NHỮNG TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN - Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ được Tổ chức thương mại thế giới ngày 15/4/1994 - Hiệp định TRIPs - Công ư
Trang 1KHOA LUẬT ĐẠI HỌC LUẬT
LÊ VIỆT TUẤN
- trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế -
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật Quốc Tế
Mã số: 60 38 60
Người hướng dẫn:
GS Hans-Henrik Lidgard TS Đinh Văn Thanh
Tp Hồ Chí Minh - 2004
Trang 2NHỮNG TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
- Hiệp định về các khía cạnh liên quan
đến thương mại của quyền sở hữu trí
tuệ (được Tổ chức thương mại thế giới
ngày 15/4/1994)
- Hiệp định TRIPs
- Công ước về bảo hộ sở hữu công
nghiệp (ký tại Paris năm 1883)
- Công ước Paris
- Tổ chức thương mại thế giới - Tổ chức WTO
- Tổ chức quốc tế về quyền sở hữu trí tuệ - Tổ chức WIPO
- Ủy ban thường trực về pháp luật nhãn
hiệu hàng hoá, kiểu dáng công nghiệp
và chỉ dẫn địa lý của Tổ chức WIPO
- SCT
Trang 3MỤC LỤC
1.3 TÍNH ĐẶC THÙ TRONG QUAN HỆ PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN SỞ
1.4 MỐI QUAN HỆ GIỮA NHÃN HIỆU HÀNG HOÁ VÀ CHỈ DẪN ĐỊA
1.4.2 Sự khác biệt và xung đột giữa quy định về nhãn hiệu hàng
CHƯƠNG 2 BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG
2.1.1 Khái niệm bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ
2.2 XÁC LẬP QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI CHỈ DẪN
2.3 HÀNH VI XÂM PHẠM QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI
Trang 42.4 CÁC BIỆN PHÁP THỰC THI QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP
2.4.1 Thực thi quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý
2.4.2 Thực thi quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý
CHƯƠNG 3 NHẬN XÉT VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ BẢO HỘ CHỈ DẪN ĐỊA LÝ 61
3.1 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG PHÁP LÝ VỀ BẢO HỘ CHỈ DẪN ĐỊA
3.2 MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG CẦN ĐẢM BẢO KHI HOÀN THIỆN PHÁP
3.3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN HỆ THỐNG PHÁP
3.3.1 Kiến nghị nhằm làm rõ một số vấn đề có tính lý luận về khái
3.3.2 Kiến nghị đối với hoạt động xây dựng pháp luật về bảo hộ
3.3.3 Kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực thi quyền sở hữu
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu của đề tài
Thế giới hiện nay đã và đang bước vào một giai đoạn phát triển mới, giai đoạn của một nền kinh tế dựa vào tri thức của con người Chính từ những thành tựu khoa học kỹ thuật đã làm cho thế giới dường như nhỏ hẹp hơn và các quốc gia gắn bó chặt chẽ với nhau nhiều hơn Một nhu cầu đã trở nên tất yếu ở mỗi quốc gia trong quá trình tồn tại và phát triển là đều phải thiết lập các mối quan hệ quốc
tế dưới những mức độ nhất định
Thực hiện tinh thần “đổi mới” từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã đề ra
và những tư tưởng chỉ đạo tại các Đại hội Đảng lần VII, VIII, IX Việt Nam đã không ngừng đẩy mạnh quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Điều đó đã giúp Việt Nam phá vỡ được hàng rào bao vây, cấm vận để thay vào đó bằng những sự thiết lập những mối quan hệ với rất nhiều nước trên thế giới Việt Nam dần muốn nâng cao vị thế của mình trên trường quốc tế, từ một nước nhận viện trợ trở thành một đối tác thương mại của các nước trong khu vực và thế giới Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đã đặt ra cho Việt Nam nhiều cơ hội và thách thức to lớn, đòi hỏi nhà nước Việt Nam phải tiến đến hoàn thiện hệ thống pháp lý không chỉ để đáp ứng điều chỉnh các quan hệ xã hội nảy sinh trong nước mà còn đảm bảo tính phù hợp với pháp luật quốc tế Hoàn thiện khung pháp lý về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nói chung và bảo hộ chỉ dẫn địa lý nói riêng là một đòi hỏi tất yếu trong điều kiện kinh tế thế giới đang chuyển sang giai đoạn thống trị của nền kinh tế trí thức
Từ vài chục năm trở lại đây, vấn đề sở hữu trí tuệ ngày càng đóng một vai trò quan trọng trong các giao dịch thương mại quốc tế Hầu hết các quan hệ hợp tác quốc tế, điều ước thương mại song phương hay đa phương đều chứa đựng những nội dung liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ Thực thi và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đã trở thành nội dung cơ bản được các nước ký kết trong hàng loạt các điều ước quốc tế đa phương, như: Công ước Paris, Công ước Berne, Thoả ước Marid, Hiệp định TRIPs,… Không dừng lại ở đấy, vấn đề sở hữu trí tuệ đã trở thành một trong những điều kiện quan trọng có tính chất bắt buộc không thể tách rời ra khỏi các tổ chức quốc tế như WTO, EU, APEC, ASEAN,…
Trên thế giới, vấn đề chỉ dẫn địa lý với tư cách là đối tượng bảo hộ của quyền
sở hữu công nghiệp đã được đề cập đến trong nhiều điều ước đa phương, trong
Trang 6đó đáng kể nhất là Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (từ đây viết tắt là TRIPs) – kết quả của vòng đàm phán Uruguay vào tháng 12/1993 Ở Việt Nam, vấn đề bảo hộ chỉ dẫn địa lý được quy định tại Nghị định 54/2000/NĐ-CP ngày 03/10/2000 và chỉ dẫn địa lý đã trở thành một đối tượng bảo hộ khá mới mẻ của quyền sở hữu công nghiệp đối với chúng ta Chính vì thế, hàng loạt các vấn đề nảy sinh xoay quanh bảo hộ chỉ dẫn địa lý, bắt đầu từ sự đảm bảo tính “đầy đủ” mà Tổ chức thương mại thế giới (từ đây viết tắt là WTO) yêu cầu Việt Nam đáp ứng, cho đến khả năng bảo hộ “hữu hiệu” chỉ dẫn địa lý trong thực tế; hay nhu cầu đòi hỏi từ phía xã hội của một quốc gia nông nghiệp với nhiều sản phẩm mang nét đặc trưng của một khu vực địa lý cần được bảo hộ không chỉ trong nước mà còn trên thị trường thế giới Đặc biệt gần đây dư luận trong nước đang phản ứng trước việc nhiều sản phẩm của các quốc gia khác lưu thông trên thị trường lại mang chỉ dẫn là tên gọi địa phương hay khu vực thuộc lãnh thổ Việt Nam, nước mắm Phú Quốc được chế tạo tại Thái Lan (Made in Thailand) là một ví dụ điển hình
Hoàn thiện hệ thống pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ nói chung và quyền sở hữu công nghiệp nói riêng đã trở thành một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu nhằm đáp ứng các đòi hỏi đặt ra trong quá trình hội nhập kinh tế quốc
tế Chỉ dẫn địa lý với tư cách là một trong những đối tượng bảo hộ của quyền sở hữu công nghiệp, vì vậy hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam về bảo hộ chỉ dẫn địa lý trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế cũng là một yêu cầu tất yếu khách quan
2 Tình hình nghiên cứu đề tài ở Việt Nam
Sở hữu trí tuệ là một vấn đề khá mới mẻ được nhiều người quan tâm trong thời gian gần đây, đối với đối tượng chỉ dẫn địa lý được chúng ta quy định lần đầu tiên vào năm 2000 tại Nghị định 54/2000/NĐ-CP của Chính phủ đã và đang thách thức các nhà nghiên cứu Gia nhập vào Tổ chức WTO và Hiệp định TRIPs lại càng làm vấn đề có tính thời sự hơn
Đã có một số bài viết, tham luận đã đề cập đến chỉ dẫn địa lý như đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp cần được bảo hộ Đặc biệt, trong hai ngày 7-
8/10/2003 tại Hà Nội đã diễn ra ”Hội thảo EU - ASEAN về chỉ dẫn địa lý: cách
thức thâm nhập thị trường”, với nội dung đề cập đến cách thức xây dựng, phát
triển và giải quyết các vấn đề pháp luật liên quan đến chỉ dẫn địa lý; vai trò của cộng đồng các nhà sản xuất trong việc bảo vệ, phát triển sản phẩm mang tên gọi xuất xứ, chỉ dẫn địa lý Sự kiện thật sự đã rất được sự chú ý từ phía báo chí cũng
Trang 7như các nhà chức trách, hàng loạt các bài phỏng vấn, đưa tin liên quan đến nội dung Hội thảo cũng như thực trạng chỉ dẫn địa lý ở Việt Nam được đăng tải trên mạng Tuy nhiên, thực tế đây vẫn là một đối tượng rất mới mẻ kể cả dưới góc độ pháp lý cũng như nghiên cứu khoa học ở Việt Nam Rất nhiều công trình nghiên cứu đến quyền sở hữu trí tuệ (quyền tác giả và quyền sở hữu công nghiệp) dưới phạm vi rộng, cũng như nghiên cứu từng đối tượng dưới phạm vi hẹp khác nhau nhưng vẫn chưa có đề tài nào nghiên cứu một cách trực tiếp đối với vấn đề hoàn thiện pháp luật bảo hộ chỉ dẫn địa lý trong điều kiện Việt Nam đang cố gắng gia nhập WTO và bảo đảm hệ thống pháp luật bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ “đầy đủ
và hữu hiệu” đáp ứng yêu cầu của Hiệp định TRIPs Vì vậy, tác giả đã xác định đây là hướng nghiên cứu của đề tài
3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Một là, thúc đẩy quá trình gia nhập tổ chức WTO của Việt Nam
Hiện nay, Việt Nam đang đàm phán gia nhập Tổ chức WTO, một trong những điều kiện cần để được kết nạp là phải thi hành Hiệp định TRIPs, theo đó chúng ta phải có một hệ thống bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ “đầy đủ và hữu hiệu” Để được coi là “đầy đủ”, việc bảo hộ phải được tiến hành với tất cả các đối tượng sau đây: quyền tác giả và quyền liên quan, nhãn hiệu hàng hóa, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại, kiểu dáng công nghiệp, sáng chế, thiết kế bố trí mạch tích hợp, thông tin bí mật, giống cây trồng và chống cạnh tranh không lành mạnh Chỉ dẫn địa lý là một trong các đối tượng mà Hiệp định TRIPs được WTO yêu cầu các nước thành viên phải tiến hành bảo hộ
Trang 8 Hai là, tạo tiền đề thúc đẩy mạnh hơn sự hợp tác về sở hữu trí tuệ trong
khu vực ASEAN cũng như với các quốc gia khác trên thế giới
Nhằm mục đích tăng cường hơn nữa sự hợp tác chặt chẽ giữa các quốc gia trong khu vực trong việc trao đổi thông tin, nhân lực, kinh nghiệm cũng như cam kết dành cho công dân của nhau những thuận lợi trong việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, tháng 12/1995 Việt Nam cùng với các nước thành viên khác của tổ chức ASEAN đã ký kết Hiệp định khung ASEAN về hợp tác sở hữu trí tuệ Trong Hiệp định này đã xác định phạm vi hợp tác bao gồm các đối tượng: quyền tác giả
và quyền liên quan, bằng sáng chế và kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá
và chỉ dẫn địa lý, thông tin mật và sơ đồ mạch tích hợp Chính vì vậy, hoàn thiện
hệ thống pháp luật Việt Nam về bảo hộ chỉ dẫn địa lý trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế cũng chính là điều kiện tạo nên sự thuận lợi cho quá trình hợp tác một cách toàn diện trong khu vực ASEAN
Ba là, thực hiện các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã ký kết
Việt Nam đã ký kết các Hiệp định có nội dung liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ như Hiệp định Việt Nam - Thụy Sỹ vào tháng 7/1999 và Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ vào tháng 7/2000, trong đó các bên cam kết dành sự bảo
hộ quyền sở hữu trí tuệ cho công dân của nhau theo các tiêu chuẩn tối thiểu tương tự như tiêu chuẩn của Hiệp định TRIPs Từ năm 1996 - năm chính thức phát động các cuộc đàm phán với WTO, Thụy Sỹ và sau đó là Hoa Kỳ - chúng ta
đã xây dựng hệ thống bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ với năm đối tượng: quyền tác giả và quyền liên quan, sáng chế và giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hóa và tên gọi xuất xứ hàng hóa (một loại chỉ dẫn địa lý đặc biệt)
Nhiệm vụ của đề tài
Trên cơ sở các mục đích trên, đề tài Hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam
về bảo hộ chỉ dẫn địa lý trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi cần giải quyết được các nhiệm vụ cơ bản sau đây:
Một là, làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về chỉ dẫn địa lý và bảo hộ chỉ
dẫn địa lý Đồng thời trong đó làm rõ sự xung đột và đề ra hướng giải quyết xung đột giữa chỉ dẫn địa lý với nhãn hiệu hàng hoá
Hai là, làm rõ khái niệm bảo hộ chỉ dẫn địa lý Tìm hiểu các quy định
pháp luật Việt Nam về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý cùng sự so sánh với các quy định trong Hiệp định TRIPs, các văn
Trang 9bản hướng dẫn của Tổ chức quốc tế về quyền sở hữu trí tuệ (từ đây viết tắt
là Tổ chức WIPO)
Ba là, tìm hiểu thực trạng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ
dẫn địa lý ở Việt Nam Xác định phương hướng và đề xuất các giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam về bảo hộ chỉ dẫn địa lý
Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Với tên đề tài là Hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam về bảo hộ chỉ dẫn
địa lý trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, tác giả sẽ tập trung nhiều vào mục
đích hoàn thiện nhằm thoả mãn điều kiện “đầy đủ và hữu hiệu” mà Việt Nam phải đáp ứng trong vấn đề thực thi quyền sở hữu trí tuệ nói chung và chỉ dẫn địa
lý nói riêng Do vậy, đối tượng chủ yếu được dùng để so sánh với các quy định pháp luật Việt Nam đối với vấn đề này là các quy định trong Hiệp định TRIPs và một số văn bản của Tổ chức WIPO Nghiên cứu sẽ xoay quanh các vấn đề có tính
lý luận và thực trạng pháp lý về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý
Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý, có thể xem Châu Âu
là nơi có những quốc gia đi đầu trong vấn đề này và đồng thời đây cũng là một vấn đề bảo hộ rất quan trọng đối với họ, những quốc gia được xem là nhà sản xuất lớn nhất thế giới về rượu vang và rượu mạnh (chiếm khoảng 60% thế giới
và tổng giả trị xuất khẩu vào khoảng 7910 tỷ euro [2, 3] Chính vì vậy tác giả đã xem xét thực tiễn bảo hộ chỉ dẫn địa lý ở các quốc gia trong cộng đồng chung Châu Âu, qua đó rút ra được những kinh nghiệm thực tiễn mà chúng ta có thể tham khảo trong quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo hộ chỉ dẫn địa lý
ở Việt Nam
4 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-LêNin, đề tài sử dụng các phương pháp có tính truyền thống như miêu tả, phân tích, tổng hợp, hệ thống,… Trong đó đặc biệt chú trọng đến phương pháp so sánh nhằm chỉ ra những vấn đề tương đồng và khác biệt trong hệ thống pháp luật Việt Nam và quốc tế về vấn đề bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý, để từ đó tìm thấy được phương hướng và kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam về vấn đề này trong tương lai
5 Cơ cấu của luận văn
Trang 10Đề tài ngoài Mục lục, Lời mở đầu và Tài liệu tham khảo cơ bản bao gồm ba chương:
- Chương 1: Khái quát chung về chỉ dẫn địa lý
- Chương 2: Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý
- Chương 3: Định hướng và một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật
Việt Nam về bảo hộ chỉ dẫn địa lý
Với những mục đích, nhiệm vụ được đặt ra và giải quyết trong ba chương của
đề tài bằng những phương pháp khoa học, tác giả mong rằng đề tài có thể góp phần làm sáng tỏ hơn đối với cơ sở lý luận về bảo hộ chỉ dẫn địa lý và những kiến nghị có thể góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đối với vấn đề này
Trang 11CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CHỈ DẪN ĐỊA LÝ
Trên thế giới, quyền sở hữu trí tuệ đã có lịch sử phát triển từ rất lâu đời Thời gian đầu, cơ bản đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ bao gồm: patents (sáng chế), quyền tác giả, nhãn hiệu hàng hoá và các lợi ích liên quan Theo cách hiểu phổ biến nhất, quyền sở hữu trí tuệ bao gồm quyền tác giả và quyền sở hữu công nghiệp Như tại Mỹ, luật patents đã có từ năm 1641, khi đó bằng sáng chế đầu tiên cho phát minh sản xuất muối đã được bảo hộ tại Vịnh thuộc địa Massachusetts, hay tại Anh năm 1662 đã có luật Patent [22] Đối với quyền tác giả, năm 1710 Nghị viện Anh đã thông qua đạo luật Anne - được xem như luật
về quyền tác giả đầu tiên trên thế giới; còn tại Mỹ, Quốc Hội đã thông qua đạo luật về quyền tác giả đầu tiên vào năm 1790 [24]
Đối với thuật ngữ “chỉ dẫn địa lý”, hiểu theo nghĩa rộng chính là miêu tả sự gắn kết bởi những đặc điểm của hàng hoá với nguồn gốc địa lý Các yếu tố của sản phẩm, yếu tố chất lượng, danh tiếng hay những đặc tính khác tạo nên sự riêng biệt của hàng hóa về cơ bản là từ nguồn gốc địa lý của hàng hoá ấy tạo nên Chỉ dẫn địa lý, ngay từ những ngày đầu tiên của hoạt động giao dịch thương mại vấn
đề này đã được đề cập đến dưới những tên gọi của một địa danh cụ thể nơi mà hàng hoá được sản xuất, chẳng hạn như: rượu vang Bordeaux hay Burgundy, phó mát Parmesan,… [2, 10] Đối với người tiêu dùng thì tên gọi địa lý bản thân nó
đã giúp nhận thấy được một cách dễ dàng rằng hàng hoá, sản phẩm ấy đã đến (có xuất xứ) từ địa phương hay khu vực có tên gọi đó
Vấn đề liên quan đến thuật ngữ “chỉ dẫn địa lý” đã được pháp luật quốc tế điều chỉnh tại Công ước Paris ngày 20/3/1883 về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp Theo đó, các đối tượng chỉ dẫn nguồn gốc và tên gọi xuất xứ hàng hoá lần đầu tiên được điều chỉnh trong pháp luật quốc tế với tư cách như những đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp, riêng đối với chỉ dẫn nguồn gốc còn được quy định chi tiết hơn tại điều 10 và 10ter của Công ước này
Trang 12Tiếp theo đó, tại Hiệp định Madrid ngày 14/8/1891 về ngăn chặn những chỉ dẫn nguồn gốc của hàng hoá giả mạo hay gây sự nhầm lẫn đã được thông qua, quy định những hàng hoá có dấu hiệu như trên sẽ bị giữ lại khi làm thủ tục nhập khẩu và xử lý như đối với hành vi vi phạm Đến Hiệp định Lisbon ngày 31/10/1958 về bảo hộ đối với tên gọi xuất xứ và đăng ký quốc tế về xuất xứ, trong đó điều 2 đã đưa ra khái niệm đối với tên gọi xuất xứ hàng hoá và đồng thời quy định mở rộng hơn phạm vi của sự bảo hộ đối với những hàng hoá đã được đăng ký quốc tế về tên gọi xuất xứ so với sự bảo hộ đối với chỉ dẫn nguồn gốc theo như quy định tại Công ước Paris và Hiệp định Madrid về chỉ dẫn nguồn gốc Tại điều 3 của Hiệp định này quy định không chỉ bảo hộ tên gọi xuất xứ hàng hoá bằng việc nghiêm cấm đối với những hành vi chỉ dẫn nhằm dẫn đến sự nhầm lẫn cho người sử dụng mà còn áp dụng đối với cả bất kỳ sự chiếm đoạt hay bắt chước đối với sản phẩm được bảo hộ Nội dung này được áp dụng đối với cả trường hợp cho dù nguồn gốc thật của sản phẩm ấy có được biểu thị, hoặc tên gọi xuất xứ được dùng dưới dạng đã có sự biên dịch, hoặc sử dụng cùng với các từ như “phương pháp”, “kiểu”, “loại”, “phỏng theo” hoặc các từ ngữ tương tự Theo truyền thống, tên gọi địa lý được cả người tiêu dùng và nhà kinh doanh nhìn nhận cơ bản gồm hai loại: nguồn xuất xứ của sản phẩm (ví dụ như: Sản xuất tại Việt Nam, Sản phẩm của Hoa Kỳ, ) và tên gọi xuất xứ đặc trưng của hàng hoá (ví dụ như: rượu vang Bordeaux, chè Darjeeling, ) Khoảng hai mươi năm trở lại đây, sự bảo hộ chỉ dẫn về nguồn ở hầu hết các quốc gia thể hiện dưới phạm vi hẹp, cụ thể chỉ nhìn nhận và bảo hộ về tên gọi xuất xứ hàng hoá Việc các quốc gia muốn tên gọi xuất xứ hàng hoá của mình được thừa nhận và bảo hộ trên phạm vi toàn cầu trở nên rất khó khăn, bởi lẽ thực tế vẫn chưa có một sự gắn kết trong cách hiểu và biện pháp bảo hộ thống nhất cho chỉ dẫn về nguồn khi mà chỉ mới có mười bảy nước thành viên cho Hiệp định Lisbon [2, 12]
Trong lĩnh vực này, ngay từ những ngày đầu, rượu vang và rượu mạnh đã là những sản phẩm có nhu cầu đặc biệt cần được bảo hộ Tổ chức IWO là một tổ chức liên chính phủ đại diện cho ngành sản xuất công nghiệp rượu, được trao cho rất nhiều các nhiệm vụ giải quyết các vấn đề liên quan đến chỉ dẫn xuất xứ và kiểu dáng của rượu vang và rượu mạnh Tổ chức này đã tiến hành soạn thảo và đưa ra các đề xuất giải pháp và nghị quyết về định nghĩa của tên gọi xuất xứ kể
từ năm 1924 Trong Nghị quyết ECO 2/92 đã chỉ ra sự khác biệt trong cách nhìn nhận giữa tên gọi xuất xứ và chỉ dẫn địa lý Tại Cộng đồng chung Châu Âu, tương tự như vậy việc sử dụng tên gọi địa lý cho những sản phẩm cần được đặt
Trang 13trong mối quan hệ lợi ích của các quốc gia trong Cộng đồng, một số các văn bản luật đã được ban hành điều chỉnh trực tiếp đối với vấn đề này, cụ thể như: Quy định số 817/70, 338/79 và 823/87 của Cộng đồng kinh tế Châu Âu về tiêu chuẩn pháp lý cho chất lượng của rượu được sản xuất ở những vùng địa lý đặc biệt; Quy định số 2133/74, 335/79 và 2392/89 của Cộng đồng kinh tế Châu Âu về việc
sử dụng tên gọi địa lý của rượu; và Quy định 1576/89 của Cộng đồng kinh tế Châu Âu liệt kê danh sách những tên gọi địa lý được cho phép của rượu mạnh Đặc biệt cần phải kể đến Quy định số 2081/92 của Cộng đồng kinh tế Châu Âu,
từ khi ra đời đã trở thành văn bản chủ đạo điều chỉnh trong vấn đề này, tại điều 2 của Quy định đã xác định vấn đề bảo hộ đối với thiết kế về nguồn gốc và chỉ dẫn địa lý
Năm 1967, Tổ chức WIPO đã liên kết hoạt động của một số các tổ chức quốc
tế, đặc biệt là giữa Hiệp hội Paris (được thành lập năm 1883 nhằm bảo hộ quyền
sở hữu công nghiệp) và Hiệp hội Bern (hình thành năm 1886 nhằm bảo hộ tác phẩm văn học và nghệ thuật) Năm 1974, Tổ chức này đã đưa ra bản thảo cho một hiệp định quốc tế đa phương về vấn đề bảo hộ tên gọi xuất xứ và chỉ dẫn về nguồn của hàng hoá, trong bản thảo này có nhiều quy định với mục đích xem xét lại đối với nội dung của Công ước Paris Sau đó, hàng loạt các hội nghị chuyên
đề đối với vấn đề bảo hộ quốc tế về chỉ dẫn địa lý được tổ chức, rất nhiều các vấn
đề xung đột, vướng mắc đã được đặt ra và giải quyết, điều ấy đã tạo nên một không khí mới mẻ và cách nhìn khác biết trong vấn đề này
Đến năm 1978, việc bảo hộ sở hữu trí tuệ lần đầu tiên được bàn tới trong chương trình nghị sự của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại 1948 (GATT) tại vòng đàm phán về luật chống hàng giả ở Tokyo Tuy vậy, phải đến vòng đàm phán Uruguay của GATT, ý tưởng đó mới thực sự trở thành hiện thực, kết quả là Hiệp định TRIPs được ký kết ngày 15/04/1994 và bắt đầu có hiệu lực
từ ngày 01/01/1995 (cùng với sự ra đời của Tổ chức WTO Ngày 01/01/1996, Hội đồng TRIPs đã ký với Tổ chức WIPO, một thoả thuận nhằm đẩy mạnh việc thực hiện Hiệp định TRIPS với mục tiêu là: thúc đẩy việc bảo hộ, thực thi thỏa đáng và hiệu quả quyền sở hữu trí tuệ; giảm sự sai lệch và các rào cản trong thương mại quốc tế
Hiệp định TRIPS đã khẳng định lại và mở rộng các chuẩn mực, quy định của Công ước Paris và Công ước Berne, quy định các tiêu chuẩn tối thiểu việc bảo hộ nhiều đối tượng sở hữu trí tuệ khác nhau, bao gồm: sáng chế, bí quyết kỹ thuật, nhãn hiệu hàng hoá, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp, chỉ dẫn
Trang 14địa lý, bản quyền tác giả và các quyền liên quan Ngoài việc đồng nhất hóa về pháp luật, Hiệp định còn tiến tới loại bỏ các quy định về hành chính, thủ tục và
về kỹ thuật bất lợi cho hoạt động sở hữu trí tuệ quốc tế
Hiệp định quy định nguyên tắc cơ bản về đối xử quốc gia (điều 3) và chế độ đối xử tối huệ quốc (điều 4) mà các quốc gia phải tuân thủ và cần ghi nhớ khi đưa các nội dung trong Hiệp định vào pháp luật trong nước Đặc biệt tại Phần 3 của Hiệp định này chứa đựng ba điều luật thật sự rất quan trọng điều chỉnh cụ thể đối với đối tượng chỉ dẫn địa lý, cụ thể:
- Điều 22 về bảo hộ chỉ dẫn địa lý;
- Điều 23 về bảo hộ bổ sung đối với các chỉ dẫn địa lý dùng cho rượu vang
và rượu mạnh; và
- Điều 24 về đàm phán quốc tế và ngoại lệ
Chính các quy định này đã làm thay đổi cách nhìn về đối tượng chỉ dẫn địa lý, một số vấn đề của chỉ dẫn địa lý đã được xem xét lại vào năm 1998 - 1999 bởi
Ủy ban thường trực về pháp luật nhãn hiệu hàng hoá, kiểu dáng công nghiệp và chỉ dẫn địa lý (từ đây được viết tắt là SCT) của Tổ chức WIPO Trong sự cố gắng liên kết với Văn phòng sáng chế và nhãn hiệu hàng hoá của Nam Phi, một hội nghị quốc tế đã được tổ chức trong hai ngày về vấn đề bảo hộ chỉ dẫn địa lý với
sự tham gia của khoảng 100 chuyên gia hàng đầu từ 50 quốc gia trên thế giới Từ những thay đổi tích cực này, rất nhiều các vấn đề đã được đặt ra, tranh luận và giải quyết trên phạm vi đa quốc gia, như: bảo hộ quốc tế đối với chỉ dẫn địa lý, bảo hộ chỉ dẫn địa lý theo hệ thống pháp luật quốc gia, vùng lãnh thổ,…
Chỉ dẫn địa lý đã và đang trở thành một đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp được quan tâm đặc biệt, từ việc áp dụng cho những sản phẩm có nhu cầu cao như rượu cho đến nay đã có ý nghĩa đối với mọi hàng hoá mà chủ yếu là nông sản và thực phẩm Vấn đề này không chỉ có ý nghĩa quan trọng tại các quốc gia Châu Âu mà ngày nay đã trở thành mối quan tâm chung của thế giới, đã và đang chiếm vai trò cần thiết tại Đông Nam Á – những nước vốn tồn tại tiềm năng bởi một nền kinh tế công nông nghiệp
Văn bản pháp lý điều chỉnh vấn đề bảo hộ chỉ dẫn địa lý
Với mục đích, phạm vi và giới hạn đề tài nêu trên, nguồn văn bản luật được sử dụng để nghiên cứu bao gồm: điều ước quốc tế đa phương, điều ước quốc tế song phương mà Việt Nam ký kết, các văn bản do các Tổ chức quốc tế về quyền sở
Trang 15hữu trí tuệ ban hành có liên quan trực tiếp, các quy định pháp luật của Cộng đồng chung Châu Âu và Việt Nam
Điều ước quốc tế đa phương
- Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp 18831
Văn bản tại các kỳ họp của Tổ chức quốc tế về quyền sở hữu trí tuệ
Tuy không được hiểu như điều ước quốc tế đa phương nhưng hệ thống văn bản điều chỉnh vấn đề chỉ dẫn địa lý của Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới cũng đóng một vai trò hết sức quan trọng, cơ bản gồm văn bản các kỳ họp của Tổ chức quốc tế về quyền sở hữu trí tuệ từ lần 1 năm 1998 đến lần 12 năm 2004 liên quan đến chỉ dẫn địa lý, như:
- SCT/3/6 – Kỳ họp thứ 1, Geneva, 8 – 12/11/1999 – Chỉ dẫn địa lý
- SCT/5/3 – Kỳ họp thứ 5, Geneva, 11 – 15/11/2000 – Giải pháp cho xung đột giữa nhãn hiệu hàng hoá, chỉ dẫn địa lý đồng âm và chỉ dẫn địa lý
- SCT/6/3 – Kỳ họp thứ 6, Geneva, 12 – 16/3/2001 – Chỉ dẫn địa lý: lịch sử, quyền tự nhiên, hệ thống bảo hộ đang tồn tại và hiệu quả từ việc bảo hộ ở một số quốc gia
- SCT/8/4 – Kỳ họp thứ 8, Geneva, 27 – 31/5/2002 – Tiếp theo SCT/6/3 về Chỉ dẫn địa lý: lịch sử, quyền tự nhiên, hệ thống bảo hộ đang tồn tại và hiệu quả từ việc bảo hộ ở một số quốc gia
1 Công ước Paris đã được chỉnh sửa tại Brussels ngày 14/12/1900; tại Washington ngày 02/6/1911; tại The Hague ngày 06/11/1925; tại London ngày 02/6/1934; tại Lisbon ngày 31/10/1958; tại Stockholm ngày 14/7/1967 và bổ sung ngày 02/10/1979
Trang 16- SCT/8/5 – Kỳ họp thứ 8, Geneva, 27 – 31/3/2002 – Phụ lục tiếp theo SCT/6/3 Chỉ dẫn địa lý: lịch sử, quyền tự nhiên, hệ thống bảo hộ đang tồn tại và hiệu quả từ việc bảo hộ ở một số quốc gia
- SCT/9/4 – Kỳ họp thứ 9, Geneva, 11 – 15/11/2002 – Định nghĩa Chỉ dẫn địa lý
- SCT/9/5 – Kỳ họp thứ 9, Geneva, 11 – 15/11/2002 – Chỉ dẫn địa lý và nguyên tắc lãnh thổ
Điều ước quốc tế song phương
Ngoài ra, còn phải kể đến hai điều ước quốc tế song phương mà Việt Nam đã
ký kết có nội dung liên quan đến vấn đề bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, gồm:
- Hiệp định Việt Nam – Thuỵ Sỹ về bảo hộ sở hữu trí tuệ được ký kết vào ngày 07/7/1999; và
- Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ được ký kết vào ngày 13/7/2002
Quy định pháp luật Việt Nam
- Bộ luật Dân sự nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1995, Chương
2 Phần 6;
- Nghị định 63-CP ngày 24/10/1996 của Chính phủ quy định chi tiết về Sở hữu công nghiệp; và được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định 06/2001/NĐ-CP ngày 01/02/2001 của Chính phủ;
Trang 17- Nghị định 54/2000/NĐ-CP ngày 03/10/2000 của Chính phủ quy định bảo
hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại và bảo hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan tới sở hữu công nghiệp;
- Nghị định 12/1999/NĐ-CP ngày 06/03/1999 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp;
- Nghị định 101/2001/NĐ-CP ngày 31/12/2001 của Chính phủ quy định chi tiết thực hiện một số điều của Luật Hải quan về thủ tục hải quan, chế độ kiểm tra, giám sát hải quan;
- Chỉ thị số 31/1999/CT-TTg ngày 27/10/1999 của Thủ tướng Chính phủ về đấu tranh chống sản xuất và buôn bán hàng giả;
- Thông tư 3055-TT-SHCN ngày 31/12/1996 của Bộ Khoa học, Công nghệ
và Môi trường hướng dẫn thi hành các quy định về thủ tục xác lập quyền
Sở hữu công nghiệp và một số thủ tục khác trong Nghị định 63-CP ngày 24/10/1996 của Chính phủ quy định chi tiết về Sở hữu công nghiệp;
- Thông tư 825/2000/TT-BKHCNMT ngày 03/05/2000 của Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường hướng dẫn thi hành Nghị định 12/1999/NĐ-CP;
và được sửa đổi, bổ sung tại Thông tư 49/2001/TT-BKHCNMT của Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường;
- Thông tư liên tịch 10/2000/TTLT-BTM-BTC-BCA-BKHCNMT của Bộ Thương mại, Bộ tài chính, Bộ Công an và Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường hướng dẫn thực hiện Chỉ thị số 31/1999/CT-TTg ngày 27/10/1999 của Thủ tướng Chính phủ về đấu tranh chống sản xuất và buôn bán hàng giả
Ngoài ra, liên quan đến vấn đề thực thi quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý còn có một số các văn bản luật khác như: Bộ luật Hình sự, Luật Hải quan, Luật Thương mại,…
Quy định pháp luật của Cộng đồng chung Châu Âu
Trang 18Đây là những quy định có ý nghĩa quan trọng trong việc so sánh để từ đó rút ra được kinh nghiệm, kiến nghị hoàn thiện pháp luật chỉ dẫn địa lý ở Việt Nam Cụ thể bao gồm:
- Quy định số 2081/92 ngày 24/7/1992 của Cộng đồng kinh tế Châu Âu (EEC) về bảo hộ chỉ dẫn địa lý và thiết kế về nguồn gốc2 cho sản phẩm nông nghiệp và thực phẩm; và được bổ sung tại Quy định số 692/2003 ngày 08/4/2003 của Cộng đồng kinh tế Châu Âu (EEC);
- Quy định số 1576/89 ngày 29/5/1989 của Cộng đồng kinh tế Châu Âu (EEC) về rượu mạnh;
- Quy định số 823/87 ngày 16/3/1987 của Cộng đồng kinh tế Châu Âu (EEC) về chất lượng của sản phẩm rượu tại các vùng được xác định;
- Quy định số 80/777/EEC ngày 15/7/1980 của Cộng đồng kinh tế Châu Âu (EEC) về bảo hộ nước khoáng và nước suối
1.2.1 Khái niệm chỉ dẫn địa lý theo Hiệp định TRIPs
Trong Hiệp định TRIPs, tại khoản 1 điều 22 đã nêu lên khái niệm chỉ dẫn địa
lý như sau:
“Chỉ dẫn địa lý là những chỉ dẫn về hàng hoá bắt nguồn từ lãnh thổ của một
thành viên hoặc từ khu vực hay địa phương thuộc lãnh thổ đó, có chất lượng, uy tín hoặc đặc tính nhất định chủ yếu do xuất xứ địa lý quyết định”
Theo đó, khái niệm chỉ dẫn địa lý về cơ bản đề cập liên quan đến ba vấn đề, cụ thể là:
Khái niệm hàng hoá
Trong Hiệp định TRIPs không có điều khoản nào nêu lên khái niệm của thuật ngữ “hàng hoá”, tuy nhiên ngay từ rất sớm trong Công ước Paris đã chỉ ra rằng
sở hữu công nghiệp có thể được áp dụng cho tất cả các loại sản phẩm, cụ thể tại khoản 3 điều 1 của Công ước Paris đã quy định rằng:
2
Designations of Origin
Trang 19“Sở hữu công nghiệp được hiểu theo nghĩa rộng nhất, không những chỉ áp
dụng cho công nghiệp và thương mại theo đúng nghĩa của chúng mà cho cả các ngành sản xuất nông nghiệp, công nghiệp khai thác và tất cả các sản phẩm công nghiệp và sản phẩm tự nhiên như rượu, ngũ cốc, lá thuốc lá, hoa quả, gia súc, khoáng sản, nước khoáng, bia, hoa và bột”
Chính vì vậy, đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý được áp dụng với bất kỳ hàng hoá nào, có thể mang tính tự nhiên, nông nghiệp, công nghiệp hoặc được chế tạo, sản xuất ra Cũng cần lưu ý rằng, riêng về dịch
vụ không được áp dụng theo khoản 1 điều 22 của Hiệp định TRIPs, cũng có nghĩa là không thuộc đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý
Chỉ ra nơi bắt nguồn của hàng hoá
Chỉ dẫn địa lý sẽ chỉ ra cho chúng ta thấy hàng hoá ấy có nơi bắt nguồn từ lãnh thổ của một thành viên trong Hiệp định này hoặc từ khu vực hay địa phương thuộc lãnh thổ đó
Chỉ dẫn địa lý có thể là tên của một quốc gia thành viên – lãnh thổ của quốc gia thành viên Nhưng dĩ nhiên tên quốc gia bản thân không tự trở thành chỉ dẫn địa lý như đối tượng bảo hộ của quyền sở hữu công nghiệp dưới các quy định của Hiệp định TRIPs, trừ khi cũng đáp ứng đầy đủ các điều kiện khác mà pháp luật đòi hỏi Tuy vậy, trong thực tiễn cũng rất ít hàng hoá được chỉ dẫn bắt nguồn từ tên gọi của một quốc gia thành viên
Thuật ngữ địa lý ở đây cũng có thể là tên của một khu vực hay địa phương thuộc lãnh thổ của quốc gia thành viên Từ ngữ được dùng trong thuật ngữ này không được mang ý nghĩa chuyên biệt mà đòi hỏi phải được giải thích, hiểu một cách phổ biến, rộng rãi Khái niệm khu vực, địa phương ở đây có thể hiểu tương ứng như một hoặc nhiều đơn vị hành chính địa lý được chia nhỏ từ bộ máy nhà nước của quốc gia thành viên, đơn vị địa lý ấy được xác định rõ ràng bởi một vùng hay một khu vực địa lý nhất định mà ở đó hàng hoá được sản xuất ra Khu vực đề cập ở đây có thể là một thị trấn, làng xã hay tên gọi truyền thống của một địa phương
Thuật ngữ “địa lý” được dùng ở đây là với một nghĩa rộng, “địa lý” không chỉ với nghĩa vật chất – xác định phạm vi, khu vực hay một vùng của lãnh thổ, mà còn thể hiện yếu tố hành chính, kinh tế và văn hoá của vùng địa lý đấy Thông thường thì thuật ngữ “địa lý” này được thể hiện bằng một tên gọi địa lý, tuy
Trang 20nhiên cũng cần lưu ý rằng trong Hiệp định TRIPs thực tế không quy định rằng chỉ dẫn địa lý phải luôn thể hiện dưới dạng một tên gọi Điều đó có nghĩa là chỉ dẫn địa lý vẫn có thể là những dấu hiệu, ký hiệu hoặc những từ ngữ khác với tên gọi địa lý, miễn là những chúng thoả mãn được các điều kiện, thể hiện được gắn kết giữa hàng hoá với một địa điểm cụ thể nhất định Những dấu hiệu, ký hiệu hoặc những từ ngữ ấy thực tế tuy không là tên gọi địa lý của một khu vực hay một địa phương nhưng chúng lại có khả năng làm liên tưởng đến một địa điểm nhất định nào đó, mà địa điểm đó có thể làm cho khách hàng gắn kết với đặc điểm riêng biệt của hàng hóa Chẳng hạn như mọi người chúng ta đều biết đến
“thung lũng Silicon” tại California, nhưng chắc rằng không có quá nhiều người trong chúng ta nhớ đến địa điểm này thực ra có tên gọi là “thung lũng Santa Clara”
Đặc tính xuất xứ của hàng hoá
Chỉ dẫn địa lý chỉ được bảo hộ theo Hiệp định TRIPs nếu như hàng hoá ấy có được những đặc tính riêng biệt gắn liền với nơi xuất xứ của chúng, nội dung này
được quy định tại khoản 1 điều 22 của Hiệp định, cụ thể: “Có chất lượng, uy tín
hoặc đặc tính nhất định chủ yếu do xuất xứ địa lý quyết định”
Ba yếu tố được đề cập ở đây (chất lượng, uy tín hay đặc tính nhất định) có thể được thể hiện tất cả trên sản phẩm hoặc chỉ cần đáp ứng được một trong ba yếu
tố ấy, vấn đề cốt lõi là yếu tố này phải do xuất xứ địa lý đó quyết định
Cần hiểu “chất lượng và đặc tính” như thế nào? Thực tế tất cả các nhà sản xuất đều mong muốn hàng hoá của mình là “có chất lượng” hoặc ít nhất thì cũng phải thể hiện được tính riêng biệt (có thể là từ nội dung hay hình thức của sản phẩm) Nhưng điều mà các nhà sản xuất mong muốn này có thể được gắn liền với nguồn gốc xuất xứ của sản phẩm ấy hoặc không Mục đích chính của vấn đề bảo hộ chỉ dẫn địa lý được TRIPs quy định là yêu cầu bắt buộc hàng hoá phải có chất lượng
và đặc tính “bắt nguồn” từ nơi xuất xứ địa lý và tất nhiên phải được hiểu là chất lượng và đặc tính ấy không thể được “bắt nguồn” từ bất kỳ nơi nào khác
Cần hiểu “uy tín” (danh tiếng) như thế nào? Đây cũng là một vấn đề mới và phức tạp, là một vấn đề liên quan đến nhận thức chủ quan của người tiêu dùng Danh tiếng của nơi xuất xứ sản phẩm thông thường đã bao hàm luôn đối với yếu
tố chất lượng đặc tính của sản phẩm và chính danh tiếng ấy đã tạo nên sự khác biệt với những hàng hoá cùng loại Uy tín là yếu tố mang tính chủ quan, nhưng
nó không phải được xây dựng trên ảo tưởng, uy tín của một sản phẩm cần phải
Trang 21được tạo dựng trong một khoảng thời gian dài từ những phẩm chất đích thực của mình Quảng cáo vẫn là cách dùng để nâng cao danh tiếng của sản phẩm, tuy nhiên đối với hàng hoá chứa đựng chỉ dẫn địa lý thì cần phải có được tiếng nói riêng của chính bản thân nó, uy tín mà sản phẩm ấy có được bởi vì tự thân sản phẩm đã đem lại sự khác biệt ấy Một khi danh tiếng của sản phẩm được thiết lập với người tiêu dùng từ sự quyết định bởi xuất xứ địa lý thì hoàn toàn đáp ứng được yêu cầu của TRIPs và chỉ dẫn địa lý ấy được bảo hộ theo quy định của Hiệp định này
Bên cạnh đó, cần đặc biệt lưu tâm đến sự khác biệt giữa những đối tượng rất gần với chỉ dẫn địa lý như “chỉ dẫn nguồn gốc” hay “tên gọi xuất xứ hàng hoá” Mỗi một đối tượng kể trên sẽ gắn liền với những quyền và nghĩa vụ pháp lý nhất định, tuy cùng đề cập đến những yếu tố rất giống nhau, như: xuất xứ hàng hoá, tên gọi địa lý, chất lượng của hàng hoá, Việc yêu cầu đối với từng đối tượng này cũng là khác nhau, việc phân biệt chúng là rất quan trọng và càng giúp cho khái niệm chỉ dẫn địa lý được rõ hơn
Phân biệt chỉ dẫn nguồn gốc và chỉ dẫn địa lý
“Chỉ dẫn nguồn gốc” không nằm trong đối tượng chịu sự điều chỉnh của Hiệp định TRIPs, thuật ngữ này được quy định tại khoản 2 điều 1 và điều 10 của Công ước Paris, cũng được quy định tại Hiệp định Madrid Tuy không được định nghĩa
cụ thể nhưng tại khoản 1 điều 1 của Hiệp định Madrid thuật ngữ này đã được làm
rõ về mặt ý nghĩa, cụ thể tất cả những hàng hoá có chỉ dẫn sai lệch hoặc dễ gây ra nhầm lẫn bởi một trong số các quốc gia thành viên của Hiệp định này, hoặc là nơi đưa ra sự sai lệch ấy, mà nó được chỉ ra một cách trực tiếp hoặc gián tiếp như quốc gia hoặc nơi xuất xứ của hàng hóa thì sẽ bị thu giữ khi nhập khẩu vào bất
kỳ quốc gia nào đã nêu trên
Chỉ dẫn nguồn gốc có thể được hiểu như sự chỉ dẫn đến một quốc gia hay một địa điểm xác định mà nơi đó là nguồn gốc xuất xứ của hàng hoá Vấn đề quan trọng của chỉ dẫn nguồn gốc là khái niệm liên quan đến nguồn gốc địa lý của sản phẩm và nó không giống như những sản phẩm cùng loại khác, chẳng hạn như sản phẩm đã được sản xuất ở đâu
Tuy nhiên, đối tượng này không đặt ra yêu cầu rằng sản phẩm ấy phải có được chất lượng hay đặc tính nhất định như thế nào, và những chất lượng hay đặc tính của sản phẩm không nhất thiết do nguồn gốc địa lý quyết định – đây là điểm khác biệt so với khái niệm chỉ dẫn địa lý
Trang 22 Phân biệt tên gọi xuất xứ hàng hóa và chỉ dẫn địa lý
Thực ra, khái niệm “chỉ dẫn địa lý” chủ yếu bắt nguồn từ khái niệm “tên gọi xuất xứ hàng hóa” được quy định tại điều 2 của Hiệp định Lisbon, theo đó quy định:
“Tên gọi xuất xứ là tên địa lý của một nước, vùng hoặc một địa phương dùng
để chỉ xuất xứ của sản phẩm, mà chất lượng và những đặc tính của nó dựa trên các điều kiện môi trường địa lý độc đáo và ưu việt, bao gồm yếu tố tự nhiên và yếu tố con người”
Tuy có rất nhiều điểm tương đồng như khả năng phân biệt với những hàng hóa cùng loại cơ bản được bắt nguồn từ nét đặc thù của nguồn gốc địa lý, nhưng về
cơ bản giữa tên gọi xuất xứ và chỉ dẫn địa lý vẫn có những sự khác biệt sau: Thứ nhất, nếu so sánh trong khái niệm chỉ dẫn địa lý tại khoản 1 điều 22 của Hiệp định TRIPs, tên gọi xuất xứ hàng hoá chỉ được áp dụng đối với đối tượng là
“sản phẩm”, hẹp hơn so với đối tượng “hàng hoá” của chỉ dẫn địa lý Đồng thời chỉ dẫn địa lý không bị giới hạn về tên gọi địa lý, thuật ngữ chỉ dẫn địa lý của đối tượng này còn được hiểu bao gồm cả những từ ngữ, nhóm từ, biểu tượng hoặc những hình ảnh tượng trưng cho nguồn gốc địa lý xuất xứ của hàng hoá
Thứ hai, chỉ dẫn địa lý áp dụng đối với hàng hoá mà “chất lượng, uy tín hoặc
đặc tính nhất định chủ yếu do xuất xứ địa lý quyết định”, trong khi đó tên gọi
xuất xứ hàng hoá được áp dụng cho những sản phẩm có “tính chất, chất lượng
đặc thù do điều kiện địa lý, bao gồm yếu tố tự nhiên và con người” Điều đó có
nghĩa là chỉ dẫn địa lý không đặt ra yêu cầu sản phẩm phải có được chất lượng và đặc tính xuất phát từ điều kiện tự nhiên và con người của nơi xuất xứ sản phẩm
ấy Chỉ dẫn địa lý chỉ đòi hỏi sản phẩm phải thể hiện được chất lượng, tính đặc
thù hay uy tín có được chủ yếu là do xuất xứ địa lý quyết định Cụm từ “chất
lượng, uy tín hoặc đặc tính” cũng đã được sử dụng và hiểu một cách tương tự tại
Quy định số 2081/92 ngày 14/7/1992 của Cộng đồng kinh tế Châu Âu về bảo hộ chỉ dẫn địa lý và thiết kế về nguồn gốc (desingnations of origin) đối với sản phẩm nông nghiệp và thực phẩm
Tên gọi xuất xứ hàng hoá có thể được hiểu như là trung tâm điểm, trường hợp đặc biệt của khái niệm chỉ dẫn địa lý, các điều kiện tối thiểu phải thỏa mãn của sản phẩm được bảo hộ theo tên gọi xuất xứ nghiêm ngặt hơn so với chỉ dẫn địa
lý, điều đó cũng có nghĩa là một sản phẩm hội đủ yêu cầu được bảo hộ tên gọi xuất xứ thì đương nhiên đáp ứng các yêu cầu của chỉ dẫn địa lý
Trang 23Theo như cách hiểu này, tên gọi xuất xứ cũng có thể được hiểu như một dạng đặc biệt của chỉ dẫn nguồn gốc theo các quy định tại Công ước Paris và Hiệp định Madrid về chỉ dẫn nguồn gốc Bởi lẽ, sản phẩm ấy không những thể hiện thông tin nguồn gốc xuất xứ mà chất lượng và đặc tính đặc thù của chúng còn do yếu tố tự nhiên của nơi đó quyết định (ngoài ra còn bao gồm cả yếu tố con người), ví dụ như: rượu vang “Bordeaux”, rượu mạnh “Tequila” hoặc cam
“Jaffa” (là những sản phẩm đã được đăng ký bảo hộ tên gọi xuất xứ theo Hiệp định Lisbon) [32, 6]
Tóm lại, nếu đặt ba thuật ngữ cùng so sánh thì chỉ dẫn nguồn gốc là thuật ngữ
có nghĩa rộng nhất, nghĩa là về mặt nguyên tắc các yêu cầu bảo hộ ít nhất và đơn giản nhất Bảo hộ theo chỉ dẫn nguồn gốc chỉ đòi hỏi sản phẩm có chỉ dẫn về xuất xứ của chúng đến một địa điểm địa lý nhất định, không nhất thiết phải bao hàm điều kiện về chất lượng, uy tín hay đặc tính đặc thù của hàng hóa Tiếp đến
là thuật ngữ chỉ dẫn địa lý rộng hơn so với tên gọi xuất xứ, về cơ bản hầu hết sản phẩm được bảo hộ theo tên gọi xuất xứ thì đều là chỉ dẫn địa lý (nhưng cũng có những trường hợp đặc biệt thì không phải, như đối với uy tín sản phẩm là một ví dụ)
Ở Việt Nam, Nghị định số 54/2000/NĐ-CP ngày 03 tháng 10 năm 2000 của Chính phủ, tại khoản 1 điều 10 đã quy định:
“Chỉ dẫn địa lý được bảo hộ là thông tin về nguồn gốc địa lý của hàng hoá
đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:
- Thể hiện dưới dạng một từ ngữ, dấu hiệu, biểu tượng hoặc hình ảnh, dùng
để chỉ một quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, địa phương thuộc một quốc gia;
- Thể hiện trên hàng hoá, bao bì hàng hoá hay giấy tờ giao dịch liên quan tới việc mua bán hàng hoá nhằm chỉ dẫn rằng hàng hoá nói trên có nguồn gốc tại quốc gia, vùng lãnh thổ hoặc địa phương mà đặc trưng về chất lượng, uy tín, danh tiếng hoặc các đặc tính khác của loại hàng hoá này có được chủ yếu là do nguồn gốc địa lý tạo nên”
Qua đó, có thể hiểu khái niệm chỉ dẫn địa lý đã bao hàm các vấn đề sau:
Một là: thể hiện hàng hoá xuất xứ từ nơi nào?
Trang 24Nghĩa là, thông tin chỉ dẫn về nguồn gốc địa lý của hàng hóa làm cho công chúng biết hàng hoá ấy được bắt nguồn từ một quốc gia, vùng lãnh thổ hoặc địa phương của một quốc gia Trong đó, cụ thể thông tin chỉ dẫn về nguồn gốc địa lý của hàng hoá có thể dưới dạng từ ngữ, dấu hiệu, biểu tượng hoặc hình ảnh được thể hiện trên hàng hoá, bao bì hàng hoá hay giấy tờ giao dịch liên quan tới việc mua bán hàng hoá Đối với khái niệm hàng hoá, tại khoản 3 điều 5 của Luật Thương mại ban hành ngày 23 tháng 5 năm 1997 đã quy định thuật ngữ hàng hoá được hiểu:
“Gồm máy móc, thiết bị, nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu, hàng tiêu dùng, các
động sản khác được lưu thông trên thị trường, nhà ở dùng để kinh doanh dưới hình thức cho thuê, mua, bán”
Hai là: địa điểm xuất xứ và chất lượng hàng hoá đó phải có mối quan
hệ như thế nào?
Cụ thể, hàng hoá ấy phải có chất lượng, uy tín hoặc đặc tính nhất định chủ yếu
do nguồn gốc địa lý nói trên quyết định
Chỉ dẫn địa lý được bảo hộ với tư cách là đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp nếu như chúng được sử dụng để phân biệt hàng hoá có xuất xứ (được sản xuất, khai thác, trồng trọt) từ các địa danh khác nhau và có được uy tín nhất định đối với người tiêu dùng Uy tín nhất định của hàng hoá nói ở đây là chất lượng hoặc những đặc tính khác của hàng hoá có được chủ yếu (hay hoàn toàn) do nguồn gốc địa lý của hàng hoá đó Nếu giữa hàng hoá và chỉ dẫn địa lý không có mối liên hệ này thì chỉ dẫn địa lý chỉ còn là một địa chỉ, một thông tin mang tính công cụ đơn thuần Trong trường hợp đó chỉ dẫn này không thể được bảo hộ với
tư cách là đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp mà khi đó nó chỉ có thể được bảo hộ thông qua hệ thống pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh hay pháp luật bảo vệ người tiêu dùng
Phân biệt khái niệm chỉ dẫn địa lý và tên gọi xuất xứ hàng hoá
Căn cứ theo điều 786 Bộ luật Dân sự quy định tên gọi xuất xứ hàng hoá được hiểu:
“Là tên địa lý của nước, địa phương dùng để chỉ xuất xứ của mặt hàng từ
nước, địa phương đó với điều kiện những mặt hàng này có các tính chất, chất lượng đặc thù dựa trên các điều kiện địa lý độc đáo và ưu việt, bao gồm yếu tố tự nhiên, con người hoặc kết hợp cả hai yếu tố đó”
Trang 25Ở Việt Nam, theo Nghị định số 63/CP ngày 24/10/1996 của Chính phủ, nhà nước sẽ không bảo hộ với danh nghĩa là tên gọi xuất xứ khi các chỉ dẫn xuất xứ không phải là tên địa lý, hoặc khi tên gọi xuất xứ hàng hoá đã trở thành tên gọi chung của hàng hoá và đã mất chức năng chỉ dẫn xuất xứ hàng hoá đó Hành vi
sử dụng trái phép đối với đối tượng tên gọi xuất xứ được bảo hộ của cá nhân hay
tổ chức có thể sẽ dẫn đến hậu quả phải gánh chịu trách nhiệm pháp lý hình sự hoặc dân sự
Khái niệm về tên gọi xuất xứ hàng hoá còn được giải thích rõ hơn tại điều 7 của Nghị định số 63/CP ngày 24 tháng 10 năm 1996 của Chính phủ, quy định chi tiết về sở hữu công nghiệp So với khái niệm chỉ dẫn địa lý, khái niệm tên gọi xuất xứ hàng hoá cơ bản cũng đề cập đến hai thuộc tính: một là thể hiện hàng hoá xuất xứ từ nơi nào – chỉ nguồn gốc địa lý của hàng hoá, hai là thể hiện mối quan
hệ giữa địa điểm xuất xứ và chất lượng hàng hoá Tuy nhiên, quy định cụ thể, cách hiểu chi tiết trong hai khái niệm này là khác biệt
Đối với thuộc tính chỉ nguồn gốc địa lý của hàng hoá
Cả hai khái niệm đều là tên địa lý nơi mà hàng hoá được sản xuất, nhưng chúng lại khác nhau ở những điểm sau đây:
Một là: đối với khái niệm tên gọi xuất xứ hàng hoá, tên địa lý là tên của một nước hoặc một địa phương là nơi mà hàng hoá tương ứng được sản xuất Trong khi đó đối với khái niệm chỉ dẫn địa lý, tên địa lý không chỉ là tên của một quốc gia hoặc một địa phương mà còn được mở rộng hơn bởi vùng lãnh thổ
Hai là: đối với khái niệm tên gọi xuất xứ hàng hoá, các dấu hiệu mang tính chất biểu tượng của nước, địa phương là nơi xuất xứ của hàng hoá nhưng không phải là tên địa lý của nước, địa phương đó không phải là đối tượng được bảo hộ với danh nghĩa tên gọi xuất xứ hàng hoá Trong khi đó đối với khái niệm chỉ dẫn địa lý, thông tin chỉ dẫn về nguồn gốc địa lý của hàng hoá có thể dưới dạng từ ngữ, dấu hiệu, biểu tượng hoặc hình ảnh được thể hiện trên hàng hoá, bao bì hàng hoá hay giấy tờ giao dịch liên quan tới việc mua bán hàng hoá
Đối với thuộc tính thể hiện mối quan hệ giữa địa điểm xuất xứ và chất lượng hàng hoá
Cả hai khái niệm đều đòi hỏi chất lượng hàng hoá tương ứng phải đáp ứng được những yêu cầu nhất định, mà yêu cầu ấy gắn liền đối với địa điểm xuất xứ Nhưng trong yêu cầu cụ thể đối với từng khái niệm thì có sự khác nhau cơ bản,
cụ thể là:
Trang 26 Khái niệm tên gọi xuất xứ hàng hoá, hàng hoá đòi hỏi phải có các tính chất, chất lượng đặc thù do yếu tố địa lý (tự nhiên, con người) của nước, địa phương đó quyết định
Khái niệm chỉ dẫn địa lý, đòi hỏi các đặc trưng về chất lượng, uy tín, danh tiếng hoặc các đặc tính khác của hàng hoá này có được chủ yếu là do nguồn gốc địa lý (mà yếu tố tự nhiên là căn bản) tạo nên
QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI CHỈ DẪN ĐỊA
LÝ
Chỉ dẫn địa lý là một trong các đối tượng bảo hộ của quyền sở hữu công nghiệp, tuy nhiên đối với đối tượng này lại có những nét đặc thù và chứa đựng các quyền năng cũng rất khác biệt so với những đối tượng còn lại Sự khác biệt
ấy có thể thấy trong chủ thể quyền sở hữu và nội dung của quyền sở hữu
Đối với quyền sở hữu công nghiệp
Chủ thể là người tham gia vào quan hệ về quyền sở hữu công nghiệp, được hưởng quyền và gánh vác nghĩa vụ theo quy định của pháp luật về quyền sở hữu công nghiệp [51, 377], bao gồm hai loại:
Tác giả: là người bằng lao động sáng tạo của mình để trực tiếp tạo ra các sản
phẩm trí tuệ được thể hiện theo một trong ba dạng: sáng chế, giải pháp hữu ích
và kiểu dáng công nghiệp
Chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp: theo điều 749 của Bộ luật Dân sự
quy định:
“Cá nhân, pháp nhân, các chủ thể khác được cơ quan nhà nước có thẩm
quyền cấp hoặc được chuyển giao văn bằng bảo hộ sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá và các đối tượng sở hữu công nghiệp khác là chủ sở hữu sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá và các đối tượng sở hữu công nghiệp đó”
Nói một cách khác, chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp bao gồm ba loại:
- Chủ thể được cấp văn bằng bảo hộ
Trang 27- Chủ thể được chuyển giao hợp pháp quyền sở hữu công nghiệp
- Chủ thể được đăng ký quốc tế nhãn hiệu hàng hoá theo Thoả ước Marid và
đã được chấp nhận bảo hộ tại Việt Nam [51, 379]
Đối với chủ thể có quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý
Pháp luật Việt Nam xác định chủ thể có quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý tại điều
11 của Nghị định 54/2000/NĐ-CP ngày 03/10/2000, cụ thể quy định:
“Người có quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý là mọi tổ chức, cá nhân tiến hành
hoạt động sản xuất hàng hoá mang chỉ dẫn địa lý đó tại lãnh thổ quốc gia, vùng lãnh thổ hoặc địa phương tương ứng, với điều kiện hàng hoá do người đó sản xuất phải được bảo đảm uy tín hoặc danh tiếng vốn có của loại hàng hoá đó”
Chủ thể của quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý có những đặc điểm sau đây:
Một là: chỉ dẫn địa lý không có tác giả Bởi lẽ, “sản phẩm trí tuệ” được bảo hộ này không phải là kết quả của sự lao động sáng tạo, mà thực chất chỉ dẫn địa lý là
“thông tin về nguồn gốc hàng hoá” và thông tin vùng này được gắn liền với “chất lượng, uy tín, danh tiếng” của hàng hoá được sản xuất tại một vùng địa lý mà nhờ yếu tố tự nhiên về thổ nhưỡng chỉ có ở vùng địa lý đó tạo nên
Hai là: chủ thể của quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý chỉ có thể được xác định là chủ thể được cấp văn bằng bảo hộ Bởi lẽ, chủ thể được bảo hộ cũng không có quyền định đoạt, như chuyển giao quyền sở hữu đối với chỉ dẫn địa lý
Ba là: xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý sẽ dựa trên yêu cầu của:
Một cá nhân hay tập thể trong khu vực sản xuất ra hàng hoá đó; hoặc
Một tổ chức đại diện cho cộng đồng trong khu vực sản xuất ra hàng hoá thuộc đối tượng được bảo hộ; hoặc
Một cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo luật định
Việc xác lập này không chỉ là quyền của cá nhân mà còn là quyền của tập thể,
tổ chức đại diện hay cơ quan nhà nước có thẩm quyền, bởi lẽ chỉ dẫn địa lý không nhằm bảo hộ vấn đề độc quyền của một nhà sản xuất, kinh doanh nào trong khu vực sản xuất ra hàng hóa đó Đây cũng là một điểm cần lưu tâm, bởi đặc điểm này sẽ cần đến một sự khác biệt về trình tự xác lập quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý so với các đối tượng khác của quyền sở hữu trí tuệ
Trang 281.3.2 Nội dung quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn
địa lý
Đối với quyền của chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp
Chủ sở hữu nói chung ở đây sẽ được bảo hộ trong thời hạn còn hiệu lực của văn bằng bảo hộ, có các quyền sau đây:
Độc quyền sử dụng, cũng có nghĩa là người khác không được phép sử dụng
nếu không được phép của chủ sở hữu Chẳng hạn như chủ sở hữu sáng chế, giải pháp hữu ích được độc quyền sử dụng và khai thác các đối tượng này thông qua các hoạt động như: sản xuất sản phẩm được bảo hộ; áp dụng các quy trình được bảo hộ; khai thác sản phẩm được bảo hộ; đưa vào lưu thông, quảng cáo để bán, chào hàng, tàng trữ để bán sản phẩm được bảo hộ; nhập khẩu sản phẩm được bảo
hộ hoặc sản phẩm được sản xuất theo quy trình được bảo hộ Nếu người khác sử dụng, khai thác sáng chế, giải pháp hữu ích bằng một trong những hành vi nói trên mà không được sự cho phép của chủ sở hữu các đối tượng đó thì bị coi là có hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp
Yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu đối với đối tượng sở hữu công nghiệp của mình Việc xử lý này có
thể do cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền hay Toà án thực hiện, hậu quả pháp lý có thể là buộc người có hành vi vi phạm phải chấm dứt hành vi xâm phạm và phải bồi thường thiệt hại
Chuyển giao quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp, có nghĩa là chủ sở
hữu công nghiệp đối với sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp hay nhãn hiệu hàng hoá có quyền chuyển giao một phần hay toàn bộ quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp của mình cho chủ thể khác, việc chuyển giao này được thực hiện thông qua hợp đồng bằng văn bản về việc chuyển giao quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp – hợp đồng li-xăng
Chuyển giao hoặc để lại thừa kế quyền sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp
của mình Đây là nội dung thể hiện quyền năng tự định đoạt của chủ sở hữu đối
với đối tượng sở hữu công nghiệp đang được bảo hộ Chính vì vậy, chủ thể ở đây hoàn toàn có quyền chuyển giao đối tượng sở hữu công nghiệp này cho người khác thông qua các giao dịch dân sự, dưới hai hình thức sau:
Một là, thông qua hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp với trình tự thủ tục theo luật định (theo pháp luật Việt Nam, trình tự này được
Trang 29quy định tại Thông tư số 3055-TT/SHCN ngày 31/12/1996 của Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường (nay là Bộ Khoa học – Công nghệ))
Hai là, thông qua việc để lại thừa kế đối với đối tượng sở hữu công nghiệp Tuy nhiên cần lưu ý rằng, việc chuyển dịch đối tượng sở hữu công nghiệp trong trường hợp này phải đảm bảo điều kiện thời hạn bảo hộ đối tượng ấy vẫn còn và khi đó người thừa kế sẽ được hưởng các quyền của chủ sở hữu cho đến khi văn bằng bảo hộ hết hiệu lực
Đối với quyền sở hữu công nghiệp đối tượng chỉ dẫn địa lý
Trong thời hạn văn bằng bảo hộ còn có hiệu lực, tại điều 12 của Nghị định số 54/2000/NĐ-CP ngày 03/10/2000 đã quy định về quyền sử dụng của chủ thể đối với đối tượng chỉ dẫn địa lý, cụ thể là:
1 Người có quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý có quyền thể hiện chỉ dẫn đó trên hàng hoá, bao bì hàng hoá, giấy tờ giao dịch nhằm mua bán hàng hoá và quảng cáo cho hàng hoá tương ứng
2 Quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý không được chuyển giao
Bên cạnh việc quy định sự độc quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý của các chủ thể,
nội dung quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý còn thể hiện ở những điểm sau đây:
Quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý của mình
Chủ thể quyền sở hữu công nghiệp đối tượng chỉ dẫn địa lý không có quyền năng định đoạt, có nghĩa là chủ thể này hoàn toàn không có quyền được: chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý cho các chủ thể khác theo chế định hợp đồng dân sự hay chuyển dịch thông qua việc để lại thừa kế cho dù văn bằng bảo hộ vẫn còn có hiệu lực
DẪN ĐỊA LÝ
Thực tế Việt Nam là một minh chứng cho sự cần thiết trong việc giải quyết mối quan hệ đặc biệt giữa nhãn hiệu hàng hoá và chỉ dẫn địa lý Công ty thực phẩm Lâm Đồng được Cục Sở hữu công nghiệp Việt Nam cấp Giấy chứng nhận
đăng ký nhãn hiệu hàng hoá số 45073 ngày 10/2/2003 “Vang Đà Lạt” [62]
Trang 30Không lâu, Công ty trách nhiệm hữu hạn Vĩnh Tiến cũng sản xuất và cho lưu
hành trên thị trường một loại rượu vang đỏ với nhãn hiệu “Vang đỏ Đà Lạt”,
xung đột đã xảy ra ngay sau đó:
Công ty Lâm Đồng gửi công văn khiếu nại trên nhãn rượu vang của Công
ty Vĩnh Tiến chứa phần chữ “Vang Đỏ Đà Lạt (Dalat Red Wine)” tạo sự
tương tự, gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng với nhãn hiệu đã được bảo hộ
“Vang Đà Lạt” của mình
Trái ngược lại là quan điểm cho rằng địa danh Đà Lạt là tài sản chung của người dân Đà Lạt Vang là loại rượu không do Công ty Lâm Đồng “phát minh” ra và “vang” là ngôn ngữ chung dùng để gọi loại rượu vang được sử dụng rộng rãi và thường xuyên, nên không thuộc dấu hiệu được bảo hộ Người Đà Lạt biết làm rượu vang từ lâu thế nhưng “Vang Đà Lạt” lại là nhãn hiệu hàng hoá độc quyền của Công ty Lâm Đồng là không hợp lý Trong trường hợp này sản phẩm cần được bảo hộ theo đối tượng chỉ dẫn địa lý
Đối với đối tượng nhãn hiệu hàng hóa, về mặt nghiên cứu có nhiều cách hiểu khác nhau và cũng được các quốc gia quy định không thống nhất, tuy nhiên phổ biến nhất vẫn xem thuật ngữ này là những dấu hiệu của hàng hoá hay dịch vụ, mà những dấu hiệu ấy chính là cơ sở để phân biệt hàng hoá hay dịch vụ đó với những hàng hoá hay dịch vụ khác Vấn đề bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá đã được pháp luật quốc tế quy định từ rất sớm tại Công ước Paris, tuy nhiên trong số những điều luật ấy cũng không đưa ra định nghĩa về nhãn hiệu hàng hoá Phải đến Hiệp định TRIPs chúng ta mới có được một định nghĩa chính thức về nhãn hiệu hàng hoá Từ khoản 1 điều 2 Công ước Paris cho tới khoản 1 điều 15 Hiệp định TRIPs, nhãn hiệu hàng hoá được hiểu là:
“Bất kỳ một dấu hiệu, hoặc sự kết hợp các dấu hiệu, có khả năng phân biệt hàng
hoá hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp với hàng hoá hoặc dịch vụ của các doanh nghiệp khác, đều có thể làm nhãn hiệu hàng hoá”
Tương tự như vậy, quy định của pháp luật Việt Nam, khái niệm nhãn hiệu hàng hoá được quy định tại điều 785 Bộ luật Dân sự, theo đó:
“Nhãn hiệu hàng hoá là những dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ
cùng loại của các cơ sở sản xuất, kinh doanh khác nhau Nhãn hiệu hàng hoá có
Trang 31thể là từ ngữ, hình ảnh hoặc sự kết hợp các yếu tố đó được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc”
Chức năng cơ bản nhất của nhãn hiệu hàng hoá chính là khả năng phân biệt của chúng, dựa trên nhãn hiệu hàng hoá là có thể phân biệt rõ ràng nhất giữa các hàng hoá hay dịch vụ với nhau Thông qua hệ thống pháp luật bảo hộ đối với đối tượng này, các chủ thể sẽ được xác lập quyền đối với nhãn hiệu hàng hoá và được bảo vệ, thực thi những quyền của chủ sở hữu chống lại bất kỳ sự vi phạm nào
Các dấu hiệu của hàng hóa, đặc biệt là các từ, kể cả tên riêng, các chữ cái, chữ
số, các yếu tố minh hoạ và kết hợp các màu sắc cũng như kết hợp bất kỳ các dấu hiệu đó, phải có khả năng phân biệt có thể được đăng ký là nhãn hiệu hàng hoá Thông thường bản thân các dấu hiệu đã mang khả năng phân biệt với các hàng hoá và dịch vụ tương ứng, ngoài ra tại khoản 1 và 3 điều 15 của Hiệp định TRIPs còn quy định trong trường hợp bản thân các dấu hiệu không có được khả năng phân biệt một cách rõ rệt hàng hóa hoặc dịch vụ tương ứng, thì các quốc gia thành viên vẫn có thể quy định khả năng được đăng ký phụ thuộc vào tính phân biệt đạt được thông qua việc sử dụng của hàng hóa hoặc dịch vụ ấy Thành viên
có thể quy định điều kiện để được đăng ký là các dấu hiệu phải nhìn thấy được Đặc tính riêng biệt như một điều kiện cho việc đăng ký đối với nhãn hiệu hàng hoá, nhãn hiệu hàng hoá giúp ta nhận biết được nhà sản xuất nhưng không nhất thiết phải thể hiện nguồn gốc địa lý của hàng hoá
hàng hoá và chỉ dẫn địa lý
Tương tự như đối với nhãn hiệu hàng hoá, chức năng chính của chỉ dẫn địa lý
là sự phân biệt với các hàng hoá cùng loại, nhưng tiêu chí ở đây chính là sự khác biệt ở nguồn gốc từ xuất xứ địa lý cụ thể nhất định Hàng hóa mang dấu hiệu chỉ dẫn địa lý phân biệt với những hàng hoá cùng loại khác dựa vào đặc thù từ xuất
xứ địa lý nơi mà hàng hoá được sản xuất Trong khi ấy đối với nhãn hiệu hàng hoá là những dấu hiệu riêng biệt của cơ sở sản xuất, kinh doanh mà không cần phải nêu lên xuất xứ nguồn gốc của sản phẩm
Sự ám chỉ đến nơi chế tạo, sản xuất ra sản phẩm là một đặc tính vốn có của chỉ dẫn địa lý Không giống với nhãn hiệu hàng hoá, chỉ dẫn địa lý không thể là sự lựa chọn một cách hoàn toàn chủ quan của cơ sở sản xuất và yêu cầu thể hiện
Trang 32nguồn gốc địa lý của sản phẩm là không thể thay đổi, chỉ ra vùng địa lý đặc thù nơi bắt nguồn và quyết định đến tính chất của sản phẩm là bắt buộc
Sự khác biệt đối với đối tượng nhãn hiệu hàng hóa cũng có thể thấy được ở sự tương tự trong tên gọi của vùng địa lý hay cùng nơi xuất xứ của cùng loại sản phẩm Bởi lẽ, đối với chỉ dẫn địa lý hoàn toàn có thể xảy ra trường hợp tên gọi địa lý nơi xuất xứ sản phẩm được bảo hộ trùng với tên gọi của một vùng địa lý khác (có thể ở trong cùng một quốc gia hoặc ở một quốc gia khác), hay có nhiều
cơ sở sản xuất cùng một loại sản phẩm mà đặc tính đều do cùng một nguồn gốc địa lý quyết định – đều được bảo hộ theo đối tượng chỉ dẫn địa lý
Chính từ việc cả hai đối tượng này đều có khả năng phân biệt với các hàng hóa cùng loại khác, nhưng lại mang những dấu hiệu cơ bản không giống nhau, nội dung của quyền độc quyền sử dụng của nhãn hiệu hàng hóa và chỉ dẫn địa lý là rất khác nhau Chính vì vậy, vấn đề xung đột pháp luật, bất cập đã được đặt ra
Cụ thể như:
Trường hợp 1: khi nhãn hiệu hàng hoá mang dấu hiệu chỉ dẫn địa lý
Khi một nhãn hiệu hàng hóa được thiết lập ở một quốc gia với đặc tính từ một dấu hiệu, tên gọi riêng biệt được sử dụng trong kinh doanh, tuy nhiên đặc tính ấy lại được sử dụng làm cơ sở cho việc bảo hộ chỉ dẫn địa lý ở một quốc gia khác Hay ngay trong pháp luật quốc gia, một hàng hóa đã được bảo hộ theo quy định nhãn hiệu hàng hóa nhưng mang dấu hiệu “xung đột” với chỉ dẫn địa lý thì cần được giải quyết như thế nào (chẳng như trường hợp rượu vang Đà Lạt của Việt Nam đề cập ở trên)?
Trường hợp 2: cùng một “dấu hiệu” nhưng có thể hoặc là nhãn hiệu hàng
hóa hoặc là chỉ dẫn địa lý
Đây là trường hợp với cùng một “dấu hiệu” (liên quan đến nguồn gốc xuất xứ) của một loại hàng hoá nhưng lại có thể được bảo hộ theo đối tượng nhãn hiệu hàng hoá hoặc chỉ dẫn địa lý, điều đó đòi hỏi cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải xác định đối tượng cần được bảo hộ, cơ sở pháp lý cho sự phân định và giải quyết vấn đề xung đột này Bởi quá trình cạnh tranh trên thị trường, các nhà sản xuất – kinh doanh sẽ đưa ra các yêu cầu nhằm mong muốn được bảo hộ có lợi nhất từ những dấu hiệu đặc trưng nhất định của sản phẩm Khi đó trong cùng một lãnh thổ, cùng một khoảng thời gian và với cùng một dấu hiệu nhưng lại được yêu cầu bảo hộ theo đối tượng nhãn hiệu hàng hoá hoặc dưới danh nghĩa là đối tượng chỉ dẫn địa lý
Trang 33 Trường hợp 3: nhãn hiệu nổi tiếng và chỉ dẫn địa lý
Đây là trường hợp với cùng một “dấu hiệu” liên quan đến nguồn gốc xuất xứ của hàng hóa nhưng có thể được các bên xem là cơ sở để bảo hộ theo đối tượng chỉ dẫn địa lý hoặc nhãn hiệu hàng hóa nổi tiếng3 Tính phân biệt trong nhãn hiệu nổi tiếng thể hiện khá rõ nét, đối với người tiêu dùng ngoài việc quan tâm đến nguồn gốc xuất xứ của hàng hóa, thì sản phẩm đó còn phải mang nhãn hiệu và giá trị của loại hàng hóa này là rất lớn [44, 49] Bảo hộ đối với nhãn hiệu nổi tiếng nhằm từ chối hoặc hủy bỏ đăng ký, ngăn cấm việc sử dụng trái phép hoặc
có khả năng gây ra sự nhầm lẫn với nhãn hiệu đã được đăng ký hoặc sử dụng coi như là nhãn hiệu nổi tiếng4
Trường hợp 4: nhãn hiệu tập thể và chỉ dẫn địa lý
Chúng ta dễ dàng nhận thấy được sự khác biệt ở các điều kiện của việc đăng
ký nhãn hiệu tập thể5
so với nhãn hiệu hàng hoá thông thường Quyền sở hữu nhãn hiệu tập thể tùy từng trường hợp có thể là cá nhân hay pháp nhân đại diện hợp pháp cho tập thể đó, khi người nộp đơn đăng ký nhãn hiệu hàng tập thể phải nộp kèm theo bản dự thảo quy chế sử dụng nhãn hiệu để điều chỉnh, quản lý việc
sử dụng của các thành viên trong tập thể [44, 45]
Chính những sự xung đột này càng thể hiện rõ hơn sự phức tạp và đa dạng trong khái niệm và các vấn đề liên quan đến bảo hộ chỉ dẫn địa lý
3 Điều 2 của Nghị định 63/CP (được bổ sung khoản 8b) quy định: Nhãn hiệu nổi tiếng là nhãn hiệu hàng
hoá được sử dụng liên tục cho sản phẩm, dịch vụ có uy tín khiến cho nhãn hiệu đó được biết đến một cách rộng rãi”
4 Vấn đề này được quy định cụ thể tại điều 6bis của Công ước Paris, khoản 2 và 3 điều 16 của Hiệp định TRIPs và từ điều 2 đến điều 4 của văn bản đề nghị liên kết liên quan đến bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng của
Tổ chức quốc tế về quyền sở hữu trí tuệ (SCT/3/8) năm 1999
5 Vấn đề nhãn hiệu tập thể được quy định tại điều 7bis của Công ước Paris, quy định các nước thành viên
có trách nhiệm nhận đơn đăng ký và bảo hộ các nhãn hiệu tập thể Tuy nhiên, Công ước này lại không đưa ra định nghĩa cụ thể thế nào là nhãn hiệu tập thể
Trang 34CHƯƠNG 2 BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP
ĐỐI VỚI CHỈ DẪN ĐỊA LÝ
CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI CHỈ DẪN ĐỊA LÝ
2.1.1 Khái niệm bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với
chỉ dẫn địa lý
Chỉ dẫn địa lý là một trong các đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp, bảo
hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý là một phần của bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp nói chung
Khái niệm bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp
Ở Việt Nam cho đến nay, khái niệm bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp được hiểu vẫn chưa phải là hoàn toàn thống nhất trong giới khoa học, tuy nhiên hầu hết các quan điểm đều thừa nhận bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp (ít nhất) bao gồm hai nội dung cơ bản sau:
- Xác định những hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp
- Phương thức ngăn chặn và xử lý hành vi xâm phạm đó nhằm bảo vệ quyền của các chủ thể đối với đối tượng sở hữu công nghiệp
Pháp luật Việt Nam, theo nghĩa hẹp chỉ với hai nội dung trên, tại điều 804 của
Bộ luật Dân sự đã quy định nội dung khái niệm bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp như sau:
“Người nào sử dụng các đối tượng sở hữu công nghiệp của người khác trong
thời hạn bảo hộ mà không xin phép chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp thì
bị coi là xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp”
Ngoại trừ các trường hợp được quy định tại điều 801 và 803 của Bộ luật này:
Người đã sử dụng sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp trước ngày chủ sở hữu nộp đơn yêu cầu cấp văn bằng bảo hộ
Trang 35 Việc sử dụng các đối tượng sở hữu công nghiệp đó không nhằm mục đích kinh doanh
Lưu thông và sử dụng các sản phẩm đó do chủ sở hữu, người có quyền sử dụng trước, người được chuyển giao quyền sử dụng đưa ra thị trường
Sử dụng các đối tượng sở hữu công nghiệp trên các phương tiện vận tải của nước ngoài đang quá cảnh hoặc tạm thời ở trên lãnh thổ Việt Nam, mà việc sử dụng chỉ nhằm mục đích duy trì hoạt động của các phương tiện đó Khi quyền sở hữu công nghiệp bị xâm phạm thì chủ sở hữu có quyền yêu cầu
cơ quan nhà nước có thẩm quyền buộc người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu của mình phải chấm dứt hành vi xâm phạm và bồi thường thiệt hại
Như vậy, ở Việt Nam có thể hiểu bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp là sự quy
định của pháp luật nhằm xác định những hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp, đề ra những phương thức ngăn chặn hành vi nói trên để bảo vệ các quyền của các chủ thể đối với đối tượng sở hữu công nghiệp [48, 419]
Tuy nhiên, theo tác giả, với cách hiểu như vậy sẽ thực sự khó khăn khi phải làm rõ sự khác biệt giữa khái niệm thực thi và bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp; đồng thời dẫn đến sự “xung đột” trong cách hiểu và áp dụng chúng trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc sẽ tham gia trong tương lai
Theo tinh thần của phần III trong Hiệp định TRIPs hay tương tự như quy định
từ điều 11 đến điều 15 của Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ, khái niệm
thực thi quyền sở hữu công nghiệp được hiểu là toàn bộ những biện pháp mà pháp luật quy định nhằm ngăn chặn và xử lý hành vi khai thác, sử dụng trái phép các đối tượng quyền sở hữu công nghiệp [45, 15]
Tuy không nêu ra định nghĩa một cách trực tiếp đối với thực thi quyền sở hữu công nghiệp, nhưng có thể thấy nội dung vấn đề thực thi trong các điều luật này bao gồm các quy định về thủ tục, thẩm quyền và các biện pháp có thể xử lý đối với chủ thể có hành vi xâm phạm đến quyền sở hữu công nghiệp Cụ thể như tại điều 41 của Hiệp định TRIPs quy định: các thành viên phải bảo đảm rằng các thủ
tục thực thi quyền nêu tại phần này phải được quy định trong luật quốc gia của
mình để tạo khả năng khiếu kiện có hiệu quả đối với mọi hành vi xâm phạm các loại quyền,
Pháp luật Việt Nam tuy không đề cập đến khái niệm thực thi quyền sở hữu công nghiệp, nhưng với cách hiểu khái niệm thực thi như trên thì gần như tương
Trang 36đồng với khái niệm bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đang được sử dụng hiện nay Hay nói cách khác, cách hiểu bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp như hiện nay thể hiện trong pháp luật Việt Nam là chưa thật sự hợp lý
Trong khi ấy, thuật ngữ “bảo hộ” được đề cập đến trong hầu hết các điều luật tại phần II của Hiệp định TRIPs thể hiện dưới nghĩa rộng, theo đó nội dung đề cập đến đối tượng và khả năng được bảo hộ, thời hạn bảo hộ, các quyền được bảo
hộ bao gồm cả quyền được bảo vệ, chống lại bất kỳ sự xâm phạm bất hợp pháp nào đối với đối tượng sở hữu công nghiệp Điều ấy có nghĩa là khái niệm bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp bao gồm ba nội dung chính sau:
- Xác lập quyền của các chủ thể đối với đối tượng sở hữu công nghiệp
- Xác định những hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp
- Phương thức ngăn chặn và xử lý hành vi xâm phạm đó nhằm bảo vệ quyền của các chủ thể đối với đối tượng sở hữu công nghiệp
Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp cần được hiểu là: Nhà nước thông qua hệ
thống pháp luật xác lập quyền của các chủ thể đối với đối tượng sở hữu công nghiệp tương ứng và bảo vệ quyền đó, chống lại bất kỳ sự vi phạm nào của bên thứ ba [62, 18] - đây là cách hiểu khá phổ biến và thông dụng hiện nay (trong
giới khoa học)
Khái niệm bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý
Với cách hiểu khái niệm bảo hộ theo nghĩa rộng, bảo hộ quyền sở hữu công
nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý cần được hiểu là: Nhà nước thông qua hệ thống
pháp luật xác lập quyền của các chủ thể đối với chỉ dẫn địa lý và bảo vệ quyền
đó, chống lại bất kỳ sự vi phạm nào của bên thứ ba
Trên cơ sở ấy, bảo hộ chỉ dẫn địa lý sẽ gồm ba nội dung chính sau:
Xác lập quyền của các chủ thể đối với đối tượng chỉ dẫn địa lý
Do đặc tính riêng nên đối tượng chỉ dẫn địa lý chỉ xác lập quyền sử dụng mà không xác lập quyền sở hữu Quyền sử dụng này luôn được nhà nước (hay các thành viên của điều ước quốc tế) bảo hộ khi đã và đang còn hội đủ các điều kiện
mà pháp luật quốc gia (hay điều ước) quy định, đồng thời người được sử dụng chỉ dẫn địa lý này vẫn đang sản xuất loại hàng hóa với đặc tính hoặc uy tín vốn
có của nó
Trang 37Văn bằng bảo hộ đối tượng chỉ dẫn địa lý là giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền cấp cho các chủ thể quyền sở hữu công nghiệp để xác nhận quyền sử dụng của họ đối với đối tượng ấy
Xác định những hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý
Về nguyên tắc thì tất cả các hành vi sử dụng quyền sở hữu công nghiệp của người khác đang trong thời hạn bảo hộ mà không có sự đồng ý của người đó và cũng không phải là trường hợp pháp luật cho phép sẽ bị coi là hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp [51, 420]
Chỉ dẫn địa lý là những chỉ dẫn bắt nguồn của hàng hóa từ một nơi6, mà xuất
xứ địa lý nơi đó đã quyết định đến chất lượng, uy tín hoặc đặc tính nhất định của
nó Với cách hiểu này, theo tác giả hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý sẽ chủ yếu liên quan đến hai vấn đề cơ bản sau:
Hành vi xâm phạm ấy gây ra (hoặc có khả năng gây ra) sự sai lệch, nhầm lẫn về xuất xứ địa lý của hàng hóa cùng loại
Hành vi xâm phạm ấy không đảm bảo được uy tín hoặc chất lượng, đặc tính của hàng hóa mang chỉ dẫn địa lý
Phương thức ngăn chặn và xử lý các hành vi xâm phạm nhằm bảo vệ quyền của các chủ thể đối với đối tượng chỉ dẫn địa lý
Phương thức bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp được tiến hành khi có hành vi xâm phạm đến quyền của chủ thể được bảo hộ, khi đó chủ thể có quyền:
Yêu cầu người đang có hành vi xâm phạm phải chấm dứt ngay hành vi, đồng thời chủ thể đã có hành vi ấy phải hủy bỏ những hàng hoá gây hại cho người tiêu dùng và làm giảm sự tín nhiệm của người tiêu dùng đối với chủ sở hữu đối tượng chỉ dẫn địa lý
Yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền buộc chủ thể có hành vi xâm phạm đến quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý phải chấm dứt hành vi và bồi thường thiệt hại
6
Chỉ dẫn về hàng hóa có thể bắt nguồn từ lãnh thổ một quốc gia, vùng lãnh thổ hoặc địa phương
Trang 38Tuỳ vào đặc thù của từng quốc gia, truyền thống pháp lý hay tổ chức bộ máy nhà nước mà việc quy định các biện pháp nhằm ngăn chặn và xử lý các hành vi xâm phạm đến quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý là khác nhau Các biện pháp thực thi quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý cũng có nhiều cách phân loại, tuy nhiên việc phân chia thành bốn loại theo như tinh thần của Hiệp định TRIPs7
và đồng thời cũng thống nhất với nội dung của Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ có thể xem là quan điểm hợp lý nhất, bao quát được các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý
Cụ thể, thực thi quyền sở hữu công nghiệp bao gồm có bốn biện pháp sau:
Biện pháp dân sự: đây là biện pháp nhằm mục đích khắc phục các thiệt hại
mà chủ thể quyền sở hữu trí tuệ đối với chỉ dẫn địa lý phải gánh chịu đồng thời buộc chủ thể có hành vi xâm phạm phải chấm dứt hành vi vi phạm Vì vậy hầu hết pháp luật các nước đều cho phép áp dụng hai biện pháp chế tài
là: chấm dứt hành vi xâm phạm và bồi thường thiệt hại
Biện pháp hành chính: về cơ bản được hiểu là biện pháp nhằm xử lý đối
với hành vi xâm phạm chưa tới mức độ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với quyền chủ thể - xử phạt vi phạm hành chính Ngoài ra, biện pháp này còn bao gồm cả nội dung quyền khiếu nại đối với quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo trình tự tố tụng hành chính, quyền tố cáo với
cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những hành vi trái pháp luật
trong hoạt động bảo hộ chỉ dẫn địa lý
Biện pháp kiểm soát biên giới: (thực thi quyền sở hữu trí tuệ tại biên giới)
thực thi quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý không chỉ là việc thực hiện các biện pháp nhằm xử lý đối với các hành vi xâm phạm mà còn đòi hỏi các biện pháp ngăn chặn nguồn cung cấp hàng hoá xâm phạm ngay
tại biên giới
Biện pháp hình sự: đây là biện pháp được pháp luật quy định để áp dụng
nhằm chống lại những hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đối với chỉ dẫn địa lý có tính chất nghiêm trọng, các biện pháp chế tài hình sự cũng sẽ mang tính chất nghiêm khắc hơn Chính vì vậy, phạm vi áp dụng của biện
pháp này thường hạn chế hơn so với các biện pháp khác
7
Điều này được thể hiện ngay tại tên gọi Mục 2 đến Mục 4, Phần III của Hiệp định TRIPs
Trang 392.1.2 Ý nghĩa của việc bảo hộ chỉ dẫn địa lý
Bảo hộ chỉ dẫn địa lý có một ý nghĩa rất quan trọng, trước hết ý nghĩa đó được thể hiện thông qua chính những chức năng, vai trò và hiệu quả kinh tế mà mỗi chỉ dẫn địa lý của hàng hoá mang lại
Khả năng phân biệt hàng hoá của chỉ dẫn địa lý: nền kinh tế thị trường luôn
có sự đa dạng về hàng hoá và đặt người tiêu dùng vào những sự lựa chọn khác nhau Chính nhờ vào đặc trưng về chất lượng, uy tín, danh tiếng hay các đặc tính khác có được từ nguồn gốc của hàng hoá đã tạo tiêu chí quan trọng giúp người tiêu dùng có thể lựa chọn sản phẩm cho mình
Đưa ra thông tin về sản phẩm: trước hết phải kể đến chính là nguồn gốc xuất
xứ của hàng hoá, từ thông tin này mà người tiêu dùng hoặc đã biết chắc giá trị của sản phẩm mà mình lựa chọn hoặc họ có thể suy đoán được những đặc trưng
về chất lượng mà sản phẩm có được
Ý nghĩa quảng cáo: với đặc trưng, uy tín hay danh tiếng của sản phẩm mà tự
thân nó phần nào đã có thể tự đến với người tiêu dùng, hoặc là chính người tiêu dùng cần đến nó vì chất lượng hoặc chính sự lan toả từ những người tiêu dùng với nhau Chính dấu hiệu đặc trưng có được từ nguồn gốc xuất xứ này là điểm quảng cáo riêng biệt và tạo nên sức thu hút của sản phẩm
Ý nghĩa của việc bảo hộ chỉ dẫn địa lý còn thể hiện bằng chính những lợi ích thực tế mà nó đem lại, không chỉ là lợi ích cho nhà sản xuất mà kể đối với người tiêu dùng và toàn xã hội
Lợi ích đối với nhà sản xuất
Giá trị kinh tế đối với nhà sản xuất: chỉ dẫn địa lý cũng có khả năng làm nâng
cao danh tiếng của một sản phẩm, chất lượng hàng hoá càng cao và càng danh tiếng thì lợi nhuận càng nhiều Chỉ dẫn địa lý là phải thể hiện được đặc trưng về chất lượng, chính vì sự đặc trưng này sẽ làm cho người tiêu dùng sẵn sàng bỏ ra một số tiền nhiều hơn so với giá của các sản phẩm cùng loại để mua chúng và họ lại luôn có thói quen sử dụng đối với những sản phẩm mình đã tin tưởng, kết quả
là nhà sản xuất tăng thêm lợi nhuận
Cũng như một sản phẩm lưu thông trên thị trường với bảng mô tả chi tiết tốt luôn có khuynh hướng làm gia tăng sự thu hút đối với khách hàng Người tiêu dùng thường cảm nhận rằng những sản phẩm ghi rõ xuất xứ hàng hoá, nơi được sản xuất luôn không phải là những hàng hoá kém chất lượng Tâm lý của người
Trang 40mua hàng khi lựa chọn sản phẩm mới thường quan tâm đến sản phẩm này được sản xuất từ quốc gia nào (bởi mỗi quốc gia thường có thế mạnh trong một vài sản phẩm nhất định) và nếu thể hiện được cả vùng hay địa phương thì luôn gây được sức hút đối với họ, đây trở thành một động lực mạnh mẽ việc lựa chọn mua sản phẩm Đặc biệt hơn trong vài trường hợp danh tiếng và uy tín của sản phẩm này
đã mang được tầm ảnh hưởng quốc tế, trở thành một dấu hiệu đặc trưng cho quốc gia xuất xứ, như sản phẩm rượu “Champagne”, “Cognac” của nước Pháp (symbol of France) là một minh chứng [13] Tính đặc trưng ở đây không phải là công nghệ sản xuất mà là nông sản được trồng trọt ở vùng đất đó có những khác biệt do cấu trúc tự nhiên của địa lý vùng đất đó
Một lợi ích khác từ chỉ dẫn địa lý đó là không mất quá nhiều phí tổn khi đưa sản phẩm vào thị trường Thông thường đối với các loại hàng hoá lưu thông đòi hỏi chi phí quảng cáo rất lớn, có khi lên đến trên 30% giá trị của chúng, tuy nhiên đối với những hàng hoá mang dấu hiệu chỉ dẫn địa lý thì hoàn toàn có khả năng giảm thiểu chi phí này xuống thấp nhất, bởi lẽ chính sự danh tiếng và uy tín của sản phẩm đã làm cho công chúng biết đến và tự tìm đến chúng Hơn thế nữa, đặc trưng về chất lượng của sản phẩm này một phần cơ bản có được là do nguồn gốc địa lý tạo nên, chỉ dẫn địa lý mang yếu tố tự nhiên là chủ yếu nên trong thực tế nhà sản xuất không phải đầu tư khoa học kỹ thuật mới hay phát minh nào mới so với các sản phẩm cùng loại Đây cũng chính là một giá trị tài sản vô hình của nhà sản xuất từ chỉ dẫn địa lý mà có được
Ngoài ra, trình tự xác lập quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý không chỉ thông thường làm tăng giá trị chất lượng của sản phẩm mà còn thu được lợi ích từ chính những lời khuyên của các chuyên gia, điều đó càng giúp cho sản phẩm tạo được
sự riêng biệt và tăng sức cạnh tranh trên thị trường
Cơ bản bảo hộ chỉ dẫn địa lý là nhằm đến hai mục đích chính, một là đem lại lợi ích cho nhà sản xuất và người tiêu dùng, các quy định cũng đều nhằm chống lại đối với những hành vi chỉ dẫn sai trái hay gây nhầm lẫn; hai là đem lại những lợi ích cho khu vực địa lý được chỉ dẫn từ việc bảo hộ
Lợi ích đối với người tiêu dùng và xã hội
Đảm bảo chất lượng của hàng hóa: việc kiểm soát chất lượng của hàng hoá
được xem như là một trong những yêu cầu trong quá trình xác lập quyền chỉ dẫn địa lý, điều đó giúp cho người tiêu dùng hoàn toàn có thể tin cậy vào chất lượng của sản phẩm được bảo hộ