1. Trang chủ
  2. » Tất cả

kiến thức bổ trợ luận văn

18 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 30,35 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân loại theo quả vị và dựa trên quan niệm của đại thừa Qủa vị Tên Xuất hiện trong kinh điển Chứng tích khảo cổ quan trọng Phật Thích Ca Mâu Ni-BẬC THÁNH THUỘC BỘ TỘC THÍCH CA Được nhắc

Trang 1

I SÁCH, TÀI LIỆU

1 Nam ông mộng lục

2 Lĩnh nam chích quái

3 lễ hội cổ truyền- lê trung vũ, nhà xuất bả khxh hn, 1992, tr.

4 an nam chí lược

5 đại nam thực lục chính biên

6 đại việt sử ký toàn thư

7.

1 Các vị Phật

2 Phân loại theo quả vị và dựa trên quan niệm của đại thừa

Qủa vị Tên Xuất hiện trong kinh điển

Chứng tích khảo cổ quan trọng

Phật

Thích Ca Mâu

Ni-BẬC

THÁNH

THUỘC BỘ

TỘC THÍCH

CA

Được nhắc tới trong tất cả các kinh điển của Phật giáo

Theo truyền thống Mật tông, Thích Ca Mâu Ni được gọi là Đại Nhật Như Lai (Kinh Đại Nhật)

4 thánh tích liên quan gồm:

Bodh Gaya: Nơi Đức Phật thành đạo Đạo tràng được xây dựng lại nhiều lần bắt đầu từ thời vua Ashokha

Kushinagar: Nơi Đức Phật nhập Niết Bàn Tại đây còn vết tích tượng Phật

và cột đá ghi lại sự việc được dựng dưới thời vua Ashokha Lumbini: Địa danh không rõ ràng và chỉ được xác định bởi cột đá được dựng dưới thời vua Ashokha

Sarnath: Nơi Phật thuyết pháp đầu tiên Di tích còn lại

là tháp Dhamekh dưới triều đại Gupta (Thế kỷ VI)

Trang 2

A Di Đà

(nghĩa là ánh

sáng vô lượng)

A Di Đà và cõi Tịnh Độ được

đề cập đầu tiên trong Sukhāvatīvyūha Sūtra (Vô lượng thọ kinh) Kinh điển có thể được soạn trong triều đại Qúy Sương vào khoảng thế

kỷ I đến II SCN (20) Cuốn kinh này đề cập đến tiền kiếp của A Di Đà là một tu sĩ sống

ở thế giới khác có tên Dharmakāra Ông vốn là một

vị vua và được một vị Phật cổ xưa tên là Lokeśvararāja – vị Phật thứ 54 – truyền đạo

Trong Phật giáo Tây Tạng:

Liên Hoa Sinh và Panchen- blama được xem là hóa thân của Đức Phật A Di Đà

Bức tượng cổ xưa nhất được tìm thấy

có niên đại khoảng cuối thế kỷ II, dưới

sự cai trị của vương triều Qúy Sương (21)

Văn bản muộn nhất ghi chép về A Di Đà cũng được soạn trong triều đại Qúy Sương Do đó A Di

Đà là một vị Phật được du nhập vào Phật giáo trong triều đại này

Vương triều Qúy Sương của người Nguyệt Chi có một

sự dung hòa các nền văn hóa rất mạnh

mẽ Trong tín ngưỡng thờ cúng của họ có cả các vị thần Hy Lạp, La Mã

và dưới triều đại của ông vua cổ vũ Phật giáo Kanishka, các bức tượng Phật giáo

đã mang màu sắc của nghệ thuật Hy Lạp – La Mã (tượng Phật đứng), mở đầu cho văn minh Phật giáo Gandhara Dường như có một

sự tương đồng giữa tiền kiếp của A Di

Đà được đề cập trong kinh điển đại thừa với chính cuộc đời của vua

Kanishka (22) Maitreya Được đề cập đến đầu tiên Trong các tượng thờ

Trang 3

Di Lặc

(nghĩa là người

từ bi) Ngoài

ra, Phật Di

Lặc còn có

tên khác là Từ

Thị (Maitreya)

bắt nguồn từ

chữ maitri

(tiếng Phạn)

hoặc metta

(Pāli) có

nghĩa là “lòng

từ bi” hay “sự

thân thiện”

trong Kinh Tạng (thuộc Tam Tạng) Một lần với cái tên Tissametteyya trong cuộc hỏi đáp giữa Tissametteyya và Thích Ca Mâu Ni về ái dục

Một lần khác trong bài kinh

26 về “Sư tử rống chuyển bánh xe đại pháp” như vị Phật

vị lai Nhà nghiên cứu Phật học Richard Gombrich cho rằng đoạn kinh viết về Di Lặc

bị ảnh hưởng của thuyết mạt thế hoặc đã bị viết thêm vào,

vì khi Thích Ca Mâu Ni thuyết về Di Lặc thì không có bối cảnh hỏi đáp đi kèm giống như những bài kinh khác (23)

Một giả thuyết khác cho rằng

Di Lặc chính là vị thầy của sư

Vô Trước – người sáng lập phái Duy Thức, được gọi với tên Maitreya-nātha (270 –

350 SCN) (25) Vô Trước là người đã được Di Lặc khải lộ về

Diệu Pháp Liên Hoa – một cuốn kinh đại thừa được sáng tác và bổ sung liên tục trong suốt từ thế kỷ ITCN đến thế

kỷ II SCN, cũng nhắc tới Di Lặc nhưng với quả vị bồ tát

và được dự đoán là vị Phật vị lai Trong cuốn kinh này có

đề cập không rõ ràng về sự liên quan của Di Lặc với Ajita (A dật đa) Trong Kinh Tạng cũng nhắc tới A dật đa phát nguyện sẽ trở thành Chuyển Luân thánh vương Samkha (phiên âm là “Loa”) Theo kinh Trung A hàm, Ajta và Maitreya là hai vị khác nhau

và có tâm tính khác nhau

(26) Nhiều vị vua hoặc giáo chủ

Gandhara, Di Lặc thường được tôn thờ ngang với Thích Ca Mâu Ni và cũng được gọi bằng danh xưng này vào khoảng thế kỷ 2 Tại Trung Quốc, từ thế kỷ 4-6, Di Lặc thường được đồng nhất với Thích Ca Mâu Ni (24)

Ở Trung Quốc vào thế kỷ 10, Di Lặc được tạo hình theo

Bố Đại hòa thượng, người tự nhận là hóa thân của Di Lặc

Trang 4

mới cũng tự xưng mình là hóa thân của Di Lặc để khai tông lập phái hoặc tạo ảnh hưởng

Bhaiṣajya-guru-

vaiḍūrya-prabhā-rāja

Dược vương

lưu ly Phật

Phật Dược sư

(vị Phật chữa

bệnh khổ bằng

giáo lý của

mình)

Bhaiṣajya-guru-vaiḍūrya-prabhā-rāja Sūtra (Kinh Dược Sư) mô tả Phật Dược Sư như

vị bồ tát đã thực hiện 12 ý nguyện và đắc Phật Bộ kinh được lưu truyền không chỉ có bản tiếng Hán mà người ta còn tìm thấy bản kinh Gandhāra lưu truyền ở Bắc

Ấn có niên đại thế kỷ thứ 7

Phật Dược Sư thường được mô tả cầm trên tay bình thuốc có màu ngọc lưu ly hoặc có hào quang màu ngọc lưu

ly Những bức tượng Dược Sư cổ nhất tìm thấy tại Bắc Ngụy vào thế

kỷ thứ VI

Hình ảnh Dược Sư cũng được tìm thấy phổ biến trong Phật giáo Tây Tạng, Nhật Bản và Trung Quốc

Dīpankara

Nhiên Đăng Cổ

Phật

Trong các truyền thuyết Jakkata, Nhiên Đăng Cổ Phật được nhắc đến như một vị Phật thời cổ đại, người đã hướng đạo cho tiền kiếp của Thích Ca Mâu Ni và tiên đoán của cuộc đời của Thích Ca Mâu Ni

Nằm trong bộ Tam Thế Phật cùng với Thích Ca Mâu Ni và

Di Lặc

Vairocana

Đại Nhật Như

Lai

Mật Tông Tây Tạng tin rằng Đại Nhật Như Lai là pháp thân của Thích Ca Mâu Ni, phần sâu kín nhất, tĩnh lặng nhất và hoàn toàn vĩnh cửu

Đại Nhật Như Lai lần đầu được nhắc đến trong Kinh Brahmajala (thuộc Kinh Tạng) trong Tam Tạng Thượng Tọa Bộ, sau đó là Kinh Đại Nhật của Kim

Trang 5

Cương Thừa.

Đại Nhật Như Lai nằm trong Ngũ Trí Như Lai của Phật giáo Tây Tạng

Amoghasiddhi

Bất Không

Thành Tựu Như

Lai

Amoghasiddhi nằm trong Ngũ Phật Như Lai, gắn liền với diệt tâm đố kị và có lưỡi tầm sét trong tay

Amoghasiddhi đại diện cho phương Bắc, và mùa thu

A Di Đà Như

thuộc với

hầu hết Phật

tử, Phật A Di

Đà (tiếng

Phạn:

Amitabha

Buddha) là

một vị Phật

rất được tôn

kính trong

đạo Phật Đại

thừa, đặc

biệt là

những Phật

tử theo Tịnh

Độ tông

Tên của Ngài

(vô lượng

quang – vô

lượng thọ)

có nghĩa là

“ánh sáng

vô hạn”

hoặc “tuổi

thọ vô hạn”

Ngài đại

diện cho

Nằm trong Ngũ Phật Như Lai, đại diện cho hướng tây, mùa hè

Trang 6

lòng từ bi vô

lượng của

chư Phật, và

được hình

dung như

màu sắc

phong phú,

ấm áp khi

mặt trời lặn

Ratnasambhava

Bảo Sinh Như

Lai

Kinh điển sớm nhất đề cập đến Bảo Sinh Như Lai là Suvarṇaprabhāsa Sūtra, và sau đó là trong các kinh của Kim Cương Thừa

Bảo Sinh Như Lai gắn với việc tăng cường tri kiến cho người tu đạo, đại diện cho mùa xuân, và phương nam

Akshobhya

A Súc Như

Lai-Đức Bất Động

Phật còn có

tên gọi khác

là A Súc Bệ

Như Lai

Tên của A Súc Như Lai có nghĩa là “người bất động”, thường được đồng nhất với Acala

A Súc Như Lai đại diện cho tâm trí phản chiếu hay nhận thức bản chất thế giới, ông là

vị Phật cai quản phương Đông, mùa đông

Bồ tát

(siêu

việt)

Avalokiteś

-vara

Quán Thế Âm

bồ tát

(Nghĩa là đấng

quán chiếu thế

gian)

Quán Tự Tại

(Huyền Trang

dịch)

Theo Kāraṇḍirlha Sūtra (soạn trong thế kỷ IV – V), mặt trời

và mặt trăng được cho là được sinh ra từ đôi mắt của Avalokiteśvara, Shiva từ trán, Brahma từ vai, Narayana từ trái tim, Sarasvati từ răng, gió

từ chân và bầu trời từ dạ dày của ngài Cũng trong kinh này, Om mani padme hum được nhắc đến như thần chú dẫn tới giải thoát cuối cùng

(27) Các kinh đại thừa khác

Dựa trên nguồn văn học dân gian của Tamil và kinh điển Phật giáo, nhà nghiên cứu Phật học Nhật Bản Shu Hikosaka cho rằng đỉnh núi huyền thoại Potalaka – nơi được cho là thánh địa của Quán Thế Âm được Huyền Trang ghi lại trong bút ký của

Trang 7

cũng đều nhắc đến Quán thế

âm bồ tát

Quán thế âm bồ tát là vị bồ tát

đại thừa đầu tiên được thờ

trong Phật giáo Thượng tọa

bộ Ở Tích Lan, Quán Thế

Âm được gọi là Natha-deva

và đồng nhất với Maitreya,

tuy nhiên các học giả phương

Tây đã chỉ ra Natha-deva

chính là Quán Thế Âm

Natha-deva có một ban thờ

riêng cạnh ban thờ Phật (28)

ở Myanmar, ngài được gọi là

Lokanat hoặc lokabyuharnat,

và Thái Lan thì được gọi là

Lokesvara có nghĩa là chúa tể

của thế gian

mình là một ngọn núi thiêng có thực

có tên Pothigai làm

ở Tamil, vốn là thánh địa của người dân Nam Ấn xưa, nơi tu hành của hiền nhân Agastya – một đạo sư được nhắc đến trong Rigveda, Ramayana và Mahabharata Khi Ashokha xâm lược vùng Nam Ấn, một

sự hòa trộn giữa hình ảnh Agastya và Phật giáo đã tạo nên hình tượng Quán Thế Âm (29) Hình tượng Quan

Âm Nghìn mắt nghìn tay đến từ truyền thuyết Quán Thế Âm sẽ không nhập Niết Bàn cho

đế khi giải thoát tất

cả chúng sinh khỏi luân hồi, thế rồi từ đầu của ngài tách ra mười một phần nhưng vẫn không thể hoàn thành nhiệm vụ, nên A Di

Đà đã hóa cho Quán Thế Âm mười một cái đầu và ngàn cánh tay để cứu giúp thế gian (30) Trong Phật giáo Tây Tạng, các nữ thần Tara được ra đời từ nước mắt của Quán Thế Âm

Hình tượng nhiều đầu nhiều tay xuất

Trang 8

hiện trong nhiều hình tượng thần và quỷ của Hindu giáo: Brahma và Vishnu đều được miêu tả là

có nhiều đầu nhiều tay, nhưng vị nữ thần gắn liền với ý tưởng nhiều đầu nhiều tay nhất chính

là Durga, nhưng chưa có bằng chứng cho thấy sự liên quan giữa Durga và Quán Thế Âm Ở Việt Nam, hình ảnh Quán Thế Âm nghìn mắt nghìn tay được gắn với tên Quan

Âm Diệu Thiện và

sự tích của chùa Hương

Vào thời Đường, Quán Thế Âm được miêu tả dưới thân

nữ với y phục màu trắng

Mahāsthā

-maprāpta

Đại Thế Chí (có

nghĩa là mang

đến sức mạnh)

Theo Sukhāvatīvyūha Sūtra (Vô lượng thọ kinh), Đại Thế Chí và Quán Thế Âm là hai vị thị giả theo hầu Phật A Di Đà

Ngài còn được kể là con trai của A Di Đà khi ngài ở trong kiếp hoàng đế

Trong Kinh Amitayurdhyana, Đại Thế Chí được tượng trưng bởi mặt trăng trong khi Quán Thế Âm được đại diện bởi mặt trời Ở Trung Hoa, cũng giống như Quán Thế

Âm, Đại Thế Chí được tạo hình dưới thân nữ mặc áo vàng (31)

Trang 9

Địa Tạng (có

nghĩa là Ma

trận Trái Đất,

hoặc Tử cung

Trái Đất)

Kṣitigarbha Bodhisattva Pūrvapraṇidhāna Sūtra (Kinh Địa Tạng) là bộ kinh đầu tiên nhắc tới Địa Tạng với ý nguyện giải thoát chúng sinh khỏi địa ngục cho đến khi Di Lặc xuất thế Kinh Địa Tạng

có xuất xứ không rõ ràng và không tìm được bản tiếng Pali hay Sankrite mà chỉ còn lưu lại bản dịch sang tiếng Hán nên nhiều học giả hoài nghi rằng cuốn kinh này được viết bởi người Trung Quốc Kinh Địa Tạng đề cao chữ hiếu và

có nhắc đến câu chuyện tiền kiếp của Địa Tạng là một cô gái xả thân cứu mẹ khỏi khổ hình ở địa ngục Câu chuyện này có nhiều tương đồng với câu chuyện về tôn giả Mục Kiền Liên, một trong mười đại đệ tử của Đức Phật

Địa Tạng được mô

tả là một nhà sư đầu trọc, không mặc y phục Ấn Độ giống như các vị Phật và

Bồ Tát khác

Tại Cửu Hoa Sơn (Trung Quốc), tương truyền Địa Tạng đầu thai làm hoàng tử nước Tân

La, sống cùng thời với Võ Tắc Thiên Ông có tên là Kim Kiều Giác, đi tu từ nhỏ, đến Trung Nguyên để theo học Huyền Trang, sau

đó lên Cửu Hoa Sơn

tu hành Sau khi ông mất, nhục thân của ông được bảo quản trong bảo tháp Cứ đến rằm và 30 tháng

7 (được cho là ngày sinh và ngày đắc đạo của Địa Tạng), các tín đồ lại đến Tháp Nhục Thân để cầu bái (32)

Mañjuśrī

Văn thù sư lợi

Diệu Âm

(có nghĩa là

vinh quang êm

ái)

Văn thù sư lợi được nhắc đến đầu tiên trong ārya-mañjuśrī-mūlakalpa (Văn-thù-sư-lợi căn bản nghi quỹ), đại diện cho trí huệ soi sáng khỏi vô minh Luận sư Tsongkhapa trong Phật giáo Tây Tạng được cho là hóa thân của Văn thù sư lợi Văn thù sư lợi thường được tán tụng bởi các

sư thuộc Trung quán tông trước giờ họ học kinh điển

Trong Phật giáo Tây Tạng,

Ngũ Đài Sơn tại Trung Quốc được coi là thánh địa của Văn thù sư lợi, gắn với sự tích hiển thánh của ông Sự tích được kể như sau:

Một năm nọ nơi đây

có tổ chức một bữa tiệc ăn chay lớn Một phụ nữ hành khất dắt theo hai

Trang 10

Văn thù sư lợi được biểu hiện với một hóa thân khác là Yamāntaka (có nghĩa là kẻ hủy diệt của thần Yama) với khuôn mặt phẫn nộ với cặp sừng bò trên đầu, phổ biến trong trường phái Gelug (Tây Tạng) (34)

đứa con nhỏ và một con chó đói tới ăn xin, được cho ba xuất, chưa cho là

đủ, nói: “Con chó cũng nên có phần” Hòa thượng cho thêm một xuất, người phụ nữ lại nói: “Trong bụng tôi còn một đứa bé cũng nên có phần”

Vị hòa thượng nổi giận: “Đứa bé còn chưa sinh ra cũng đòi phần ăn, thật không biết thế nào

là đủ” Người phụ

nữ bèn đáp:”Chúng sinh bình đẳng, thai nhi chẳng nhẽ không phải là người?” Nói rồi, người phụ nữ cắt tóc, bay lên trời, xuất hiện pháp tướng Bồ Tát, hai đứa con hóa thành hai đồng tử, con chó biến thành sư tử xanh Đến nay Ngũ Đài sơn còn có Phát tháp Văn Thù, tương truyền là nơi cất giữ tóc của Văn Thù (33)

Samantabhadra

Phổ Hiền

(những giá trị

tốt đẹp cần

được phổ độ

với thế gian)

Theo kinh Pháp Hoa, Phổ Hiền ở phía đông cõi Ta Bà (thế gian), nghe Thích Ca Mâu Ni giảng pháp nên đã dẫn theo 500 vị đại bồ tát đến bảo hộ cho Đức Phật

Trong truyền thống Tây Tạng, Phổ Hiền được đồng nhất với

Phổ Hiền thường được mô tả dáng hình giống nữ, cưỡi trên con voi màu trắng, đứng bên cạnh Thích Ca Mâu

Ni cùng với Văn thù

sư lợi

Trang 11

hai vị cổ phật là Dharmakaya Samantabhadra và Vajradhara (Nhiên Đăng), tuy nhiên niềm tin này không được phổ biến

Ở Sri Lanka, Phổ Hiền có tên

là Saman có nghĩa là “mặt trời lúc bình minh”, và được tôn sùng như một trong các vị thần bảo hộ cho vùng đảo này

(35) Saman là một vị thần có xuất xứ từ một vị vua nòi giống deva ở Sri Lanka với tên đầy đủ là Maha Sumana Sama Vị thần này cũng được

mô tả giống với Phổ Hiền, ngồi trên con voi trắng

Mahamayuri

Khổng Tước

Minh vương

Mahamayuri-Vidyaraini-Sutra gọi Khổng Tước Minh Vương

là “nữ hoàng của huyền thuật”, mẹ của Đức Phật trong Phật giáo Đại thừa Tương truyền là một con công từ thời khai thiên lập địa, có sức mạnh vảo vệ các tín đồ Phật giáo Đây là kinh Phật giáo duy nhất nhắc đến kinh Rigveda

Hộ

pháp

Vajrapani

Bát Bộ Kim

Cương

(Có nghĩa là vũ

khí hoặc tia sét

trong tay)

Trong những truyền thuyết Phật giáo thời kỳ đầu, Vajrapāni là một vị tiểu thần

đi theo Thích Ca Mâu Ni và bảo vệ Thích Ca Mâu Ni khỏi những mối đe dọa Điều này được ghi lại trong Tam Tạng

Có thuyết cho rằng ông là một pháp thân của Sakra – thượng đế cõi trời

Trāyastriṃśa, hoặc thần mưa trong truyền thống

Gandharva Ông tự hóa thành tám thân quỷ để bảo vệ Thích

Ca Mâu Ni (36)

Được thờ phổ biến trong các tu viện Tịnh Độ Tông, Phật giáo Tây Tạng và chùa Thiếu Lâm với khuôn mặt phẫn nộ Người ta cho rằng những hình ảnh đầu tiên của Bát Bộ Kim Cương chính là

sự du nhập người anh hùng Heracles

và thần Zeus vào Phật giáo (tay cầm lưỡi tầm sét) (37)

Ngày đăng: 09/04/2021, 14:57

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w