- Bán hàng là nền tảng trong kinh doanh đó là sự gặp gỡ của người bán và ngườimua ở những nơi khác nhau giúp doanh nghiệp đạt được mục tiêu nếu cuộc gặp gỡ thành công trong cuộc đàm phán
Trang 1KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
Lớp: K49C – QTKD
Niên khóa: 2015 - 2019
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 2Lời Cảm Ơn
Trong quá trình thực tập để thực hiện đề tài “Nâng
cao hiệu quả hoạt động bán hàng của công ty TNHH Hiệp
Thành – Thừa Thiên Huế”, tôi đã học hỏi được rất nhiều
điều, được sự động viên và giúp đỡ nhiệt tình của thầy
cô, bạn bè và các nhân viên tại công ty.
Lời đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến
Phó giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Khắc Hoàn đã tận tình hướng
dẫn tôi trong quá trình nghiên cứu để hoàn thành tốt
khóa luận tốt nghiệp này.
Bên cạnh đó, tôi cũng xin chân thành cảm ơn lãnh
đạo, cán bộ, nhân viên công ty TNHH Hiệp Thành, đặc
biệc là chị Thúy, chị Hòa và chị Em đã nhiệt tình giúp đỡ,
cung cấp những tư liệu phục vụ cho quá trình nghiên cứu
trong thời gian tôi thực tập tại công ty.
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình và bạn bè đã quan
tâm, động viên, ủng hộ tôi để hoàn thành khóa luận tốt
nghiệp này một cách tốt nhất.
Do kiến thức và kinh nghiệm còn hạn hẹp nên bài
khóa luận này không tránh khỏi những thiếu sót và hạn
chế Tôi rất mong nhận được sự thông cảm và góp ý từ quý
thầy cô để đề tài nghiên cứu hoàn thiện hơn.
Một lần nữa, tôi xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên thực hiện,
Hồ Thị Kim Dung
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Kết cấu đề tài 8
PHẦN II NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 9
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 9
1.1 Cơ sở lý luận về vấn đề nghiên cứu 9
1.1.1 Khái niệm, vai trò và mục tiêu của hoạt động bán hàng 9
1.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động bán hàng 15
1.1.3 Các phương thức bán hàng 21
1.1.4 Một số chính sách hỗ trợ, nâng cao hiệu quả bán hàng 24
1.1.5 Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động bán hàng 29
1.2 Cơ sở thực tiễn 33
1.2.1 Các nghiên cứu trong nước có liên quan 33
1.2.2 Vài nét về thị trường sơn 34
1.2.3 Mô hình nghiên cứu đề xuất 35
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG BÁN HÀNG CỦA CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN HIỆP THÀNH – THỪA THIÊN HUẾ 36
2.1 Tổng quan về công ty trách nhiệm hữu hạn Hiệp Thành – Thừa Thiên Huế 36
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty TNHH Hiệp Thành 36
2.1.2 Chức năng, lĩnh vực hoạt động của Công ty TNHH Hiệp Thành 36
2.1.3 Tổ chức bộ máy quản lý tại Công ty TNHH Hiệp Thành 37
2.1.4 Tình hình lao động của Công ty TNHH Hiệp Thành qua 3 năm 2015-2017 38
2.1.5 Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty 42
2.2 Phân tích hiệu quả hoạt động bán hàng của công ty 52
2.2.1 Chỉ tiêu hoàn thành kế hoạch 52
2.2.3 Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động bán hàng: 55
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 42.3 Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động bán hàng của công ty TNHH
Hiệp Thành 57
2.3.1 Mô tả mẫu nghiên cứu 57
2.3.2 Đánh giá độ tin cậy của thang đo 61
2.3.3 Phân tích nhân tố khám phá (EFA) 64
2.3.4 Phân tích hồi quy tuyến tính bội 69
2.3.5.Đánh giá của khách hàng về các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động bán hàng của Công ty TNHH Hiệp Thành – Huế 75
CHƯƠNG III MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG BÁN HÀNG CỦA CÔNG TY TNHH HIỆP THÀNH – THỪA THIÊN HUẾ .81
3.1 Định hướng phát triển của công ty trong tương lai 81
3.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động bán hàng 81
3.2.1 Nhóm giải pháp liên quan đến “Dịch vụ bán hàng” 81
3.2.2 Nhóm giải pháp liên quan đến “Giá cả” 82
3.2.3 Nhóm giải pháp liên quan đến “Hoạt động xúc tiến bán hàng” 83
3.2.4 Nhóm giải pháp liên quan đến “Sản phẩm” 83
3.2.5 Nhóm giải pháp liên quan đến “Nhân viên bán hàng” 83
PHẦN III KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 85
1 Kết luận 85
2 Kiến nghị 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO 87 PHỤ LỤC
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 5DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1: Quy trình bán hàng trong doanh nghiệp thương mại 10
Sơ đồ 2 Mô hình nghiên cứu đề xuất 35
Sơ đồ 2.1 - Sơ đồ bộ máy quản lý Công ty TNHH Hiệp Thành 37
DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 2.1 Lao động theo giới tính 40
Biểu đồ 2.2 Lao động theo tính chất lao động 41
Biểu đồ 2.3 Lao động theo tính chất lao động 42
Biểu đồ 2.4 Doanh số bán hàng theo tháng năm 2017 52
Biểu đồ 2.5 Cơ cấu mẫu theo giới tính 59
Biểu đồ 2.6 Cơ cấu mẫu theo độ tuổi 59
Biểu đồ 2.7 Cơ cấu mẫu theo nghề nghiệp 60
Biểu đồ 2.8 Cơ cấu mẫu theo thu nhập 60
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 6DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Tình hình lao động của công ty giai đoạn 2015 - 2017 39
Bảng 2.2 Tình hình nguồn vốn của công ty giai đoạn 2015-2017 43
Bảng 2.3 Tình hình tài sản của công ty giai đoạn 2015-2017 45
Bảng 2.4 Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh giai đoạn 2015 – 2017 47
Bảng 2.5 Các mặt hàng kinh doanh của công ty 49
Bảng 2.6 Doanh số bán hàng theo mặt hàng 50
Bảng 2.7 Doanh số bán hàng theo tháng năm 2017 51
Bảng 2.8 Chỉ tiêu hoàn thành kế hoạch giai đoạn 2015 – 2017 53
Bảng 2.9 Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động bán hàng của công ty giai đoạn 2015 – 2017 55
Bảng 2.10 Mẫu điều tra 57
Bảng 2.11: Kết quả Cronbach’s alpha của các biến quan sát 61
Bảng 2.12 Kết quả Cronbach’s alpha của biến phụ thuộc 64
Bảng 2.13 Kiểm định KMO and Bartlett– thang đo các biến độc lập 65
Bảng 2.14 Ma trận xoay nhân tố Varimax – thang đo các biến độc lập 65
Bảng 2.15 Bảng đặt tên và giải thích nhân tố sau khi phân tích nhân tố EFA 68
Bảng 2.16 Kiểm định KMO and Bartlett – thang đo biến phụ thuộc 69
Bảng 2.17 Kết quả phân tích nhân tố thang đo “Đánh giá chung về hoạt động bán hàng” 69
Bảng 2.18 Ma trận tương quan 70
Bảng 2.19 Các hệ số xác định trong phân tích hồi quy 71
Bảng 2.20 Kết quả phân tích hồi quy tuyến tính 74
Bảng 2.21 Kết quả kiểm định trung bình tổng thể (One Sample T Test) về yếu tố “Sản phẩm” ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động bán hàng 76
Bảng 2.22 Kết quả kiểm định trung bình tổng thể (One Sample T Test) về yếu tố “Giá cả” ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động bán hàng 77
Bảng 2.23 Kết quả kiểm định trung bình tổng thể (One Sample T Test) về yếu tố “Hoạt động xúc tiến bán hàng” ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động bán hàng 78
Bảng 2.24 Kết quả kiểm định trung bình tổng thể (One Sample T Test) về yếu tố “Nhân viên bán hàng” ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động bán hàng 79
Bảng 2.24 Kết quả kiểm định trung bình tổng thể (One Sample T Test) về yếu tố “Dịch vụ bán hàng” ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động bán hàng 80
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 8PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Lý do chọn đề tài
Trong nền kinh tế thị trường cùng với xu hướng toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh
mẽ như hiện nay, đời sống của con người ngày càng phát triển dẫn đến nhu cầu của con
người ngày càng đa dạng và không ngừng thay đổi Bên cạnh đó, sự phát triển của khoa
học công nghệ tạo điều kiện cho khách hàng có thể tiếp cận với nhiều sản phẩm, hàng
hóa, dịch vụ đáp ứng tốt nhu cầu của bản thân khách hàng Vì vậy, khách hàng ngày
càng có nhiều sự chọn lựa hơn, điều này gây ra không ít khó khăn cho doanh nghiệp
nhưng đó cũng chính là cơ hội cho doanh nghiệp có thể thay đổi và phát triển
Trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt như hiện nay, các doanh nghiệp luôn không
ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ cũng như đẩy mạnh công tác bán hàng
Chính vì vậy, sự thành công hay thất bại của một doanh nghiệp không chỉ phụ thuộc
vào chất lượng sản phẩm mà còn phụ thuộc vào sự tổ chức, vận hành hoạt động bán
hàng một cách có hiệu quả
Mặc dù bán hàng không còn là vấn đề mới mẻ nhưng nó luôn mang tính thời sự
cấp bách, và là mối quan tâm hàng đầu của các doanh nghiệp Hoạt động bán hàng là
công việc vô cùng quan trọng mà kết quả của nó là sự sống còn của doanh nghiệp Vì
thế, doanh nghiệp không chỉ đơn thuần là “mua đi, bán lại” mà cần phải củng cố, hoàn
thiện và nâng cao công tác bán hàng Hệ thống bán hàng tốt sẽ góp phần đẩy nhanh tốc
độ chu chuyển hàng hoá, tăng nhanh vòng quay của vốn cũng như thu hút khách hàng
và cạnh tranh trên thị trường
Hiện nay, nhiều công trình, nhà ở, khu quy hoạch đang mọc lên càng nhiều ở
Thừa Thiên Huế Điều này làm cho thị trường sơn hiện nay cạnh tranh gay gắt Thị
trường Thừa Thiên Huế đang là nơi nổi bật để các nhà đầu tư hướng tới với những ưu
thế về địa hình cùng nhu cầu của khách hàng ngày một lớn Vậy các doanh nghiệp phải
tổ chức và thực hiện bán hàng như thế nào để đem lại lợi nhuận cao đáp ứng tốt nhu
cầu và cạnh tranh với các đối thủ khác
Xuất phát từ tình hình trên kết hợp với quá trình thực tập tại công ty TNHH Hiệp
Thành, tôi quyết định chọn đề tài: “Nâng cao hiệu quả hoạt động bán hàng của công
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 9ty Trách nhi ệm hữu hạn Hiệp Thành – Thừa Thiên Huế” nhằm góp một phần nhỏ
trong việc nâng cao hiệu quả bán hàng của công ty hiện nay
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 M ục tiêu chung
Trên cơ sở phân tích thực trạng hoạt động bán hàng của công ty nhằm đề xuất
một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động bán hàng của công ty TNHH Hiệp
Thành
2.2 M ục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa những lý luận cơ bản về bán hàng và hiệu quả hoạt động bán
hàng
- Phân tích, đánh giá thực trạng bán hàng của công ty từ đó xác định các yếu tố
tác động đến hoạt động bán hàng của công ty
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động bán hàng của công ty
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động bán hàng của công ty TNHH Hiệp Thành
- Các thông tin sơ cấp liên quan đến việc phỏng vấn trực tiếp và điều tra bảng
hỏi đối với khách hàng được tiến hành trong khoảng thời gian từ tháng 9 đến tháng 12
năm 2018
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 104 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Thi ết kế nghiên cứu
Sơ đồ 1 Quy trình nghiên cứu
4.2 Phương pháp thu thập dữ liệu
4.2.1 Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp
Số liệu thứ cấp bên trong: Các số liệu, tài liệu, báo cáo trong giai đoạn 2015
-2017 được thu thập từ các phòng ban (tình hình hoạt động bán hàng, báo cáo kết quả
hoạt động kinh doanh, tình hình lao động, tình hình nguồn vốn…) của công ty TNHH
Hiệp Thành, Huế
- Số liệu thứ cấp bên ngoài: thu thập các thông tin thứ cấp bên ngoài qua các
website, sách báo, tạp chí, các báo cáo khóa luận tốt nghiệp và các tài liệu liên quan
khác
4.2.2 Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp
Phương pháp phỏng vấn trực tiếp khách hàng (điều tra nghiên cứu với bảng
câu hỏi được thiết kế sẵn)
Đối tượng điều tra: Những khách hàng mua sơn của công ty
Xác định vấn đề
nghiên cứu
Xây dựng đề cươngnghiên cứu
Tìm hiểu cơ sở lý thuyết
và các mô hình nghiêncứu liên quan
Thiết kế bảng hỏi
Thu thập dữ liệu
Xử lý và phân tích số liệubằng phần mềm SPSS
Kết luận và báo cáo
kết quả nghiên cứu
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 11Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 124.2.3 Phương pháp chọn mẫu
Quá trình phỏng vấn khách hàng được tiến hành theo phương pháp chọn mẫu
thuận tiện
Thời gian phát bảng hỏi từ ngày 10/11/2018 đến ngày 5/12/2018
Thời điểm điều tra từ 8h sáng đến 5h chiều vào các ngày trong tuần (trừ chủ
nhật)
4.2.4 Phương pháp xác định kích thước mẫu
Để xác định cỡ mẫu điều tra đại diện cho tổng thể nghiên cứu, nghiên cứu đã sử
dụng công thức tính cỡ mẫu tỷ lệ theo Cochran (1997):
1
Trong đó:
n: kích thước mẫu
z: giá trị tới hạn tương ứng với độ tin cậy 1
p: tỷ lệ KH đồng ý mua SP sơn của công ty
: sai số mẫu cho phép
Do tính chất p + q = 1, vì vậy p*q sẽ lớn nhất khi p = q = 0.5 Với đặc tính của
một nghiên cứu trong lĩnh vực kinh tế, độ tin cậy mà nghiên cứu lựa chọn là 95%
(α=5%), thông qua tra bảng ta có z = 1,96 Sai số cho phép = 8% Lúc đó mẫu ta cần
chọn sẽ có kích cỡ mẫu lớn nhất:
Theo Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2008), “Phân tích dữ liệu
nghiên cứu với SPSS” trong phân tích nhân tố thì số quan sát (cỡ mẫu) ít nhất phải
bằng 4 hay 5 lần số biến quan sát để kết quả điều tra có ý nghĩa Trong nghiên cứu này,
tác giả sử dụng phân tích nhân tố với 5 nhân tố được đo lường bởi 24 biến quan sát
khác nhau Do đó, kích thước mẫu đảm bảo quá trình phân tích nhân tố đạt được ý
nghĩa thì kích thước mẫu tổi thiểu phải đảm bảo điều kiện: n ≥ 5*24 = 120 mẫu Để
ngừa các sai sót trong quá trình điều tra, tác giả tiến hành phỏng vấn 130 khách hàng
4.3 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 13Sử dụng phần mềm SPSS 20.0 để xử lý và phân tích số liệu Để phân tích đánh
giá của khách hàng về hoạt động bán hàng của công ty TNHH Hiệp Thành đối với sản
phẩm sơn, ta kiểm định thang đo thông qua hệ số Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố
khám phá EFA, phân tích hồi quy tương quan, kiểm định One Way ANOVA và thống
kê mô tả
Kiểm định thang đo
Hệ số Cronbach’s Alpha:
Hệ số Cronbach’s Alpha phản ánh mức độ tương quan chặt chẽ giữa các biến
quan sát trong cùng 1 nhân tố Nó cho biết trong các biến quan sát của một nhân tố,
biến nào đã đóng góp vào việc đo lường khái niệm nhân tố, biến nào không
Người ta thường dùng phương pháp hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha trước khi
phân tích nhân tố khám phá EFA để loại các biến không phù hợp vì các biến rác này có
thể tạo ra các nhân tố giả khi phân tích EFA (Nguyễn Đình Thọ & Nguyễn Thị Mai
Trang, 2009)
Mức giá trị hệ số Cronbach’s Alpha (Nguồn: Hoàng Trọng, Chu Nguyễn Mộng
Ngọc (2008), Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS Tập 2, NXB Hồng Đức, Trang
24):
Từ 0.8 đến gần bằng 1: thang đo lường rất tốt
Từ 0.7 đến gần bằng 0.8: thang đo lường sử dụng tốt
Từ 0.6 trở lên: thang đo lường đủ điều kiện
Trong nghiên cứu này những biến có Cronbach’s alpha lớn hơn 0.6 thì được xem
là đáng tin cậy và được giữ lại Đồng thời, các biến có hệ số tương quan biến tổng nhỏ
hơn 0.3 được coi là biến rác và sẽ bị loại khỏi thang đo
Phân tích nhân tố khám phá (EFA)
Phân tích nhân tố khám phá (EFA) là một phương pháp phân tích định lượng
dùng để rút gọn một tập gồm nhiều biến đo lường phụ thuộc lẫn nhau thành một tập
biến ít hơn (gọi là các nhân tố) để chúng có ý nghĩa hơn nhưng vẫn chứa đựng hầu hết
nội dung thông tin của tập biến ban đầu (Hair và cộng sự, 1998)
Các tác giả Mayers, L.S., Gamst, G., Guarino A.J (2000) đề cập rằng: Trong
phân tích nhân tố, phương pháp trích Pricipal Components Analysis đi cùng với phép
xoay Varimax là cách thức được sử dụng phổ biến nhất
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 14Theo Hair & ctg (1998, 111), Factor loading (hệ số tải nhân tố hay trọng số nhân
tố) là chỉ tiêu để đảm bảo mức ý nghĩa thiết thực của EFA:
Factor loading > 0.3 được xem là đạt mức tối thiểu
Factor loading > 0.4 được xem là quan trọng
Factor loading > 0.5 được xem là có ý nghĩa thực tiễn
Điều kiện để phân tích nhân tố khám phá là phải thỏa mãn các yêu cầu:
+ 0.5 ≤ KMO ≤ 1: Hệ số KMO (Kaiser-Meyer-Olkin) là chỉ số được dùng để xem
xét sự thích hợp của phân tích nhân tố Trị số KMO lớn có ý nghĩa phân tích nhân tố là
thích hợp với tập dữ liệu nghiên cứu
+ Kiểm định Bartlett có ý nghĩa thống kê (Sig < 0.05) Đây là một đại lượng thống
kê dùng để xem xét giả thuyết các biến không có tương quan trong tổng thể
+ Trị số Eigenvalue ≥ 1 mới được giữ lại trong mô hình phân tích
+Tổng phương sai trích ≥ 50% (Gerbing & Anderson, 1988)
+ Hệ số tương quan đơn giữa các biến và các nhân tố (Factor Loading) phải lớn
hơn hoặc bằng 0,5 trong một nhân tố (Hair & ctg, 1998)
+ Chênh lệch giữa Factor Loading lớn nhất và Factor Loading bất kỳ phải >= 0,3
(Jabnoun & Al-Timimi, 2003)
Phân tích hồi quy tương quan
Phân tích hồi quy được thực hiện bằng phương pháp Hồi quy Enter với phần
mềm SPSS 20.0
Mô hình hồi quy: Y = β 0 + β 1 *X 1 + β 2 *X 2 + β 3 *X 3 + + β i *X i
Trong đó:
Y: Hiệu quả hoạt động bán hàng
X i : Mức độ quan trọng của các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả họat động bán
hàng của công ty.
β 0 : Hằng số
β i : Các hệ số hồi quy (i>0) Mức độ phù hợp của mô hình hồi quy được đánh
giá thông qua hệ số R 2 hiệu chỉnh.
Kiểm định giá trị trung bình giữa các nhóm đối tượng bằng kiểm định
One Way ANOVA:
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 15Kiểm định One Way ANOVA được sử dụng để kiểm định độ phù hợp của mô
hình hồi quy tương quan, tức là có hay không mối quan hệ giữa các biến độc lập và
biến phụ thuộc Cặp giả thiết:
Ho: Không có mối quan hệ giữa các biến độc lập và biến phụ thuộc
H1: Tồn tại mối quan hệ giữa các biến độc lập và biến phụ thuộc
Mức ý nghĩa kiểm định là 95%
Nguyên tắc chấp nhận giả thiết:
+ Nếu Sig < 0.05: Bác bỏ giả thiết Ho
+ Nếu Sig0.05: Chưa có cơ sở bác bỏ giả thiết Ho
Chương 1: Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Phân tích hoạt động bán hàng của công ty TNHH Hiệp Thành – Thừa
Thiên Huế
Chương 3: Một số định hướng và giải pháp nâng cao hoạt động bán hàng tại
công ty
Phần III: KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 16PHẦN II NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở lý luận về vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Khái ni ệm, vai trò và mục tiêu của hoạt động bán hàng
1.1.1.1 Khái niệm hoạt động bán hàng
Theo James.M.Comer, Quản trị bán hàng (2002) thì: “Bán hàng là một quá trình
mang tính cá nhân trong đó người bán tìm hiểu, khám phá, gợi tạo và đáp ứng những
nhu cầu hay ước muốn của người mua nhằm thực hiện quyền lợi thỏa đáng, lâu dài của
hai bên” [1]
Bán hàng làm cho hàng hóa lưu thông từ người sản xuất đến người tiêu dùng, từ
nơi dư thừa đến nơi có nhu cầu Hoạt động bán hàng sẽ đem lại lợi nhuận cho người
bán hàng khi họ nắm bắt tốt cơ hội từ thị trường và điều chỉnh chính sách phục vụ
quyền lợi người tiêu dùng
Theo hai tác giả Hoàng Trọng và Hoàng Thị Phương Thảo (1996), “Bán hàng là
một hình thức giao tiếp mang tính chọn lọc cao cho phép các nhà hoạt động thị trường
đưa ra những thông điệp có tính thuyết phục đến những nhu cầu cụ thể của từng người
mua hoặc người ảnh hưởng đến quyết định mua Nó thích nghi với những thay đổi hoàn
cảnh của cả người mua và người bán, nó thúc đẩy sự tương tác giữa hai phía để dẫn tới
một giải pháp hiệu quả và tiết kiệm thời gian cho người mua Về cơ bản nó là một hoạt
động xúc tiến hỗn hợp tập trung vào từng người mua của thị trường mục tiêu, sau đó
nuôi dưỡng và khuyến khích một sự chuyển tiếp nhanh chóng từ việc nhận thức vấn đề
cho đến hành động mua” Định nghĩa này đòi hỏi người bán hàng cần phải chuẩn bị kỹ
lưỡng về thông tin của sản phẩm lẫn thông tin của khách hàng trong thị trường hướng
đến, nhờ vậy mới mang đến hiệu quả cao và tiết kiếm thời gian bán hàng
Theo quan niệm cổ điển: “Bán hàng là hoạt động thực hiện sự trao đổi sản phẩm
hay dịch vụ của người bán chuyển cho người mua để được nhận lại từ người mua tiền,
vật phẩm hoăc giá trị trao đổi đã thỏa thuận”
Theo một số quan điểm hiện đại phổ biến thì khái niệm bán hàng được định
nghĩa như sau:
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 17- Bán hàng là nền tảng trong kinh doanh đó là sự gặp gỡ của người bán và người
mua ở những nơi khác nhau giúp doanh nghiệp đạt được mục tiêu nếu cuộc gặp gỡ
thành công trong cuộc đàm phán về việc trao đổi sản phẩm
- Bán hàng là quá trình liên hệ với khách hàng tiềm năng tìm hiểu nhu cầu khách
hàng, trình bày và chứng minh sản phẩm, đàm phán mua bán, giao hàng và thanh toán
- Bán hàng là sự phục vụ, giúp đỡ khách hàng nhằm cung cấp cho khách hàng
những thứ mà họ muốn
Nhìn chung, hoạt động bán hàng là một hoạt động trung gian giữa các ngành
kinh tế quốc dân, giữa các nhà sản xuất, các nhà phân phối với tổ chức đối tượng tiêu
dùng khác nhau đòi hỏi người bán hàng phải “tạo nên một ảnh hưởng nhất định đến
một người nào đó nhằm mục đích thuyết phục người này mua một sản phẩm hay một
dịch vụ”.[2]
1.1.1.2 Bán hàng trong kinh doanh thương mại
Kinh doanh thương mại
Theo luật Thương mại của Việt Nam (2005): “Kinh doanh thương mại là dùng
tiền của, công sức, tài năng của một cá nhân hay một tổ chức… vào việc mua hàng hóa
để bán (buôn bán hàng hóa) nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận”.
Quy trình bán hàng trong doanh nghiệp thương mại
Quá trình bán hàng trong doanh nghiệp thương mại trải qua các bước sau :
Sơ đồ 1: Quy trình bán hàng trong doanh nghiệp thương mại
Vai trò của hoạt động bán hàng trong doanh nghiệp thương mại
Bán hàng là nghiệp vụ kinh doanh cơ bản, trực tiếp thực hiện chức năng lưu
thông hàng hóa phục vụ cho sản xuất và đời sống của nhân dân, là khâu quan trọng nối
liền sản xuất với tiêu dùng, đảm bảo cân đối giữa cung và cầu đối với từng mặt hàng cụ
thể, góp phần ổn định giá cả trên thị trường
Bán hàng là hoạt động trực tiếp tạo ra doanh số bán, thu hồi vốn, kết thúc quá
Nghiên
cứu thị
trường
Lựachọnnguồnhàng
Mua và
dự trữhànghóa
Bánhàng
Dịch vụphục vụkháchhàng
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 18Bán được nhiều hàng hoá là điều kiện quan trọng tạo ra thị phần, góp phần nâng
cao uy tín cho DNTM
Kết quả của bán hàng là căn cứ để tính năng suất lao động và ảnh hưởng đến
hiệu quả sử dụng vốn, sử dụng chi phí
Bán hàng là một quá trình gồm nhiều hoạt động khác nhau bắt đầu từ việc
nghiên cứu thị trường, tìm hiểu nhu cầu, lựa chọn thị trường mục tiêu và khách hàng
mục tiêu đến việc lựa chọn hàng hoá, hoạch định các giải pháp Marketing để cuối cùng
thực hiện bán hàng ở các điểm bán Do vậy, bán hàng là công việc khó khăn, phức tạp,
đòi hỏi doanh nghiệp phải biết phối hợp nhịp nhàng giữa các khâu, các giai đoạn, phải
biết vận dụng rất nhiều kiến thức kinh doanh, đặc biệt là những hiểu biết về Marketing
mới có thể đạt được doanh số bán cao
Bán hàng là khâu hoạt động có quan hệ mật thiết với khách hàng, ảnh hưởng
đến niềm tin, uy tín và sự tái tạo nhu cầu của người tiêu dùng Do vậy, đó cũng là vũ
khí cạnh tranh mạnh mẽ của doanh nghiệp với các đối thủ cạnh tranh [3]
1.1.1.3 Vai trò của hoạt động bán hàng
Hoạt động của doanh nghiệp bao gồm nhiều khâu khác nhau và có mối quan hệ
mật thiết với nhau, trong đó khâu quan trọng nhất là bán hàng “ Bán hàng là một khâu
mang tính chất quyết định trong hoạt động kinh doanh, một bộ phận cấu thành thuộc hệ
thống tổ chức quản lý kinh doanh của doanh nghiệp chuyên thực hiện các hoạt động
nghiệp vụ liên quan đến việc thực hiện chức năng chuyển hoá hình thái giá trị của sản
phẩm hàng hoá từ hàng sang tiền của tổ chức đó “ Chỉ khi bán được -hàng thì doanh
nghiệp mới thu hồi được vốn kinh doanh, tìm kiếm lợi nhuận và mở rộng quy mô sản
xuất Tất cả các hoạt động của doanh nghiệp đề hướng tới mục đích cuối cùng đó là tìm
kiếm lợi nhuận, trong đó khâu bán hàng là khâu quyết định sư thành công hay thất bại
của một doanh nghiệp
Thứ nhất, bán hàng giúp cho hàng hóa được lưu chuyển từ nơi sản xuất đến tay
người tiêu dùng, đưa hàng hoá đên tay người tiêu dùng cuối cùng để thoả mãn nhu cầu
ngày càng đa dạng, phong phú của họ đồng thời qua đó kích thích cho sản xuất phát
triển.Xã hội không có bán hàng thì nền sản xuất sẽ bị ngưng trệ, doanh nghiệp sản xuất
ra không thể nào tiêu thụ, người tiêu dùng có nhu cầu về sản phẩm thì không biết lấy từ
đâu Do đó nếu không có bán hàng thì nền sản xuất chắc chắn sẽ gặp nhiều khó khăn,
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 19nền kinh tế sẽ bị suy thoái vì khủng hoảng cung cầu, xã hội vì thế mà không thể phát
triển được
Thứ hai, bán hàng còn đóng vai trò lưu thông tiền tệ trong guồng máy kinh tế
Bán hàng là điều kiện thực hiện chu chuyển tiền tệ trong xã hội, ổn định và củng cố giá
trị đồng tiền, thúc đẩy vòng quay của quá trình tái sản xuất Doanh nghiệp sản xuất ra
hàng hóa hay dịch vụ, bán cho những người có nhu cầu để thu về lợi nhuận Tiền thu về
từ hoạt động bán hàng sẽ tiếp tục quay vòng vốn, đưa vào sản xuất để tiếp tục sinh lợi
Qua đó sản xuất sức lao động góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội và nâng
cao hiệu quả kinh tế xã hội của các hoạt động kinh doanh
Thứ ba, bán hàng giúp cho luân chuyển hàng hóa từ nơi dư thừa đến nơi có nhu
cầu Bởi vì thông qua hoạt động bán hàng thì hàng hoá sẽ đi từ nơi có giá trị thấp đến
nơi có giá trị cao điều đó làm cho giá cả được “trung hoà” Theo quy luật cung cầu,
những nơi dư thừa hàng hóa thường giá sẽ thấp hơn so với những nơi khan hiếm hàng
hóa, do đó việc bán hàng ở những nơi khan hiếm hàng hóa sẽ thu về lợi nhuận cao hơn
những nơi hàng hóa dư thừa Do đó bán hàng góp phần ổn định và cải thiện đời sống
dân cư, cân bằng nhu cầu xã hội
Thứ tư, bán hàng mang lại lợi ích cho cá nhân người mua lẫn người bán Đối với
người mua lợi ích của họ là giá trị sử dụng của sản phẩm và thỏa mãn được nhu cầu của
họ còn đối với người bán đó là lợi nhuận từ kinh doanh [4]
Bán hàng là nghiệp vụ cơ bản thực hiện mục đích kinh doanh của doanh nghiệp
là lợi nhuận, bởi vì lợi nhuận là chỉ tiêu chất lượng phản ánh kết quả hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp.Vì vậy, nó quyết định và chi phối các hoạt động nghiệp
vụ khác của doanh nghiệp như: nghiên cứu thị trường, tạo nguồn mua hàng, dịch vụ, dự
trữ
Hoạt động bán hàng được thực hiện theo chiến lược và kế hoạch kinh doanh đã
vạch ra, hàng hóa của doanh nghiệp được khách hàng chấp nhận, uy tín của đơn vị
được giữ vững và củng cố trên thương trường Bán hàng là khâu hoạt động có quan hệ
mật thiết với khách hàng, ảnh hưởng tới niềm tin, uy tín và sự tái tạo nhu cầu của người
tiêu dùng Do vậy, nếu nói “thương trường là chiến trường” thì bán hàng chính là “vũ
khí cạnh tranh mạnh mẽ” của doanh nghiệp với các đối thủ cạnh tranh
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 20 Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động bán hàng phản chiếu tình hình kinh
doanh, là thước đo phản chiếu hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Hiệu
quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được đánh giá thông qua khối lượng hàng
hoá bán ra trên thị trường và lợi nhuận doanh nghiệp thu được qua bán hàng, hàng hoá
được chuyển hoá từ hình thái hiện vật sang hình thái giá trị và vòng chu chuyển vốn
của doanh nghiệp được hoàn thành Trong điều kiện cạnh tranh gay gắt, nâng cao được
khối lượng bán ra tức là doanh nghiệp đã nâng cao được khả năng cạnh tranh trên thị
trường và tỏ rõ thế lực của doanh nghiệp trên thị trường.
Kết quả hoạt động bán hàng phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh, phản ánh sự
đúng đắng mục tiêu của chiến lược kinh doanh, phản ánh sự nỗ lực, cố gắng của doanh
nghiệp trên thị trường Đồng thời thể hiên trình độ tổ chức, năng lực điều hành, tỏ rõ
thế và lực của doanh nghiệp trên thương trường
1.1.1.4 Mục tiêu của hoạt động bán hàng
Hoạt động của lực lượng bán hàng mang ý nghĩa quan trọng và là mũi nhọn tấn
công chủ yếu của doanh nghiệp ra thị trường nhằm tiếp cận và thuyết phục khách hàng
mua và sử dụng sản phẩm dịch vụ của doanh nghiệp Bên cạnh đó, nó cũng chính là
“vũ khí quan trọng” để cạnh tranh với các đối thủ của doanh nghiệp Một công ty muốn
thành công, điều tất yếu họ phải có những mục tiêu rõ ràng và những chiến lược cụ thể
để đạt được những mục tiêu đó Mặc dù những mục tiêu trong từng giai đoạn hay từng
ngành có thể khác nhau, song mục tiêu bán hàng của một doanh nghiệp bao gồm:
Thứ nhất, nhân sự hay hướng vào con người
Mục tiêu này được thể hiện qua số lượng và chất lượng của lực lượng bán hàng
Mục tiêu này cụ thể được đo lường thông qua chỉ tiêu số người được huấn luyện, số
khoá học được tổ chức, số nhân viên hoàn thành kế hoạch bán hàng
Để đạt mục tiêu của doanh nghiệp, đội ngũ bán hàng phải là những người năng
động, nhiệt tình, hăng hái, có năng lực và trách nhiệm với công việc cũng như sự đóng
góp tích cực vào tổ chức và hoạt động chung của toàn tổ chức Vì vậy, doanh nghiệp
cần phải đưa ra những chương trình đào tạo đội ngũ bán hàng một cách khoa học, hợp
lý nhằm tạo ra một đội ngũ bán hàng chuyên nghiệp, chất lượng cao góp phần thực hiện
mục tiêu bán hàng của doanh nghiệp một cách nhanh chóng, hiệu quả Bên cạnh đó,
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 21môi trường làm việc cũng như mối quan hệ đồng nghiệp, cấp trên – cấp dưới cũng một
phần thúc đẩy hiệu quả của đội ngũ bán hàng
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 22 Thứ hai, mục tiêu hướng vào doanh số, lợi nhuận, chi phí (kết quả bán hàng)
Đây là mục tiêu không thể thiếu và mang ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động
bán hàng của doanh nghiệp Tùy vào từng doanh nghiệp, ngành nghề thì mục tiêu
doanh số, lợi nhuận của họ cũng khác nhau
Doanh số: doanh số là một trong những mục tiêu quan trọng trong bán hàng
Lợi nhuận: đây là một mục tiêu bao trùm trong kinh doanh Mục tiêu lợi nhuận
thường được đặt ra ở cấp công ty và cấp bộ phận, rất ít doanh nghiệp đặt mục tiêu lợi
nhuận cho từng nhân viên bán hàng Mục tiêu lợi nhuận được thể hiện trên cơ sở lợi
nhuận ròng, tỉ lệ doanh lợi trên tài sản
Chi phí bán hàng: chi phí bán hàng là mục tiêu phổ biến áp dụng trong bán hàng
Lực lượng bán hàng được giao mục tiêu theo định mức chi phí
Hiệu quả của hoạt động bán hàng ngày càng được nâng cao với chi phí thấp nhất
và lợi nhuận ngày càng tăng Đây là mục tiêu mà bất cứ doanh nghiệp nào cũng phải
theo đuổi, bởi vì lợi nhuận là mục tiêu trước mắt quan trọng, mà hoạt động của hoạt
động bán hàng thì ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận Để có thể đạt được mục tiêu này,
công tác bán hàng phải chú ý phân phối đúng lượng hàng, luồng hàng Đảm bảo sự vận
động của hàng hoá được hợp lý, giảm bớt chi phí lưu thông, đồng thời phát triển các
dịch vụ để phục vụ tốt các yêu cầu của khách hàng nhằm thu hút khách hàng và làm
tăng lợi nhuận
Thứ ba, mục tiêu thị phần
Mục tiêu này được thể hiện thông qua các chỉ tiêu như tốc độ tăng trưởng doanh
số, số lượng khách hàng mới, số lượng đại lý và điểm bán mới, mức độ bao phủ thị
trường
Bất kỳ doanh nghiệp nào cũng cần có một chỗ đứng ổn định trên thị trường, vì
vậy việc gia tăng thị phần là điều tất yếu Việc thực hiện mục tiêu hướng vào con người
và mục tiêu doanh số, lợi nhuận một cách hiệu quả phần nào mở rộng hơn con đường
bước vào thị trường mới của doanh nghiệp [5]
1.1.2 Các nhân t ố ảnh hưởng đến hoạt động bán hàng
1.1.2.1 Các nhân tố khách quan.
Môi trường văn hoá xã hội
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 23Một cách đơn giản có thể hiểu : Thị trường = Hàng hoá + Túi tiền của họ Như
vậy, ta phải nghiên cứu khách hàng và túi tiền của họ để đưa ra một cách chính xác về
sản phẩm và cách thức phục vụ khách hàng Ở đây nó bao gồm các nhân tố như về dân
số, xu hướng vận động của dân số, thu nhập và phận bố thu nhập Từ đó xem xem nó
ảnh hưởng đến hoạt động bán hàng như thế nào
Môi trường chính trị và pháp luật
Sự ổn định về chính trị, đường lối ngoại giao, sự cân bằng các chính sách của
nhà nước, vai trò và chiến lược phát triển kinh tế của Đảng và Chính phủ, sự điều tiết
và khuynh hướng can thiệp của Chính phủ vào đời sống kinh tế xã hội, các quyết định
bảo vệ người tiêu dùng, hệ thống pháp luật, sự hoàn thiện và hiện thực thi hành chúng
có ảnh hường rất lớn đến hoạt động bán hàng của doanh nghiệp
Môi trường kinh tế
Môi trường kinh tế có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động bán hàng Kinh tế phát
triển ổn định thì sẽ làm nhu cầu tăng lên, rồi lạm phát cũng ảnh hưởng rất lớn và nhất là
khả năng quan hệ ngoại thương với nước ngoài đó là buôn bán với nước ngoài, là khả
năng cạnh tranh với hàng nhập ngoại
Cung cầu hàng hoá trên thị trường
Đây là yếu tố ảnh hưởng đến giá cả hàng hoá, nếu cung hàng hoá trên thị trường
tiêu thụ tăng sẽ ảnh hưởng tiêu cực và ngược lại nếu cung hàng hoá giảm sẽ kích thích
khả năng tiêu thụ hàng hoá của doanh nghiệp Mặt khác, nếu cầu hàng hoá tăng thì quy
mô thị trường của doanh nghiệp sẽ tăng lên và nếu ngược lại sẽ ngây ảnh hưởng xấu
đến doanh nghiệp
Đối thủ cạnh tranh
Đó là đối thủ cạnh tranh có mặt hàng giống như mặt hàng của doanh nghiệp
hoặc các mặt hàng có thể thay thế nhau người ta phân chia các đối thủ cạnh tranh như
sau:
+ Các doanh nghiệp đưa ra sản phẩm, dịch vụ cho cùng một khách hàng ở cùng
một mức giá tương tự (đối thủ sản phẩm)
+ Các doanh nghiệp cùng kinh doanh một hay một số sản phẩm (đối thủ chủng
loại sản phẩm)
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 24+ Các doanh nghiệp cùng cạnh tranh để kiếm lời của một nhóm hàng nhất định.
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 251.1.2.2 Các nhân tố chủ quan.
Các nhân tố chủ quan là các nhân tố tự bản thân doanh nghiệp tác động đến hoạt
động bán hàng Dưới đây là các nhân tố chủ quan có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động
bán hàng của doanh nghiệp:
Tiềm lực tài chính của doanh nghiệp
Nguồn vốn đó là sức mạnh của doanh nghiệp (Buôn tài không bằng dài vốn) Do
vậy việc doanh nghiệp huy động các nguồn vốn vào kinh doanh, khả năng phân phối,
khả năng quản lý có hiệu quả các nguồn vốn trong kinh doanh đều ảnh hưởng đến hoạt
động bán hàng Một doanh nghiệp muốn mở rộng kinh doanh, tăng khả năng bán hàng
thì phải có tiền để đầu tư vào các khâu, các công việc mà doanh nghiệp lựa chọn cho
chiến lược phát triển của mình
Tiềm năng con người
Chính con người với năng lực thật của họ mới lựa chọn đúng cơ hội và sử dụng
các sức mạnh khác mà họ đã và sẽ có: vốn, tài sản, kỹ thuật công nghệ một cách có
hiệu quả để khai thác và vượt qua cơ hội kinh doanh Tiềm năng của con người gồm
lực lượng lao động, nếu nó có năng suất, có khả năng phân tích và sáng tạo thì nó sẽ
đáp ứng được yêu cầu của hoạt động bán hàng Chiến lược con người và phát triển
nguồn nhân lực đó là sự chủ động phát triển sức mạnh con người của doanh nghiệp
nhằm đáp ứng yêu cầu tăng trưởng và đổi mới thường xuyên, cạnh tranh và thích nghi
với điều kiện của thị trường
Con người còn có vai trò quyết định đến việc tổ chức và quản lý như thế nào Sự
hoàn hảo của cấu trúc tổ chức, tính hiệu quả của hệ thống quản lý và công nghệ quản lý
đều quyết định đến sự thành công về hoạt động của doanh nghiệp
Tiềm lực vô hình
Tiềm lực vô hình tạo nên sức mạnh của doanh nghiệp trong hoạt động thương
mại thông qua khả năng “ bán hàng “ gián tiếp của doanh nghiệp Sức mạnh thể hiện ở
khả năng ảnh hưởng và tác động đến sự lựa chọn, quyết định và mua hàng của khách
hàng Sức mạnh về tài sản vô hình thể hiện: Hình ảnh và uy tín của doanh nghiệp trên
thương trường Một hình ảnh “ tốt “ về doanh nghiệp liên quan đến hàng hoá, dịch vụ,
chất lượng sản phẩm, thái độ với khách hàng là cơ sở tạo ra sự quan tâm của khách
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 26Mức độ nổi tiếng của nhãn hiệu hàng hoá: Một nhãn hiệu được ưa chuộng thì sẽ
thu hút được khách hàng đến mua hàng và trung thành với nhãn hiệu sản phẩm của
doanh nghiệp
Uy tín và mối quan hệ lãnh đạo doanh nghiệp: Nó có ảnh hưởng đến các giao
dịch thương mại, đặc biệt trong hình thức bán hàng ở “ cấp cao nhất “, trong các hợp
đồng lớn (doanh ngiệp lớn, vừa) hoặc trong giao dịch bán hàng ở các doanh nghiệp
nhỏ
Khả năng kiểm soát, chi phối độ tin cậy của nguồn cung cấp hàng hoá của doanh
nghiệp
Yếu tố này ảnh hưởng đến đầu vào của doanh nghiệp và tác động mạnh mẽ đến
kết quả thực hiện các chiến lược kinh doanh cũng như khâu cuối cùng là tiêu thụ sản
phẩm Sự thay đổi quá mức ở “ đầu vào “ sẽ ảnh hưởng đến “ giá đầu vào “ “ chi phí “
“khối lượng cung cấp “, “ thời điểm giao hàng “ Do vậy sẽ gây ảnh hưởng đến khả
năng tiêu thụ của doanh nghiệp Dự trữ hợp lý hàng hoá luôn có sẵn để cung cấp nhu
cầu liên tục của khách hàng sẽ làm cho họ yên tâm hơn
Ảnh hưởng của sản phẩm
Mỗi loại sản phẩm có đặc điểm riêng về mẫu mã, công dụng, chất lượng phù
hợp với người tiêu dùng, từng mức thu nhập, từng vùng Do vậy, việc tung ra thị trường
các loại sản phẩm khác nhau có ý nghĩa tương đối quan trọng trong việc nâng cao khả
năng bán hàng của doanh nghiệp
Mọi sản phẩm có chất lượng vừa đủ phù hợp với túi tiền của khách hàng thì sẽ
thu hút được khách hàng đến và mua hàng của doanh nghiệp Và ngược lại nếu chất
lượng kém giá cả không hợp lý thì khách hàng sẽ đến với đối thủ cạnh tranh
Giá cả sản phẩm của doanh nghiệp cũng ảnh hưởng đến khả năng bán hàng của
doanh nghiệp Nếu cùng chất lượng mà giá và dịch vụ cung cấp của doanh nghiệp cho
kách hàng không hơn đối thủ thì khách hàng họ sẽ đến với đối thủ cạnh tranh
Ảnh hưởng của phương thức thanh toán
Phương thức thanh toán nhanh gọn đảm bảo an toàn chắc chắn sẽ thu hút được
nhiều khách hàng hơn Ngược lại những quy định về thanh toán rườm rà, qua nhiều
khâu trung gian sẽ gây ức chế về mặt tâm lý cho khách hàng Vì vậy, các doanh nghiệp
phải áp dụng phương thức thanh toán thuận tiện để thu hút nhiều khách hàng
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 27Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 28 Ảnh hưởng của công tác xúc tiến.
Xúc tiến là công cụ quan trọng đẩy mạnh hoạt động bán hàng ; nó giúp người
mua hiểu biết về sản phẩm, thế lực của doanh nghiệp Xúc tiến tạo điều kiện đưa nhanh
hàng vào lưu thông
Ngoài ra còn một số nhân tố khác cũng ảnh hưởng đến hoạt động bán hàng của
doanh nghiệp như vị trí địa lý, cơ sở vật chất - kỹ thuật của doanh nghiệp, mục tiêu, khả
năng định theo đuổi mục tiêu của ban lãnh đạo doanh nghiệp và người tham gia kiểm
soát, quản lý doanh nghiệp
1.1.3 Các phương thức bán hàng
"Phương thức bán hàng là những phương pháp, cách thức mà người bán hàng
lựa chọn để tạo điều kiện cho người mua tiếp cận với hàng hoá, dịch vụ và mua hàng
hoá, dịch vụ đó của mình".
Có hai phương thức bán hàng cơ bản: Phương thức bán hàng cổ điển và phương
thức bán hàng hiện đại
1.1.3.1 Phương thức bán hàng cổ điển
Đây là phương thức bán hàng mà việc mua bán chỉ diễn ra khi người bán và
người mua trực tiếp gặp gỡ, trao đổi và thoả thuận về tên hàng, số lượng, chất lượng,
giá cả và các điều kiện mua bán khác Nhìn chung, người mua chủ động tìm người bán
còn người bán thụ động chờ người mua Bán hàng theo phương thức này thì vai trò
trung tâm của khách hàng (người mua) càng trở nên nổi bật vì nếu không có khách
hàng thì hoạt động bán hàng sẽ không thể xảy ra
Phương thức bán hàng cổ điển đòi hỏi nhân viên bán hàng phải thực hiện toàn
bộ các công việc có liên quan đến thương vụ, từ việc mời chào khách hàng, giới thiệu
hàng cho đến bao gói, đưa hàng cho khách hàng, nhận tiền và tiễn khách,… Do đó,
nhân viên bán hàng cần phải có những kiến thức tổng hợp về chuyên môn kỹ thuật, văn
hoá, xã hội, tâm lý giao tiếp,
Phương thức bán hàng cổ điển bao gồm 2 hình thức: bán hàng cố định và bán
hàng lưu động
Bán hàng cố định
Bán hàng cố định là hình thức bán hàng mà việc mua – bán được diễn ra ở một
địa điểm cố định nào đó (trong các cửa hàng, quầy hàng)
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 29Đối với hình thức bán hàng cố định này, vị trí điểm bán và cách thức bố trí hàng
hoá trong quầy có vai trò quan trọng trong việc tìm kiếm, lựa chọn hàng hoá của khách
hàng
Đây là hình thức bán hàng mà người mua chủ động tìm người bán còn người bán
thụ động chờ người mua nên vị trí điểm bán phải được bố trí sao cho thu hút được sự
chú ý của khách hàng, thuận tiện cho việc đi lại, bố trí ở nơi đông dân cư, nhiều người
qua lại như các đầu mối giao thông, trên các mặt phố chính,… Để thu hút sự chú ý của
khách hàng, cửa hàng cũng cần phải có sự trang trí mặt tiền, băng biển quảng cáo đẹp,
hấp dẫn, thu hút sự tò mò của khách hàng Để tạo thuận lợi cho khách hàng trong quá
trình lựa chọn, tìm kiếm hàng hoá, hàng hoá trên quầy phải được bố trí hợp lý, dễ quan
sát, dễ phát hiện, hấp dẫn, bắt mắt
Bán hàng lưu động
Bán hàng lưu động là hình thức bán hàng mà việc mua bán không diễn ra trong
các cửa hàng hay quầy hàng cố định mà thường xuyên thay đổi do hàng hoá được bày
bán trên các phương tiện có thể di chuyển được (xe ô tô, toa tầu, xe thồ tự chế,…)
So với phương thức bán hàng cố định, hình thức bán hàng lưu động giúp cho
người bán có thể chủ động tìm kiếm người mua, khách hàng hơn (người bán đi tìm
người mua) Việc bán hàng lưu động đáp ứng được các nhu cầu của con người xét trên
góc độ tiện lợi và thái độ ân cần đối với cá nhân người mua khi mua hàng tại nhà Tuy
nhiên, hình thức bán hàng này có nhược điểm là người bán tốn công sức hơn do phải
di chuyển nhiều nên giá cả thường không thể thấp hơn so với bán hàng cố định, quy
mô bán hàng cũng như cơ cấu hàng bán bị hạn chế do yêu cầu gọn nhẹ Do đó, hình
thức bán hàng này chỉ phù hợp với các hàng hoá tiêu dùng cá nhân gọn nhẹ (bấm móng
tay, quần áo, thực phẩm,…) hơn là các sản phẩm tiêu dùng tập thể Vì vậy, một trong
các cách bán hàng di động rất phổ biến ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển
lâu đời (đặc biệt ở Mỹ) là hình thức bán hàng thông qua người chào hàng Song, hình
thức bán hàng này ít có triển vọng áp dụng đối với các công ty do xã hội ngày càng
phát triển, các gia đình thường chỉ có hai người mà đi làm việc liên tục nên sẽ rất khó
gặp họ vào ban ngày mà chúng ta không thể bán hàng vào ban đêm
1.1.3.2 Phương thức bán hàng hiện đại
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 30Đây là phương thức bán hàng mà người bán hàng không còn phải làm tất cả các
thao tác như trong phương thức bán hàng cổ điển, người bán và người mua không cần
phải tiếp xúc trực tiếp với nhau mà thương vụ vẫn có thể xảy ra Phương thức bán hàng
hiện đại được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau Để hiểu rõ hơn phương thức
bán hàng hiện đại, chúng ta đi vào xem xét các hình thức bán hàng cụ thể trong phương
thức bán hàng này
Bán hàng theo hình thức tự chọn (công nghệ bán hàng tự phục vụ)
Đây là hình thức bán hàng mà khách hàng tự chọn cho mình những món hàng
cần mua (thường được bao gói sẵn và có giá trị đề sẵn) và tự mình mang hàng ra thanh
toán tiền ở nơi thu tiền Nhiệm vụ chủ yếu của nhân viên bán hàng là bảo quản hàng
hoá trên quầy, chỉ dẫn, tư vấn, cho khách hàng khi cần thiết Đối với hình thức này,
việc bố trí hàng hoá trong quầy hàng đóng vai trò rất quan trọng trong việc tạo điều
kiện cho khách hàng dễ dàng tìm kiếm món hàng cần mua một cách nhanh nhất
Bán hàng trong các siêu thị
Là hình thức phát triển cao hơn của bán hàng tự chọn Cũng như hình thức bán
hàng tự chọn, nhiệm vụ chủ yếu của nhân viên bán hàng là chỉ dẫn, tư vấn cho khách
hàng Trong các siêu thị, lượng hàng hoá được bày bán rất phong phú về chủng loại và
được trình bày rất bắt mắt, hấp dẫn khách hàng Một siêu thị có thể có tới hàng chục
nghìn mặt hàng khác nhau
Bán hàng bằng thư tín
Bằng các bức thư được soạn thảo công phu về mặt nội dung và trình bày đẹp về
mặt hình thức, doanh nghiệp tìm đến những người tiêu dùng thường xuyên có nhu cầu và
hay sử dụng (mua sắm) các sản phẩm hàng hoá của doanh nghiệp để chào hàng và bán
hàng
Bán hàng qua điện thoại
Thông qua sự liên lạc bằng điện thoại, doanh nghiệp gửi đến khách hàng (hiện
tại hoặc tiềm năng) những lời chào hàng và nhận từ họ những đơn đặt hàng Trên thực
tế, để có thể đi đến được sự chấp nhận mua hàng của khách hàng, người bán hàng
(chào hàng) phải thực hiện một quy trình giới thiệu sản phẩm, thuyết phục khách hàng
rất khó khăn Nó đòi hỏi người chào hàng phải có được phẩm chất, năng lực chuyên
môn, giao tiếp, thuyết phục khách hàng ở trình độ cao mới có thể thành công trong
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 31chào hàng dẫn tới quyết định mua hàng của khách hàng Với phương thức này, nếu
đạt được thoả thuận về mua – bán hàng hoá doanh nghiệp có thể đưa hàng đến tận nơi
cho khách hàng của mình
Bán hàng qua hội chợ triển lãm
Hiện nay, việc bán hàng trong các hội chợ triển lãm đã trở thành phổ biến và
thường xuyên ở nước ta Mục đích ban đầu của hội chợ triển lãm là giúp cho các
doanh nghiệp tìm kiếm khách hàng tiềm năng, phát triển thị trường mới, tiếp xúc với
khách hàng và ký kết các hợp đồng mua bán hàng hoá Tuy nhiên, các nhà sản xuất
kinh doanh thương mại còn sử dụng các cuộc hội chợ triển lãm như là nơi để mở rộng
bán lẻ, tăng doanh thu Trong hội chợ triển lãm, các doanh nghiệp thường tổ chức các
trò chơi, kết hợp với các hình thức khuyến mãi nhằm gây sự chú ý của khách hàng đối
với gian hàng của mình, khuyếch trương hình ảnh sản phẩm, hình ảnh của công ty đối
với người tiêu dùng
Bán hàng qua mạng Internet (Thương mại điện tử)
Nhờ sự phát triển của công nghệ tin học và máy tính điện tử, ngày nay không cần
phải có cửa hàng, quầy hàng, ở địa điểm khách hàng mua hàng hay khách hàng không
phải tới nơi có cửa hàng, quầy hàng mà vẫn có thể mua bán được với nhau Đây là hình
thức bán hàng hiện đại nhất hiện nay và rất phát triển ở Mỹ Nhiều nhà kinh doanh lớn
trên mạng đã gặt hái được rất nhiều thành công nhờ vào hình thức bán hàng hiện đại này
[2]
1.1.4 M ột số chính sách hỗ trợ, nâng cao hiệu quả bán hàng
1.1.4.1 Chính sách giá
Giá thành sản phẩm luôn được coi là yếu tố cạnh tranh quan trọng trong việc thu
hút khách hàng, đặc biệt là ở những thị trường mà thu nhập của người dân còn thấp
Chính vì vậy, doanh nghiệp cần có chính sách giá phù hợp để tạo cho sản phẩm có chỗ
đứng vững chắc trên thị trường
Chính sách giá là sự tập hợp những cách thức và quy tắc xác định mức giá cơ sở
của sản phẩm và quy định biên độ giao động cho phép, biến đổi mức giá cơ sở trong
những điều kiện nhất định của hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty trên thị
trường
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 32Trong chính sách giá đối với sản phẩm mới, doanh nghiệp có thể theo đuổi
những mục tiêu cơ bản sau đây:
Để tồn tại (giá cao hơn chi phí)
Để tối đa hoá lợi nhuận trước mắt
Để tăng thị phần
Để thu hồi vốn nhanh
Để dẫn đầu về chất lượng
Cá mục tiêu khác: một doanh nghiệp có thể dùng giá để phục vụ cho một số
mục tiêu cụ thể hơn Doanh nghiệp có thể đặt giá ở mức thấp để ngăn chăn cạnh tranh hay
đặt giá bằng giá của đối thủ cạnh tranh để giữ ổn đinh thị trường Giá có thể được quyết
đinh ở mức giữ uy tín cũng như hỗ trợ các hãng buôn hay để tránh sự can thiệp của Chính
Chính sáchgiá giới thiệu
Chính sách giá theo thị trường
Tuy nhiên, doanh nghiệp không thể dựa vào ý muốn chủ quan của mình để định
giá Bạn cần phải tuân thủ những ràng buộc nhất định
1.1.4.2 Chính sách sản phẩm
Theo Philip Kotler, “Sản phẩm là tất cả những cái, những yếu tố có thể thỏa
mãn được nhu cầu hay mong muốn và được đưa ra chào bán trên thị trường với mục
đích thu hút chú ý, mua sử dụng hay tiêu dùng”.
Chính sách sản phẩm là những phương sách kinh doanh sản phẩm được xây
dựng mang tính lâu dài để đối ứng kịp thời với tình hình cụ thể của thị trường nhằm đạt
được mục tiêu của doanh nghiệp đã vạch ra
Chính sách về chủng loại sản phẩm
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 33Doanh nghiệp phải lựa chọn bao nhiêu mặt hàng trong chủng loại sản phẩm để
kinh doanh Bề rộng của chủng loại sản phẩm phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố: yêu cầu
thị trường cạnh tranh, khả năng sản xuất của doanh nghiệp…mục tiêu doanh nghiệp
Đối với những doanh nghiệp đang cố gắng để có vị thế là người cung ứng một chủng
loại hoặc đang phấn đấu để chiếm lĩnh thị phần hay mở rộng thị trường, thường có
chủng loại hàng hóa rộng Còn các doanh nghiệp quan tâm trước hết đến tính sinh lời
cao của doanh nghiệp thì thường có chủng loại hẹp
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 34 Chính sách danh mục sản phẩm
Danh mục sản phẩm là tập hợp tất cả các nhóm chủng loại sản phẩm do một
người bán cụ thể đem chào bán cho người mua Danh mục sản phẩm của một công ty sẽ
có chiều rộng, chiều dài, chiều sâu, mức độ phong phú và hài hòa nhất định phụ thuộc
vào mục đích mà công ty theo đuổi
+ Chiều rộng danh mục sản phẩm thể hiện công ty có bao nhiêu nhóm chủng
loại sản phẩm khác nhau do công ty sản xuất
+ Chiều dài của danh mục sản phẩm là tổng số mặt hàng trong danh mục sản phẩm
+ Chiều sâu của danh mục sản phẩm thể hiện tổng số các sản phẩm cụ thể được
chào bán trong từng mặt hàng riêng của nhóm chủng loại sản phẩm
+ Mức độ hài hòa của danh mục sản phẩm phản ánh mức độ gần gũi của hàng
hóa thuộc các nhóm chủng loại khác nhau xét theo góc độ mục đích sử dụng cuối cùng,
những yêu cầu về tổ chức sản xuất, các kênh phân phối hay một tiêu chuẩn nào đó
Bốn điều nói trên của danh mục sản phẩm trở thành những công cụ để định ra
chính sách sản phẩm cho doanh nghiệp Doanh nghiệp có thể mở rộng hoạt động của
mình theo bốn hướng Có thể mở rộng danh mục sản phẩm của mình bằng cách bổ sung
thêm những chủng loại hàng hóa mới, có thể tăng thêm mức độ phong phú của những
nhóm sản phẩm đã có, và tùy theo yêu cầu, doanh nghiệp có thể phấn đấu theo hướng
tăng hay giảm mức độ đồng nhất giữa các mặt hàng thuộc các chủng loại sản phẩm khác
nhau
1.1.4.3 Hoạt động xúc tiến bán hàng
Xúc tiến bán hàng là các hoạt động nhằm tìm kiếm và thúc đẩy cơ hội mua bán
hàng hóa và cung ứng dịch vụ thương mại Hoạt động kinh doanh thương mại là hoạt
động mua bán hàng hóa nhằm mục đích kiếm lợi nhuận, mua là để bán, mua tốt thì mới
có khả năng bán tốt Chính vì vậy, để đạt được mục tiêu kinh doanh, các doanh nghiệp
phải đẩy mạnh xúc tiến bán hàng, xúc tiến thương mại
Trong nghiên cứu này, tác giả chỉ đề cập đến các hoạt động khuyến mãi, chiết khấu
Khuyến mãi
Khuyến mãi là hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân nhằm xúc tiến
việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ bằng cách dành cho khách hàng những lợi
ích nhất định
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 35Khuyến mãi mang nghĩa là "khuyến khích mua hàng hoá, dịch vụ", do đó mục
đích chính của khuyến mãi là kích cầu tiêu dùng, thúc đẩy người tiêu dùng mua và mua
nhiều hơn các hàng hoá, dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp hoặc phân phối
Ngoài ra, hoạt động khuyến mãi còn nhằm mục đích quảng bá thương hiệu sản
phẩm và doanh nghiệp
Chiết khấu
Chiết khấu thương mại là khoản chiết khấu mà doanh nghiệp bán giảm giá niêm
yết cho khách hàng mua hàng với khối lượng lớn
Chiết khấu thực chất là việc giảm giá niêm yết của một sản phẩm/dịch vụ của
doanh nghiệp với một tỉ lệ phần trăm nhất định Chiết khấu thường được sử dụng trong
kinh doanh nhưng bản chất là một chiến lược Marketing về giá của sản phẩm Đây là
phương pháp Marketing để kích thích mua sắm của người tiêu dùng là một chiến lược
thông thường được sử dụng trong mọi lĩnh vực bán hàng
Các mục đích của chiết khấu có thể phụ thuộc vào nhiều hoàn cảnh nhưng
thường là để cạnh tranh, lôi kéo các khách hàng, giới thiệu sản phẩm mới, giữ lòng
trung thành của khách hàng hay thậm chí là để xả kho hàng cũ nhanh chóng
1.1.4.4 Nhân viên bán hàng
Một nghiên cứu mới đây của hãng nghiên cứu Foreester Research chỉ ra rằng:
"Thói quen mua sắm của khách hàng đã hoàn toàn thay đổi trong những năm vừa qua
Chúng ta đang ở trong thời kì kinh doanh mà quyền lực tối cao thuộc về khách hàng:
Họ ngày càng khó tính, nhanh nhạy, hiểu biết và có nhiều lựa chọn hơn bao giờ hết"
Vì vậy, để đáp ứng những yêu cầu của khách hàng, nhân viên bán hàng cần phải
thay đổi và phát huy những điểm mạnh của bản thân Một doanh nghiệp muốn tồn tại,
hoạt động hiệu quả đều phải dựa vào hoạt động bán hàng, cho dù là bán sản phẩm, bán
dịch vụ, hay bán công nghệ, thì đội ngũ bán hàng và kỹ năng bán hàng là yếu tố then
chốt đem đến một con số doanh thu kỳ vọng cho hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp
Đối với khách hàng, nhân viên bán hàng chính là cửa hàng Điều đó cũng có
nghĩa là, trong suy nghĩ của họ nhân viên bán hàng tốt thì cửa hàng đó tốt, còn nhân
viên bán hàng không tốt thì cửa hàng đó là không tốt
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 36Một nhân viên bán hàng chuyên nghiệp không thể thiếu 3 thứ: kiến thức, kỹ
năng, và thái độ Vậy là một nhân viên bán hàng, ít nhất bạn phải có kiến thức, hiểu biết
nhất định về sản phẩm, về công ty, khách hàng và cả đối thủ cạnh tranh Những kỹ
năng về giao tiếp, đàm phán, xử lý tình huống và kết thúc hợp đồng sẽ cần bạn chau dồi
dần qua quá trình làm việc Cả hai thứ trên đều yêu cầu bạn phải làm thành thục, tuy
nhiên tuy nhiên bạn hãy nhớ, kiến thức, kỹ năng bạn đều có thể học hỏi, được đào tạo,
huấn luyện Duy chỉ có thái độ là do chính bạn quyết định, và thái độ là yếu tố quyết
định để lấy được thiện cảm và sự quan tâm của khách hàng, giúp bạn kéo khách hàng
về phía mình
1.1.4.5 Dịch vụ bán hàng
Dịch vụ bán hàng là dịch vụ mà bạn cung cấp cho khách hàng trước, trong khi
và sau khi bán sản phẩm hoặc dịch vụ Bao gồm cả khi khách hàng đã sử dụng sản
phẩm hoặc dịch vụ đó
Dịch vụ bán hàng tốt bao gồm cả việc tạo nên sự gắn kết với khách hàng, thêm
vào đó nó còn dẫn tới một mối quan hệ lâu bền
Theo ông Bill Huigens, chuyên về lĩnh vực dịch vụ khách sạn nói rằng: Dịch vụ
bán hàng hoàn hảo chính là bạn, là doanh nghiệp của bạn, trao mối quan hệ tới khách
hàng; liên quan đến lòng tin, sự trung thành, sự thân thiện và sự tôn trọng
Những mối quan hệ kiểu này đều mang lại ưu điểm cho cả doanh nghiệp và
khách hàng như nhau – Đôi bên cùng có lợi (a win-win situation)
Khách hàng có lợi bởi vì họ nhận được dịch vụ mong muốn và đôi khi vượt
quá sự mong đợi của họ
Doanh nghiệp có lợi bởi vì khách hàng hài lòng thường tiếp tục mua hàng, vì
vậy bạn không chỉ giữ chân được khách hàng, mà bạn còn có thêm cơ hội có thêm
khách hàng nhờ họ truyền miệng nhau nữa
1.1.5 M ột số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động bán hàng
1.1.5.1 Chỉ tiêu về doanh thu
Doanh thu là toàn bộ số tiền thu được do bán sản phẩm, cung cấp dịch vụ, hoạt
động tài chính và các hoạt động khác của doanh nghiệp trong kỳ kế toán
Doanh số bán hàng thực tế phản ánh toàn bộ kết quả kinh doanh của công ty
thông qua hoạt động bán hàng Nó phản ánh quy mô của quá trình sản xuất kinh doanh
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 37của doanh nghiệp cũng như phản ánh trình độ tổ chức quản lý hoạt động của hệ thống
bán hàng Doanh số án hàng là nguồn thu quan trọng giúp cho doanh nghiệp tiếp tục
quá trình sản xuất, tái mở rộng thị phần và trang trải mọi chi phí trong sản xuất kinh
doanh cũng như bán hàng Công thức tính doanh thu:
Trong đó:
+ TR: Doanh thu bán hàng
+ Q i : Khối lượng hàng hóa i bán ra
+ P i : Giá bán một đơn vị háng hoá i.
+ n: Số lượng mặt hàng sản phẩm của doanh nghiệp
Các khoản giảm trừ gồm:
- Các khoản chiết khấu thương mại
- Hàng bán bị trả lại
- Giảm giá hàng bán
- Các khoản thuế xuất khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế giá trị gia tăng phải nộp
theo phương pháp trực tiếp
Doanh thu bán hàng lớn hơn chi phí bỏ ra có nghĩa là doanh nghiệp làm ăn có
lãi, sản phẩm được chấp nhận trên thị trường Điều này giúp doanh nghiệp tiếp tục hoạt
động trên thị trường và quay vòng vốn
1.1.5.2 Chỉ tiêu lợi nhuận
Lợi nhuận thực tế là phần chênh lệch giữa doanh số bán hàng thu đƣợc và toàn
bộ chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra
Trong đó:
+ : Lợi nhuận bán hàng
+ TR: Tổng doanh thu bán hàng
= TR - TC
Doanh thu thuần = ∑ - Các khoản giảm trừ
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 38Lợi nhuận thu được càng lớn chứng tỏ hiệu quả của bộ máy hoạt động kinh
doanh nói chung và hiệu quả của hệ thống bán hàng nói riêng càng cao Điều này
chứng tỏ mạng lưới bán hàng của doanh nghiệp là hợp lý Vì vậy, doanh nghiệp cần
nâng cao công tác bán hàng cũng như phát huy những tiềm lực sẵn có, giảm các chi phí
đến mức tối thiểu nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh và giữ chỗ đứng trên thị trường
1.1.5.3 Chỉ tiêu chi phí
Chỉ tiêu chi phí bán hàng nhằm xác định chi phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra để
bán được hàng hóa trong kỳ kinh doanh Xác định được chi phí sẽ giúp doanh nghiệp
xác định được lợi nhuận, và biết được các yếu tố chi phí chưa hợp lý để khắc phục
Chi phí bán hàng được xác định bằng công thức:
Trong đó:
+ TC: Tổng chi phí bán hàng
+ FC: Chi phí cố định cho bán hàng (chi phí trưng bày, quảng cáo, bảo
quản,…)
+ VC: Chi phí biến đổi cho bán hàng (khấu hao, chiết khấu, giảm giá, )
1.1.5.4 Chỉ tiêu hoàn thành kế hoạch bán hàng
Chỉ tiêu hoàn thành kế hoạch được đo bằng tỷ lệ phần trăm giữa lượng hàng hóa
được bán ra trong kỳ trên tổng lượng hàng bán theo kế hoạch đề ra
Trong đó:
+ H ht : Mức độ hoàn thành kế hoạch bán hàng
+ Q tt : Lượng hàng hóa, dịch vụ thực tế bán ra trong kỳ
+ Q kh : Lượng hàng hóa, dịch vụ theo kế hoạch
1.1.5.5 Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả bán hàng
Trang 39Đối với một doanh nghiệp mục tiêu cuối cùng là lợi nhuận Lợi nhuận là một chỉ
tiêu tài chính tổng hợp phản ánh hiệu quả của toàn bộ quá trình đầu tư, sản xuất, tiêu thụ
và những giải pháp kỹ thuật, quản lý kinh tế tới doanh nghiệp Vì vậy, lợi nhuận là chỉ
tiêu tài chính mà bất kỳ đối tượng nào muốn đặt quan hệ với doanh nghiệp cũng đều
quan tâm
Chỉ tiêu Doanh lợi doanh thu (ROS):
Tỷ lệ lợi nhuận trên doanh thu (ROS - return on sales) thể hiện tỷ lệ thu hồi lợi
nhuận trên doanh số bán được Qua đó cho chúng ta biết tỷ lệ phần trăm của mỗi đồng
doanh số sẽ đóng góp vào lợi nhuận
Chỉ tiêu này thể hiện mối quan hệ giữa doanh thu và lợi nhuận Đây là hai yếu tố
liên quan rất mật thiết, doanh thu chỉ ra vai trò, vị trí của doanh nghiệp trên thương
trường và lợi nhuận thể hiện chất lượng, hiệu quả cuối cùng của doanh nghiệp Như
vậy, Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu là chỉ tiêu thể hiện vai trò và hiệu quả của doanh
nghiệp Tỷ suất này được tính như sau:
Lợi nhuận ròngROS =
Doanh thu thuần
Doanh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE):
Chỉ tiêu này thể hiện khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu Qua đó ta thấy, cứ 1
đồng vốn chủ sở hữu bỏ ra thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận Đây là tiêu chuẩn phổ
biến nhất dùng để đánh giá tình hình hoạt động tài chính của doanh nghiệp
ROE = Lợi nhuận ròng
Vốn chủ sở hữu
Doanh thu/Vốn chủ sở hữu:
Doanh thu so với Vốn chủ sở hữu = Doanh thu
Vốn chủ sở hữu
Doanh lợi theo chi phí:
Chỉ tiêu này cho thấy hiệu quả sử dụng chi phí kinh doanh của công ty, cứ 1
đồng chi phí bỏ ra, công ty thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận
Doanh lợi theo chi phí =Lợi nhuận ròng
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 40 Doanh thu/Chi phí:
Chỉ tiêu phản ánh khả năng sử dung chi phí của doanh nghiệp có hiệu quả và
hợp lý chưa? Với doanh thu thu được thì chi phí bỏ ra có xứng đáng hay không? Chỉ
tiêu này được xác định như sau:
Doanh thu so với Chi phí =Tổng doanh thu
Tổng chi phí
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Các nghiên c ứu trong nước có liên quan
Trong quá tình thực hiện nghiên cứu này, tác giả đã tham khảo một số khóa luận
tốt nghiệp đã được thực hiên trước đó để giúp việc nghiên cứu được tiến hành thuận lợi,
gặp ít khó khăn nhất có thể
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phạm Thị Thu Thủy (2012) với đề tài: “Nâng
cao hi ệu quả hoạt động bán hàng của công ty TNHH Tiến Đức (Quảng Nam)”, đề
tài đã nêu ra những ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động bán hàng bao gồm: Thương hiệu
và phương thức thanh toán, Sản phẩm và giá cả, Hệ thống kênh phân phối, Hoạt động
xúc tiến, Dịch vụ CSKH, Đội ngũ nhân viên Mặc dù đã đưa ra những chỉ tiêu đánh giá
hiệu quả hoạt động bán hàng, song vẫn còn thiếu sót một vài chỉ tiêu
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Trần Thảo Nhi (2015) với đề tài:
“Nâng cao hiệu quả hoạt động bán hàng tại công ty cổ phần An Phú”, đề tài đã nêu
ra những ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động bán hàng bao gồm: Sản phẩm, Giá cả, Hệ
thống kênh phân phối, Hoạt động xúc tiến bán hàng, Thái độ nhân viên bán hàng Đề
tài vẫn chưa đánh giá hiệu quả hoạt động bán hàng thông qua các chỉ tiêu về doanh thu,
lợi nhuận, chi phí để từ đó xác định công ty đã đạt hiệu quả bán hàng như thế nào
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lê Thị Ngọc Hà (2016) với đề tài:“Phân tích
ho ạt động bán hàng của công ty TNHH TMTH Tuấn Việt (Quảng Bình) đối với
ngành hàng One One” Đề tài này đã đi sâu vào tìm hiểu các yếu tố tác động đến hiệu
quả hoạt động bán hàng thông qua việc khảo sát 2 đối tượng: Nhân viên bán hàng và
các cửa hàng bán lẻ
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Văn Chung (2017) với đề tài: “Nâng
cao hiệu quả hoạt động bán hàng tại công ty TNHH Thương mại Tổng hợp Tuấn
Trường Đại học Kinh tế Huế