1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu văn bản “kim cương bát nhã ba la mật kinh

147 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu văn bản kim cương bát nhã ba la mật kinh
Tác giả Ninh Văn Đạt (Thích Minh Hiếu)
Người hướng dẫn PGS. TS. Phạm Văn Khoái
Trường học Đại Học Quốc Gia Hà Nội Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn
Chuyên ngành Hán Nôm
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 147
Dung lượng 4,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

tìm hiểu sự nghiệp và đóng góp nhiều mặt của Hòa Thượng Phúc Điền trong lịch sử, trong đó có sự nghiệp “giải quốc âm” nhiều kinh điển Phật giáo từ các bản Hán văn.Hơn nữa, tác giả luận v

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NINH VĂN ĐẠT (THÍCH MINH HIẾU)

NGHIÊN CỨU VĂN BẢN

KIM CƯƠNG BÁT NHÃ BA LA MẬT KINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ HÁN NÔM

Hà Nội – Năm 2021

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NINH VĂN ĐẠT (THÍCH MINH HIẾU)

NGHIÊN CỨU VĂN BẢN

KIM CƯƠNG BÁT NHÃ BA LA MẬT KINH

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là kết quả nghiên cứu khoa học của riêng tôi dưới

sự hướng dẫn của người hướng dân khoa học Luận văn tiến hành một cách nghiêm túc, cầu thị, các trích dẫn, ví dụ trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết quả khoa học của Luận văn chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình khoa học khác

Tác giả Luận văn

Ninh Văn Đạt

(Thích Minh Hiếu)

Trang 4

Mặc dù đã cố gắng nhiều trong quá trình thực hiện, nhưng luận văn không tránh khỏi thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự xem xét, góp ý của quý Thầy cô và các bậc thiện tri thức để tôi có những tiến bộ trên con đường học tập và nghiên cứu

Xin trân trọng cảm ơn!

HỌC VIÊN

Ninh Văn Đạt

(Thích Minh Hiếu)

Trang 5

MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC 1

MỞ ĐẦU 4

1 Tính cấp thiết của đề tài 4

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứ đề tài 5

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 7

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 9

6 Đóng góp của luận văn 9

7 Cấu trúc luận văn 10

Chương 1:KINH KIM CƯƠNG BÁT NHÃ BA LA MẬT VÀ CÁC BẢN DỊCH HÁN VĂN 12

1.1 Kinh Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật 12

1.1.1 Lịch sử hình thành kinh Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật 12

1.1.2 Tên Kinh, đề Kinh 13

1.2 Các bản dịch Hán văn của Kinh Kim Cương 15

1.2.1 Sáu bản dịch Hán văn của Kinh Kim Cương 15

1.2.2 Truyền thống dịch Kinh Phật sang Hán ngữ và hoạt động dịch kinh của Cưu Ma La Thập 21

1.2.3 Việc phân chương bản dịch Kinh Kim Cương 24

1.3 Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật trong AB.367 là bản dịch của Cưu Ma La Thập 25

1.3.1 Những thông tin về việc sử dụng bản dịch của Cưu Ma La Thập25 1.3.2 Những thông tin về cấu trúc của bản kinh 26

Tiểu kết: 30

Trang 6

Chương 2:VĂN BẢN KIM CƯƠNG BÁT NHÃ BA LA MẬT TRONG

TÙNG THƯ PHẬT HỌC SƠ CƠ, GIẢI QUỐC ÂM 31

2.1 Cấu Trúc Sắp Đặt Của Văn Bản AB 367 31

2.1.1 Mô tả cấu trúc sắp xếp của tập sách mang kí hiệu AB 367 31

2.1.2 Tính hợp tập của tập sách mang kí hiệu AB 367 34

2.1.3 Tính chất tùng thư Phật học sơ cơ, giải quốc âm của văn bản 36

2.1.4 Tính Phật học sơ cơ và giải âm của TÙNG THƯ PHẬT HỌC của tập sách mang kí hiệu AB 367 qua Quốc âm tiểu dẫn 國音小引 39

2.1.5 Thời gian biên tập của TÙNG THƯ PHẬT HỌC cho những người có “học vấn sơ cơ” 42

2.2 Văn bản 金剛般若波羅密經 Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật kinh 43 2.2.1 Lối viết đài trên phương diện trình bày và ý nghĩa của việc trì tụng 44

2.2.2 Văn bản Hán văn được mang ra giải âm: bản dịch La Thập 47

2.3 Danh mục 32 phân chương và ý nghĩa của 32 phân chương 50

2.3.1 Danh mục 32 phân chương của Kinh Kim Cương 50

2.3.2 Ý nghĩa cụ thể của từng phân chương 51

2.3.3 Sự qui định nghi thức trì tụng Kinh Kim Cương 57

Tiểu kết: 59

Chương 3: GIẢI QUỐC ÂM TRONG VĂN BẢN 金剛般若波羅密經 KIM CƯƠNG BÁT NHÃ BA LA MẬT KINH 60

3.1 Cơ cấu đối ứng Hán văn – Quốc âm 60

3.1.1 “Giải quốc âm” như một thuật ngữ làm việc 61

3.1.2 Cơ cấu đối ứng Hán – Nôm về mặt đơn vị số lượng và trình bày

62

3.1.3 Cú đậu trên văn bản Hán văn và Quốc âm qua minh họa 64

3.2 Cơ cấu đối ứng Hán văn – Quốc âm thể hiện ở 32 phân chương 66

Trang 7

3.2.1 Đối ứng Hán – Quốc âm ở 32 phân chương qua thống kê lượng

chữ 66

3.2.2 Nhóm các chương có phần giải quốc âm ngắn hơn Hán văn 67

3.2.3 Nhóm các chương có phần giải quốc âm dài hơn Hán văn 70

3.3 Minh họa các phân chương có phần giải quốc âm ngắn hơn 70

3.3.1 Minh họa phân chương có phần giải quốc âm ngắn tương đối 70

3.3.2 Minh họa phân chương có phần giải quốc âm rất ngắn 72

3.4 Minh họa các phân chương có phần giải quốc âm dài hơn 79

3.5 Giải quốc âm và người giải quốc âm 82

Tiểu kết: 88

KẾT LUẬN 90

TÀI LIỆU THAM KHẢO 93

PHỤ LỤC 96

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Kinh Kim Cương Bát Nhã do Đức Phật Thích Ca thuyết giáo, Tu Bồ Đề

thỉnh vấn, A Nan tôn giả kết tập, nguyên văn bằng Phạn văn, nằm ở hội thứ 9, quyển 577 trong hơn 600 bản kinh thuộc hệ Bát Nhã của Phật giáo Đại thừa

Khi truyền sang Trung Quốc, kinh đã được dịch sang Hán văn Việc phiên dịch sang Hán văn này có cả một lịch sử lâu dài đến mấy trăm năm với

sự tham gia của nhiều dịch giả kinh điển Phật giáo nổi tiếng như Cưu Ma La Thập, Chân Đế, Huyền Trang, … Không ít các bản dịch sang Hán văn đó, nhất là bản dịch của Cưu Ma La Thập được thực hiện vào đầu thế kỉ V (đời Diêu Tần) đã được lưu truyền ở Việt Nam, được phiên dịch ra tiếng Việt ghi bằng chữ Nôm mà việc phiên dịch đó trong truyền thống được gọi là “giải quốc âm”

金剛般若波羅密經 Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Kinh đã được

Hòa Thượng Phúc Điền giải quốc âm, được san khắc vào những thập niên giữa thế kỉ XIX [khoảng thời gian từ năm Canh Tý niên hiệu Minh Mạng (tức năm 1840) đến năm Tự Đức thứ 14 (tức năm 1862)]; ván được khắc ở chùa Liên Phái tỉnh Hà Nội và chùa Bồ Sơn tỉnh Bắc Ninh hiện đang được lưu trữ

trong một tùng thư Phật học có tên chung 金剛般若波羅密經 Kim Cương

Bát Nhã Ba La Mật Kinh trong tập sách mang kí hiệu AB 367 đang được lưu

giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm Đó là một trong những minh chứng cho truyền thống Việt Nam của sự san khắc, lưu hành và giải âm văn bản Hán văn

Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật kinh.

Nghiên cứu văn bản này từ góc nhìn Hán Nôm sẽ góp phần nhất định

cho việc tìm hiểu sự lưu hành Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật kinh ở Việt

Nam, đời sống kinh Kim Cương ở Việt Nam trong mối quan hệ với tình hình Phật giáo Việt Nam trong thế kỉ XIX cũng như góp phần nhất định cho việc

Trang 9

tìm hiểu sự nghiệp và đóng góp nhiều mặt của Hòa Thượng Phúc Điền trong lịch sử, trong đó có sự nghiệp “giải quốc âm” nhiều kinh điển Phật giáo từ các bản Hán văn.

Hơn nữa, tác giả luận văn Thạc sĩ Hán Nôm này lại còn là một người

nhà chùa, việc tìm hiểu văn bản Hán Nôm 金剛般若波羅密經 Kim Cương

Bát Nhã Ba La Mật kinh không chỉ là công việc kiểm tra năng lực giải đọc

văn bản Hán Nôm theo yêu cầu của cấp học mà còn là cơ hội giúp cho sự tu tập và hiểu rõ hơn về truyền thống Phật giáo Việt Nam

Với lý do đó, chúng tôi chọn vấn đề Nghiên cứu văn bản “金剛般若波

羅 密 經 Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật kinh” được đóng trong tập

“AB.367” hiện đang được lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm làm đề tài cho luận văn Thạc sĩ Hán Nôm tại cơ sở đào tạo sau đại học là Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứ đề tài

Văn bản Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật từ thời vua Tự Đức năm thứ

14 ở chùa Liên Phái hiện đang được lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm với kí hiệu AB 367 mới chỉ được đề cập đến từ góc độ biên mục để đăng kí tài liệu trong một số bộ sách như:

Trong nhiều tài liệu giới thiệu và nghiên cứu về Hòa Thượng Phúc Điền và các công trình giải âm Phật học của ông, bản giải âm này cũng không

được đề cập tới Chẳng hạn như, tác giả Thích Minh Tâm trong bài viết Vài

nét về Hòa Thượng Phúc Điền, tác giải sách Đạo giáo nguyên lưu đăng trên Thông báo Hán Nôm 1997, trang 560-563, khi giới thiệu về các tác phẩm của

Hòa thượng Phúc Điền cũng không có đề cập đến việc giải âm tác phẩm này

mà danh mục đó chỉ gồm 3 loại như sau:

1 Sách chữ Hán hiện còn:

- Tam Bảo hoằng thông

Trang 10

- Đạo giáo nguyên lưu ( còn gọi là Tam giáo quản khuyu)

- Thiền uyển kế đăng lược lục

- Tại gia tu trì Thích giáo nguyên lưu

- Phóng sinh giới sát văn

- Hiệu đính Phật tổ thống lý

2 Biên dịch, tức là diễn ra Quốc âm:

- Sa di luật nghi giải âm

- Tam giáo nhất nguyên giải âm

- Hộ pháp luận diễn âm

- Thái căn đàm diễn âm

3 In ấn các bộ:

- Kinh Hoa Nghiêm

- Kim Cương Di Đà kệ chú chân kinh

- Vô Lượng Thọ Kinh

- Đại phương tiện Phật giáo báo ân kinh chú nghĩa

- Giải hoặc biên

Khi Nghiên cứu văn bản AB 367 được lưu giữ tại Viện nghiên cứu Hán nôm, viện Hàn Lâm khoa học Việt Nam Với danh mục 34 bộ sách, trong

đó có khá nhiều sách giải âm đã thể hiện đây là một Tùng thư Phật học khá lớn Tùng thư hay Tàng Thư Phật học này do Hòa Thượng Phúc Điền tổ chức biên tập Trong số các tác phẩm của Hòa Thượng Phúc Điền đã được nghiên cứu và dịch giải Có thể kể ra đây một số Luận án liên quan đến các tác phẩm của Hòa Thượng Phúc Điền như sau:

- Nguyễn Tuấn Cường ( pháp danh Thích Minh Nghiên) (2006)

Nghiên cứu hệ thống Phật học gốc tiếng Phạn trong các tác phẩm của Hòa thượng Phúc Điền Luận án thạc sĩ Trường đại học Khoa học và Xã hội Nhân

văn, Hà Nội

- Nguyễn Tuấn Cường (pháp danh Thích Minh Nghiên) (2016) Nghiên

Trang 11

cứu tác phẩm Đạo giáo Nguyên Lưu của Hòa thượng Phúc Điền Luận án tiến

sĩ Học viện Khoa học xã hội, Hà nội

- Lê Văn Sáu (pháp danh Thích Minh Tín) (2006) Khảo cứu tác phẩm

tại gia tu trì Tam giáo nguyên lưu của Hòa thượng Phúc Điền Luận văn thạc

sĩ Viện nghiên cứu Hán Nôm

- Nguyễn Văn Thanh (2003) Bước đầu tìm hiểu tác phẩm Hộ pháp

luận giải âm của Hòa thượng Phúc Điền Luận văn cử nhân Trường Đại học

Khoa học Xã hội và Nhân văn, Hà Nội

- Lê Quang Sơn ( pháp danh Thích Thiện Hải) ( 2012) Nghiên cứu bản

giải âm tp Thái Căn Đàm của Hòa Thượng Phúc Điền Luận văn Thạc sĩ

Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Hà Nội

Tuy nhiên, đến nay chưa có công trình nào tiến hành khảo cứu, dịch

thuật và giới thiệu nội dung toàn bộ văn bản Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật

Kinh được đóng trong tập “ AB 367” hiện đang được lưu giữ tại Viện nghiên

cứu Hán Nôm Đề tài Luận văn của chúng tôi sẽ triển khai theo hướng đi này, nhằm giới thiệu và công bố bản phiên âm cũng như một số vấn đề mang

thông tin tính của văn bản Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Kinh

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

密經 Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật kinh 金剛般若波羅密經 trong tập AB.367 [mặt văn bản học, cơ cấu, phương thức sắp đặt các phần, cũng như về phương thức “giải quốc âm” văn bản cho mục tiêu truyền giảng và phổ biến bản kinh này của Hòa thượng Phúc Điền

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

波羅密經 Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật kinh;

Trang 12

Nghiên cứu sắp đặt hay phương thức tổ chức của văn bản 金剛般若波

Phật học sơ cơ, giải quốc âm do Hòa thượng Phúc Điền thực hiện vào những thập niên giữa thế kỉ XIX

Nghiên cứu hệ các vấn đề được văn bản hóa trong nội tại văn bản cũng như các vấn đề “đối ứng Hán - Nôm” được vận dụng để giải quốc âm 金剛般若波羅密經 Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật kinh

Bước đầu nêu những nhận xét về cách thức “giải quốc âm” cho 金剛般若波羅密經 Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật kinh mà Hòa thượng Phúc

Điền đã thực hiện cho yêu cầu truyền giảng những tri thức Phật học cho những người sơ cơ cũng như những đóng góp về mặt “giải quốc âm” của Hòa Thượng Phúc Điền trong lịch sử của truyền thống phiên dịch Hán Nôm Việt Nam

Phiên Nôm toàn bộ phần “giải quốc âm” mà Hòa thượng Phúc Điền đã

làm cho 金剛般若波羅密經 Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật kinh

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là văn bản Kim Cương Bát Nhã Ba La

Mật kinh 金剛般若波羅密經 được đóng trong tập AB 367 hiện đang được lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm

4.2 Phạm vi nghiên cứu:

羅密經 Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật kinh trong tập mang kí hiệu AB

367 đang được lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam theo các vấn đề cơ bản như văn bản học, các vấn đề được văn bản hóa qua cấu trúc sắp đặt của kinh, trong mối quan hệ với bản

Trang 13

dịch Hán văn của Cưu Ma La Thập cũng như trong mối quan hệ với tùng thư Phật học sơ cơ, giải âm do Hòa thượng Phúc Điền tổ chức biên tập vào những thập niên giữa thế kỉ XIX, phương thức giải quốc âm qua nghiên cứu đối ứng Hán – Nôm

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận:

Luận văn quán triệt cách thức tiếp cận biện chứng và lịch sử cho các nghiên cứu các tư liệu văn hiến quá khứ, trong đó có các tài liệu thư tịch lịch

sử về Phật giáo

5.2 Phương pháp nghiên cứu:

Để nghiên cứu đề tài này chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu

cơ bản sau:

- Văn bản học Hán Nôm nhằm xác định văn bản được mang ra nghiên cứu về mặt văn bản học

若波羅密經 Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật kinh cũng như nêu ra những nhận xét cần thiết về phương thức phiên Nôm trong mối quan hệ đối ứng Hán

剛般若波羅密經, Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật kinh trên một số phương

diện như văn bản học, kết cấu và các vấn đề được văn bản hóa để từ đó góp

Cương Bát Nhã Ba La Mật kinh của Cưu Ma La Thập ở Việt Nam, một số

Trang 14

phương thức giải quốc âm đã được Hòa thượng Phúc Điền áp dụng

6.2 Về mặt thực tiễn:

- Cung cấp và giới thiệu cho người đọc hiện đại bản phiên Nôm văn bản

金剛般若波羅密經 Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật kinh, cũng như các giá trị thông tin tính của các vấn đề được văn bản hóa có trong văn bản này

- Góp phần làm sáng tỏ vấn đề phiên dịch học Hán Nôm có trong lịch sử thông qua việc phiên Nôm văn bản Kinh Kim Cương

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, phiên âm, dịch nghĩa, luận văn gồm có 3 chương:

Chương 1 với tiêu đề: “ Kinh Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật và các bản

dịch Hán văn của nó” nhằm sơ bộ giới thiệu chung về Kinh Kim Cương (lịch

sử và ý đề của kinh) và các bản dịch kinh Kim Cương ra Hán văn; xác định

金剛般若波羅密經 Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật kinh được Hòa thượng

Phúc Điền mang ra giải quốc âm là bản dịch Hán văn của Cưu Ma La Thập

Chương 2 với tiêu đề: “Văn bản 金剛般若波羅密經 Kim Cương

Bát Nhã Ba La Mật kinh trong một tùng thư Phật học sơ cơ, giải quốc âm”,

nhằm trình bày kết cấu sắp đặt của 金剛般若波羅密經 Kim Cương Bát Nhã

Ba La Mật kinh được đóng trong tập AB 367 hiện đang được lưu giữ tại Viện

Nghiên cứu Hán Nôm, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam là một thành viên trong một tùng thư Phật học có tính chất sơ cơ, đa phần được giải quốc

âm do Hòa thượng Phúc Điền tổ chức biên tập và giải âm

Chương 3 với tiêu đề: “ Giải quốc âm” trong văn bản 金剛般若波羅

密經Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật kinh” nhằm đề cập đến vấn đề “giải quốc

âm” qua cơ cấu đối ứng Hán văn - Quốc âm đã được Hòa thượng Phúc Điền thực hiện trong văn bản như thế nào

Trang 15

Phụ lục: Luận văn cung cấp nguyên văn ảnh ấn văn bản 金剛般若波羅

密經Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật kinh được đóng trong tập AB 367 hiện

đang được lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam và bản phiên Nôm cho văn bản đó

Trang 16

Chương 1:

KINH KIM CƯƠNG BÁT NHÃ BA LA MẬT

VÀ CÁC BẢN DỊCH HÁN VĂN

Chương này nhằm giới thiệu chung về Kinh Kim Cương (lịch sử và ý

đề của kinh); vấn đề phiên dịch Kinh Kim Cương ra Hán văn trong mối quan

hệ với lịch sử phiên dịch Kinh Phật ra tiếng Hán nói chung để từ đó xác định

bản 金剛般若波羅密經 Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật kinh được Hòa

thượng Phúc Điền giải quốc âm, được đóng trong tập AB 367 hiện đang được lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam là bản dịch của Cưu Ma La Thập

1.1 Kinh Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật

1.1.1 Lịch sử hình thành kinh Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật

Trong các lời Tựa cho việc xuất bản Kinh Kim Cương, người ta thường nói “Vô Tự Chân kinh mới đích thực là Kinh Kim Cương Bát Nhã” Đó là ý

nói từ góc nhìn Phật giáo, của góc nhìn Phật Pháp Còn dưới góc nhìn ngữ văn học, việc giải thích ý nghĩa của đề kinh là cần thiết cho sự liễu giải các vấn đề tiếp theo theo yêu cầu của đề tài luận văn này

Kinh Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật 金剛般若波羅密經 (Kinh Kim Cương) nằm trong hơn 600 bản kinh thuộc văn hệ Bát Nhã Đại Thừa

Kinh này do Đức Phật thuyết, Tu Bồ Đề thỉnh vấn, A Nan giả kết tập, nguyên văn viết bằng chữ Phạn

Thời gian và địa điểm hình thành và xuất hiện Phạn bản của Kinh Kim

Cương được xác định từ thế kỉ II trước Công Nguyên và thế kỉ thứ I Tây lịch,

tại vùng bắc Ấn Độ Sau đó, Phạn bản này của Kinh được truyền xuống vùng phía nam Ấn Độ rồi truyền sang các nước có truyền thống về Phật giáo như: Tây Tạng, Mông Cổ, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Việt Nam… Thông

Trang 17

suốt từ đầu đến cuối, bản kinh này đều nhằm mục đích khiến cho độc giả hiểu thông suốt về nghĩa lý Phật pháp, từ đó đều liễu nghĩa, thấu suốt tất cả kinh điển Đại Thừa

Về mối quan hệ giữa Kinh Kim Cương với văn hệ Bát Nhã Đại Thừa, có quan điểm cho rằng, văn hệ Bát Nhã đã được Đức Phật giảng dạy vào năm thứ 5 tại thành Vương Xá kể từ khi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni thành đạo, trong

đó kinh Kim Cương đã được Đức Phật giảng dạy sau cùng, nhằm nhắm tới muốn dùng Bát Nhã để chặt đứt mọi sự chấp trước của tâm vào các tướng một cách rốt ráo và triệt để nhất

1.1.2 Tên Kinh, đề Kinh

Kinh Kim Cương “經金剛”[tên đầy đủ là金剛般若波羅密經 Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật kinh, theo tiếng Phạn là: Vajra prajnapara mita sutra hay Vajra cchediloa prajnapara mita sutra] được coi là một trong

những bản kinh rất quan trọng của Phật giáo Đại Thừa Đặc biệt đối với Thiền tông, bản kinh này còn mang một ý nghĩa hết sức quan trọng, bởi chứa đựng trong đó những tinh hoa, những ý nghĩa màu nhiệm của giáo lý Bát Nhã

Kim Cương tiếng Phạn là Vajra, tiếng Anh là Diamond được hiểu là loại chất kiên cố bền chắc, bất hoại và sắc bén Chất ấy có khả năng cắt đứt các vật khác, mà vật khác khó có thể hủy hoại được nó Kim Cương đặc tính vốn có của nó là kiên cố bất hoại, bền chắc và sắc bén mà chẳng phải

từ nơi vật khác tạo thành Kim Cương được sử dụng chỉ cho Pháp Pháp này có hai đặc điểm chính:

+ Nó có thể hàng phục được tâm, mà tâm lại không thể hàng phục được nó

+ Nó có thể chặt đứt được mọi thứ phiền não, mà các phiền não không thể chi phối được nó

Bát Nhã “般若”: tiếng Phạn là Prajna, Trung Hoa dịch là 智慧 Trí tuệ

Trang 18

hay 慧明 Tuệ minh Trí tuệ ấy có đầy đủ công năng chiếu soi, để từ đó thấy

rõ được bản chất của mọi sự mọi vật, có đầy đủ diệu dụng soi rọi tới chỗ tận cùng của chân lý, thấu suốt bản thể và mọi căn tính nơi các pháp Từ đó có thể thấy rằng, trí tuệ hay Bát Nhã được thành tựu rốt ráo, từ sự nỗ lực tu tập và sự thực hành nơi giáo pháp

Ba La Mật “波羅密” tiếng Phạn là: Paramita, Trung Hoa phiên âm

là 波羅密 Ba La Mật hay dịch nghĩa là “Đáo bỉ ngạn” với ý nghĩa là “đến bờ bên kia” Ba La Mật “波羅密”còn được dịch là “Độ Khứ” với ý nghĩa là

“đã vượt qua” Thực ra dù dịch là “vượt qua” hay được dịch là “đến bờ bên kia” cũng chỉ là một cách ẩn dụ Sinh tử chính là để dụ cho “bờ bên này”, còn Niết Bàn “涅槃”chính là để dụ cho bờ bên kia “Bờ bên này” chính là dụ cho “si mê”, “bờ bên kia” chính là dụ cho “giải thoát” hay “giác ngộ” Hễ vượt qua được con sông sinh tử thì sẽ thẳng hướng tới Niết Bàn, hễ vén được bức màn của sự vô minh tăm tối, si mê thì sẽ chứng ngộ và đạt tới được cảnh giới của sự giác ngộ và giải thoát

Kinh “經”, tiếng Phạn là Sutra, Trung Hoa dịch là Tu Đa La “修多羅” Trong Phật giáo, Kinh được hiểu là những lời răn dạy, được chính Đức Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết giảng và được các đệ tử của ngài kết tập lại Ngoài ra còn được dịch là 契經 Khế Kinh, trong đó bao hàm cả “契理” khế

lý và “契機”khế cơ Khế lý契理 là đứng về phương diện nghĩa lý giải thoát giác ngộ thì nó luôn luôn đúng, bất chấp về thời gian và không gian Khế cơ

契機 tức là luôn luôn thích hợp với mọi căn cơ, trình độ của chúng sinh Do vậy tất cả các kinh điển của Phật giáo luôn đầy đủ khế lý“契理”và khế cơ “契機”

Từ đó có thể thấy rằng,“金剛般若波羅密經 Kim Cương Bát Nhã Ba La

Mật” có thể cắt nghĩa là “Trí tuệ cứng như kim cương có thể đi đến được bờ

Trang 19

bên kia của sự giải thoát” Kinh 金剛般若波羅密經 Kim Cương Bát Nhã Ba

La Mật là “Kinh Trí tuệ đến bên bờ bên kia, như kim cương bền, sắc có thể

cắt đứt và đoạn trừ được tất cả các phiền não khổ đau để từ đó có thể đạt tới an vui giải thoát” Trong cấu trúc tên kinh, kinh này đã dùng “Kim Cương- 金剛” là Dụ “諭”, dùng “Bát Nhã Ba La Mật- 般若波羅密” làm Pháp “法”

Đề kinh đã “dùng Dụ và Pháp” để lập tên kinh

1.2 Các bản dịch Hán văn của Kinh Kim Cương

Cùng với lịch sử Phật giáo vào Trung Quốc là lịch sử dịch Kinh Phật ra

tiếng Hán, Hán văn, trong đó có lịch sử dịch Kinh Kim Cương Ngay trong

khoảng thời gian từ đầu thế kỉ V đến đầu thế kỉ VI, bản Phạn văn của kinh này đã có tới 6 vị cao tăng lỗi lạc của Phật giáo Trung Hoa tiến hành phiên dịch

Trên cơ sở bài viết “So sánh sơ lược các bản dịch Hán văn Kinh Kim

kim- cang, được chúng tôi truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2020, chúng tôi xin dẫn ra ở đây danh mục 6 bản dịch Hán văn đó và một số nhận xét đã được rút

https://thuvienhoasen.org/a32668/so-sinh-so-luoc-cac-ban-han-dich-kinh-ra làm cơ sở cho sự nhận thức về bản dịch Kinh Kim Cương của Cưu Ma La Thập trên các mặt như: thời điểm, độ dài, đặc trưng nổi bật cũng như các vấn

đề khác nữa

1.2.1 Sáu bản dịch Hán văn của Kinh Kim Cương

Sáu bản dịch Hán văn Kinh Kim Cương được nêu trong bài bài viết “So sánh sơ lược các bản dịch Hán văn Kinh Kim Cang” của tác giả Thích Quảng Lạc đăng trên trang mạng: https://thuvienhoasen.org/a32668/so-sinh-so-luoc-cac-ban-han- dich-kinh-kim-cang được chúng tôi truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2020 là:

* 金剛般若波羅密經 Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật kinh, do 姚秦鳩

Trang 20

摩羅什 Cưu Ma La Thập người đời Diêu Tần dịch

* 金剛般若波羅密經 Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật kinh, do 菩提流

支Bồ Đề Lưu Chi người thời Nguyên Ngụy dịch

* 金剛般若波羅密經 Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật kinh, do 真諦

Chân Đế người thời Trần dịch

* 金剛般若波羅密經 Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật kinh, do 達摩笈多

Cấp Đa người thời Tùy dịch

* 第九會能斷金剛分 Đệ Cửu Hội Năng Đoạn Kim Cương Phần, do

玄奘 Huyền Trang người thời Đường dịch

佛說能斷金剛般若波羅密經 Phật Thuyết Năng Đoạn Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Đa kinh, do 義凈 Nghĩa Tịnh người thời Đường dịch

Cần có một sự nhận xét mang tính tổng quát nhất về 6 bản dịch Hán

văn của Kinh Kim Cương trên các vấn đề như tên kinh, người dịch, thời điểm

dịch hay các lưu ý về phong cách dich

Xét về cấu trúc từ ngữ theo cấp độ ngôn ngữ, cả sáu tên bản dịch đều là những ngữ danh từ có trung tâm ngữ và định ngữ

Trung tâm ngữ có thể là 經 KINH như hầu hết các bản dịch

Ngoài trung tâm ngữ của các ngữ danh từ như 經 KINH thì còn có trung tâm ngữ là 分 PHẦN

Cả 6 bản dịch đều có 金剛 Kim Cương làm định ngữ

Tên các bản dịch Hán văn có trung tâm ngữ là 經 KINH như:

* Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật kinh 金剛般若波羅密經, 姚秦鳩摩

羅什 Cưu Ma La Thập người đời Diêu Tần dịch;

* Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật kinh 金剛般若波羅密經,Bồ Đề Lưu

Chi người thời Nguyên Ngụy dịch;

Trang 21

* Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật kinh 金剛般若波羅密經,Chân Đế

người thời Trần dịch;

* Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật kinh 金剛般若波羅密經 Cấp Đa

người thời Tùy dịch;

* Phật Thuyết Năng Đoạn Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Đa kinh 佛說

Trung tâm ngữ là 經 KINH được đa phần các bản dịch sử dụng Điều

đó có hoặc là do Kinh này được nhận thức như là một thực thể độc lập và cũng được sắp đặt như một thực thể độc lập

Có 5 bản dịch có tên 經 Kinh như thế Điều này tạo nên một sự nhận

thức mang tính áp đảo cho dù ai cũng đều nhận thức được rằng, Kinh Kim

Cương là Kinh thuộc hệ văn BÁT NHÃ

Còn chỉ có một trường hợp là 分 PHẦN Đó là cách đặt tên của Huyền Trang khi Ngài đặt Kinh này trong một phức thể mang tính TỔNG TẬP,

TÀNG THƯ, PHẬT TẠNG [* Đệ Cửu Hội Năng Đoạn Kim Cương Phần 第

九會能斷金剛分 , Huyền Trang, người thời Đường dịch]

Từ sự trình bày trên đây về 6 bản Kinh Kim Cương qua đề kinh cũng như quá trình dịch sang Hán văn của Kinh Kim Cương, ta thấy nổi lên một số điểm

Như vậy ta thấy, vấn đề niên đại dịch thuật cũng như tình hình lưu hành

Trang 22

các bản dịch sang Hán văn từ Phạn ngữ của Kinh Kim Cương cơ bản là khá rõ

ràng

Bản dịch kinh Kim Cương được xem là sớm nhất và có tầm ảnh hưởng sâu rộng tới các bản kinh Kim Cương sau này, phải kể đến đó là bản dịch 金剛般若波羅密經 của 姚秦鳩摩羅什 Cưu Ma La Thập

Bản dịch này được鳩摩羅什 Cưu Ma La Thập dịch tại Trường An trong khuôn viên của Tây Minh Các Về niên đại thì có 2 quan điểm xoay quanh bản dịch này Theo quan điểm thứ nhất thì bản kinh này được phiên dịch vào niên hiệu Hoằng Thủy năm thứ 3 tức là vào năm 401 Quan điểm thứ 2 lại cho rằng, bản kinh này được phiên dịch vào năm thứ 4 niên hiệu Hoằng Thủy tức vào năm 402 Năm thứ 3 niên hiệu Hoằng Thủy, ngày 20 tháng 12 năm

401, 鳩摩羅什 La Thập đến Tràng An, được người người tôn kính, tiếp đón như một vị Quốc sư La Thập dừng nghỉ tại đây, được mời vào Tây Minh Các

và ở tại vườn Tiêu Diêu để phiên dịch kinh điển Khi phiên dịch, La Thập luôn luôn lấy bản kinh văn Phạn bản để đối chiếu và dịch thuật Bản mới dịch này không khác với bản gốc chữ Phạn Chữ nghĩa đều sáng rõ, nghĩa lý thì thâm huyền khiến cho mọi người đều kính phục, đại chúng vui mừng và rất mực tán thán Từ nguồn sử liệu trên, cho ta thấy 鳩摩羅什 Cưu Ma La Thập đến kinh đô Trường An nhằm vào ngày 20 tháng 12 năm 401 (chính vào năm thứ

3 niên hiệu Hoằng Thủy) và bắt đầu chủ trì phiên dịch kinh

Có lẽ trong quá trình phiên dịch, cần có thời gian để đối chiếu giữa 2 bản (bản gốc của tiếng Phạn và bản được phiên dịch là bản Hán), rất có thể bản dịch kinh này nhiều khả năng được hoàn thành vào năm thứ 4 niên hiệu Hoằng Thủy tức là năm 402 Hiện có 2 bản kinh Kim Cương do La thập phiên dịch đang được lưu truyền: một bản có 5176 chữ, bản còn lại có 5180 chữ Đây được xem là bản dịch kinh Kim Cương sớm nhất và có giá trị nhất cho đến ngày nay và được coi là định bản Bản dịch này vẫn được sử dụng rộng rãi

Trang 23

và phổ biến nhất trong tất cả các bản dịch

金剛般若波羅密經 Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật kinh do Bồ Đề

Lưu Chi người thời Nguyên Ngụy dịch được thực hiện khi đến ở chùa Vĩnh Ninh, Lạc Dương vào năm Mậu tý (508) niên hiệu Vĩnh Bình thời Ngụy Tuyên Võ Đế

Vua Võ Đế đích thân thăm hỏi, ủy thác, được cung cấp phẩm vật để Lưu Chi dịch kinh Phật, trong đó có Kinh Kim Cương Bản dịch kinh Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật được Bồ Đề Lưu Chi thực hiện trong khoảng thời gian gần

30 năm, từ năm 508 niên hiệu Vĩnh Bình đến năm 535 niên hiệu Thiên Bình Bản dịch kinh Kim Cương của Bồ Đề Lưu Chi gồm có 6105 chữ

Bản dịch 金剛般若波羅密經 của Chân Đế người thời Trần dịch được Chân Đế thực hiện tại quận Lương An vào năm thứ 3 của niên hiệu Thiên Gia của nhà Trần, tức là năm 562 Bản này ngoài việc căn cứ vào bản dịch đầu tiên của 鳩摩羅什 Cưu Ma La Thập còn dựa trên tham cứu bản dịch của Bồ

Đề Lưu Chi Do vậy bản kinh Kim cương được Chân Đế phiên dịch đã dựa trên sự phiên dịch của 2 bản kinh trước đó Nhưng bản dịch kinh Kim Cương

được Chân Đế phiên dịch thì có thêm phần văn nghĩa “Kinh bản nhất quyển,

văn nghĩa thập quyển Kinh bản 1 quyển và thêm vào phần văn nghĩa gồm 10

quyển” để giải thích cho những phần được nhắc đến trong Kinh Kim Cương

mà 2 bản trước đây chưa có

Bản dịch của Đạt Ma Cấp Đa ở thời Tùy là bản dịch Kinh Kim Cương thứ 4 có số lượng 7109 chữ, được thực hiện vào năm Khai Hoàng năm thứ mười, tức vào năm 590

Huyền Trang thời Đường có 2 bản dịch về Kinh Kim Cương Bản dịch đầu tiên là vào năm thứ 22 niên hiệu Trinh Quán nhưng đã thất truyền Bản dịch hiện còn của Huyền Trang được người đời biết đến gồm có 8208 chữ với

tên gọi là “Đệ Cửu Hội Năng Đoạn Kim Cương phần 第九會能斷金剛分”

Trang 24

Bản kinh này được dịch tại Trường An

Kinh Kim Cương Bát Nhã nằm ở hội thứ 9, quyển 577 trong hơn 600

bản kinh thuộc hệ Bát Nhã của Phật giáo Đại thừa Kinh Kim Cương này được Huyền Trang phiên dịch trong khoảng thời gian của năm thứ 3 sau khi bắt đầu

phiên dịch bộ Đại Bát Nhã Việc dịch thuật Đại Bát Nhã nói chung, kinh Kim

Cương trong bộ Đại Bát Nhã nói riêng của Huyền Trang đã được đánh giá là

một trong những sự kiện dịch thuật nổi tiếng của truyền thống dịch thuật Phật giáo Trung Quốc và có tầm ảnh hưởng sâu rộng trong lịch sử

Bản dịch của Nghĩa Tịnh đời Đường có tên đầy đủ là: Phật Thuyết

Năng Đoạn Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Đa 佛說能斷金剛般若波羅密多

Nghĩa Tịnh đã đến Trường An từ năm Canh Tý (700) và bắt đầu sự nghiệp phiên dịch kinh điển của mình ngay từ đó Trong suốt 3 năm (từ năm Canh Tý đến năm Quý Mão tức từ năm 700 đến năm 703, Nghĩa Tịnh đã ở chùa Tây Minh thành Trường An để phiên dịch Bản kinh Kim Cương do Nghĩa Tịnh phiên dịch có 5118 chữ Đây là bản dịch kinh Kim Cương cuối cùng trong 6 bản dịch với số lượng chữ ít nhất, kế thừa được những tinh hoa từ những bản kinh trước Nghĩa Tịnh sử dụng ngôn ngữ cô đọng, hàm xúc, độ chính xác cao Nhưng tiếc là bản dịch này ít được sử dụng so với các bản trước đó và đặc biệt là bản dịch của 姚秦鳩摩羅什 Cưu Ma La Thập đời Diêu Tần

Sự bao quát về mặt thời gian của 6 bản dịch trên với độ dài 300 năm [từ năm 401/402 đến những năm 700 đến 703; năm 401/402 là năm bản dịch Kinh Kim Cương của 鳩摩羅什 Cưu Ma La Thập ra đời; từ năm 700 đến 703

là khoảng thời gian ra đời bản dịch Kinh Kim Cương của Nghĩa Tịnh thời Đường] là sự xác định thời gian theo cách nhìn của chính sách sùng tín quốc

gia, nhà nước Việc dịch Kinh Kim Cương cũng như các Pháp sư dịch đều

được đích thân các đấng quân vương đứng ra thỉnh cầu, cung cấp các điều kiện cần thiết và nhiều khi là rất hậu cho các dịch giả là các nhà sư này

Trang 25

Khá nhiều người trong số họ đều là những người từ các nước ngoài đến Trung Quốc Họ giỏi Phạn ngữ, còn Hán ngữ thì họ chủ yếu được tiếp cận với ngôn ngữ nói đương thời Việc sử dụng khá nhiều yếu tố của khẩu ngữ tiếng Hán đương thời là một trong những nguyên nhân làm nên năng lực sống động của ngôn ngữ viết của các bản dịch kinh Phật, góp phần tích cực cho sự tạo thành một giai đoạn sớm của bạch thoại tiếng Hán trung đại

1.2.2 Truyền thống dịch Kinh Phật sang Hán ngữ và hoạt động dịch kinh của Cưu Ma La Thập

Phật Pháp đầu tiên truyền vào Trung Quốc theo sử ghi lại tức là cách ghi theo cách nhìn của chính sách sùng tín quốc gia thì bắt đầu từ năm thứ 10 niên hiệu Vĩnh Bình của vua Hán Minh Đế đời Hậu Hán, tức năm 67 sau CN

Nhân Hán Minh Đế mộng thấy người vàng nên ông ngay lập tức liền phái đoàn người 18 người, trong đó có Thái Âm, Vương Tuân đi Thiên Trúc cầu Phật pháp Họ đã gặp Ca Diếp Ma Đằng và Trúc Pháp Lan và thỉnh các nhà sư này về Trung Quốc Nhà vua và dân chúng đều vui, xây chùa Bạch Mã ở ngoài thành Lạc Dương và đón hai vị Pháp sư Thiên Trúc về đấy, dịch kinh điển Phật

giáo được 14 quyển Trong số đó có Kinh Tứ thập nhị chương vẫn còn được

lưu hành cho đến ngày nay

Việc ghi lịch sử truyền Phật giáo Trung Quốc như thế là ghi theo cách nhìn của chính sách sùng tín Phật giáo có tính chất quốc gia Còn trên thực tế, Phật pháp đã lan truyền trong dân gian từ rất sớm qua các ghi chép trong sách

Liệt Tử, Kinh lục của Chu Sĩ Hành (203 – 283), trong Thích Lão chí “釋老志

”của Ngụy thư “魏書” và nhiều sách khác nữa

Sự du nhập và hoằng dương Phật pháp ở Trung Quốc gắn liền với việc dịch kinh Phật từ Phạn ngữ /Phạn văn sang Hoa ngữ/ Hán ngữ/ Hán văn

Việc dịch kinh Phật đã ảnh hưởng trực tiếp đến việc giải thích giáo lý của Phật giáo Nếu không có việc phiên dịch được tiến hành rộng khắp và bao quát

Trang 26

từ Phạn ngữ sang Hán ngữ thì khó có thể có một sự phát triển của Phật giáo ở Trung Quốc đến mức như thế

Các nhà dịch Kinh Phật đã chi phối mọi kiến giải về Phật pháp Trong số

rất nhiều người phiên dịch kinh Phật nói chung và những người dịch Kinh Kim

Cương nói riêng thì 3 vị sau đây là những vị có ảnh hưởng lớn nhất: 鳩摩羅什

Cưu Ma La Thập (344 – 413); 眞諦 Chân Đế (499 – 569); 玄奘 Huyền Trang (602 –664)

鳩摩羅什 Cưu Ma La Thập (344 – 413), người nước Qui Tư 龜茲, xuất gia lúc tuổi còn nhỏ, theo mẹ đến các nước Kế Tân罽賓, Tây Vực 西域 học Phật pháp Ban đầu chuyên về Tiểu Thừa, sau chuyển sang Đại Thừa

Lúc ấy ở Trung Quốc gặp buổi Ngũ Hồ loạn Hoa 五胡亂華 (năm tộc người Hồ vào làm loạn Trung Hoa kéo dài từ năm 304 đến 439, nhà Tấn (266 – 420) suy yếu phải chạy về Nam gọi là Đông Tấn (317 – 420), kết thúc giai đoạn Tây Tấn (266-316) Giai đoạn Ngũ Hồ loạn Hoa tức Ngũ Hồ Thập lục quốc tồn tại từ 304 đến 439 gồm 135 năm Đó là một giai đoạn Trung Quốc bị ngoại tộc như Hung Nô, Tiên Ty, Yết, Chi, Khương, Tung xâm lấn do nhà Tây Tấn đã quá suy yếu 16 nước đó nối nhau nổi lên mà chủ thể nổi lên đó đều là những tộc người xung quanh Trung Quốc mà sử Trung Quốc thường gọi là ngoại tộc Trong số 16 nước ấy có nước 秦Tần

秦 Tần lại gồm 前秦 Tiền Tần (351 – 394) và Hậu Tần (384 – 417), tức 姚秦 Diêu Tần Cần phải nói rõ hơn một chút thời đại 姚秦 Diêu Tần, thời đại mà 鳩摩羅什 Cưu Ma La Thập đã dịch Kinh Kim Cương

Năm 350, một tướng cũ của nhà Hậu Triệu người tộc Chi là 蒲洪 Bổ Hồng chiếm Quan Trung, tức Trường An (nay thuộc Thiểm Tây, Trung Quốc) lập ra nhà 前秦 Tiền Tần Bổ Hồng đổi họ Bổ thành họ 符 Phù thành 符洪 Phù Hồng 符洪 Phù Hồng bị đầu độc, con của Phù Hồng là Phù Kiện lên

Trang 27

thay Trong các trận đánh, Phù Kiện nhận được sự giúp đỡ của Phù Hùng Phù Hùng chết trong một chiến dịch vào năm 354 Con trai Phù Hùng là 符堅 Phù Kiên hưởng tước của cha Con trai của Phù Kiện là Phù Sinh lên ngôi hoàng đế sau khi Phù Kiện mất Phù Kiên đã được hoàng đế Phù Sinh con trai của Phù Kiện trao cho binh quyền Về sau, Phù Kiên giết Phù Sinh mà lên ngôi vương, tự xưng là Thiên vương Phù Kiên bị tướng của nhà Tấn là 謝玄

Tạ Huyền đánh bại trong trận 淝水 Phì Thủy nên Tiền Tần bị xé nát Một bộ tướng người Khương là 姚萇 Diêu Trành ly khai Tần mà lập ra Hậu Tần (384 – 417) nên gọi là 姚秦 Diêu Tần (384– 417)

鳩摩羅什 Cưu Ma La Thập (344 – 413) là một dịch giả dịch nhiều Kinh

Phật Ngoài việc dịch Kinh Kim Cương, Ngài còn dịch các kinh Bát Nhã, Đại

Trí Độ luận, Trung luận, Bách luận, Thập nhị môn luận, v.v … Đó đều là

những bộ luận về thực tướng các pháp của Long Thọ

Không chỉ có thế, 鳩摩羅什 Cưu Ma La Thập còn dịch Kinh Kim

Cương trong mối quan hệ với Kinh Pháp Hoa Ông nói, Bát Nhã quét sạch

mê vọng còn Pháp Hoa hiển bày cứu cánh Tuy hai kinh này trước và sau 鳩

摩羅什 Cưu Ma La Thập đều có người dịch nhưng đều không bằng ông, bản dịch của ông có ảnh hưởng rất lớn 鳩摩羅什 Cưu Ma La Thập là người trí tuệ vô song, thông làu tam tạng kinh điển nên được gọi là Tam Tạng Pháp Sư

Khi phiên dịch, 鳩摩羅什 Cưu Ma La Thập luôn luôn lấy bản kinh văn Phạn bản để đối chiếu và dịch thuật nên sự tương ứng giữa bản dịch với bản Phạn văn đạt được ở trình độ rất cao Do vậy, các bản dịch Hán văn này không khác với bản Phạn văn, chữ nghĩa đều sáng rõ, nghĩa lý thì thâm huyền khiến cho mọi người đều kính phục, đại chúng vui mừng và rất mực tán thán

Hiện có 2 bản kinh Kim Cương do 鳩摩羅什 Cưu Ma La Thập phiên

dịch ra Hán văn: một bản có 5176 chữ, bản còn lại có 5180 chữ đang được

Trang 28

lưu truyền Đây được xem là bản dịch kinh Kim Cương sớm nhất và có giá trị nhất cho đến ngày nay Bản dịch này vẫn được sử dụng rộng rãi và phổ biến nhất trong tất cả các bản dịch ở Trung Quốc cũng như ở nhiều nước Đông Á khác ngoài Trung Quốc

Một văn bản dịch kinh đến mức trác tuyệt như thế đã được những trác tuyệt Đại sư truyền thụ Trong số những trác tuyệt Đại sư như thế phải kể đến Lục Tổ Huệ Năng (638 -713), một Thiền sư vĩ đại trong lịch sử Thiền Tông Trung Hoa, kế tiếp Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn, trở thành Tổ thứ Sáu của Thiền Tông Trung Hoa

1.2.3 Việc phân chương bản dịch Kinh Kim Cương

Kinh Kim Cương về nguyên văn bản Phạn văn không có phân chia ra

thành các chương phần Mãi sau này, việc chia Kinh Kim Cương theo bản dịch Hán văn ra ba mươi hai phần là do 梁昭明太子 thái tử Chiêu Minh (501-531) của nhà Lương thực hiện 昭明太子 Chiêu Minh Thái tử tức 蕭

統 Tiêu Thống (501 – 531), tự là 德施 Đức Thi, xưng là Chiêu Minh Thái

tử, là trưởng tử của Lương Vũ đế Tiêu Diễn Vì vua Lương Vũ đế mộ đạo nên Tiêu Thống cũng ảnh hưởng theo Ông đã chăm chú nghiên cứu Phật, thường mời các hòa thượng đến Đông cung để giảng dạy và thảo luận về Đạo pháp Sau khi thực hiện nghi lễ thông qua, Lương Vũ Đế cũng bắt đầu trao dần các công việc quốc gia đại sự cho Tiêu Thống, bản thân Lương Vũ Đế trở nên ít tham gia vào các hoạt động thường nhật của quốc gia nhưng thái tử đã mất lúc

30 tuổi

Chiêu Minh thái tử Tiêu Thống đã cho chia ra các chương phần và đặt đề mục cho 32 chương phần Việc phân chia ra thành các chương mục như vậy, nhằm mục đích giúp cho người đọc, người học phần nào đó nắm rõ được ý nghĩa của kinh, để từ đó dễ hành trì dễ nhớ, dễ đọc tụng và đặc biệt dễ tham cứu từng chương phần Nội dung Kinh Kim Cương được xoay quanh các vấn đề

Trang 29

do ngài Tu Bồ Đề một trong mười đại đệ tử của Đức Phật người được mệnh danh là “Giải Không Đệ Nhất” trực tiếp thưa thỉnh Đức Phật Trong suốt văn kinh đã đề cập đến rất nhiều những vẫn đề khác nhau, nhưng lại chỉ xoay quanh công án và tập trung vào cách làm thế nào để an trụ tâm? Làm thế nào

để hàng phục được tâm?

Dưới đây, chúng tôi sẽ đề cập đến vấn đề bản dịch Hán văn này của Kinh Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật đã được Hòa Thượng Phúc Điền sử dụng cho việc giải âm và được tổ chức in trong một Tùng thư Phật học mà bản hiện nay

ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm được đăng kí với kí hiệu AB.367

1.3 Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật trong AB.367 là bản dịch của Cưu

Ma La Thập

Nhưng sự ảnh hưởng của bản dịch ở Việt Nam đã được ghi nhận trong

lịch sử Đó là việc sử dụng bản dịch Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật do Cưu

Ma La Thập cho việc truyền giảng kinh qua Hán văn và giải âm của các Thầy

nhà chùa trong quá khứ Bản dịch Hán văn Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật do

Cưu Ma La Thập dịch là bản có trong bộ sách lớn mang tên 金剛般若波羅

密經 Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật có kí hiệu đăng kí là AB.367, hiện đang

được lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm

1.3.1 Những thông tin về việc sử dụng bản dịch của Cưu Ma La Thập

Trong hệ thống văn bản Hán Nôm hiện đang được lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Viện Hàn Lâm Khoa học Xã hội Việt Nam có tập sách mang kí hiệu AB 367 được đăng kí với tên gọi là 金剛般若波羅密經 Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Kinh Những vấn đề văn bản học, trình tự sắp đặt của cả tập sách cũng như các vấn đề được văn bản hóa của Kinh Kim Cương

ở trong tập sách này sẽ được chúng tôi trình bày trong các Chương 2 và Chương 3 dưới đây

Còn ở đây để cho có sự liền mạch với những gì về sự phổ biến của bản

Trang 30

dịch Hán văn Kinh Kim Cương do Cưu Ma La Thập dịch đã được trình bày ở các mục của Chương này cũng như qua đó chúng ta có thể thấy việc sử dụng bản dịch Cưu Ma La Thập ở Việt Nam cả dạng bản Hán văn và bản giải quốc âm, chúng tôi dẫn ra ở đây một trích đoạn ở các tờ số 5, 6 nơi có những thông tin về văn bản Hán văn dịch Kinh Kim Cương được Hòa Thượng Phúc Điền sử dụng trong việc giải âm của mình là bản dịch của Cưu Ma La Thập mà thôi

6a

1.3.2 Những thông tin về cấu trúc của bản kinh

Trên đây là ảnh chụp mặt a của tờ thứ 5 trong tập sách mang kí hiệu AB.367 hiện đang được lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm Dưới đây là phiên âm, dịch nghĩa theo các dòng trang, thứ tự các dòng trang như sau:

a Phiên âm: Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Kinh

Kinh thủ chính bản tịnh vô Tứ Bồ Tát Bát Kim Cương Kinh vĩ tịnh vô chú

Trang 31

Thị hậu nhân bổ nhập

Dịch nghĩa: Kinh Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật

Bản chính ở đầu kinh hoàn toàn không có Tứ Bồ Tát Bát Kim Cương

Cuối kinh hoàn toàn không có lời chú Đó là do người đời sau bổ sung thêm vào

b Phiên âm: Thích Già/Ca Văn Phật thuyết, Tu Bồ Đề thỉnh vấn A Nan

Tôn giả kết tập Tam Tạng La thập pháp sư dịch Lục Tổ Huệ Năng truyền thụ, Lương Chiêu Minh thái tử phân chương, tam thập nhị phần Xuyên Lão đại sư chú sớ Toàn kinh nhất thiên tam bách thập nhất cú, ngũ thiên tam bách bát thập tam tự Liên Phái tự Lâm Tế ân tứ tăng cương Phúc Điền Hòa thượng quốc âm Tống triều đại thần tam thập nhị đại phu hội đồng, mỗi nhân thư tả nhất phần, trượng thừa kinh công, dĩ triêm Phật đức

Dịch nghĩa: Kinh này do đức Thích Già/Ca Văn Phật thuyết, Tu Bồ Đề thỉnh vấn A Nan Tôn giả kết tập, Tam Tạng La thập pháp sư dịch, Lục Tổ Huệ Năng truyền thụ, thái tử Chiêu Minh nhà Lương phân chương ra làm 32 phần Xuyên Lão đại sư chú sớ Toàn kinh gồm có 1311 câu, 5383 chữ Hòa thượng Phúc Điền có ân tứ tăng cương thuộc phái Lâm Tế ở chùa Liên Phái dịch ra quốc âm 32 vị đại phu là các đại thần của triều Tống họp lại, mỗi người viết chữ một chương, nhờ theo công của kinh để thấm nhuần đức của đức Phật

Qua những dòng được phiên âm và dịch nghĩa ở trên, ta có thể thu nhận được các thông tin cơ bản về văn bản Hán văn mà Hòa Thượng Phúc Điền mang

ra giải âm, trong đó có thông tin về bản dịch Hán văn này là do Tam Tạng La thập pháp sư tức Pháp sư Cưu Ma La Thập dịch Ngoài ra còn có các thông tin như: Thông tin về cấu trúc của kinh mà theo đó, toàn kinh gồm 1.311 câu, 5.383 chữ Những thông tin này, nhất là thông tin về tổng số lần chữ xuất hiện trong kinh có nhiều điểm khác so với các sách khác đã nói như đã nêu ở trên có trong bản dịch của Cưu Ma La Thập Chẳng hạn, có người nói, bản dịch Hán văn Kinh

Trang 32

Kim Cương do Cưu Ma La Thập hiện tồn tại hai bản Một bản có tổng số lần chữ xuất hiện là 5.176 chữ và bản khác là 5.180 chữ Nếu như vậy, ở đây có một sự xuất nhập nào đó

Sự xuất nhập trong bản giải âm của Hòa thượng Phúc Điền với ký hiệu AB.367 Theo cấu trúc của kinh, toàn kinh có 1311 câu, 5383 chữ Nếu chỉ thống kê theo văn kinh từ: “Như thị ngã văn… tín thụ phụng hành Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Kinh” Thì mới chỉ có 5191 chữ Khi đối chiếu với một số bản kinh Kim Cương khác thì có một sự xuất nhập một số chữ như sau:

+ Chương 3 trang số 10a có thêm chữ “Nhược 若” ở hàng thứ 2 chữ thứ

15 Ở văn bản của Hòa thượng Phúc Điền là “Nhược phi vô tưởng 若非無想”còn ở một số văn bản khác là “Phi vô tưởng 非無想”

+ Chương 12 trang 15b có thêm 2 chữ “Thụ trì 受持” xuất hiện ở hàng đầu tiên chữ thứ 13 và 14 Ở văn bản của Hòa thượng Phúc Điền là “Nãi chí thụ trì tứ cú kệ đẳng 乃至受持四句偈等” còn ở một số văn bản khác là “Nãi chí tứ cú kệ đẳng 乃至四句偈等”

+ Chương 26 trang 26a có thêm chữ “Dĩ 以 ” xuất hiện ở hàng thứ 5 chữ số 20 Ở văn bản của Hòa thượng Phúc Điền là “Dĩ thị nhân hành tà đạo 以是人行邪道” còn ở một số văn bản khác là “Thị nhân hành tà đạo 是人行邪道”

+ Chương 32 trang 28b có thêm 7 chữ “A nậu đa la tam miểu tam 阿 耨多羅三藐三” xuất hiện ở hàng thứ 6, chữ thứ 11 đến chữ thứ 17 Ở văn bản của Hòa thượng Phúc Điền là “Phát A nậu đã la tam miểu tam bồ đề tâm giả 發阿耨多羅三藐三菩提心者” còn ở một số văn bản khác là “Phát bồ đề tâm giả 發菩提心者”

Trang 33

 Các chữ mà văn bản của Hòa thượng Phúc Điền không có:

+ Chương 9 trang 13b không có chữ “Đạo 道” ở hàng thứ 7 sau chữ số

8 Ở văn bản của Hòa thượng Phúc Điền là “ Ngã đắc a la hán 我得阿羅漢” Còn ở một số văn bản khác thì lại là “Ngã đắc a la hán đạo 我得阿羅漢道”

+ Chương 24 trang 25b không có chữ “Bách 百” ở hàng thứ 4 sau chữ số

3 Ở văn bản của Hòa thượng Phúc Điền là “Bất cập nhất thiên vạn ức phận 不及一千萬憶劫分” Còn ở một số văn bản khác thì lại là “Bất cập nhất bách thiên vạn ức phận不及一百千萬憶劫分”

+ Chương 25 trang 25b không có chữ “Đẳng 等” ở hàng thứ 5 sau chữ số 8 Ở văn bản của Hòa thượng Phúc Điền là “Nhữ vật vị Như Lai 汝勿謂如來” Còn ở một số văn bản khác thì lại là “Nhữ đẳng vật vị Như Lai 汝等勿謂如來”

+ Chương 29 trang 27b không có chữ “Hữu 有” ở hàng thứ nhất sau chữ số 4 Ở văn bản của Hòa thượng Phúc Điền là “Nhược nhân ngôn 若人言” Còn ở một số văn bản khác thì lại là “Nhược hữu nhân ngôn若有人言”

Còn về tổng số lượt chữ xuất hiện trong văn bản của Hòa thượng Phúc Điền mang ra giải Quốc âm là 5383 lượt chữ Hán Với kiến giải của mình, học viên xin tạm giải thích như sau: Bắt đầu tính số chữ từ trang 6a “Kim Cương Bát Nha Ba Mật Kinh………Trượng thừa kinh công” là 129 chữ Tiếp đó cộng thêm phần những chân ngôn của trang 8b “ Nam mô Bản sư Thích Ca mâu ni Phật…… Vô bất quả toại” là 63 chữ

Vậy tổng số chữ Hán trong văn bản của Hòa thượng Phúc Điền mang ra giải

âm là 129+63+5191= 5383 (chữ)

Còn số phần thì đúng theo số phân chương mà Chiêu Minh Thái tử nhà Lương

đã phân (32 phân chương)

Những thông tin không đầy đủ trên đây do điều kiện thiểu học của học viên nhưng ở một mức độ nào đó cũng góp phần nhất định đã đề cập đến sự phổ biến của bản dịch Kinh Kim Cương do Tam Tạng La Thập pháp sư dịch vào năm 401

/402 dưới thời Diêu Tần

Trang 34

Tiểu kết:

Nhã Ba La Mật kinh, chương này đã hệ thống hóa các bản dịch Kinh Kim

Cương từ Phạn văn sang Hán văn

Trong khoảng 300 năm [từ năm 401 đến năm 703] đã có 6 bản dịch kinh này sang Hán văn Các dịch giả đều là những đại sư thông hiểu Phạn văn và Hán văn nên đã tạo nên các bản dịch trác tuyệt Các bản dịch ấy đều được thực hiện theo các yêu cầu của các quân vương cho ta thấy mối quan hệ của Phật giáo với các chính thể nhà nước Trung Quốc Các bản dịch ấy cũng tạo nên một giai đoạn phiên dịch kinh Phật từ Phạn ngữ, Phạn văn ra Hán ngữ, Hán văn

Cưu Ma La Thập là một nhà phiên dịch đại tài, bản dịch Kinh Kim Cương của Ông đã được sử dụng để in và giải âm ra tiếng Việt cả bằng chữ Nôm và chữ Quốc ngữ

Trong kho sách Hán Nôm của Viện Nghiên Cứu Hán Nôm, Viện Hàn lâm

La Mật kinh được đóng trong tập AB.367

kinh của Tam Tạng La Thập pháp sư được đặt như thế nào trong một Tùng thư

Phật học ở Việt Nam vào những thập niên bốn mươi và sáu mươi của thế kỉ XIX sẽ được đề cập đến trong các chương dưới đây

Trang 35

Chương 2:

VĂN BẢN KIM CƯƠNG BÁT NHÃ BA LA MẬT

TRONG TÙNG THƯ PHẬT HỌC SƠ CƠ, GIẢI QUỐC ÂM

Chương này sẽ trình bày cơ cấu sắp đặt của cả tập sách có kí hiệu AB

367 hiện đang được lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam nhằm rút ra một số nhận xét về đặc tính của tập sách này như là một bộ phận của “tùng thư Phật học mang tính sơ cơ, giải quốc âm” do Hòa thượng Phúc Điền chủ trương biên tập mà văn bản 金剛般若波羅密經 Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật kinh được sử dụng như là tên

gọi chung

Với nhiệm vụ như thế, chương này có các nội dung chủ yếu dưới đây:

- Các mô tả văn bản học về độ dài văn bản, trình tự sắp đặt của các bộ phận trong tập sách mang kí hiệu AB 367, tính chất tùng thư Phật học sơ cơ, giải âm của nó

trong tùng thư Phật học sơ cơ, giải âm qua bài tựa của Hòa thượng Phúc Điền

2.1 Cấu trúc sắp đặt của văn bản AB 367

2.1.1 Mô tả cấu trúc sắp xếp của tập sách mang kí hiệu AB 367

Thông thường, khi nói đến các mô tả văn bản học của văn bản Hán Nôm

là đề cập đến các mô tả mang tính vật chất của văn bản hư tình trạng văn bản theo các đơn vị số lượng, chất lượng của văn bản; lập các phổ hệ văn bản trên

cơ sở chọn văn bản cơ sở; xem xét và đánh giá các phổ hệ văn bản này theo các tiêu chí có tính số đo, tiêu chuẩn có tính số đo (chất liệu định hình văn bản, các vấn đề của văn bản có các số đo, thang đo liên quan đến thời gian, không gian của văn bản như ngôn ngữ văn tự), các vấn đề được văn bản hóa (tức các nội dung được truyền tải) , v.v …, để từ đó xác lập văn bản công bố theo các tiêu chí và tiêu chuẩn có tính số đo được coi là hợp lý và phù hợp nhất

Thế nhưng, đối với văn bản 金剛般若波羅密經 Kim Cương Bát

Trang 36

Nhã Ba La Mật kinh hiện đang được lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm,

Viện Hàn Lâm Khoa học Xã hội Việt Nam thì việc mô tả văn bản học ở đây chỉ nhằm đề cập đến độ dài văn bản và trình tự sắp xếp của các bộ phận có trong tập sách hiện đang được lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm mang kí hiệu AB.367 để từ đó xác lập bộ phận văn bản thuộc vào các vấn đề có liên quan trực tiếp đến Kinh Kim Cương mà thôi, bởi văn bản có niên đại rõ ràng, các vấn đề về chữ húy cũng không có gì quá phức tạp

Trước hết cần phải lưu ý rằng, kí hiệu AB.367 là kí hiệu đăng ký sách cho một tập sách của kho sách Hán Nôm hiện đang được lưu trữ tại Viện nghiên cứu Hán Nôm mà trong đó có chứa đựng rất nhiều sách chứ không

phải duy nhất hay thuần nhất chỉ là 金剛般若波羅密經 Kim Cương Bát Nhã

Ba La Mật kinh

Văn bản AB.367 có dung lượng: 94 tờ x 2= 188 trang Đây là văn bản song ngữ Hán Nôm trực tiếp gắn liền với các hoạt động hoằng dương Phật pháp của Hòa thượng Phúc Điền

Theo tập II của bộ Di sản Hán nôm Việt Nam - Thư mục đề yếu, 3 tập,

GS.Trần Nghĩa, François Gros đồng chủ biên, Nhà xuất bản Khoa học Xã

hội, Hà Nội, 1993, tên văn bản là: “金剛經國音 Kim cương kinh quốc âm”

Trong đó văn bản này chỉ được ghi với ký hiệu: “AB.367 “Kinh Kim cương quốc âm”, bản lưu tại chùa Liên Phái Hà Nội năm Tự Đức 14 gồm 26 tờ x 2= 56 trang

Thực ra, đó chỉ là sự xuất tách Kinh Kim cương này ra để làm công tác

đăng ký thư mục mà thôi Còn trên thực tế, việc tổ chức văn bản lại phức tạp hơn nhiều Điều này được thể hiện qua một số điều sau:

Căn cứ vào dòng cuối trang số 5:“板留在河内蓮派寺北寧蒲山寺

Bản lưu tại Hà Nội Liên Phái tự Bắc Ninh Bổ sơn tự - Ván in lưu tại chùa

Liên Phái ở Hà Nội và tại chùa Bổ Sơn ở Bắc Ninh, cho biết hai nơi tàng trữ hay lưu giữ ván khắc tập sách này là chùa Liên Phái ở Hà Nội và chùa Bồ Sơn

ở tỉnh Bắc Ninh

Trang 37

AB 367 gồm 94 tờ x 2= 188 trang nhƣng không có tên chung trên mặt chính của tờ đầu cho cả tập sách nếu nhƣ xét vấn đề này theo cách trình bày của sách Hán Nôm truyền thống Mặt sau của tờ đầu đƣợc trình bày trong một cái khung với các dòng các chữ đƣợc thể hiện bằng ảnh chụp nhƣ sau:

1b

Trang 38

Phía trên cùng là lời đề từ cho văn bản gồm 4 chữ “先儒公論 Tiên Nho

công luận - Lời bàn luận chung của các bậc tiên nho” Có lẽ hai chữ “tiên

nho” ở đây được hiểu là “các bậc thức giả’, “các bậc thiện trí thức và tri thức” hơn là hiểu theo nghĩa hẹp rằng chỉ là nhà nho theo tinh thần Khổng học Sự bàn chung của các bậc thiện tri thức đã đi đến những định đề có tính nguyên tắc chung mà ai cũng thừa nhận Định đề chung có tính nguyên tắc

mà ai cũng thừa nhận đó Tất nhiên, chính giữa là hai hàng chữ có nội dung bào hàm giáo lý nhà Phật Điều đó được thể hiện qua trật tự đăng đối từ phải qua trái như sau:

“釋教儒教老教三教一源 Thích giáo Nho giáo Lão giáo tam giáo

nhất nguyên , Đạo Thích, đạo Nho, đạo Giáo ba giáo cùng một nguồn”

“日光月光星光諸星普照 Nhật quang nguyệt quang tinh quang chư tinh

phổ chiếu - Ánh sáng mặt trời ánh sáng mặt trăng ánh sáng vì sao ánh sáng

chiếu khắp”

“佛日長明祖燈高焰 Phật nhật trường minh, Tổ đăng cao diệm - Phật

ngày ngày càng sáng mãi, đèn Tổ cao cao chói sáng”

“法輪常轉僧道興隆 Pháp luân thường chuyển, tăng đạo hưng long -

Bánh xe Pháp luôn luôn chuyển động mãi, Đạo nhà tăng càng ngày càng hưng thịnh”

Cuối trang có 4 chữ “心城慎獨 Tâm thành, thận độc - Hãy giữ cho vững

tâm, hãy thận trọng với những cái chỉ riêng mình biết, hay chỉ riêng của mình”

2.1.2 Tính hợp tập của tập sách mang kí hiệu AB 367

Như đã nói ở trên văn bản AB.367 không có tên chung mà là hợp tập mang tính chất tùng thư Phật học do Hòa thượng Phúc Điền tập hợp lại và được sắp xếp tuần tự như sau:

-“國音小引- Quốc âm tiểu dẫn” từ trang số 2 đến trang số 5 Phần

Trang 39

này gồm bài Tiểu dẫn giải thích tính chất Quốc âm cho cả tập sách cho dù bài Tiểu dẫn Quốc âm ấy hoàn toàn là Hán văn, theo văn pháp Hán văn

Đại khái bài ấy nói rằng, những người mới đi học thường bắt đầu từ việc

lấy các chữ như chi hồ giả dã 之乎者也 mà hỏi về nghĩa chữ nghĩa từ, thầy dạy

họ cũng dung các chữ chi hồ giả dã 之乎者也 mà giáo huấn cho họ Như vậy,

người mới đi học mang theo cả cái ngu tối ban đầu của mình vào trong cái học Người thầy đem cái cao minh ra mà dạy Trong vòng “cái ra cái vào” đó, mọi nghĩa lý ở hết trong ấy cả Thế nhưng cái ban đầu của người cũng là cái ban đầu của mình, cái mà người thu hoạch được cũng như cái mà mình thu hoạch được Thương yêu con của ta để đi đến thương yêu con của người Làm cái thành công cho mình để đi đến làm cái thành công cho người khác Như thế thì sao còn có chuyện nói phải nói trái nữa nhỉ ? Trước đây vào khoảng thời gian đi hạ an cư, các học trò xin giải kinh kệ ra quốc âm để tiện cho những người mới có học vấn sơ cơ Lão tăng bèn theo cái nghe bên ngoài cái nhìn hạn hẹp của mình mà giải vậy”

- “經金剛般若波羅密 Kinh Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật, từ trang số

14 đến trang số 57 Đây là phần song ngữ Hán Nôm cho Kinh Kim Cương Bát

Nhã do Hòa thượng Phúc Điền giải âm

Trang 40

- “佛說阿彌陀經演義 Phật thuyết A Di Đà kinh diễn nghĩa” từ trang số

58 đến trang số 79 Đây là phần song ngữ Hán Nôm cho Phật thuyết A Di Đà do

Hòa thượng Phúc Điền diễn nghĩa

- “雲棲大師事跡 Vân Thê đại sư sự tích” từ trang số 80 đến trang số 87

Đây là truyện về Thiền sư Vân Thê triều Minh

- “課虛錄新序 Khóa hư lục tân tự” và các trang sau đó là 課虛錄 Khóa

hư lục từ trang số 88 đến trang số 185 Đây là phần song ngữ Hán Nôm cho Khóa

hư lục của Trần Thái Tông do Hòa thượng Phúc Điền giải âm

Như vậy, qua những gì thống kê ở đây cho thấy, đây là một tập sách mà trong đó có ghép nhiều nội dung từ nhiều quyển sách khác nhau có chủ đề chung

về Phật học, bao gồm cả Phật điển Hán văn có tính 經 KINH như Kinh Kim

Cương 佛說阿彌陀經;錄 LỤC của Thiền Việt Nam cũng như 事跡 SỰ TÍCH

về Thiền sư Vân Thê chẳng hạn Điều này cho thấy, đâylà một bộ sách có tính chất tổng tập Phật học do nhà sư Phúc Điền hòa thượng福田和尚 tổ chức biên soạn, biên tập, giải âm, in ấn Sách in ván gỗ, giấy bản, khổ 28x17cm, 96

tờ, tờ 2 trang, trang 10 dòng, dòng 20 chữ, khắc đẹp rõ ràng

2.1.3 Tính chất tùng thư Phật học sơ cơ, giải quốc âm của văn bản

Thật ra, đây chỉ là một phần của một TÙNG THƯ PHẬT HỌC mà danh

mục các sách ấy đã được ghi ngay sau 國音小引- Quốc âm tiểu dẫn” từ trang

số 2 đến trang số 5 Tính chất tập hợp Tùng thư Phật học của AB.367 qua các sách được tập hợp ở trong đó bao gồm các sách như sau:

Ngày đăng: 09/04/2021, 16:29

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phan Kế Bính (1992), Việt Nam phong tục, NXB Tổng hợp Tp HCM 2. Thiều Chửu (2000), Kinh Kim Cương, NXB Tôn Giáo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam phong tục
Tác giả: Phan Kế Bính (1992), Việt Nam phong tục, NXB Tổng hợp Tp HCM 2. Thiều Chửu
Nhà XB: NXB Tổng hợp Tp HCM 2. Thiều Chửu (2000)
Năm: 2000
3. Đào Phương Chi. (2006) Nghiên cứu văn bản Việt điện u linh tập và quá trình dịch chuyển của văn bản. LATS Ngữ văn: Hà Nội. - 255tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu văn bản Việt điện u linh tập và quá trình dịch chuyển của văn bản
4. Thiều Chửu (2009), Từ điển Hán Việt, Nxb. Văn hoá thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Hán Việt
Tác giả: Thiều Chửu
Nhà XB: Nxb. Văn hoá thông tin
Năm: 2009
5. Đoàn Trung Còn (2006), Kinh Kim Cang, Nxb. Tôn Giáo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh Kim Cang
Tác giả: Đoàn Trung Còn
Nhà XB: Nxb. Tôn Giáo
Năm: 2006
6. Thiều Chửu (2009), Từ điển Hán Việt, Nxb. Văn hóa Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Hán Việt
Tác giả: Thiều Chửu
Nhà XB: Nxb. Văn hóa Thông tin
Năm: 2009
7. Thích Thái Hòa (2016), Kim Cang Bát Nhã, NXB Hồng Đức 8. Hạnh Huệ (1995), Kim Cang Quyết Nghi, NXB Tp HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kim Cang Bát Nhã", NXB Hồng Đức 8. Hạnh Huệ (1995), "Kim Cang Quyết Nghi
Tác giả: Thích Thái Hòa (2016), Kim Cang Bát Nhã, NXB Hồng Đức 8. Hạnh Huệ
Nhà XB: NXB Hồng Đức 8. Hạnh Huệ (1995)
Năm: 1995
9. Nguyễn Duy Hinh. 2006. Triết học Phật giáo Việt Nam. Viện Văn hóa- Nxb. VHTT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết học Phật giáo Việt Nam
Nhà XB: Nxb. VHTT
10. Nguyễn Quang Hồng (2014), Từ điển chữ Nôm diễn giải tập 1-2,Nxb. Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển chữ Nôm diễn giải tập 1-2
Tác giả: Nguyễn Quang Hồng
Nhà XB: Nxb. Khoa học xã hội
Năm: 2014
11. HT Nhất Hạnh (2011), Kinh Kim Cương Gươm Báu Cắt Đứt Phiền Não, Nxb Thời đại Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh Kim Cương Gươm Báu Cắt Đứt Phiền Não
Tác giả: HT Nhất Hạnh
Nhà XB: Nxb Thời đại
Năm: 2011
12. Vũ Văn Kính (2010), Đại Từ Điển chữ Nôm, Nxb. Văn nghệ Tp. Hồ Chí Minh, Trung tâm nghiên cứu Quốc học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Từ Điển chữ Nôm
Tác giả: Vũ Văn Kính
Nhà XB: Nxb. Văn nghệ Tp. Hồ Chí Minh
Năm: 2010
14. Nguyễn Lang(2000), Việt Nam Phật giáo sử luận, Hà Nội: NXB Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam Phật giáo sử luận
Tác giả: Nguyễn Lang
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2000
15. Trịnh Khắc Mạnh (2014) Văn bản học Hán nôm, Nxb Khoa Học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn bản học Hán nôm
Nhà XB: Nxb Khoa Học Xã hội
16. Trần Nghĩa – Francois Gros đồng chủ biên. (1993). Di sản Hán Nôm Việt nam – thƣ mục đề yếu. 3 tập. Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di sản Hán Nôm Việt nam – thƣ mục đề yếu
Tác giả: Trần Nghĩa – Francois Gros đồng chủ biên
Nhà XB: Nxb. Khoa học xã hội
Năm: 1993
18. Trí Quang (2011), Kinh Kim Cang, NXB Tổng Hợp Tp HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh Kim Cang
Tác giả: Trí Quang
Nhà XB: NXB Tổng Hợp Tp HCM
Năm: 2011
19. HT.Thích Trí Quang dịch (1994), Kinh Kim Cương, NXB. Thành Phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh Kim Cương
Tác giả: HT.Thích Trí Quang dịch
Nhà XB: NXB. Thành Phố Hồ Chí Minh
Năm: 1994
20. Lê Mạnh Thát.( 2001). Toàn tập Minh Châu Hương Hải. Nxb Tổng hợp TP Hồ Chí Minh. TP Hồ Chí Minh.tr 771 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập Minh Châu Hương Hải
Nhà XB: Nxb Tổng hợp TP Hồ Chí Minh. TP Hồ Chí Minh.tr 771
21. HT. T.Thanh Từ ( 2013) Kinh Kim Cương Giảng Giải, NXB. Tôn Giáo Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh Kim Cương Giảng Giải
Nhà XB: NXB. Tôn Giáo Hà Nội
22. Thích Viên Thành, Giáo án Kinh Kim Cương, (1995) Trường Cơ bản Phật học Hà Tây Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo án Kinh Kim Cương
23. HT. Thích Chơn Thiện ( 2012), Tư Tưởng Kinh Kim Cương và Bát Nhã, NXB. Phương Đông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư Tưởng Kinh Kim Cương và Bát Nhã
Nhà XB: NXB. Phương Đông
24. Vô Trụ Thiền Sƣ (2015), Kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật, NXB Tôn Giáo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật
Tác giả: Vô Trụ Thiền Sƣ
Nhà XB: NXB Tôn Giáo
Năm: 2015

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w