng trị bệnh cho vật nuôi nói chung
- Thành thạo phương pháp chẩn đoán lâm sàng và mổ khám bệnh tích trên gà
- Đưa ra được phác đồ điều trị bệnh đối với gia cầm và các vật nuôi khác
Trang 11
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập
2.1.1 Vài nét về Công ty TNHH Dinh Dưỡng Thú y Hà Thành
2.1.1.1 Lịch sử hình thành
Công ty TNHH Dinh Dưỡng Thú Y Hà Thành được thành lập vào ngày
17 tháng 11 năm 2014 và chính thức đi vào hoạt động ngày 3 tháng 4 năm
2015, hoạt động kinh doanh trong các lĩnh vực: Sản xuất, kinh doanh thuốc thú y, dược phẩm, thực phẩm chức năng, chế phẩm sinh học,… Những doanh nghiệp sản xuất thuốc thú y vừa và nhỏ, máy móc trang thiết bị cũ và lạc hậu, sản xuất manh mún, tận dụng, cơ hội sẽ khó tồn tại được để dành chỗ cho những doanh nghiệp sản xuất thuốc thú y chất lượng cao, uy tín, hợp vệ sinh thú y, trang thiết bị máy móc hiện đại phù hợp với tiêu chuẩn Quốc tế, giá thành rẻ, hiệu quả kinh tế và hiệu quả điều trị cao
Đến 3/2019, công ty quyết định kêu gọi cổ phần xây dựng nhà máy sản xuất thuốc thú y đạt tiêu chuẩn GMP-WHO Đến 5/2020 chính thức xây dựng xong nhà máy và được cấp phép đợt 1 sản xuất dinh dưỡng (thức ăn bổ sung trong chăn nuôi) Trụ sở nhà máy đặt tại xã Trung Thành - Phổ Yên - Thái Nguyên
2.1.1.2 Cơ cấu bộ máy và tổ chức của công ty
Công ty TNHH Dinh Dưỡng Thú Y Hà Thành có đội ngũ nhân sự bao gồm tổng giám đốc Phạm Văn Thành, phó tổng giám đốc Đỗ Tiến Đức, 3 giám đốc kinh doanh vùng, hơn 30 nhân viên kinh doanh, 1 dược sỹ và bộ phận công nhân viên nhà máy… công nhân viên nhà máy có trình độ chuyên môn thường, xuyên được tập huấn ở nước ngoài và các chuyên gia nước ngoài sang đào tạo, đội ngũ công nhân thâm niên lành nghề, môi trường làm việc thân thiện, chuyên nghiệp, nhiều cơ hội thăng tiến Ngoài ra Công ty đang hợp tác tốt với
Trang 12các Bộ, Cục, Vụ, Viện, Liên hiệp, Hội, Trung tâm và các trường đại học trong
và ngoài nước
2.1.1.3 Một số thông tin về đại lý thuốc thú y Thu Khiêm của công ty Hà Thành
Trong quá trình thực tập, theo sự phân công của công ty Hà Thành, em
đã tham gia hỗ trợ đại lý thuốc thú y Thu Khiêm - một trong những đại lý cấp
I của công ty
Đại lý nằm trên địa bàn xã Trung Giáp, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ, cách trung tâm huyện 7km Đại lý do chị Lăng Thị Thu quản lý và điều hành
Đại lý gồm 1 quản lý, 1 kỹ thuật viên kiêm marketing và 3 sinh viên thực tập Nhờ có sự hợp tác của công ty Hà Thành và bác sỹ Lăng Thị Thu tính đến nay đã có 3 đợt sinh viên của các trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Học viện Nông Nghiệp Việt Nam, trường đại học Nông Lâm Bắc Giang hoàn thành khóa luận thực tập tốt nghiệp
Tại đại lý, các mặt hàng thuốc, chế phẩm sinh học, dụng cụ thú y bày bán được sắp xếp gọn gàng, khoa học Quản lý và nhân viên của đại lý có tay nghề cao, năng động, nhiệt tình, yêu nghề và có tinh thần trách nhiệm cao, luôn chỉ dạy và giúp đỡ tận tình các sinh viên thực tập
2.1.1.4 Điều kiện tự nhiên của huyện Phù Ninh
2.1.1.4.1 Vị trí địa lý
Huyện Phù Ninh là một huyện miền núi, nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh Phú Thọ, cách trung tâm thành phố Việt Trì 15km và cách thị xã Phú Thọ 12km Có địa giới hành chính:
- Phía Bắc giáp huyện Đoan Hùng tỉnh Phú Thọ và huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang
- Phía Đông giáp huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc
- Phía Tây giáp huyện Thanh Ba và thị xã Phú Thọ
- Phía Nam giáp huyện Lâm Thao và thành phố Việt Trì
Trang 13- Huyện Phù Ninh có tổng diện tích tự nhiên 156,48 km2 nằm trên tọa
2.1.1.4.2 Địa hình
Huyện Phù Ninh có địa hình dốc, bậc thang và lòng chảo; được phân thành 6 cấp độ dốc với diện tích tương ứng như sau:
- Cấp I (dưới 30): có diện tích 6559,17 ha, chiếm 39,22% tổng diện tích
tự nhiên được phân bố ở các xã và thị trấn trong huyện, tập trung nhiều nhất ở các xã Phú Mỹ, Trạm Thản và Phù Ninh
- Cấp II (từ 30 - 80): có diện tích 1072,01 ha, chiếm 6,41% tổng diện tích tự nhiên được phân bố ở các xã như An Đạo, Phù Ninh
- Cấp III (từ 80 - 150): có diện tích 3846,53 ha, chiếm 23% tổng diện tích tự nhiên đươc phân bổ nhiều nhất ở xã Phù Ninh và Trạm Thản
- Cấp IV (từ 150 – 200): có diện tích 4348,25 ha, chiếm 26% tổng diện tích tự nhiên được phân bổ ở các xã như Phú Mỹ, Tiên Phú và Trung Giáp
- Cấp V (từ 200 - 250): có diện tích 667,29 ha, chiếm 3,99% tổng diện tích tự nhiên được phân bổ ở các xã như xã Phú Mỹ, Phù Ninh
- Cấp VI (trên 250): có diện tích 92,79 ha, chiếm 1,38% tổng diện tích
tự nhiên được phân bổ ở một số ít các xã như Phú Mỹ, Phù Ninh, Phú Nham, thị trấn Phong Châu và Phú Lộc
Trang 142.1.1.4.3 Khí hậu, thời tiết
Huyện Phù Ninh nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm Hàng năm có hai mùa rõ rệt:
- Mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 10 hàng năm
- Mùa khô bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau
Mùa mưa do ảnh hưởng của gió mùa Đông Nam làm cho nhiệt độ không khí nóng, mưa nhiều Tổng lượng mưa trung bình hàng năm là từ 1600 – 1700mm, chủ yếu tập trung vào các tháng 6, 7, 8, 9 là nguyên nhân gây ra ngập úng, xói mòn đất Tổng lượng mưa nhiều nhất là 2.600mm, thấp nhất là 1.100mm
Mùa khô do ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc, làm cho nhiệt độ không khí lạnh, mưa phùn, thiếu ánh sáng, ẩm ướt, tháng lạnh nhất là tháng 01
Nhiệt độ trung bình năm là 230C, nhiệt độ trung bình tháng cao nhất là
290C (tháng 6), nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất là 150C (tháng 1) Biên độ nhiệt độ dao động giữa tháng cao nhất và tháng thấp nhất là 140C Nhiệt độ cao tuyệt đối là 40,20C, nhiệt độ thấp tuyệt nhất là 2,90C
Độ ẩm không khí tương đối cao, trung bình từ 83% trở lên, song nhìn chung không ổn định Vào mùa mưa, độ ẩm không khí cao hơn mùa khô từ 10 – 15% Độ ẩm không khí cao nhất là 92%, thấp nhất là 24%
Số giờ nắng trung bình hàng năm là 1.760 giờ, tổng tích nhiệt đạt 8.3000C, thuộc loại tương đối cao
Nhìn chung, đặc điểm khí hậu trên địa bàn huyện có nhiều thuận lợi đối với đời sống dân sinh, phát triển các ngành sản xuất nông – lâm nghiệp Tuy nhiên, cũng còn một số khó khăn do khí hậu gây ra như lượng mưa phân bố không đều, tập trung vào một số tháng mùa mưa gây ra úng lụt, tạo dòng chảy lớn gây xói mòn đất; nhiệt độ xuống thấp vào mùa đông, thiếu ánh sáng, ẩm ướt gây khó khăn cho phát triển sản xuất và đời sống của nhân dân
Trang 152.1.1.4.4 Thủy văn
Phù Ninh có sông Lô chạy dọc theo chiều dài huyện từ Bắc xuống Nam; là ranh giới giữa huyện Phù Ninh với các huyện ở tỉnh Vĩnh Phúc và Tuyên Quang Tổng chiều dài phần sông chảy qua địa bàn huyện Phù Ninh là 32km, chảy từ xã Phú Mỹ đến xã Vĩnh Phú Phù sa sông Lô góp phần bồi đắp chủ yếu cho đồng ruộng thuộc các xã Phú Mỹ, Trị Quận, Hạ Giáp, Tiên Du,
An Đạo, Bình Bộ, Tử Đà và xã Vĩnh Phú Ngoài ra, trên địa bàn huyện còn có
hệ thống các sông ngòi nhỏ nằm giữa các khe của các đồi núi thấp, tạo nguồn nước tưới tieu phục vụ cho sản xuất nông, lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản
2.1.1.4.5 Điều kiện kinh tế, xã hội
Hiện tỉnh Phú Thọ có 353.294,93 ha diện tích tự nhiên và 1.313.926 nhân khẩu; 13 huyện, thành, thị (thành phố Việt Trì, thị xã Phú Thọ, 11 huyện: Thanh Sơn, Tân Sơn, Yên Lập, Cẩm Khê, Tam Nông, Thanh Thủy,
Hạ Hòa, Thanh Ba, Đoan Hùng, Lâm Thao, Phù Ninh); 277 đơn vị hành chính cấp xã
Khai thác tiềm năng thế mạnh, bằng sự nỗ lực vượt bậc của Đảng bộ, Chính quyền và nhân dân các dân tộc trong tỉnh, sự hỗ trợ có hiệu quả của Chính phủ, các Bộ, ngành Trung ương, trong những năm qua tình hình kinh tế
- xã hội đã có chuyển biến tích cực với mức tăng trưởng GDP bình quân hàng năm đạt trên 9%, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá; các lĩnh vực văn hoá, y tế, giáo dục và công tác xã hội đã có những tiến bộ đáng kể; điều kiện và mức sống của nhân dân trong tỉnh được nâng cao rõ rệt, bước đầu tạo diện mạo mới về kinh tế - xã hội, đưa Phú Thọ cùng cả nước trong quá trình phát triển và hội nhập kinh tế khu vực, quốc tế
Với phương trâm khai thác có hiệu quả các tiềm năng và lợi thế so sánh của tỉnh, trong thời gian qua tỉnh Phú Thọ đã ban hành nhiều chính sách ưu đãi hấp dẫn, mở rộng cửa mời gọi các nhà đầu tư trong và ngoài nước cùng đầu tư
Trang 16phát triển các ngành công nghiệp có lợi thế về nguyên liệu tại chỗ, có khả năng thu hồi vốn nhanh và đạt hiệu quả cao, tập trung vào 4 nhóm ngành có lợi thế
so sánh là: Công nghiệp chế biến nông, lâm sản, thực phẩm; khai khoáng, hoá chất, phân bón; sản xuất vật liệu xây dựng và công nghiệp sản xuất hàng may mặc, hàng tiêu dùng Ngoài ra Phú Thọ cũng đã giành 1000ha đất để ưu tiêu cho phát triển các khu công nghiệp tập trung ở phía Bắc, phía Nam và phía Tây thành phố Việt Trì; định hình một số cụm công nghiệp ở các huyện Tam Nông, Thanh Thuỷ, Lâm Thao, Phù Ninh, Thanh Ba, Hạ Hoà, Đoan Hùng, gắn liền với việc thực hiện công nghiệp hoá công nghiệp nông thôn
Để đấy nhanh tốc độ phát triển kinh tế - xã hội, nhân dân và chính quyền tỉnh Phú Thọ đã và đang tạo điều kiện tốt nhất nhằm thu hút vốn đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài, tỉnh ngoài vào đầu tư, nhanh chóng đưa Phú Thọ trở thành một trung tâm kinh tế của vùng Tây Bắc, góp phần xây dựng tỉnh Phú Thọ - Đất Tổ Hùng Vương giàu đẹp phồn vinh và thịnh vượng
Phú Thọ có địa thế khá thuận lợi về giao thông, với ba con sông lớn là sông Hồng, sông Lô, sông Đà chảy qua, hệ thống giao thông đường sắt Hà Nội – Lào Cai – Côn Minh; đường quốc lộ 2, đường cao tốc xuyên Á là cầu nối quan trọng trong giao lưu kinh tế giữa Trung Quốc với Việt Nam và các nước ASEAN Ngoài ra, Phú Thọ còn có các yếu tố khác để phát triển kinh tế
- xã hội như con người, tài nguyên, các khu công nghiệp, khu du lịch văn hoá lịch sử Đền Hùng, khu du lịch sinh thái Xuân Sơn
2.2 Cơ sở khoa học của chuyên đề
2.2.1 Cách nhận biết gà mắc bệnh
Muốn biết gà bệnh hay khỏe cần chú ý quan sát các đặc điểm sau:
- Hoạt động: Gà mắc bệnh thì ủ rũ, rụt cổ, cụp đuôi, đi lại chậm chạp, thường co cụm thành nhóm hay đứng riêng lẻ ở trong góc chuồng Gà khỏe mạnh thì nhanh nhẹn, phân bố đều trong chuồng, háo ăn khi được ăn
Trang 17- Bộ lông: gà bệnh xù lông, lông đầu dựng lên trong khi gà khỏe lông mượt, xếp sát vào thân
- Mắt, mỏ, chân: gà bệnh mắt thường nhắm, chảy nước mắt, nước mũi, khó thở, thỉnh thoảng há miệng kêu, có khi sưng mặt, chân khô, mào tái nhợt hay bầm tím
- Phân: gà mắc bệnh phân thường lỏng, trắng hoặc xanh, hay có màu đỏ lẫn máu, có mùi hôi, đôi khi hậu môn dính bết phân
- Tỷ lệ chết: cần phân biệt gà chết ở tỷ lệ thấp từ 3 - 4% là bình thường đối với gà thịt và 1% hàng tháng đối với gà đẻ Nếu thấy gà chết nhiều hàng loạt và tập trung trong một thời gian ngắn là do gà bị nhiễm bệnh
2.2.2 Nguyên tắc phòng chống dịch bệnh cho vật nuôi
Nguồn bệnh là khâu đầu tiên và chủ yếu, là xuất phát điểm của quá trình sinh dịch Nhân tố trung gian truyền lây nối liền nguồn bệnh với động vật cảm thụ Động vật thụ cảm làm cho dịch biểu hiện ra đồng thời nó lại biến thành nguồn bệnh làm cho quá trình sinh dịch được nhân lên Vì vậy chỉ cần xóa bỏ một trong ba khâu hoặc cắt đứt sự liên hệ giữa các khâu sẽ làm quá trình sinh dịch không xảy ra được Đó là nguyên lý cơ bản của biện pháp phòng và chống dịch
Nội dung của việc phòng và chống dịch bệnh cho động vật theo Pháp lệnh thú y của nước ta bao gồm:
- Bảo đảm đủ tiêu chuẩn vệ sinh thú y tại các cơ sở chăn nuôi, chế biến thức ăn chăn nuôi, chế biến sản phẩm động vật
- Thực hiện các biện pháp phòng bệnh, chẩn đoán xác định bệnh, khống chế tiêu diệt dịch bệnh cho động vật
- Thực hiện việc kiểm dịch động vật và sản phẩm động vật, kiểm soát giết mổ động vật và kiểm tra vệ sinh thú y thực phẩm có nguồn gốc từ động vật để phát hiện, ngăn chặn dịch bệnh lây lan và đảm bảo an toàn cho người
Trang 182.2.2.1 Xác định các biện pháp phòng bệnh cho gà
Công tác vệ sinh phòng bệnh cho gà có vai trò quan trọng, quyết định đến sự thành công hay thất bại của chăn nuôi gà Nếu thực hiện tốt công tác phòng bệnh cho gà sẽ hạn chế được dịch bệnh xảy ra và lây lan, đồng thời quyết định thành công của chăn nuôi gà
Để thực hiện tốt công tác phòng bệnh cho gà cần thực hiện tốt 2 phương pháp sau:
* Ngăn không cho gà tiếp xúc với mầm bệnh
Mầm bệnh tiếp xúc với gà đến từ nhiều nguồn khác nhau như: gia cầm, gia súc bị bệnh, thức ăn, nước uống nhiễm mầm bệnh Bụi trong không khí nhiễm mầm bệnh Chất độn chuồng, dụng cụ chăn nuôi nhiễm mầm bệnh Giày, dép, chân tay người chăn nuôi hoặc khách đến thăm quan nhiễm mầm bệnh Phương tiện vận chuyển nhiễm mầm bệnh Chuột, côn trùng và chim hoang dã
Để ngăn chặn các nguồn lây nhiễm này người chăn nuôi phải thực hiện tốt công tác vệ sinh chuồng trại, dụng cụ thiết bị, thức ăn, nước uống, tiêu diệt chuột côn trùng và ngăn không cho chim hoang đến cư trú (Nguyễn Thị Kim Lan, Nguyễn Văn Quang, 2000) [6]
* Nâng cao sức đề kháng cho gà:
Song song với công tác vệ sinh phòng bệnh thì cần phải tăng cường sức
đề kháng cho gà thường xuyên như:
- Đảm bảo chuồng nuôi luôn thoáng, mát, sạch sẽ
- Cho gà ăn đủ chất dinh dưỡng trong khẩu phần
- Thức ăn, nước uống phải vệ sinh sạch sẽ không có mầm bệnh và chất độc hại đến sức khỏe
- Dùng thuốc và vắc xin phòng bệnh cho gà theo lịch dùng thuốc
Để chăn nuôi gà đem lại hiệu quả cần thực hiện tốt 3 nguyên tắc phòng bệnh sau:
Trang 19Nguyên tắc 1: Ngăn chặn sự tiếp súc của mầm bệnh với gia cầm
- Không mua vật nuôi không rõ nguồn gốc Chỉ chọn mua gà từ những
cơ sở giống tốt, từ đàn gà bố mẹ khỏe mạnh để đảm bảo không có bệnh truyền
từ trứng sang gà con Phải nhốt riêng gà mới mua về (cách xa gà nhà đang nuôi) trong vòng 10 - 14 ngày Cho gà uống thuốc bổ, khi thấy gà khỏe mạnh mới đưa vào chuồng nuôi
- Không cho các vật nuôi lạ, người lạ, dụng cụ lạ vào khu vực chăn nuôi
- Quản lý tốt công tác cách ly và vệ sinh thân thể trước khi vào khu vực chăn nuôi của công nhân, cán bộ và khách tham quan
- Tăng cường công tác vệ sinh chuồng trại, dụng cụ và duy trì tốt công tác sát trùng dụng cụ, phương tiện và khu vực chăn nuôi
* Khi gà gà mắc bệnh hoặc ghi mắc bệnh cần thực hiện các biện pháp sau: + Áp dụng các biện pháp cách ly để hạn chế bệnh lây lan Tách riêng con
ốm để theo dõi và điều trị
+ Không bán gà bệnh Không mua thêm gà khoẻ về nuôi
+ Xác gà chết cần phải đưa ngay ra khỏi khu vực chăn nuôi đề xử lý Gà
ốm, chết do bệnh phải đốt hoặc chôn kỹ, rắc vôi bột
+ Khi có gà nghi mắc bệnh: cần tăng cường các biện pháp vệ sinh và sát trùng chuồng trại Cần quét phân, sát trùng tiêu độc hàng ngày nơi nuôi gà, sân thả gà bằng thuốc sát trùng, vôi, nước sôi, hơ lửa
+ Đối với gà chưa mắc bệnh phải dùng vắc xin phòng hoặc dùng thuốc điều trị theo hướng dẫn của cán bộ thú y cơ sở
+ Máng ăn, máng uống, các dụng cụ chăn nuôi cần rửa sạch, phơi khô dưới ánh nắng mặt trời, sát trùng tiêu độc trước khi sử dụng lại
+ Báo cán bộ thú y cơ sở đến kiểm tra khi thấy gà bị bệnh dịch
Nguyên tắc 2: Nâng cao sức đề kháng của gia cầm
- Xây dựng chuồng trại đúng kỹ thuật đảm bảo cho vật nuôi có chỗ ở tốt
Trang 20- Cho vật nuôi ăn và uống tốt (thức ăn đủ dinh dưỡng, thức ăn không biến chất, uống nước sạch được tiệt trùng, nước uống không có độc chất) và chăm sóc vật nuôi đúng quy trình kỹ thuật
- Tẩy ký sinh trùng và tiến hành tiêm phòng triệt để với các loại vắc xin
- Phòng bệnh cho gia cầm bằng thuốc và vắc xin
Nguyên tắc 3: Giám sát và kiểm tra chặt chẽ sức khỏe gia cầm
- Xây dựng lịch tiêm phòng và lập sổ ghi chép theo dõi quá trình tiêm phòng của vật nuôi chặt chẽ
- Ghi chép hàng ngày tình trạng sức khỏe vật nuôi vào sổ nhật ký thú y
và định kỳ lấy máu kiểm tra để đánh giá hàm lượng kháng thể có trong máu của vật nuôi (HI, HA)
- Phát hiện kịp thời chẩn đoán chính xác, cách ly nhanh chóng, điều trị khẩn trương các cá thể nghi nhiễm và nhiễm bệnh
2.2.2.2 Vệ sinh, sát trùng chuồng trại, vườn chăn thả và dụng cụ chăn nuôi
- Vệ sinh trước khi nuôi: Chú ý vệ sinh khu vực chuồng gà, khu vực xung quanh chuồng, chất độn chuồng, dụng cụ chăn nuôi trước khi đưa gà vào nuôi Để trống chuồng 2 ngày trước khi thả gà vào
- Vệ sinh trong khi nuôi:
+ Chuồng nuôi gà cần đảm bảo đúng mật độ, thoáng mát, khô, sạch sẽ,
có ánh nắng mặt trời chiếu vào
+ Sân thả gà cần khô, thoáng mát, có hàng rào bao quanh và được quét dọn hàng ngày
+ Nếu nuôi gà có chất độn chuồng thì chất độn chuồng phải luôn mới, khô, nên phơi nắng trước khi cho vào chuồng gà
+ Ổ đẻ cần để nơi khô ráo, thoáng mát, đệm lót phơi nắng kỹ trước khi trải vào ổ và thay thường xuyên để tránh mầm bệnh cư trú
Trang 21+ Thường xuyên quét phân, thay độn chuồng, rắc vôi bột vào các nơi ẩm thấp, quét vôi chuồng nuôi, sân thả gà Phun thuốc diệt muỗi, mò, mạt
+ Phân gà, độn chuồng cần được ủ kỹ để diệt mầm bệnh trước khi đưa ra ngoài
- Vệ sinh sát trùng sau mỗi đợt nuôi:
Theo trình tự sau:
+ Thu gom phân gà, độn chuồng, rác thải vào một nơi và ủ kỹ để diệt mầm bệnh + Quét dọn sạch phân, rác, mạng nhện
+ Sửa chữa chuồng, vá lại những chỗ nền chuồng bị hỏng
+ Cọ rửa chuồng, dụng cụ chăn nuôi bằng nước sạch, có áp suất cao + Sát trùng bằng chất khử trùng
+ Để trống chuồng 2 - 3 tuần
- Các biện pháp khử trùng:
+ Ánh nắng mặt trời: dùng để phơi máng ăn, máng uống, dụng cụ chăn nuôi, độn chuồng, nguyên liệu thức ăn
+ Dùng nước sôi để rửa các dụng cụ chăn nuôi
+ Dùng bùi nhùi rơm, trấu để hun chuồng
+ Vôi bột: có thể dùng rắc xung quanh và những nơi ẩm ướt bên trong chuồng nuôi, rắc vào hố sát trùng trước cửa chuồng nuôi Để 2 - 3 ngày rồi quét + Nước vôi: tốt nhất là dùng nước vôi mới tôi; dùng để quét nền chuồng, sân chơi và xung quanh tường
+ Dùng các chất sát trùng: Hacocid, Han-lodin, Cloramin, Anticept, BKA, Crezil, Biocid, để phun toàn bộ nền và tường chuồng, ngâm và rửa dụng cụ cho vào hố sát trùng, phun tiêu độc xác chết, phun phương tiện vận chuyển, một số dùng để sát trùng nước uống
+ Xông hơi bằng hỗn hợp Formol và thuốc tím: dùng để xông trứng, xông hơi sát trùng quần áo, máy móc liều lượng có thể thay đổi tùy từng đối tượng
Trang 22Đối với máy móc, quần áo, kho dùng liều 17,5 gam thuốc tím + 35 ml
Formol cho 1 m3 trong thời gian 30 phút; xông hơi phải kín mới có tác dụng
2.2.2.3 Vệ sinh thức ăn, nước uống
- Máng ăn, máng uống cần có chụp để gà khỏi nhảy vào, dụng cụ cho ăn cần rửa sạch hàng ngày
- Thức ăn cần đảm bảo khô, không ẩm, mốc, thay hàng ngày
- Nước uống cho gà đảm bảo sạch và thay thường xuyên
- Không cho gà bệnh ăn, uống chung với gà khoẻ
- Thường xuyên loại thải những gà ốm yếu ra khỏi đàn để tránh lây lan bệnh
- Khi gà gà mắc bệnh hoặc ghi mắc bệnh cần thực hiện các biện pháp sau: + Áp dụng các biện pháp cách ly để hạn chế bệnh lây lan Tách riêng con
ốm để theo dõi và điều trị
+ Không bán gà bệnh Không mua thêm gà khoẻ về nuôi
+ Xác gà chết cần phải đưa ngay ra khỏi khu vực chăn nuôi đề xử lý Gà
ốm, chết bệnh đốt hoặc chôn kỹ, rắc vôi bột
+ Khi có gà nghi mắc bệnh: cần tăng cường các biện pháp vệ sinh và sát trùng chuồng trại Cần quét phân, sát trùng tiêu độc hàng ngày nơi nuôi gà, sân thả gà bằng thuốc sát trùng, vôi, nước sôi, hơ lửa
+ Đối với gà chưa mắc bệnh phải dùng vắc xin phòng hoặc dùng thuốc điều trị theo hướng dẫn của cán bộ thú y cơ sở
+ Máng ăn, máng uống, các dụng cụ chăn nuôi cần rửa sạch, phơi khô dưới ánh nắng mặt trời, sát trùng tiêu độc trước khi sử dụng lại
Trang 23+ Báo cán bộ thú y cơ sở đến kiểm tra khi thấy gà bị bệnh dịch
2.2.2.5 Phòng bệnh bằng thuốc và vắc-xin cho gà
Phòng bệnh là một biện pháp chủ động, tích cực và cực kỳ quan trọng vì làm cho động vật thụ cảm tự sản sinh hoặc tiếp nhận các yếu tố miễn dịch đặc hiệu để chống đỡ có hiệu quả với mầm bệnh trong một thời gian nhất định Thuốc dùng tiêm phòng gồm 2 loại: vắc-xin và kháng huyết thanh
- Phòng bệnh bằng vắc-xin:
Vắc xin là một chế phẩm sinh học mà trong đó chứa chính mầm bệnh cần phòng cho một bệnh nào đó (mầm bệnh này có thể là vi khuẩn, virus, độc
tố hoặc vật liệu di truyền như ARN, ADN…) đã được làm giảm độc lực hay
vô độc bằng các tác nhân vật lý, hóa học, sinh học hay phương pháp sinh học phân tử (vắc-xin thế hệ mới - vắc-xin công nghệ gen) Lúc đó, chúng không còn khả năng gây bệnh cho đối tượng sử dụng Nhưng khi đưa vào cơ thể động vật lại có khả năng sinh miễn dịch chống lại sự xâm nhiễm gây bệnh của mầm bệnh tương ứng
Hiện nay, người ta chia vắc-xin làm 3 loại:
+ Vắc-xin vô hoạt (còn gọi là vắc-xin chết): là vắc-xin chế từ mầm bệnh
đã bị giết chết bằng các tác nhân lý, hóa học những trên bề mặt của chúng vẫn giữ nguyên các protein còn hoạt tính sinh học của kháng nguyên nên vẫn giữ nguyên tính kích thích sinh miễn dịch Vắc-xin vô hoạt dùng cho gà chủ yếu
là đường tiêm qua cơ hoặc tiêm dưới da
Vắc-xin vô hoạt thường rất an toàn nhưng thời gian miễn dịch ngắn và hiệu lực kém
+ Vắc-xin nhược độc (vắc-xin sống): Vắc-xin chế bằng mầm bệnh đã được làm yếu, không còn khả năng gây bệnh cho đối tượng sử dụng Khi tiêm vào cơ thể, mầm bệnh vẫn còn khả năng thích ứng và nhân lên, cung cấp nguồn kháng nguyên lâu dài và kích thích sinh miễn dịch Loại vắc-xin này
Trang 24thường cho miễn dịch mạnh và ổn định, thời gian miễn dịch kéo dài, nhưng
có thể gây ra phản ứng vì vậy đòi hỏi phải cẩn trọng trong bảo quản cũng như
sử dụng Đối với gia cầm có thể dùng qua đường nhỏ mắt, mũi, cho uống, phun khí dung hay tiêm chủng
+ Vắc-xin thế hệ mới (hay vắc-xin công nghệ gen): là các chế phẩm được dùng làm vắc-xin gây miễn dịch cho người và động vật được tạo ra và sản xuất thông qua các thao tác về kỹ thuật gen
Đây là một lĩnh vực nghiên cứu mới và hiện đại của sinh học phân tử Vắc-xin thế hệ mới có nhiều ưu điểm vượt trội so với các vắc-xin chế tạo bằng phương pháp thông thường về độ tinh khiết, khả năng gây miễn dịch…
Nó đã, đang và sẽ được sử dụng rộng rãi trong tương lai
- Phòng bệnh bằng kháng huyết thanh:
Kháng huyết thanh là chế phẩm sinh học dùng để chữa bệnh và phòng bệnh đặc hiệu Tiêm phòng kháng huyết thanh nhằm tạo ra cho động vật một trạng thái miễn dịch bị động
Kháng huyết thanh được chế tạo bằng cách dùng vi khuẩn hoặc virus gây tối miễn dịch cho loài gia súc như bò, ngựa, lợn rồi lấy máu, chắt lấy huyết thanh, xử lý và bảo quản
Sau khi tiêm kháng huyết thanh vài giờ thì cơ thể có miễn dịch, vì vậy chỉ dùng khi cần phải phòng bệnh khẩn cấp như tiêm cho gia súc trong ổ dịch hoặc vùng có uy cơ bị dịch uy hiếp, gia súc cần xuất hàng ngày hoặc đưa đi triển lãm Thời gian miễn dịch do tiêm kháng huyết thanh chỉ kéo dài 1 – 3 tuần, vì vậy sau khi tiêm kháng huyết thanh 10 ngày cần tiêm vắc-xin để gây miễn dịch chủ động lâu dài
2.2.3 Các nguyên tắc điều trị bệnh cho vật nuôi
Chữa bệnh vừa có tác dụng chống vừa có tác dụng phòng Chữa bệnh kịp thời là một yêu cầu cấp bách của sản xuất, làm giảm thiệt hại về kinh tế
Trang 25- Diệt căn bệnh là chủ yếu và kết hợp chữa triệu chứng
- Tiêu diệt mầm bệnh phải đi đôi với tăng cường sức đề kháng của cơ thể: có làm cho cơ thể tự nó chống lại mầm bệnh thì bệnh mới chóng khỏi, ít
bị tái phát và biến chứng, miễn dịch mới lâu bền Một số thuốc tuy tiêu diệt đượcmầm bệnh nhưng ít nhiều có hại cho cơ thể nên ta phải chú ý ảnh hưởng của thuốc đến cơ thể
- Phải có quan điểm kinh tế khi chữa bệnh Chỉ nên chữa những gia súc
có thể chữa lành mà không giảm sức cày kéo và sản phẩm Nếu chữa kéo dài, tốn kém vượt quá giá trị gia súc thì không nên chữa
- Những bệnh rất nguy hiểm cho người mà không có thuốc chữa đặc hiệu thì không nên chữa
Trang 26Chữa bệnh bằng kháng huyết thanh: là đưa vào cơ thể những kháng thể chuẩn bị sẵn, có tác dụng trung hòa mầm bệnh hoặc độc tố của chúng (huyết thanh kháng độc tố) Ngoài ra, trong huyết thanh còn có chứa phức hợp muối khoáng – protit là thành phần không đặc hiệu có tác dụng kích thích và tăng cường sức đề kháng cơ thể
+ Dùng hóa dược: Phần lớn hóa dược dùng để chữa triệu chứng, một số hóa dược dùng chữa nguyên nhân vì có tác dụng đặc hiệu đến mầm bệnh
Dùng hóa dược chữa bệnh phải tác động mạnh và sớm, vì nhiều loại vi khuẩn có thể thích ứng với liều lượng nhỏ Chúng có thể chống lại thuốc và tính chất quen thuốc được truyền cho những thế hệ sau Khi cần, có thể phối hợp nhiều loại hóa dược để tăng hiệu quả điều trị, vì nếu một loại thuốc chưa
có tác dụng đến mầm bệnh thì có loại thuốc khác có tác dụng tốt hơn
Hóa dược có thể đưa vào cơ thể bằng nhiều đường: dưới da, tiêm tĩnh mạch, bắp thịt; có thể cho uống hoặc đưa thẳng vào ruột Trong thú y thường tiêm thuốc dưới da hoặc tĩnh mạch Tiêm dưới da khi thuốc không kích thích
tế bào dưới da, không gây phù, áp xe, hoại tử, không gây phản ứng dưới da Chỉ tiêm tĩnh mạch khi không còn đường tiêm nào tốt hơn, hoặc khi cần thuốc lan nhanh trong cơ thể và khi mầm bệnh nằm trong máu
+ Dùng kháng sinh: Kháng sinh là những thuốc đặc hiệu có tác dụng ngăn cản sự sinh sản của vi khuẩn hoặc tiêu diệt vi khuẩn Tuy nhiên sử dụng kháng sinh có thể gây nhiều tai biến do thuốc có tính độc, do phản ứng dị ứng,
do một lúc tiêu diệt nhiều vi khuẩn làm giải phóng một lượng lớn nội độc tố, làm giảm phản ứng miễn dịch của cơ thể (do làm giảm số lượng kháng nguyên phòng bệnh và do kháng sinh có thể tiêu diệt cả các vi khuẩn có ích cho cơ thể) Việc dùng kháng sinh bữa bãi còn gây nên hiện tượng kháng thuốc, làm giảm phản ứng miễn dịch của cơ thể (do làm giảm số lượng kháng nguyên phòng bệnh và do kháng sinh có thể tiêu diệt cả các vi khuẩn có ích
Trang 27cho cơ thể) Việc dùng kháng sinh bữa bãi còn gây nên hiện tượng kháng thuốc, làm giảm thấp tác dụng chữa bệnh của kháng sinh Vì vậy, khi dùng thuốc cần theo những nguyên tắc sau đây:
- Phải chẩn đoán đúng bệnh để dùng đúng thuốc Dùng sai thuốc sẽ không chữa khỏi bệnh mà còn làm cho việc chẩn đoán bệnh (tìm mầm bệnh)
- Phải tăng cường sức đề kháng của cơ thể như nuôi dưỡng tốt, dùng thêm vitamin, tiêm nước sinh lý …
2.2.4 Một số bệnh thường gặp trên gà trong thời gian thực tập
2.2.4.1 Bệnh Đầu đen (Histomonosis)
- Nguyên nhân: bệnh do đơn bào Histomonas meleagridis (H meleagridis)
gây ra ở gà
- Động vật cảm thụ: Trong tự nhiên bệnh đã phát ra hầu hết các loại gia
cầm và hoang cầm như: gà Tây, gà ta, chim trĩ, chim công, chim câu, chim sẻ, chim cút, gà lôi, đà điểu, vịt, ngan… Trong đó, theo Lotfi A R và cs (2012) [27] cho biết: gà Tây và gà là loại gia cầm mẫn cảm nhất, tỷ lệ mắc, ốm, chết cao
nhất so với các loại gia cầm và hoang cầm khác
- Đường lây nhiễm: Histomonas meleagridis thâm nhập vào cơ thể gà
bằng hai đường cơ bản: đó là đường miệng và lỗ huyệt Trong tự nhiên gà bị
nhiễm Histomonas meleagridis chủ yếu qua đường tiêu hóa
Trang 28- Cơ chế sinh bệnh: Các H meleagridis khi vào trong cơ thể sẽ nhanh
chóng bám vào niêm mạc dạ dày, ruột và di hành đến các tế bào biểu mô ở đoạn hồi tràng đặc biệt là manh tràng Tại đây, chúng chui vào ký sinh trong các tế bào đích và sinh trưởng, phát triển rất nhanh theo nguyên tắc trực phân
và chỉ trong thời gian rất ngắn chúng đã tăng lên với số lượng khổng lồ, dẫn
đến các tế bào biểu mô đích bị phá vỡ và giải phóng ra hàng loạt các H
meleagridis thế hệ mới gọi là thể phân lập 1 Các thể phân lập 1 này nhanh
chóng thâm nhập vào các tế bào biểu mô mới và tiếp tục sinh trưởng, phát triển để tạo ra các thể phân lập thế hệ 2, 3… Về bản chất quá trình này của
bệnh do H meleagridis gây ra hoàn toàn có cơ chế sinh bệnh và tác hại của
bệnh giống hệt như bệnh cầu trùng (Nguyễn Thị Liên Hương, 2016) [34]
- Triệu chứng của bệnh
Theo Lê Văn Năm (2010) [16], bệnh xảy ra hết sức đột ngột, gà đột nhiên
ủ rũ và rúc đầu vào dưới cánh, đứng dạng rộng chân, sã cánh, xù lông, bỏ ăn, sốt cao 43 - 44oC, tiêu chảy phân vàng lẫn bọt màu lưu huỳnh, nhưng đôi khi là phân vàng xanh, vàng trắng lẫn máu Da mép, da vùng đầu, mào, tích nhanh chóng có màu xám xanh rồi chuyển sang xanh đen hoặc thâm đen, nhìn thấy rõ nhất là ở gà Tây, từ đây bệnh có tên là bệnh đầu đen (Black Head)
- Bệnh tích của bệnh
Bệnh tích bệnh do Histomonas tập trung chủ yếu ở manh tràng và gan
Manh tràng bị viêm sưng, thành manh tràng dày lên gấp nhiều lần Sau
đó trong dịch tiết có hồng cầu, bạch cầu, ký sinh trùng và chất dịch từ thức ăn tích lại tạo thành kén rắn chắc, màu trắng giống như pho mát Đôi khi còn thấy manh tràng bị viêm loét, thủng, rò rỉ chất chứa gây viêm phúc mạc
Tổn thương gan thường bắt đầu vào ngày thứ 10 Gan sưng to cực đại, gấp 2 - 3 lần bình thường, mềm nhũn và nhìn thấy rất nhiều ổ viêm xuất huyết, hoại tử trên bề mặt gan Lúc đầu trên bề mặt gan có các đốm đỏ thẫm
Trang 29làm cho gan lỗ chỗ như đá hoa cương, sau đó biến thành ổ hoại tử màu trắng hình hoa cúc như ổ lao hoặc như khối u của bệnh marek Về sau các ổ viêm loét hoại tử có màu trắng, xám đỏ, đặc nhưng lõm ở giữa Chúng có hình tròn, rìa mép ổ viêm có hình răng cưa Với độ lớn rất khác nhau, nhưng chủ yếu to
từ 1 - 2 cm, khi cắt đôi ổ loét ta thấy chúng có hình nón chứa đầy chất chứa đặc quánh
Nếu lấy chất chứa xung quanh ổ loét để xét nghiệm sẽ thấy chúng gồm các tế
bào bạch cầu, đại thực bào, đơn bào và ký sinh trùng Histomonas còn sống
Các tổn thương ở các cơ quan khác như túi Fabricius, phổi, lá lách,
tuyến tụy, thận, dạ dày tuyến và màng treo ruột đôi khi có thể xảy ra dưới dạng các ổ hoại tử tròn, màu trắng hoặc màu vàng (Shivaprasaud H L và cs, 2002) [31]
* Chẩn đoán bệnh
- Với gà còn sống
Hiện nay, ở các cơ sở chăn nuôi, việc chẩn đoán đối với gà còn sống chủ yếu dựa vào các triệu chứng của bệnh (xù lông, đứng nhắm mắt, ăn ít, lười vận động, thường đứng giấu đầu dưới cánh, da vùng đầu sạm màu, đi ỉa phân màu vàng lưu huỳnh…) Trong đó, triệu chứng điển hình nhất là gà đi ỉa phân màu vàng lưu huỳnh, da vùng đầu xanh xám, thậm chí xanh đen (Trương Thị Tính, 2016) [18]
- Với gà đã chết
Phương pháp chẩn đoán sau khi gia cầm chết là phương pháp chính xác nhất Việc chẩn đoán được tiến hành qua phương pháp mổ khám, kiểm tra bệnh tích kết hợp với việc lấy các cơ quan nội tạng như gan, manh tràng để
tìm đơn bào H meleagridis ký sinh
Tiến hành mổ khám gà chết do Histomonosis, quan sát thấy ở gan và
manh tràng bị tổn thương nặng, bệnh tích điển hình của bệnh là: gan to gấp 2
Trang 30- 3 lần, bề mặt gan có những ổ hoại tử lỗ chỗ như đá hoa cương hoặc ổ hoại tử hình hoa cúc màu trắng hoặc vàng nhạt (Trương Thị Tính và cs, 2015) [17]
* Biện pháp phòng, trị bệnh
- Phòng bệnh:
Để phòng bệnh Histomonosis,Thực hiện tốt vệ sinh phòng bệnh: Đảm
bảo thời gian trống chuồng sau mỗi lứa gà, không nuôi chung gà tây với các giống gà khác (Nguyễn Thị Liên Hương, 2016) [34] Thường xuyên quét dọn,
vệ sinh khu vực chăn nuôi Chia khu vực chăn nuôi thành nhiều ô, thực hiện nuôi luân phiên gà trên các ô, tiến hành làm sạch, khử trùng tiêu độc ô chuồng
vừa nuôi, để trống chuồng một thời gian dài giúp phòng bệnh Histomonosis
có hiệu quả Thức ăn và nước uống phải được vệ sinh sạch sẽ, thiết kế vị trí
để sao cho không lây nhiễm phân vào thức ăn, nước uống của gà
H meleagridis có thể tồn tại 2 - 3 năm trong trứng của giun kim, gà ăn
phải trứng giun kim có chứa H meleagridis sẽ bị bệnh, do đó cần hạn chế cho
gà tiếp xúc với đất, nên nuôi gà trên nền bê tông
Hàng tuần cần phun thuốc khử trùng chuồng trại, cuốc xới vườn rồi rắc vôi bột để diệt trứng giun kim
- Trị bệnh
Ở Hoa Kỳ, Dimetridazole và Ipronidazole là 2 loại thuốc điều trị
Histomonosis hiệu quả Cả hai đều là thuốc thuộc nhóm Nitroimidazoles Tuy
nhiên, những năm 1990 các nhà quản lý thực phẩm và thuốc ở Hoa Kỳ đã có quyết định cấm sử dụng 2 sản phẩm này vì thuốc tồn dư lâu trong sản phẩm
và có thể gây ung thư Nitarsone, một hợp chất chứa asen, có hiệu quả trong ngăn ngừa bệnh đầu đen khi sử dụng liên tục trong thức ăn, nhưng đây là một loại thuốc đắt tiền
Hiện tại, chưa có loại hóa dược đặc hiệu nào điều trị đầu đen thực sự có hiệu quả cao
Trang 312.2.4.2 Bệnh viêm đường hô hấp mãn tính (Chonic Respiatory Disease - CRD)
- Đặc điểm của bệnh: Bệnh CRD - còn gọi là bệnh hô hấp mãn tính - là
một bệnh truyền nhiễm của nhiều loài gia cầm, trong đó phổ biến nhất là ở gà tây Bệnh gây viêm thanh dịch có fibrin ở niêm mạc mũi, niêm mạc đường hô hấp trên và các thành túi hơi
- Nguyên nhân: Vi khuẩn Mycoplasma gallisepticum gây nên, chúng ít
mẫn cảm với kháng sinh thông thường nên điều trị phải lựa chọn, và chúng có nhiều serotype khác nhau có loại gây viêm đường hô hấp, có loại gây viêm khớp, có loại gây viêm túi khí
- Sức đề kháng: Mycoplasma có sức đề kháng rất yếu, ngoài thiên nhiên
nó bị tiêu diệt rất nhanh Các chất sát trùng thông thường cũng dễ dàng tiêu diệt Nó có khả năng tồn tại trong phân, chất độn chuồng ẩm ướt khá lâu Đặc
biệt là Mycoplasma có sức đề kháng cao với kháng sinh như: Pinicillin và
Thalium axetat
- Loài mắc bệnh: Trong thiên nhiên gà và gà tây dễ mắc bệnh Bồ câu,
vịt, ngan, ngỗng ít bị bệnh hơn Thường gà lớn và gà đẻ tỷ lệ mắc bệnh cao hơn gà con nhưng tỷ lệ chết thấp hơn Gà nuôi theo hướng công nghiệp bị bệnh nhiều hơn gà nuôi gia đình vì mật độ gia cầm cao rất thuận tiện cho việc lan truyền bệnh theo đường hô hấp
- Đường lây nhiễm: Mầm bệnh lấy trực tiếp từ ngoài không khí (do gà
bệnh hắt hơi sổ mũi bắn ra) vào cơ thể gà khoẻ mạnh qua đường hô hấp Căn bệnh có khả năng truyền qua thai trứng, nên trứng đẻ ra từ đàn gà bệnh có ý nghĩa về mặt dịch tễ rất quan trọng Các nghiên cứu cho thấy mầm bệnh xâm nhập vào trứng không phải từ buồng trứng gà bệnh mà từ ống dẫn trứng trong quá trình tạo vỏ cứng Gà con nở ra từ trứng bị bệnh sẽ phát bệnh và lây lan
Gà trống bị bệnh có khả năng truyền bệnh sang gà mái qua đường sinh dục
- Cơ chế sinh bệnh: Sau khi mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể gia cầm, nó
Trang 32ký sinh và gây viêm nhẹ niêm mạc đường hô hấp, niêm mạc mũi và các xoang quanh mũi, thành túi hơi Nếu sức đề kháng của gia cầm tốt thì quá trình viêm nhẹ có khi không nhìn thấy Nếu sức đề kháng giảm sút bệnh sẽ nặng hơn và khi này các vi khuẩn khác có sẵn trong đường hô hấp sẽ kết phát gây bệnh, gây viêm đường hô hấp nặng, niêm mạc đường hô hấp bị tổn thương con vật gầy, kiệt sức dần rồi chết
- Triệu chứng của bệnh
Gà con những ngày đầu bị bệnh thấy dịch chảy ra ở mũi, mắt, lúc đầu trong sau đặc lại và nhầy trắng Gà ho, thở khò khè về đêm, ăn ít, gầy Ở gà lớn thở khò khè, chậm lớn, đẻ giảm, trứng đổi màu, vỏ xù xì
- Bệnh tích của bệnh
Bệnh cấp tính ở xoang mũi và khí quản chứa đầy dịch viêm keo nhầy màu trắng hơi vàng, màng túi khí trắng đục Bệnh mạn tính thì màng túi khí
dầy và đục trắng như chất bã đậu Nếu kế phát bệnh E coli thì bề mặt gan,
màng ngoài bao tim và màng bụng tăng sinh, viêm dính vào gan, tim, ruột
- Chẩn đoán bệnh
Chẩn đoán dựa vào đặc điểm dịch tễ và triệu trứng lâm sàng của gà Cần chẩn đoán phân biệt với 1 số bệnh:
+ Bệnh tụ huyết trùng gia cầm: thường xảy ra ở gia cầm lớn và vào
những khi thời tiết thay đổi, vi khuẩn tác động chủ yếu đến bộ máy hô hấp gây khó thở bại huyết và chết rất nhanh Ngoài ra còn có các bệnh tích đặc trưng là: Xuất huyết lớp mỡ vành tim và cơ tim, gan có những điểm hoại tử nhỏ, xoang ngực, xoang bao tim tích nước vàng Gia cầm chết nhanh sau những tác động mạnh
+ Bệnh Newcastle: Xác chết gầy, cũng có triệu chứng hắt hơi, sổ mũi
nhưng gia cầm còn có triệu chứng thần kinh, đi đứng không vững thức ăn không tiêu Bệnh tích đặc trưng ở đường tiêu hoá: viêm xuất huyết, loét ruột, dạ
Trang 33dày cơ và dạ dày tuyến
+ Bệnh viêm thanh khí quản truyền nhiễm: Chỉ xảy ra ở gà đẻ (5 - 12
tháng), gà con không bị bệnh, bệnh cũng có những triệu chứng hô hấp nhưng không có bệnh tích ở buồng trứng, không viêm mắt, bệnh rất khó chẩn đoán
+ Bệnh nấm phổi: Chủ yếu ở gà con, phổi gà bệnh có những u nấm màu
vàng xám to nhỏ không đều
- Phòng bệnh:
+ Đối với trứng giống: Nhúng trứng vào dung dịch kháng sinh gồm một
trong các thuốc sau: Tylosin 2.500 mg/ lít nước, Tiamulin 1.000 mg/ lít nước, Gentamycin 2.500 mg/ lít nước Trứng nhúng 10 phút trước khi ấp
- Điều trị: Sử dụng một trong những thuốc sau để điều trị:
+ Tylosin 98 % Liều dùng 1g/ 2 lít nước hoặc 10 kg TT
+ Timicosin 25 % Liều dùng: 1g/ 4 - 5 lít nước hoặc 20 - 25kg TT
+ Flor 20 % Liều dùng: 1g/ 2 - 3 lít hoặc 10 - 15kg TT
+ Doxy 50 % Liều dùng: 1g/ 5 - 6 lít hoặc 25 - 30kg TT
Hoà nước cho uống hoặc trộn cám, dùng liên tục 5 - 7 ngày
Kết hợp:
+ Bromhexin liều dùng 1 - 2g/ 1 lít nước
+ Anagin liều dùng 1 - 2g/ 1 lít nước
Ngoài ra nếu dùng Tylosin phòng bệnh 1 g/ 4 lít và chữa dùng liều 1 g/ 2 lít nước
Các thuốc khác cũng tốt như Gentamycin, Gentadox, Tetramycin Kết