TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HOÀNG VĂN TÚ Tên chuyên đề: ÁP DỤNG QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG TRỊ BỆNH Ở ĐÀN LỢN NÁI VÀ LỢN CON THEO MẸ TẠI TRẠI LỢN CỦA CÔNG TY TNHH MTV CHĂN NUÔ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
HOÀNG VĂN TÚ
Tên chuyên đề:
ÁP DỤNG QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG TRỊ BỆNH Ở ĐÀN LỢN NÁI VÀ LỢN CON THEO MẸ TẠI TRẠI LỢN CỦA CÔNG TY TNHH MTV CHĂN NUÔI
HÒA PHÁT - BẮC GIANG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, em xin gửi lời cảm ơn tới Ban Giám Hiệu Trường Đại Học Nông lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi thú y và các thầy cô giáo đã truyền đạt cho em những kiến thức chuyên ngành trong suốt quá trình học tập vừa qua Đây là những kiến thức tạo cơ sở cho em ứng dụng và phát triển trong sự nghiệp của em sau này
Đặc biệt, em xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn
Văn quang và anh Đậu Bá Phi trưởng trại chăn nuôi lợn công ty TNHH MTV
chăn nuôi Bắc Giang đã tạo điều kiện, tận tình và trực tiếp hướng dẫn em thực hiện thành công khóa luận này
Đồng thời, em xin bày tỏ lòng cảm ơn trân thành tới các lãnh đạo trại Bầu thuộc xã Long Sơn, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang, cùng toàn thể anh chị quản lý, kỹ sư, công nhân trong trại đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ em hoàn thành công việc trong quá trình thực tập của mình
Cuối cùng, em xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè
và những người thân luôn động viên, giúp đỡ em trong suốt thời gian hoàn thành khóa luận
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2020
Sinh viên
Hoàng Văn Tú
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
Để hoàn thành chương trình đào tạo của nhà trường, thực hiện phương châm
“Học đi đôi với hành, lý thuyết gắn liền với thực tiễn ”, thực tập tốt nghiệp là
giai đoạn cuối cùng trong toàn bộ chương trình học tập của tất cả các trường Đại học nói chung và trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên nói riêng
Giai đoạn thực tập chiếm một vị trí hết sức quan trọng đối với mỗi sinh viên trước khi ra trường Đây là khoảng thời gian để sinh viên củng cố và hệ thống lại toàn bộ kiến thức đã học, đồng thời giúp sinh viên làm quen với thực tiễn sản xuất, từ đó nâng cao trình độ chuyên môn, nắm được phương thức tổ chức và tiến hành công việc nghiên cứu, ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thực tiễn sản xuất, góp phần vào sự nghiệp phát triển đất nước ngày càng đi lên
Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân và được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, được
sự phân công của cô giáo hướng dẫn và sự tiếp nhận của trại Bầu, xã Long
Sơn, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang, chúng tôi đã tiến hành đề tài: “Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn nái và lợn con theo mẹ tại trại lợn của công ty TNHH MTV chăn nuôi Hòa Phát tỉnh Bắc Giang”
Do bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, kiến thức chuyên môn chưa sâu, kinh nghiệm thực tế chưa nhiều và thời gian thực tập còn ngắn nên trong bản khóa luận này của em không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Em kính mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của thầy, cô giáo cùng các bạn đồng nghiệp để bản khóa luận của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Nhiệt độ quay úm lợn con như sau 7
Bảng 3.1 Khẩu phần cho lợn nái nuôi tại trại 38
Bảng 3.2 Những biểu hiện khi lợn sắp đẻ 39
Bảng 3.3: Thực hiện phun sát trùng toàn trại 42
Bảng 3.4 Công tác phòng bệnh bằng vắc xin cho đàn lợn tại trại 43
Bảng 4.1 Cơ cấu đàn lợn nái sinh sản của trại từ tháng 12/2019 đến tháng 5/2020 49
Bảng 4.2 Kết quả thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng đàn lợn 50
Bảng 4.3 Kết quả áp dụng lịch trình chuồng trại 51
Bảng 4.4 Kết quả thực hiện công tác vệ sinh chăn nuôi 52
Bảng 4.5 Kết quả thực hiện phòng bệnh cho đàn lợn con nuôi tại trại 53
Bảng 4.6 Kết quả phòng bệnh cho đàn lợn nái nuôi con bằng vắc xin 54
Bảng 4.7 Kết quả điều trị bệnh trên đàn lợn con 56
Bảng 4.8 Kết quả điều trị bệnh trên đàn lợn nái 57
Bảng 4.9 Kết quả thực hiện một số thao tác khác trên đàn lợn tại trang trại 59
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
HTNC : Huyết thanh ngựa chửa
Hội chứng MMA : Tên gọi chung của các triệu chứng bệnh thường xảy ra
trên heo nái bao gồm viêm vú, viêm tử cung, mất sữa
PRRS : Porcine reproductive and respiratory syndrome - Hội
chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn
PS : Kí hiệu của đời bố mẹ
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI NÓI ĐẦU ii
DANH MỤC CÁC BẢNG iii
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT iv
MỤC LỤC v
Phần 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 2
1.2.1 Mục tiêu 2
1.2.2 Yêu cầu 2
Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3
2.1.1 Cơ cấu tổ chức của trang trại 3
2.2 Cơ sở khoa học của đề tài 8
2.2.1 Đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái 8
2.2.2 Những hiểu biết về quy trình chăm sóc và nuôi dưỡng lợn nái sinh sản 15
2.2.3 Những hiểu biết về công tác phòng trị, bệnh cho lợn 21
2.2.4 Những bệnh thường gặp ở lợn nái và lợn con 25
2.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 33
2.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 33
2.3.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 34
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 36 3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 36
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 36
3.3 Nội dung tiến hành 36
Trang 73.4 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 36
3.4.1 Các chỉ tiêu thực hiện 36
3.4.2 Phương pháp thực hiện 37
Bảng 3.1 Khẩu phần cho lợn nái nuôi tại trại 38
Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 49
4.1 Kết quả áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho lợn nái sinh sản và lợn con tại trang trại lợn của công ty Hoà Phát tỉnh Bắc Giang 49
4.1.1 Cơ cấu đàn lợn nái sinh sản của trại 49
4.1.2 Kết quả thực hiện chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn nuôi tại trại 50
4.2 Kết quả thực hiện quy trình phòng bệnh cho đàn lợn 51
4.2.1 Thực hiện phòng bệnh bằng phương pháp vệ sinh sát trùng chuồng trại 51
4.2.2 Kết quả phòng bệnh cho đàn lợn tại trại bằng thuốc và vắc xin 53
4.2.3 Kết quả điều trị bệnh cho đàn lợn nuôi tại trại 55
4.3 Kết quả thực hiện một số công tác khác tại trại 58
Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 60
5.1 Kết luận 60
5.2 Đề nghị 61
TÀI LIỆU THAM KHẢO 62
Trang 8Người nông dân Việt Nam đã gắn bó với ngành chăn nuôi lợn từ lâu Từ việc chăn nuôi nhỏ lẻ tại các hộ gia đình đến những trang trại chăn nuôi lớn từ việc tận dụng các phế phụ phẩm nông nghiệp đến phương pháp chăn nuôi thâm canh để nâng cao thu nhập của người dân Chăn nuôi lợn ở nước ta đang được chú trọng và phát triển, có tầm quan trọng đặc biệt trong đời sống của người dân Hiện nay ngành chăn nuôi lợn đã cung cấp 70 - 80% nhu cầu về thịt cho thị trường trong nước cũng như xuất khẩu, đồng thời cung cấp nguồn phân bón cho ngành trồng trọt và các sản phẩm phụ cho ngành công nghiệp chế biến
Muốn chăn nuôi lợn đạt hiệu quả cao trong kinh tế thì cần phải có con giống tốt Muốn có giống lợn tốt thì chăn nuôi lợn nái sinh sản là một khâu có vai trò quan trọng, vì ngoài việc chọn được giống lợn có khả năng sinh trưởng nhanh, tiêu tốn thức ăn thấp, tỷ lệ thịt nạc cao, thì việc nuôi dưỡng chăm sóc
và quản lý dịch bệnh cho lợn nái và lợn con theo mẹ là đặc biệt quan trọng Nếu nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái và lợn con không đúng quy trình, kỹ thuật thì chất lượng đàn lợn con sẽ kém, do đó ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh trưởng của lợn con ở giai đoạn sau và hiệu quả chăn nuôi sẽ thấp
Trang 9Trong quá trình chăm sóc nuôi dưỡng đàn lợn nái sau khi đẻ và lợn con theo mẹ còn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là những dịch bệnh thường xuyên xảy ra ở lợn nái nuôi con sau khi đẻ và lợn con theo mẹ Khi bệnh dịch xảy ra đối với lợn mẹ và lợn con trong giai đoạn này đã làm cho chất lượng lợn con cai sữa kém, ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh trưởng của lợn sau này Vì vậy, áp dụng quy trình phòng và trị bệnh cho lợn nái và lợn con theo mẹ hiệu quả là cần thiết
Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn sản xuất, em tiến hành thực hiện đề tài: “Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và trình phòng trị bệnh ở đàn lợn nái
và lợn con theo mẹ tại trại lợn của công ty TNHH MTV chăn nuôi Hòa Phát
- Bắc Giang”
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài
1.2.1 Mục tiêu
- Nắm được quy trình chăm sóc lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ
- Nắm được các bệnh hay xảy ra đối với lợn nái sinh sản và lợn con theo
mẹ nuôi tại trại
- Đánh giá hiệu quả của quy trình phòng, trị bệnh sinh sản cho đàn lợn nái, một số bệnh trên đàn lợn con nuôi tại trại
Trang 10Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập
2.1.1 Cơ cấu tổ chức của trang trại
2.1.1.1 Cơ cấu tổ chức của trang trại
2.1.1.2 Cơ sở vật chất của trang trại
Trang trại chăn nuôi trại Bầu có tổng diện tích là 67ha nằm trên địa bàn
xã Long Sơn, có địa hình vô cùng thuận lợi thuận tiện cho việc đi lại, vận chuyển Để đảm bảo công tác phát triển sản xuất chăn nuôi và sinh hoạt của công nhân trại được trang bị đầy đủ cơ sở vật chất kỹ thuật gồm:
Khu nhà điều hành, khu nhà ở cho quản lý, kỹ sư, công nhân, bếp ăn tập thể, các công trình phục vụ cho công nhân và các hoạt động khác của trại Khu chăn nuôi có hàng rào thép gai bọc xung quanh, hệ thống camera, phòng sát trùng và có cổng vào riêng Chuồng trại được quy hoạch bố trí xây dựng phù hợp với hướng chăn nuôi công nghiệp hiện đại, hệ thống chuồng nuôi lồng, nền sàn bê tông cho lợn nái, lợn đực, sàn nhựa cho lợn con cùng với hệ thống vòi nước tự động và máng ăn Chuồng nuôi được xây dựng đảm bảo đủ cho chăn nuôi một cách an toàn sinh học cao nhất, cơ bản bao gồm:
Trang 11+ Một chuồng đực giống: bao gồm 24 ô để nuôi lợn đực và 1 ô để khai thác tinh dịch
+ Hai chuồng phối: được thiết kế để cho lợn nái chờ phối, có khu thử lợn, ép lợn và dãy có khu để làm nơi thụ tinh nhân tạo cho lợn nái
+ Ba chuồng nái chửa: mỗi chuồng gồm 6 dãy mỗi dãy có 65 ô để nuôi
và chăm sóc lợn nái trong thời gian mang thai được sắp xếp theo các kỳ mang thai khác nhau thuận tiện cho việc quản lý
+ Sáu chuồng nái đẻ: mỗi chuồng chia làm 2 khu A và khu B, mỗi khu
có 4 dãy, mỗi dãy có 24 ô chuồng được thiết kế sàn nhựa cho lợn con và sàn
bê tông cho lợn mẹ
+ Bốn chuồng cai sữa: mỗi chuồng chia làm 2 khu A và B, mỗi khu 2 dãy, mỗi dãy 24 ô
+ Một chuồng phát triển hậu bị: cách ly dùng để nuôi lợn hậu bị được nhập từ khu nuôi lợn giống
Hệ thống chuồng được xây dựng khép kín hoàn toàn, đầu chuồng nuôi là
hệ thống giàn mát, cuối chuồng nuôi được thiết kế nắp đặt quạt hút gió, có hệ thống điện chiếu sáng và bóng đèn hồng ngoại để sưởi ấm, lồng úm cho lợn con, đảm bảo thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông bằng cách điều chỉnh hệ thống quạt, giàn mát và bóng đèn sưởi ấm trong chuồng Mỗi chuồng đều được lắp đặt máy bơm nước để tắm cho lợn và vệ sinh chuồng trại hằng ngày, mỗi chuồng đều có hệ thống thoát phân và nước thải Bên cạnh chuồng đực có xây dựng phòng pha chế tinh lợn với đầy đủ tiện nghi như: Kính hiển vi, nhiệt kế, đèn cồn, máy ép ống tinh, tủ lạnh bảo quản tinh, nồi hấp, panh, kéo… Trong khu chăn nuôi, đường đi lại giữa các ô chuồng, các khu khác đều được đổ bê tông và luôn được vệ sinh dội hàng ngày, trước cửa mỗi chuồng đều có chậu nước sát trùng Nhìn chung khu vực chuồng nuôi được lắp đặt xây dựng khá hợp lý và thuận lợi cho việc chăm sóc, đi lại, đuổi lợn giữa các dãy chuồng
Trang 12Tại cổng vào khu chăn nuôi trại có thiết kế xây dựng 4 phòng tắm sát trùng cho kỹ thuật và công nhân trước khi ra, vào chuồng chăm sóc lợn, 2 kho thuốc, 2 kho UV khử dụng cụ, 2 kho chứa vôi với formol, 1 kho thức ăn, 4 phòng vệ sinh
Một số thiết bị khác cũng được trang bị đầy đủ: Tủ lạnh bảo quản vắc xin, tủ thuốc để bảo quản và dự trữ thuốc của trại, xe chở thức ăn từ nhà kho xuống các dãy chuồng, máy nén khí phun sát trùng di động khu vực trong và ngoài chuồng
2.1.1.3 Tình hình sản xuất của trang trại
- Công tác chăn nuôi
Nhiệm vụ chính của trang trại là sản xuất con giống và chuyển giao tiến
bộ khoa học kỹ thuật Hiện nay trong trại có 28 con lợn đực giống được chuyển về cùng một đợt, các lợn đực giống này được nuôi nhằm mục đích kích thích động dục cho lợn nái và khai thác tinh để thụ tinh nhân tạo Tinh lợn được khai thác từ 3 giống lợn cụ kị Landrace, Yorkshire, Duroc Lợn nái được phối 2 - 3 lần và được luân chuyển giống cũng như con đực
Thức ăn cho lợn nái là thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh có chất lượng cao, được Công ty Chăn nuôi Hòa Phát Việt Nam cấp cho từng đối tượng lợn của trại
- Công tác vệ sinh thú y của trại
Công tác vệ sinh phòng bệnh rất quan trọng và nó có tác dụng, giảm nguy cơ xảy ra dịch bệnh, tăng sức đề kháng cho vật nuôi, hạn chế những
mầm bệnh có tính chất lây lan, từ đó sẽ phát huy tốt tiềm năng của giống
- Công tác vệ sinh
Chuồng trại được xây dựng theo hệ thống chuồng kín, thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông được hệ thống điều khiển về nhiệt độ, độ thông thoáng giúp cho vật nuôi được phát triển trong môi trường an toàn và sạch sẽ nhất, xung quanh các chuồng nuôi đều có hàng rào bảo vệ, che chắn côn trùng như: cóc, chuột… không thể vào chuồng Trước cửa vào các khu có rắc vôi
Trang 13bột lên sẽ hạn chế được rất nhiều tác động của mầm bệnh bên ngoài đối với lợn nuôi trong chuồng Hàng ngày luôn có công nhân quét dọn vệ sinh chuồng trại, thu gom phân, nước tiểu, khơi thông cống rãnh, đường đi trong chuồng trại được quét dọn và dội vôi, phun thuốc sát trùng, hành lang đi lại được quét dọn và rắc vôi theo quy định Công nhân, kỹ sư, khách tham quan trước khi vào khu chăn nuôi đều phải đi qua vòi phun sát trùng tự động, tắm rửa sạch
sẽ, thay quần áo bảo hộ lao động
- Công tác chăm sóc nuôi dưỡng
Trong quá trình thực tập tại trại, tôi đã tham gia trực tiếp và hỗ trợ việc chăm sóc nái mang thai, chăm sóc nái đẻ, tham gia đỡ đẻ, chăm sóc cho đàn lợn con theo mẹ Quy trình chăm sóc nái mang thai, nái đẻ, đàn lợn con lợn
mẹ như sau:
Chăm sóc lợn mang thai
Việc quét dọn chuồng trại hàng ngày để đảm bảo chuồng luôn sạch và kiểm tra máng ăn, núm uống, quạt, dàn mát đảm bảo mọi thiết bị luôn hoạt động tốt, lau máng ăn hàng ngày, không để cám rơi vãi và ẩm mốc Kiểm tra lợn nái sau phối 3 tuần - 6 tuần - 9 tuần, bằng cách quan sát bằng mắt thường kết hợp với lùa lợn đực đi kiểm tra với lợn nái sau phối 3 tuần với lợn nái mang thai 6 tuần và 9 tuần kiểm tra bằng mắt thường kết hợp với máy siêu âm
Kiểm tra đo độ dày mỡ lưng vào ngày mang thai thứ 60 và 90 kết hợp với đánh giá điểm thể trạng, điều chỉnh thức ăn theo giai đoạn mang thai và theo kết quả kiểm tra Mùa đông phải tăng lượng thức ăn thêm
200 - 300 (gram/con/ngày) và thực hiện tiêm phòng đầy đủ các loại vắc xin theo quy trình
Điều chỉnh thức ăn giảm dần trước đẻ 4 ngày, mỗi ngày giảm 0,5 kg thức
ăn, ngày đẻ cho ăn 1 kg Cho ăn 2 lần/ngày vào 7h và 14h (Riêng mùa hè thời
Trang 14gian cho ăn sẽ điều chỉnh là 6h30 và 17h), căn cứ vào tình hình thực tế có thể
áp dụng chương trình cho ăn 1 lần/ngày
Trước ngày dự kiến đẻ 1 tuần tắm sạch nái bằng nước pha thuốc sát trùng loãng, tẩy nội ngoại ký sinh trùng sau đó chuyển sang chuồng chờ đẻ Giai đoạn mang thai rất cần môi trường sống yên tĩnh, tránh stress, hạn chế sự
di chuyển trong thời gian 1 tháng đầu tiên và 30 ngày cuối cùng của thai kỳ khi di chuyển phải nhẹ nhàng cẩn trọng
Chăm sóc lợn nái đẻ và lợn con lợn mẹ
Chuồng trại được vệ sinh cọ rửa sau mỗi lứa, sử dụng chút kiềm NaOH
và xà phòng để cọ rửa chuồng Ưu tiên sử dụng nước nóng và máy xịt rửa áp lực cao (Kacher) trong quá trình vệ sinh chuồng
Phun thuốc sát trùng chuồng nuôi, chỉ phun khi chuồng đã khô, phun lại lần 2 trước khi nhập lợn 3 ngày Dội vôi trắng đường đi, gầm chuồng, tường, kiểm tra và bảo dưỡng sửa chữa lại các thiết bị trong chuồng Thông rửa nước trong đường ống, không để lưu cữu, kiểm tra và liệt kê các vật dụng phục vụ cho lợn đẻ như: Dụng cụ, thuốc, thức ăn, vắc xin, lồng úm lợn, thảm…vv… Lắp lồng úm cho lợn con trước ngày dự kiến đẻ 2 ngày, lắp bóng úm và trải thảm úm trước đẻ 1 ngày Diện tích úm đảm bảo 0,07m2/con, lồng úm có cửa ra vào rộng 15cm, cao 25cm, úm kín tránh gió lùa Bật bóng úm hồng ngoại trước lúc lợn đẻ 15 phút, lợn nái sắp đẻ khi chuyển đến chuồng đẻ phải chắc chắn chuồng đẻ vận hành tốt và khô sạch Nhiệt độ chuồng nuôi phù hợp với lợn nái đẻ 18 - 22ºC, tốc độ gió từ 1,8 - 2,0 m/s, áp lực nước 4 lít/phút
Bảng 2.1 Nhiệt độ quay úm lợn con như sau
Trang 15Chăm sóc lợn con theo mẹ:
Lợn con sau khi sinh cần phải được bú sữa đầu càng sớm càng tốt, sữa đầu là loại thức ăn cho lợn con vô cùng quan trọng, nó cung cấp nguồn năng lượng tức thời cho lợn con và lượng kháng thể thụ động nhằm phòng chống các bệnh trong giai đoạn đầu đời Sữa đầu được tiết ra trong 3 ngày đầu và nó giảm nhanh sau 12h đầu, vì vậy cần giúp lợn con bú sữa đầu nhiều nhất trong 12h đầu tiên
Trường hợp ổ đẻ lớn cần phải chia nhóm bú, ưu tiên nhóm lợn con nhỏ
bú trước, sau 30 phút sẽ luân chuyển nhóm còn lại Những lợn con quá nhỏ cần sự chăm sóc đặc biệt và tách ghép đàn hợp lí, cần trợ giúp đến bầu vú mẹ Trường hợp lợn mẹ sau đẻ bị kiệt sức hoặc bị hội chứng MMA thì chuyển đàn lợn con cho bú sữa đầu của mẹ khác, ưu tiên lợn con được bú sữa đầu của lợn mẹ chính nó Bắt lợn vào lồng úm mỗi khi lợn nái đứng lên ăn uống và thả ra khi lợn mẹ nằm nhằm tập phản xạ có điều kiện, tránh bị mẹ đè Chăm sóc lợn mẹ: cho ăn tăng dần mỗi ngày thêm 0,5 kg, đến ngày thứ 7 sau đẻ lượng ăn đạt 6 kg/con/ngày Các ngày tiếp theo ăn tự do, bám sát theo công thức = 2 + 0,5 x số con Số lần ăn 3 - 4 lần/ngày, thời điểm ăn trong ngày phụ thuộc vào mùa
Kiểm tra lại núm uống tất cả các ô lợn nái đẻ nhằm đảm bảo nước uống sạch, đủ áp lực: lượng nước uống cho lợn nái trong giai đoạn nuôi con là 35 -
50 lít/ngày, thiếu nước cũng là nguyên nhân làm lợn nái ăn kém
Điều chỉnh tăng độ rộng chuồng cho nái nuôi con, giúp lợn nái thoải mái mỗi khi đứng lên nằm xuống Thời gian ăn của lợn nái khoảng 25 phút, cần chú ý kiểm tra máng ăn từng con để phát hiện lợn bỏ ăn, lợn ăn kém
2.2 Cơ sở khoa học của đề tài
2.2.1 Đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái
* Sự thành thục về tính:
Trang 16Tuổi thành thục về tính là tuổi mà con vật bắt đầu có phản xạ tính dục và
có khả năng sinh sản Khi gia súc đã thành thục về tính, bộ máy sinh dục đã phát triển hoàn thiện, dưới tác dụng của thần kinh nội tiết tố của con vật bắt đầu xuất hiện các phản xạ về sinh dục Con cái có hiện tượng động dục, con đực có phản xạ giao phối Khi đó các noãn bào của con cái chín và rụng trứng (lần đầu), con đực có phản xạ sinh tinh Đối với các giống gia súc khác nhau thì thời gian thành thục về tính cũng khác nhau: Lợn nội thường từ 4 - 5 tháng tuổi (120 - 150 ngày), ở lợn ngoại (180 - 210 ngày) Kết quả nghiên cứu của Phan Xuân Hảo và cs (2001) [9], cho biết lợn Landrace thành thục về tính là 213,1 ngày
Lợn cái có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự thành thục về tính như giống, chế độ dinh dưỡng, khí hậu, chuồng trại, trạng thái sinh lý của từng cá thể,… Giống: Lợn lai tuổi động dục đầu tiên muộn hơn so với lợn nội thuần, lợn lai F1 bắt đầu động dục lúc 6 tháng tuổi khi khối lượng cơ thể đạt 50 - 55
kg Lợn ngoại động dục lần đầu muộn hơn so với lợn lai vào lúc 6 - 7 tháng tuổi, khi lợn có khối lượng 65 - 68 kg, còn đối với lợn nội tuổi thành thục về tính từ 4 - 5 tháng tuổi
Chế độ dinh dưỡng: ảnh hưởng rất lớn đến tuổi thành thục về tính của lợn nái, thường những lợn được chăm sóc và nuôi dưỡng tốt thì tuổi thành thục về tính sớm hơn những lợn được nuôi trong điều kiện dinh dưỡng kém Lợn cái được nuôi trong điều kiện dinh dưỡng tốt sẽ thành thục ở độ tuổi trung bình 188,5 ngày (6 tháng tuổi) với khối lượng cơ thể là 80 kg và nếu hạn chế thức ăn thì sự thành thục về tính sẽ xuất hiện lúc 234,8 ngày (trên 7 tháng tuổi) và khối lượng cơ thể là 48,4 kg
Dinh dưỡng thiếu sẽ làm chậm sự thành thục về tính là do sự tác động xấu lên tuyến yên và sự tiết kích tố sinh dục nếu thừa dinh dưỡng cũng ảnh hưởng không tốt tới sự thành thục là do sự tích lũy mỡ xung quanh buồng trứng và cơ quan sinh dục làm giảm chức năng bình thường của chúng Mặt
Trang 17khác, do béo quá ảnh hưởng tới các hormone oestrogen và progesterone trong máu, làm cho hàm lượng của chúng trong cơ thể không đạt mức cần thiết để thúc đẩy sự thành thục
+ Mùa vụ và thời kỳ chiếu sáng là yếu tố ảnh hưởng rõ rệt tới tuổi động dục Mùa Hè lợn cái hậu bị thành thục chậm hơn so với mùa Thu - Đông, điều
đó có thể do ảnh hưởng của nhiệt độ trong chuồng nuôi gắn liền với mức tăng trọng thấp trong các tháng nóng bức
+ Ngoài các nhân tố trên, chu kỳ động dục còn chịu tác động của một
số nhân tố khác như: Nhiệt độ, chế độ chiếu sáng, pheromone, tiếng kêu của con đực
Sự thành thục về tính được nhận biết bằng sự biến đổi bộ phận ngoài của
cơ quan sinh dục và sự biến đổi của thần kinh Đầu tiên hai mép âm môn sưng
đỏ và có dịch chảy ra, sau chuyển sang đỏ thẫm và dịch keo dính lại Tương ứng là sự biến đổi về thần kinh lúc đầu hưng phấn sau chuyển sang giai đoạn
mê ì Cùng với sự biểu hiện sinh dục bên ngoài ở bên trong buồng trứng cũng
có sự biến đổi, các noãn bào nổi trên bề mặt buồng trứng và chín, niêm mạc
tử cung tăng sinh, cổ tử cung mở dần kèm lợn tiết dịch
Tuổi động dục đầu tiên của nái hậu bị trung bình là 4 - 5 tháng tuổi nhưng tuổi phối giống lần đầu thích hợp là 7 - 8 tháng tuổi và tuổi đẻ lứa đầu
là 11 - 12 tháng tuổi
* Chu kỳ tính: khi gia súc thành thục về tính, những biểu hiện tính dục
được biểu hiện ra liên tục có tính chu kỳ, nó chấm dứt hoàn toàn khi cơ thể già yếu
Đây là một quá trình sinh lý phức tạp, sau khi cơ thể phát triển hoàn toàn, cơ quan sinh dục không có bào thai và không có hiện tượng bệnh lý thì bên trong buồng trứng các noãn bào phát triển, chín và nổi cộm lên bề mặt buồng trứng Khi noãn bào vỡ, trứng rụng gọi là sự rụng trứng, mỗi lần rụng
Trang 18trứng con vật có những biểu hiện tính dục ra bên ngoài gọi là động dục Do trứng rụng có tính chu kỳ nên động dục của gia súc cũng mang tính chu kỳ
Sở dĩ trứng rụng có tính chu kỳ: dưới sự điều khiển của thần kinh trung ương, tuyến yên tiết ra FSH tác động lên buồng trứng làm các noãn bao phát triển, trong khi đó LH làm trứng chín khi đạt đến tỷ lệ LH/FSH là 3:1 thì khi đó trứng sẽ rụng ra và hình thành thể vàng Thể vàng tồn tại cho đến khi gần đẻ nếu gia súc được thụ thai và nó chỉ tồn tại từ 3 - 15 ngày nếu trứng không được thụ tinh Sau đó thể vàng teo đi dưới tác dụng của PGF2α làm co mạch máu ngoại vi nuôi thể vàng, lúc này thể vàng rơi vào tình trạng không được cung cấp chất dinh dưỡng và bị tiêu đi trong vòng 24h Sau khi thể vàng teo biến dẫn đến kết quả làm hàm lượng progesteron giảm, lúc này FSH và LH được giải phóng làm trứng phát triển và chín, xuất hiện chu kỳ động dục tiếp theo
Một chu kỳ động dục được tính từ lần thải trứng trước đến lần thải trứng sau Các loài gia súc khác nhau thì thời gian hình thành chu kỳ là khác nhau, ở lợn thời gian hình thành một chu kỳ trung bình là 21 ngày biến động trong phạm
vi từ 18 - 25 ngày, khi tiến hành phối giống lợn đã có thai thì lợn không động dục lại Thời gian mang thai của lợn là 114 ngày, thời gian động dục trở lại là 7 ngày sau cai sữa, dao động từ 5 - 12 ngày
* Khoảng cách giữa các lứa đẻ:
Khoảng cách giữa các lứa đẻ là chỉ tiêu quan trọng đánh giá khả năng sinh sản của gia súc cái Đây là tính trạng bao gồm nhiều tính trạng tạo nên như: thời gian có chửa, thời gian nuôi con, thời gian cai sữa đến thụ thai lứa sau, do vậy khoảng cách lứa đẻ ảnh hưởng đến số con cai sữa/nái/năm Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy thời gian mang thai của lợn nái dao động không đáng kể (từ 113 - 115 ngày), đây là yếu tố ít biến đổi
Để rút ngắn khoảng cách các lứa đẻ ta chỉ có thể tác động rút ngắn thời gian bú sữa của lợn con bằng cách cai sữa sớm ở lợn con Để rút ngắn thời
Trang 19gian cai sữa, phải tập cho lợn con ăn sớm từ 5 ngày tuổi đến khi lợn con có thể sống bằng thức ăn được cung cấp, không cần sữa mẹ
Hiện nay các cơ sở chăn nuôi tập trung, thời gian cai sữa ở lợn con là 21 ngày, sau cai sữa 5 - 6 ngày nái mẹ động dục và được phối giống lại Như vậy khoảng cách các lứa đẻ trung bình là 140 ngày, một năm nái có thể sản xuất được 2,5 lứa
* Sự thành thục về thể vóc
Thành thục về thể vóc: Sự thành thục về thể vóc thường diễn ra chậm hơn sự thành thục về tính sau một thời kỳ sinh trưởng và phát triển đến một thời điểm nhất định con vật đạt tới mức độ trưởng thành về thể vóc
Thời gian thành thục về thể vóc của lợn là 7 - 9 tháng
* Tuổi động dục lần đầu (TĐDLĐ)
Là khoảng thời gian từ khi sơ sinh đến khi lợn hậu bị có biểu hiện động dục đầu tiên, tuổi động dục lần đầu khác nhau tùy theo giống và chế độ chăm sóc Các giống lợn có tuổi động dục lần đầu khác nhau Theo Phạm Hữu Doanh và Lưu Kỷ (2003) [4], tuổi động dục đầu tiên ở lợn nội (Ỉ, Móng Cái) rất sớm từ 4 - 5 tháng, khi khối lượng đạt từ 20 - 25 kg; ở lợn nái là F1 lúc 6 tháng tuổi, đạt 50 - 55 kg Lợn ngoại động dục muộn hơn (6 - 7 tháng) khi đạt 65- 80 kg
TĐDLĐ được tính theo công thức:
TĐDLĐ = ngày động dục lần đầu - ngày sinh của lợn nái
Chỉ tiêu này ở lợn Landrace là 219,4 ± 4,09 ngày (Phùng Thị Vân và cs., 2001) [26]
* Tuổi phối giống lần đầu (TPGLĐ)
Tuổi phối giống lần đầu của lợn cái hậu bị là một vấn đề cần được quan tâm, phải phối giống cho lợn cái hậu bị đúng thời điểm lợn đã thành thục về tính, có tầm vóc và sức khoẻ đạt yêu cầu, sẽ nâng cao được khả năng sinh sản của lợn nái và nâng cao được phẩm chất của đời sau Nếu phối giống quá sớm
Trang 20sẽ ảnh hưởng đến tầm vóc và sức khoẻ của lợn mẹ, nhưng thực tế đã chứng minh rằng, nếu phối giống quá muộn sẽ lãng phí về kinh tế ảnh hưởng đến sinh sản, phát dục của lợn cũng như hoạt động về tính của nó
* Chu kỳ động dục (ngày)
Động dục là một quá trình sinh lý được bắt đầu khi cơ thể đã thành thục
về tính, cứ sau một thời gian nhất định trong cơ thể nhất là cơ quan sinh dục của con cái có một số sự thay đổi như: Âm hộ, âm đạo, tử cung xung huyết, các tuyến sinh dục tăng cường hoạt động, trứng phát triển thành thục chín và rụng, niêm dịch trong đường sinh dục được phân tiết, con cái có phản xạ về tính, sự thay đổi đó xảy ra trong một thời gian lặp đi lặp lại có tính chu kỳ gọi
là chu kỳ tính (chu kỳ động dục)
Sinh sản của gia súc là một tiêu chuẩn để xác định giá trị của con vật Khả năng sinh sản biểu hiện qua nhiều chỉ tiêu: Đẻ nhiều con, nhiều lứa, tỷ lệ nuôi sống sau đẻ, sau khi cai sữa, tỷ lệ còi cọc, tỷ lệ dị hình, khuyết tật Khả năng sinh sản cũng liên quan đến các chỉ tiêu sớm thành thục, thời gian mang thai, số lần thụ tinh đạt kết quả Sau khi gia súc được sinh ra đến một giai đoạn nào đó cơ thể có những biến đổi chuẩn bị cho việc sinh sản, thời kỳ này gọi là thành thục về tính Trong điều kiện bình thường, sự thành thục về tính xuất hiện lúc 6 - 7 tháng tuổi đối với lợn ngoại Tuổi thành thục về tính chịu ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, thời gian chiếu sáng, chế độ dinh dưỡng, giống, tuổi gia súc
Chu kỳ tính dục: ở gia súc, việc giao phối bị hạn chế trong khoảng thời gian chịu đực trùng hợp với thời gian rụng trứng vì vậy việc nghiên cứu chu
kỳ tính dục sẽ giúp cho chúng ta xác định được thời điểm phối giống thích hợp, nâng cao được năng suất sinh sản của con cái Trung bình ở lợn chu kỳ động đực: 19 - 20 ngày, thời gian chịu đực: 48 - 72 giờ, thời điểm rụng trứng
là 35 - 45 giờ kể từ khi bắt đầu chịu đực Cho phối giống quá sớm hay quá muộn đều ảnh hưởng xấu đến tỷ lệ thụ thai và số con sinh ra/ổ
Trang 21Cơ chế động dục: cơ chế động dục của lợn nái: khi lợn nái đến tuổi thành thục về tính dục, các kích thích bên ngoài như ánh sáng, nhiệt độ, thức ăn, pheromone của con đực và các kích thích nội tiết đi theo dây thần kinh li tâm đến vỏ đại não qua vùng dưới đồi (hypothalamus) tiết ra kích tố FRF (folliculin releasing ractors), có tác dụng kích thích tuyến yên tiết ra FSH làm cho bao noãn phát dục nhanh chóng Trong quá trình bao noãn phát dục và thành thục, thượng
bì bao noãn tiết ra oestrogen chứa đầy trong xoang bao noãn làm cho lợn nái có biểu hiện động dục ra bên ngoài Chu kỳ động dục của gia súc được chia làm 4 giai đoạn ( Hoàng Toàn Thắng và Cao Văn, 2006) [24]
+ Giai đoạn trước động dục: Bao noãn phát triển, các tế bào vách ống dẫn trứng tăng sinh Hệ thống mạch quản trong dạ con phát triển, các tuyến trong dạ con bắt đầu tiết dưới tác dụng của hormone estrogen làm thay đổi của đường sinh dục: Tử cung, âm đạo, âm hộ bắt đầu xung huyết
+ Giai đoạn động dục: Bao noãn phát triển mạnh nổi lên bề mặt buồng trứng, bao noãn tiết nhiều estrogen và đạt cực đại Các thay đổi ở đường sinh dục cái càng sâu sắc hơn, để chuẩn bị đón trứng Biểu hiện của con vật: Hưng phấn về tính dục, đứng yên cho con khác nhảy, kêu rống, bồn chồn, thích nhảy lên lưng con khác, ít ăn hoặc bỏ ăn, tìm đực
Âm hộ ướt, đỏ, tiết dịch nhầy, càng tới thời điểm rụng trứng thì âm hộ
đỏ tím, dịch tiết keo lại, mắt đờ đẫn, cuối giai đoạn này thì trứng rụng
+ Giai đoạn sau động dục: Thể vàng bắt đầu phát triển và tiết ra progesteron có tác dụng ức chế sự co bóp của đường sinh dục Niêm mạc tử cung vẫn còn phát triển, các tuyến dịch nhờn giảm bài tiết, mô màng nhầy tử cung bong ra cùng với lớp tế bào biểu mô âm đạo hóa sừng thải ra ngoài Biểu hiện hành vi về sinh dục: Con vật không muốn gần con đực, không muốn cho con khác nhảy lên và dần trở lại trạng thái bình thường
+ Giai đoạn yên tĩnh: Thể vàng teo dần đi, con vật trở lại trạng thái bình thường, biểu hiện hành vi sinh dục không có Đây là giai đoạn nghỉ ngơi, yên
Trang 22tĩnh để phục hồi lại cấu tạo, chức năng cũng như năng lượng để chuẩn bị cho chu kỳ động dục tiếp theo
* Thời gian mang thai (ngày)
Là thời gian lợn nái từ khi thụ tinh (phối giống đạt) đến khi đẻ
* Tuổi đẻ lứa đầu (TĐLĐ)
Là tuổi lợn nái sinh con lứa đầu tiên TĐLĐ được xác định là khoảng thời gian từ ngày sinh lợn nái đến ngày lợn nái sinh con lứa đầu tiên
TĐLĐ = ngày lợn nái đẻ lứa đầu - ngày sinh của lợn nái
2.2.2 Những hiểu biết về quy trình chăm sóc và nuôi dưỡng lợn nái sinh sản
2.2.2.1 Quy tình chăm sóc và nuôi dưỡng nái đẻ
Quy trình nuôi dưỡng
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [18], thức ăn dùng cho lợn nái đẻ phải
là những thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao, dễ tiêu hóa Không cho lợn nái ăn thức ăn có hệ số choán cao gây chèn ép thai sinh ra đẻ non, đẻ khó, hoặc ép thai chết ngạt
Một tuần trước khi lợn đẻ phải căn cứ vào tình trạng sức khỏe cụ thể của lợn nái để có kế hoạch giảm dần lượng thức ăn Đối với những lợn nái có sức khỏe tốt thì một tuần trước khi đẻ giảm 1/3 lượng thức ăn, đẻ trước 2 - 3 ngày giảm 1/2 lượng thức ăn Đối với những lợn nái có sức khỏe yếu thì không giảm lượng thức ăn mà giảm dung tích của thức ăn bằng cách tăng cường cho ăn các loại thức ăn dễ tiêu hóa
Những ngày lợn đẻ phải căn cứ vào thể trạng của lợn nái, sự phát dục của bầu vú mà quyết định chế độ dinh dưỡng cho hợp lý
Ngày lợn nái cắn ổ đẻ, cho lợn nái ăn ít thức ăn tinh (0,5 kg) hoặc không cho thức ăn tinh nhưng uống nước tự do Ngày lợn nái đẻ có thể không cho lợn nái ăn mà chỉ có uống nước ấm có pha muối hoặc ăn cháo loãng Sau khi
đẻ 2 - 3 ngày không cho lợn nái ăn nhiều một cách đột ngột mà tăng từ từ đến
Trang 23ngày thứ 4 - 5 thì cho ăn đủ tiêu chuẩn Thức ăn cần chế biến tốt, dung tích nhỏ, có mùi vị thơm ngon để kích thích tính thèm ăn cho lợn nái
Quy trình chăm sóc
Việc chăm sóc lợn nái mẹ có vai trò quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và sức khỏe của cả lợn mẹ và lợn con Chuồng trại phải được vệ sinh sạch sẽ Trước khi lợn đẻ 10 - 15 ngày cần chuẩn bị đầy đủ chuồng đẻ Tẩy rửa
vệ sinh, khử trùng toàn bộ ô chuồng, nền chuồng, sàn chuồng dùng cho lợn con
và lợn mẹ Yêu cầu chuồng phải khô ráo, ấm áp, sạch sẽ, có đầy đủ ánh sáng Sau khi vệ sinh tiêu độc nên để trống chuồng từ 3 - 5 ngày trước khi lợn nái vào đẻ Chuồng đẻ cần phải trải đệm lót, có che chắn và thiết bị sưởi ấm trong những ngày mùa đông giá rét Trước khi đẻ 1 tuần, cần vệ sinh lợn nái sạch sẽ, lợn nái được lau rửa sạch sẽ đất hoặc phân bám dính trên người, dùng khăn thấm nước xà phòng lau sạch bầu vú và âm hộ Làm như vậy tránh được nguy
cơ lợn con mới sinh bị nhiễm khuẩn do tiếp xúc trực tiếp với lợn mẹ có vi khuẩn gây bệnh Sau khi vệ sinh sạch sẽ cho lợn nái, chúng ta chuyển nhẹ nhàng từ chuồng bầu sang chuồng đẻ để lợn quen dần với chuồng mới
Trong quá trình chăm sóc lợn nái đẻ, công việc cần thiết và rất quan trọng đó là việc chuẩn bị ô úm lợn cho lợn con Ô úm rất quan trọng đối với lợn con, nó có tác dụng phòng ngừa lợn mẹ đè chết lợn con, đặc biệt những ngày đầu mới sinh lợn con còn yếu ớt, mà lợn mẹ mới đẻ xong sức khỏe còn rất yếu chưa hồi phục Ô úm tạo điều kiện để khống chế nhiệt độ thích hợp cho lợn con, đặc biệt là lợn con đẻ vào những tháng mùa đông Ngoài ra, ô
úm tạo điều kiện thuận lợi cho việc tập ăn sớm cho lợn con (để máng ăn vào ô
úm cho lợn con lúc 7 - 10 ngày tuổi) mà không bị lợn mẹ húc đẩy và ăn thức
ăn của lợn con
Theo dõi thường xuyên sức khỏe của lợn mẹ, quan sát bầu vú, thân nhiệt lợn mẹ liên tục trong 3 ngày đầu sau khi đẻ để phát hiện sót nhau, sốt sữa hoặc nhiễm trùng để có biện pháp xử lý kịp thời
Trang 242.2.2.2 Quy trình chăm sóc và nuôi dưỡng nái nuôi con
Chuồng trại của lợn nái nuôi con yêu cầu phải đảm bảo luôn khô ráo, sạch
sẽ, không có mùi hôi thối, ẩm ướt Do vậy hàng ngày phải vệ sinh chuồng trại, máng ăn, máng uống sạch sẽ Chuồng lợn nái nuôi con phải có ô úm lợn con và ngăn tập ăn sớm cho lợn con Nhiệt độ chuồng nuôi thích hợp là 18 - 200C, độ
ẩm 70 - 75%
Quy trình nuôi dưỡng
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [18], thức ăn cho lợn nái nuôi con phải là những thức ăn có ảnh hưởng tốt đến sản lượng và chất lượng sữa Đó
là các loại thức ăn xanh non như các loại rau xanh, các loại củ quả như bí đỏ,
cà rốt, đu đủ Thức ăn tinh tốt như gạo tấm, cám gạo, bột mỳ, các loại thức ăn
bổ sung đạm động vật, đạm thực vật, các loại khoáng, vitamin Không cho lợn nái nuôi con ăn các loại thức ăn thối mốc, biến chất, hư hỏng Thức ăn hỗn hợp cho lợn nái nuôi con dùng trong chăn nuôi công nghiệp phải đảm bảo
đủ protein, năng lượng và các thành phần vitamin, khoáng theo đúng tiêu chuẩn quy định như năng lượng trao đổi 3100 kcal, protein 15%, ca từ 0,9 - 1,0 %, photpho 0,7 %
Lượng thức ăn cho lợn nái nuôi con cũng đóng vai trò quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng và khả năng điều tiết sữa của lợn mẹ, chính vì
Trang 25vậy ta cần phải có một khẩu phần ăn hợp lý và đầy đủ dinh dưỡng cho lợn mẹ Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [18], trong quá trình nuôi con, lợn nái được cho ăn như sau:
- Đối với lợn nái ngoại
+ Ngày cắn ổ đẻ: cho lợn nái ăn ít thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh (0,5 kg) hoặc không cho ăn, nhưng cho uống nước tự do
+ Sau ngày đẻ thứ 1, 2 và 3 cho ăn thức ăn hỗn hợp với lượng thức ăn từ
1 - 2 - 3 kg tương ứng
+ Ngày nuôi con thứ 4 đến ngày thứ 7: cho ăn 4kg thức ăn hỗn hợp/nái/ngày
+ Từ ngày thứ 8 đến cai sữa cho ăn theo công thức:
Lượng thức ăn/nái/ngày = 2 kg +(số con x 0,35 kg/con)
+ Số bữa ăn trên ngày: 2 (sáng và chiều)
+ Nếu lợn mẹ gầy thì cho ăn thêm 0,5 kg, lợn mẹ béo thì giảm 0,5 kg thức ăn/ngày
+ Ngoài ra cho lợn nái ăn từ 1 - 2 kg rau xanh/ ngày sau bữa ăn tinh (nếu
có rau xanh)
+ Một ngày trước ngày cai sữa lượng thức ăn của lợn mẹ giảm đ i
20 - 30%
+ Ngày cai sữa cho lợn mẹ nhịn ăn, hạn chế uống nước
- Đối với lợn nái nội
+ Công thức tính nhu cầu thức ăn cho lợn nái nội nuôi con/1 ngày đêm Lợn nái nội có khối lượng cơ thể dưới 100 kg, mức ăn trong 1 ngày đêm được tính như sau:
Thức ăn tinh = 1,2 kg + (số lợn con theo mẹ x 0,18 kg)
Thức ăn thô xanh: 0,3 kg
Lợn nái nội có khối lượng cơ thể từ 100 kg trở lên, mức ăn cho 1 ngày đêm giai đoạn nuôi con được tính như sau:
Trang 26Thức ăn tinh = 1,4 kg + (số con theo mẹ x 0,18 kg)
Thức ăn thô xanh: 0,4 kg
2.2.2.3 Quy tình chăm sóc và nuôi dưỡng lợn con theo mẹ
Quy trình nuôi dưỡng lợn con theo mẹ
- Lợn con đẻ ra cần được bú sữa đầu càng sớm càng tốt Sau khoảng 2 giờ, nếu lợn mẹ đẻ xong thì cho cả đàn con cùng bú Nếu lợn mẹ chưa đẻ xong thì nên cho những con đẻ trước bú trước (Trần Văn Phùng và cs., 2004) [18]
-Việc cố định đầu vú cho lợn con nên bắt đầu ngay từ khi cho chúng bú sữa đầu Khi cố định đầu vú, nên ưu tiên những con lợn nhỏ yếu được bú các
vú ở trước ngực, làm như vậy nhiều lần trong ngày, làm liên tục 3 - 4 để chúng quen dần với vị trí vú mới thôi
- Trong những ngày đầu, khi lợn con chưa ăn được, lượng sắt mà lợn con tiếp nhận từ nguồn sữa mẹ không đủ cho nhu cầu của cơ thể, vì vậy lợn con cần được bổ sung thêm nguồn sắt Nên tiêm sắt cho lợn con trong 3 - 4 ngày sau khi sinh.Việc tiêm sắt thường cùng làm với các thao tác khác để tiết kiệm công lao động
- Tập ăn sớm cho lợn con để bổ sung thức ăn sớm cho lợn con Lợn con được bổ sung thức ăn sớm có rất nhiều tác dụng:
- Đảm bảo cho lợn con sinh trưởng phát dục bình thường, không hoặc ít
bị stress, không bị thiếu hụt dinh dưỡng cho nhu cầu sinh trưởng nhanh của lợn con sau 3 tuần tuổi và khi cai sữa
- Thúc đẩy bộ máy tiêu hóa của lợn con phát triển nhanh và sớm hoàn thiện hơn Khi bổ sung thức ăn sớm cho lợn con thì kích thích tế bào vách dạ dày tiết HCl ở dạng tự do sớm hơn và tăng cường phản xạ tiết dịch vị
- Giảm tỉ lệ hao hụt của lợn nái Nếu không được bổ sung thức ăn sớm cho lợn con thì tỉ lệ hao hụt của lợn nái rất cao,nhất là đối với lợn nái
Trang 27nuôi dưỡng kém, có khi tỉ lệ hao hụt lên tới 30%, sẽ làm giảm số lứa đẻ trên một năm
- Nâng cao được khối lượng cai sữa lợn con Khối lượng cai sữa chịu ảnh hưởng tới 57 % của thức ăn bổ sung, trong khi đó chịu ảnh hưởng của sữa
mẹ khoảng 38% và của khối lượng sơ sinh là 5%
- Thường bắt đầu tập ăn cho lợn con từ 7 - 10 ngày tuổi, với lợn cai sữa sớm lúc 21 ngày tuổi thì phải tập cho ăn lúc 5 ngày tuổi Tốt nhất nên sử dụng loại thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh sản xuất dành riêng để tập ăn cho lợn con tập
ăn đến 8 kg
- Thức ăn tập lợn con ăn sớm thường ép thành dạng mảnh như cốm, thơm ngon, vệ sinh sạch sẽ Với chuồng nái đẻ cũi, máng tập ăn để ở ngăn lợn con Với chuồng lợn nái nuôi nhốt truyền thống thì để máng tập ăn vào ngay ô sưởi ấm lợn con Rắc thức ăn vào máng ít một và nhiều lần trong ngày để thức ăn luôn mới, mùi thơm hấp dẫn lợn con ăn
Quy trình chăm sóc lợn con theo mẹ
- Giai đoạn từ sơ sinh đến 3 ngày tuổi: Những kết quả nghiên cứu cho thấy 65% số chết sau khi sinh xảy ra vào lúc lợn con 4 ngày tuổi Cần chùi sạch nhớt ở mồm lợn con và giúp nó bắt đầu thở Cần lau khô lợn con và đặt chúng nằm dưới nguồn nhiệt bổ sung và giúp chúng được bú lần đầu tiên Nhiệt độ không khí trong chuồng đẻ 21 - 230C làm cho lợn con đẻ ra không bị lạnh cóng đột ngột Chỗ nằm của lợn con phải là khu vực được sưởi ấm (đèn sưởi hoặc sưởi bằng khí nóng hoặc sưởi nóng trong nền chuồng ở nhiệt độ
30 - 330C) Tốc độ thông gió cũng cần được khống chế để loại trừ độ ẩm
nhưng không gây nên gió lùa cho lợn con
- Ngay sau khi đẻ, phải cắt dây rốn và nếu vẫn còn ướt, xử lý với cồn
iod, dung dịch 2%
- Cắt nanh nhọn số 8 để đề phòng làm tổn thương vú lợn mẹ và làm rách
mặt lợn khác khi chúng đánh nhau
Trang 28- Giai đoạn từ 3 ngày đến 3 tuần tuổi: Việc chăm sóc, quản lý trong thời
kỳ này bao gồm cả phòng chống thiếu máu, chống ỉa chảy, thiến và cắt đuôi
- Nên dùng loại thuốc nào đề kháng có hiệu quả chủng vi khuẩn ở cơ sở chăn nuôi Tiểu khí hậu chuồng nuôi khô, ấm, không có gió lùa là quan trọng trước hết để giảm ỉa chảy Vệ sinh cũng rất quan trọng cho việc làm giảm tỷ
lệ mắc ỉa chảy ở lợn con Tẩy uế và khử trùng chuồng lợn đẻ sau mỗi lô lợn
đẻ cũng giúp cho việc phòng ngừa
- Những lợn đực dùng để bán thịt cũng cần được thiến sớm Để giảm
stress, nên thiến lợn trước 2 tuần tuổi
- Giai đoạn từ 3 tuần tuổi đến cai sữa: Tuổi cai sữa cho lợn có sự thay
đổi tùy theo đàn, tùy theo chuồng trại có sẵn, tùy cường độ của trại
- Chỉ cai sữa cho những lợn cân nặng trên 5,5 kg
- Cai sữa trong thời gian trên 2 - 3 ngày, cai sữa trước cho những ổ
đông con
- Đối với những lợn 3 tuần tuổi, tạo nhiệt độ môi trường 27 - 29ºC Tránh những thay đổi mạnh về nhiệt độ, đề phòng gió lùa, thậm chí đối
với lợn con lớn hơn
- Ghép nhóm lợn con theo tầm vóc cơ thể
- Hạn chế số lượng trong một ngăn rào đến 30 con hoặc ít hơn, nếu được
- Hạn chế mức ăn vào trong vòng 48 giờ nếu có xảy ra ỉa chảy sau cai sữa
- Cứ 4 - 5 lợn con thì đặt 1 máng ăn và cứ 20 - 25 lợn con thì lắp 1 vòi
nước uống
- Cho thuốc vào nước uống nếu có ỉa chảy
2.2.3 Những hiểu biết về công tác phòng trị, bệnh cho lợn
2.2.3.1 Phòng bệnh
Như ta đã biết ‘‘Phòng bệnh hơn chữa bệnh’’‚ nên khâu phòng bệnh được đặt lên hàng đầu, nếu phòng bệnh tốt thì có thể hạn chế hoặc ngăn chặn được bệnh xảy ra Các biện pháp phòng bệnh tổng hợp được đưa lên hàng
Trang 29đầu, xoay quanh các yếu tố môi trường, mầm bệnh, vật chủ Do vậy, việc phòng bệnh cũng như trị, bệnh phải kết hợp ̣ nhiều biện pháp khác nhau
- Phòng bệnh bằng vệ sinh và chăm sóc nuôi dưỡng tốt:
Theo Nguyễn Ngọc Phục (2005) [19], bệnh xuất hiện trong một đàn lợn thường do nguyên nhân phức tạp, có thể là bệnh truyền nhiễm, hoặc không truyền nhiễm hoặc có sự kết hợp cả hai Có rất nhiều biện pháp đã được đưa
ra áp dụng nhằm kiểm soát các khả năng xảy ra bệnh tật trên đàn lợn Phần lớn các biện pháp này đều nhằm làm giảm khả năng lan truyền các tác nhân gây bệnh và nâng cao sức đề kháng của đàn lợn
Theo Lê Văn Tạo và cs (1993) [20], vi khuẩn E.coli gây bệnh ở lợn là vi
khuẩn tồn tại trong môi trường, đường tiêu hoá của vâṭ chủ Khi môi trường quá ô nhiễm do vê ̣sinh chuồng trại kém, nước uống thức ăn bi ̣nhiễm vi khuẩn, điều kiện ngoại cảnh thay đổi, lợn giảm sức đề kháng dễ bi ̣cảm nhiễm
E.coli, bệnh sẽ nổ ra vì vậy mà khâu vê ̣sinh, chăm sóc có một ý nghĩa to lớn
trong phòng bệnh Trong chăn nuôi việc đảm bảo đúng quy trình kỹ thuật là điều rất cần thiết, chăm sóc nuôi dưỡng tốt sẽ tạo ra những gia súc khoẻ mạnh, có khả năng chống đỡ bệnh tật tốt và ngược lại Ô chuồng lợn nái phải được vê ̣sinh tiêu độc trước khi vào đẻ Nhiệt đô ̣trong chuồng phải đảm bảo
27 - 30ºC đối với lợn sơ sinh và 28 - 30ºC với lợn cai sữa Chuồng phải luôn khô ráo, không thấm ướt Việc giữ gìn chuồng trại sạch sẽ kín, ấm áp vào mùa đông và đầu xuân Nên dùng các thiết bị sưởi điện hoặc đèn hồng ngoại trong những ngày thời tiết lạnh ẩm để đề phòng bệnh lợn con phân trắng mang lại hiệu quả cao trong chăn nuôi
Trần Văn Phùng và cs (2004) [18] cho biết, từ 3 - 5 ngày trước dự kiến
đẻ, ô chuồng lợn nái đã được cọ rửa sạch, phun khử trùng bằng hóa chất nhằm
tiêu độc khử trùng chuồng lợn nái trước khi đẻ
- Vệ sinh chuồng trại và thiết bị chăn nuôi
Trang 30Chuồng trại phải đảm bảo phù hợp với từng đối tượng vật nuôi, thoáng mát mùa hè, ấm áp mùa đông, đảm bảo cách ly với môi trường xung quanh.Tẩy uế chuồng trại sau mỗi lứa nuôi bằng phương pháp: rửa sạch, để khô sau đó phun sát trùng bằng các loại thuốc sát trùng và trống chuồng ít nhất 15 ngày với vật nuôi thương phẩm, 30 ngày đối với vật nuôi sinh sản Với những chuồng nuôi lưu cữu hoặc chuồng nuôi có vật nuôi bị bệnh truyền nhiễm, cần phải vệ sinh tổng thể và triệt để sau khi đưa hết vật nuôi ra khỏi chuồng, xử lý theo hướng dẫn của thú y, cần phun sát trùng kỹ (pha dung dịch sát trùng và phun theo hướng dẫn khi chống dịch) toàn bộ chuồng nuôi từ mái, các dụng cụ và môi trường xung quanh, để khô và dọn, rửa Các chất thải rắn trong chăn nuôi cần thu gom để đốt hoặc ủ sinh học; chất thải lỏng, nước rửa chuồng cần thu gom để xử lý, không thải trực tiếp ra môi trường Cần phun sát trùng 1 - 2 lần/tuần trong suốt thời gian trống chuồng, ít nhất trong
30 ngày Các thiết bị, dụng cụ chăn nuôi cần rửa sạch, phơi khô, sát trùng và đưa vào kho bảo quản Vệ sinh và phun sát trùng xung quanh chuồng nuôi Phòng bệnh bằng vắc xin
Phòng bệnh bằng vắc xin là biện pháp phòng bệnh chủ động có hiệu quả nhất
Theo Nguyễn Bá Hiên và Huỳnh Thị Mỹ Lệ (2012) [11], vắc xin là một chế phẩm sinh học mà trong đó chứa chính mầm bệnh cần phòng cho một bệnh truyền nhiễm nào đó (mầm bệnh này có thể là vi khuẩn, vi rút, độc tố hay vật liệu di truyền như ARN, ADN…) đã được làm giảm độc lực hay vô độc bằng các tác nhân vật lý, hóa học, sinh học hay phương pháp sinh học phân tử (vắc xin thế hệ mới - vắc xin công nghệ gen) Lúc đó, chúng không còn khả năng gây bệnh cho đối tượng sử dụng, nhưng khi đưa vào cơ thể động vật nó sẽ gây ra đáp ứng miễn dịch làm cho động vật có miễn dịch chống lại sự xâm nhiễm gây bệnh của mầm bệnh tương ứng
Trang 31+ Diệt căn bệnh là chủ yếu kết hợp chữa triệu chứng
+ Tiêu diệt mầm bệnh phải đi đôi với tăng cường sức đề kháng của cơ thể, làm cho cơ thể tự nó chống lại mầm bệnh thì bệnh mới chóng khỏi, ít bị tái phát và biến chứng, miễn dịch mới lâu bền
+ Phải có quan điểm khi chữa bệnh, chỉ nên chữa những gia súc có thể chữa lành mà không giảm sức kéo và sản phẩm Nếu chữa kéo dài, tốn kém vượt quá giá trị gia súc thì không nên chữa
+ Những bệnh rất nguy hiểm cho người mà không có thuốc chữa thì không nên chữa
Theo Nguyễn Bá Hiên và Huỳnh Thị Mỹ Lệ (2012) [11] cho biết, các biện pháp chữa bệnh truyền nhiễm là :
+ Hộ lý: cho gia súc ốm nghỉ ngơi, nhốt riêng ở chuồng có điều kiện vệ sinh tốt (thoáng mát, sạch sẽ, yên tĩnh) Theo dõi thân nhiệt, nhịp tim, hô hấp, phân, nước tiểu Phát hiện sớm những biến chuyển của bệnh để kịp thời đối phó Cho gia súc ăn uống thức ăn tốt và thích hợp với tính chất của bệnh + Dùng kháng huyết thanh: chủ yếu dùng chữa bệnh đặc hiệu vì vậy thường được dùng trong ổ dịch, chữa cho gia súc đã mắc bệnh Chữa bệnh bằng kháng huyết thanh là đưa vào cơ thể những kháng thể chuẩn bị sẵn, có tác dụng trung hòa mầm bệnh hoặc độc tố của chúng (huyết thanh kháng độc tố)
Trang 32+ Dùng hóa dược: phần lớn hóa dược được dùng để chữa triệu chứng, một số hóa dược dùng chữa nguyên nhân vì có tác dụng đặc hiệu đến mầm bệnh Dùng hóa dược chữa bệnh phải tác động mạnh và sớm, vì nhiều loài vi khuẩn có thể thích ứng với liều lượng nhỏ Chúng có thể chống lại thuốc và tính chất quen thuộc được truyền cho những thế hệ sau Khi cần, có thể phối hợp nhiều loại hóa dược để tăng hiệu quả điều trị, vì nếu một loại thuốc chưa
có tác dụng đến mầm bệnh thì có loại thuốc khác tác dụng tốt hơn
+ Dùng kháng sinh: kháng sinh là những thuốc đặc hiệu có tác dụng ngăn cản sự sinh sản của vi khuẩn hoặc tiêu diệt vi khuẩn Tuy nhiên sử dụng kháng sinh có thể gây nhiều tai biến do thuốc có tính độc, do phản ứng dị ứng,
do một lúc tiêu diệt nhiều vi khuẩn làm giải phóng một lượng lớn độc tố, làm giảm phản ứng miễn dịch của cơ thể Việc dùng kháng sinh bừa bãi còn gây nên hiện tượng kháng thuốc, làm giảm thấp tác dụng chữa bệnh của kháng sinh Vì vậy, khi dùng thuốc cần theo những nguyên tắc sau đây:
- Phải chẩn đoán đúng bệnh để dùng đúng thuốc, dùng sai thuốc sẽ chữa không khỏi bệnh mà làm cho việc chẩn đoán bệnh về sau gặp khó khăn
- Chọn loại kháng sinh có tác dụng tốt nhất đối với mầm bệnh đã xác định Dùng liều cao ngay từ đầu, những lần sau có thể giảm liều lượng
- Không nên vội vàng thay đổi kháng sinh mà phải chờ một thời gian để phát huy tác dụng của kháng sinh
- Phải dùng phối hợp nhiều loại kháng sinh để làm giảm liều lượng và độc tính của từng loại, làm diện tích tác động đến vi khuẩn rộng hơn, tăng tác dụng điều trị và hạn chế hiện tượng vi khuẩn kháng thuốc
- Phải tăng cường sức đề kháng của cơ thể gia súc như nuôi dưỡng tốt, dùng thêm vitamin, truyền nước sinh lý…
2.2.4 Những bệnh thường gặp ở lợn nái và lợn con
2.2.4.1 Bệnh ở lợn nái
Bệnh viêm tử cung
Trang 33Theo Nguyễn Văn Thanh (2014) [21], viêm tử cung là một hội chứng thường xuất hiện trên lợn nái sau khi đẻ Lợn nái viêm tử cung sẽ bị tổn thương lớp niêm mạc Từ đó gây ảnh hưởng sự tiết prostagladin F2 và làm xáo trộn chu kỳ động dục làm tăng tình trạng chậm sinh và vô sinh
Khảo sát tình hình viêm nhiễm đường sinh dục lợn nái sau khi sinh và hiệu quả điều trị của một số loại kháng sinh trên 143 lợn nái sau khi sinh, Trần Ngọc Bích và cs (2016) [2], đã phát hiện 106 con tiết dịch nghi viêm đường sinh dục, chiếm tỷ lệ 74,13%
- Nguyên nhân
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2006) [8] cho biết, viêm tử cung là một quá trình bệnh lý thường xảy ra ở gia súc cái sinh sản sau đẻ Quá trình viêm phá huỷ các tế bào tổ chức của các lớp hay các tầng tử cung gây rối loạn sinh sản
ở gia súc cái làm ảnh hưởng lớn, thậm chí làm mất khả năng sinh sản ở gia súc cái
Bệnh viêm tử cung xảy ra ở những thời gian khác nhau nhưng bệnh xảy ra nhiều nhất vào thời gian sau khi đẻ 1 - 10 ngày (Nguyễn Xuân Bình, 2000) [1])
Theo các tác giả Nguyễn Xuân Bình (2000) [1], Phạm Sỹ Lăng và cs (2005) [12], Lê Minh và cs (2017) [13], bệnh viêm tử cung ở lợn nái thường
do các nguyên nhân sau:
+ Công tác phối giống không đúng kỹ thuật, nhất là phối giống bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo làm xây xát niêm mạc tử cung, dụng cụ dẫn tinh không được vô trùng khi phối giống có thể từ ngoài vào tử cung lợn nái gây viêm
+ Lợn nái phối giống trực tiếp, lợn đực mắc bệnh viêm bao dương vật hoặc mang vi khuẩn từ những con lợn nái khác đã bị viêm tử cung, viêm âm đạo truyền sang cho lợn khoẻ
Trang 34+ Lợn nái đẻ khó phải can thiệp bằng thủ thuật gây tổn thương niêm mạc
tử cung, vi khuẩn xâm nhập gây nhiễm trùng, viêm tử cung kế phát
+ Lợn nái sau đẻ bị sát nhau xử lý không triệt để cũng dẫn đến viêm tử cung
+ Do kế phát từ một số bệnh truyền nhiễm như: Sảy thai truyền nhiễm, Phó thương hàn, bệnh Lao,… gây viêm
+ Do vệ sinh chuồng lợn đẻ, vệ sinh bộ phận sinh dục lợn nái trước và sau đẻ không sạch sẽ, trong thời gian đẻ cổ tử cung mở vi sinh vật có điều kiện để xâm nhập vào gây viêm
Theo Đoàn Thị Kim Dung và Lê Thị Tài (2002) [5], nguyên nhân gây ra
bệnh viêm tử cung chủ yếu do vi khuẩn tụ cầu vàng (Staphylococcus aureus), liên cầu dung huyết (Streptococcus hemolitica) và các loại Proteus vulgais,
Klebriella, dung huyết E coli, còn có thể do trùng roi (Trecbomonas fortus)
và do nấm Candida albicans
Mặt khác, khi gia súc đẻ, nhất là trường hợp đẻ khó phải can thiệp, niêm mạc tử cung bị xây sát và tạo các ổ viêm, mặt khác các bệnh truyền nhiễm như sảy thai truyền nhiễm, phó thương hàn, lao… thường gây viêm tử cung,
âm đạo
Theo Nguyễn Thị Hồng Minh (2014) [14], yếu tố thời tiết, khí hậu, ảnh hưởng rõ rệt đến tỷ lệ mắc hội chứng viêm tử cung: mùa hạ có tỷ lệ nhiễm cao nhất 53,37%, mùa đông 46,05%, mùa thu 43,70%
- Triệu chứng
Theo Nguyễn Văn Thanh (2014) [21], khi lợn nái bị viêm tử cung, các chỉ tiêu lâm sàng như: thân nhiệt, tần số hấp đều tăng Lợn bị sốt theo quy luật: sáng sốt nhẹ 39 - 39,5oC, chiều 40 - 41oC Con vật ăn kém, sản lượng sữa giảm, có khi con vật cong lưng rặn như rặn đái Từ cơ quan sinh dục chảy ra niêm dịch nhiều lợn cợn, mùi hôi tanh, có màu trắng đục, hồng hay nâu đỏ Khi nằm lượng niêm dịch chảy ra nhiều hơn Trong trường hợp thai chết lưu âm đạo
Trang 35sưng tấy, đỏ, có chứa dịch tiết màu vàng sẫm, nâu có mùi hôi thối Xung quanh
âm hộ và mép đuôi có dính bết niêm dịch, có khi niêm dịch khô đóng thành vẩy trắng, lợn nái mệt mỏi đi lại khó khăn
- Hậu quả
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2006) [8], Trần Thị Dân (2004) [3], khi lợn nái bị viêm tử cung sẽ dẫn tới một số hậu quả chính sau:
+ Khi lợn bị viêm tử cung dễ dẫn đến sảy thai
Lớp cơ trơn ở thành tử cung có đặc tính co thắt Khi mang thai, sự co thắt của cơ tử cung giảm đi dưới tác dụng của progesterone, nhờ vậy phôi có thể bám chặt vào tử cung
Khi tử cung bị viêm cấp tính do nhiễm trùng, tế bào lớp nội mạc tử cung tiết nhiều prostaglandin F2α (PGF2α), PGF2α gây phân huỷ thể vàng ở buồng trứng bằng cách bám vào tế bào của thể vàng để làm chết tế bào và gây co mạch hoặc thoái hoá các mao quản ở thể vàng nên giảm lưu lượng máu đi đến thể vàng Thể vàng bị phá huỷ, không tiết progesterone nữa, do đó hàm lượng progesterone trong máu sẽ giảm làm cho tính trương lực co của cơ tử cung tăng nên gia súc cái có chửa dễ bị sảy thai
+ Lợn mẹ bị viêm tử cung bào thai cũng phát triển kém hoặc thai chết lưu + Sau khi sinh con lượng sữa giảm hoặc mất hẳn nên lợn con trong giai đoạn theo mẹ thường bị tiêu chảy
+ Theo Trần Thị Dân (2004) [3], lợn nái bị viêm tử cung mãn tính sẽ không có khả năng động dục trở lại
+ Tỷ lệ phối giống không đạt tăng lên ở đàn lợn nái viêm tử cung sau khi sinh đẻ Hiện tượng viêm tử cung âm ỉ kéo dài từ lứa đẻ trước đến lứa đẻ sau
là nguyên nhân làm giảm độ mắn đẻ
Trang 36 Biện pháp phòng trị
- Phòng bệnh
Theo Nguyễn Tài Năng và cs (2010) [16], vệ sinh chuồng trại sạch sẽ một tuần trước khi lợn đẻ, rắc vôi bột hoặc nước vôi 20% sau đó rửa sạch bằng nước thường, tắm cho lợn trước khi đẻ, vệ sinh sạch sẽ bộ phận sinh dục
+ Phòng bệnh truyền nhiễm Leptospirosis, Brucellosis… bằng cách
dùng vắc xin đúng quy định, đúng thời gian cho đàn lợn sinh sản tránh những trường hợp bị sốt đột ngột gây sẩy thai
- Điều trị
Có nhiều phương pháp để điều trị bệnh viêm tử cung Phạm Sỹ Lăng và
cs (2005) [12], cho biết hiệu quả điều trị bệnh viêm tử cung bằng phác đồ như sau:
Thụt rửa tử cung bằng các dung dịch thuốc sát trùng như: biocid - 30 (1%), lugol (5%), han - iodine (5%)
+ Tiêm một trong các loại kháng sinh sau: gentamycine, oxytetracyclin, penicillin,
+ Tiêm oxytocin để đẩy các niêm dịch và dịch viêm ra ngoài
+ Dùng thuốc trợ sức, trợ lực như: ADE, B-complex, Canxi - B12,