1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sử dụng phương pháp nêu vấn đề trong dạy học phần công tác quốc phòng, an ninh ở trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh đại học thái nguyên

146 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sử Dụng Phương Pháp Nêu Vấn Đề Trong Dạy Học Phần Công Tác Quốc Phòng, An Ninh Ở Trung Tâm Giáo Dục Quốc Phòng Và An Ninh - Đại Học Thái Nguyên
Tác giả Dương Trường Sinh
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Thị Hường
Trường học Đại Học Thái Nguyên
Chuyên ngành LL&PP dạy bộ môn Lý luận Chính trị
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2020
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 146
Dung lượng 3,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊNTRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ---DƯƠNG TRƯỜNG SINH SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP NÊU VẤN ĐỀ TRONG DẠY HỌC HỌC PHẦN “CÔNG TÁC QUỐC PHÒNG, AN NINH” Ở TRUNG TÂM GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG VÀ AN

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

-DƯƠNG TRƯỜNG SINH

SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP NÊU VẤN ĐỀ TRONG DẠY HỌC HỌC PHẦN “CÔNG TÁC QUỐC PHÒNG,

AN NINH” Ở TRUNG TÂM GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG

VÀ AN NINH - ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

THÁI NGUYÊN - 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

-DƯƠNG TRƯỜNG SINH

SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP NÊU VẤN ĐỀ TRONG DẠY HỌC HỌC PHẦN “CÔNG TÁC QUỐC PHÒNG,

AN NINH” Ở TRUNG TÂM GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG

VÀ AN NINH - ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

Ngành: LL&PP dạy bộ môn Lý luận Chính trị

Mã ngành: 8.14.01.11

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Giáo viên hướng dẫn: TS Nguyễn Thị Hường

THÁI NGUYÊN - 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn: “Sử dụng phương pháp nêu vấn đề trong dạy học học phần: “Công tác quốc phòng, an ninh” ở Trung tâm Giáo dục Quốc phòng và an ninh - Đại học Thái Nguyên” là công trình nghiên cứu của riêng tôi.

Luận văn đã sử dụng thông tin từ nhiều nguồn khác nhau có chỉ rõ nguồn gốc, số liệu

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Với sự kính trọng và tình cảm chân thành nhất, tôi xin trân trọng cảm ơnĐảng ủy, Ban Giám đốc, lãnh đạo các Phòng, Khoa, tập thể đội ngũ giảng viên ởTrung tâm Giáo dục quốc phòng và an ninh - Đại học Thái Nguyên đã giúp đỡ, tạođiều kiện cho tôi trong quá trình điều tra, khảo sát, thu thập các dữ liệu thông tin cóliên quan đến khóa luận

Đặc biệt, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến T.S Nguyễn Thị Hường,

người đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu khoa học và hoànthành đề tài này

Trong quá trình thực hiện luận văn do còn hạn chế về trình độ chuyên mônnên không thể tránh khỏi những tồn tại, sai sót Vậy rất mong nhận được sự ý kiếnđóng góp, phê bình của các thầy cô giáo, các nhà khoa học và các bạn đọc đề luậnvăn được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Thái nguyên, tháng 9 năm 2020

Tác giả luận văn

Dương Trường Sinh

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN vii

DANH MỤC CÁC BẢNG viii

DANH MỤC CÁC HÌNH ix

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài 2

3 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 2

4 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu của đề tài 3

5 Giả thuyết nghiên cứu 3

6 Phương pháp nghiên cứu của đề tài 3

7 Những đóng góp mới của đề tài 4

8 Kết cấu đề tài 4

NỘI DUNG 5

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP NÊU VẤN ĐỀ TRONG DẠY HỌC HỌC PHẦN: “CÔNG TÁC QUỐC PHÒNG, AN NINH” Ở TRUNG TÂM GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH 5

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 5

1.1.1 Các công trình nghiên cứu nước ngoài 5

1.1.2 Các công trình nghiên cứu trong nước 6

1.2 Những vấn đề lý luận chung về phương pháp nêu vấn đề trong tổ chức dạy học 9

1.2.1 Quan niệm về phương pháp dạy học và phương pháp nêu vấn đề trong dạy học 9

1.2.2 Ưu, nhược điểm của phương pháp nêu vấn đề trong dạy học 13

Trang 6

2.1 Khái quát về Trung tâm Giáo dục Quốc phòng và An Ninh - Đại họcThái Nguyên 222.2 Những kết quả đạt được và nguyên nhân trong sử dụng phương pháp nêu vấn đề vào dạy học học phần: Công tác quốc phòng, an ninh ở Trung tâm Giáo dục Quốc phòng và An Ninh - Đại học Thái Nguyên 242.2.1 Những kết quả đạt được trong sử dụng phương pháp nêu vấn đề vào dạy học học phần: Công tác quốc phòng, an ninh ở Trung tâm Giáo dục Quốc phòng và

An ninh - Đại học Thái Nguyên 24

2.2.2 Nguyên nhân của những kết quả đạt được trong sử dụng phương pháp nêuvấn đề vào dạy học học phần: Công tác quốc phòng, an ninh ở Trung tâm Giáodục Quốc phòng và An Ninh - Đại học Thái Nguyên 382.3 Những hạn chế và nguyên nhân trong sử dụng phương pháp nêu vấn đề vào dạy học học phần: Công tác quốc phòng, an ninh ở Trung tâm Giáo dục Quốc phòng

và An ninh - Đại học Thái Nguyên 40

2.3.1 Những hạn chế trong sử dụng phương pháp nêu vấn đề vào dạy học học phần: Công tác quốc phòng, an ninh ở Trung tâm Giáo dục Quốc phòng và Anninh - Đại học Thái Nguyên 402.3.2 Nguyên nhân của những hạn chế trong sử dụng phương pháp nêu vấn đề vào dạy học học phần: Công tác quốc phòng, an ninh ở Trung tâm Giáo dục Quốc phòng và An ninh - Đại học Thái Nguyên 42

Trang 7

2.4 Sự cần thiết của đổi mới sử dụng phương pháp nêu vấn đề trong dạy học học phần: Công tác quốc phòng, an ninh ở Trung tâm Giáo dục Quốc phòng và An

ninh - Đại học Thái Nguyên hiện nay 43

2.4.1 Đổi mới việc sử dụng phương pháp nêu vấn đề trong dạy học học phần: Công tác quốc phòng, an ninh ở Trung tâm Giáo dục Quốc phòng và An ninh -Đại học Thái Nguyên xuất phát từ cấu trúc chương trình môn học 43

2.4.2 Đổi mới việc sử dụng phương pháp nêu vấn đề trong dạy học học phần: Công tác quốc phòng, an ninh ở Trung tâm Giáo dục Quốc phòng và An ninh -Đại học Thái Nguyên nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học 46

2.4.3 Đổi mới việc sử dụng phương pháp nêu vấn đề trong dạy học học phần: Công tác quốc phòng, an ninh ở Trung tâm Giáo dục Quốc phòng và An ninh -Đại học Thái Nguyên góp phần nâng cao năng lực giảng viên và sinh viên trong quá trình dạy học 48

Kết luận chương 2 50

Chương 3: BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP NÊU VẤN ĐỀ TRONG DẠY HỌC HỌC PHẦN: “CÔNG TÁC QUỐC PHÒNG, AN NINH” Ở TRUNG TÂM GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH - ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN 51

3.1 Nguyên tắc đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng phương pháp nêu vấn đề trong dạy học học phần: Công tác quốc phòng, an ninh ở Trung tâm Giáo dục Quốc phòng và An ninh - Đại học Thái Nguyên 51

3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính khách quan 51

3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 52

3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi và hiệu quả 53

3.2 Biện pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng phương pháp nêu vấn đề trong dạy học học phần: Công tác quốc phòng, an ninh ở Trung tâm Giáo dục Quốc phòng và An ninh - Đại học Thái Nguyên 54

3.2.1 Nâng cao nhận thức cho cán bộ, giảng viên và sinh viên về vai trò của phương pháp nêu vấn đề trong dạy học học phần: Công tác quốc phòng, an ninh ở Trung tâm Giáo dục Quốc phòng và An ninh - Đại học Thái Nguyên 54

Trang 8

3.2.2 Xây dựng quy trình sử dụng phương pháp nêu vấn đề trong dạy học học

phần: Công tác quốc phòng, an ninh theo định hướng năng lực 57

3.2.3 Đổi mới hoạt động kiểm tra, đánh giá nhằm phát huy tính tích cực, sáng tạo của người học 62

3.2.4 Đảm bảo những điều kiện vật chất trong quá trình sử dụng phương pháp nêu vấn đề trong dạy học học học phần: Công tác quốc phòng, an ninh .63

3.3 Thực nghiệm sư phạm 66

3.3.1 Mục đích, nguyên tắc, nội dung, phương pháp và quy trình thực nghiệm 66

3.3.2 Tiêu chí và cách đánh giá kết quả thực nghiệm 67

3.3.3 Giả thuyết thực nghiệm 67

3.3.4 Thời gian, địa điểm, đối tượng thực nghiệm và đối chứng 67

3.4 Quy trình thực nghiệm 68

3.4.1 Thiết kế quy trình thực nghiệm 68

3.4.2 Kết luận thực nghiệm 74

Kết luận chương 3 76

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 77

1 Kết luận 77

2 Kiến nghị 78

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 80 PHỤ LỤC

Trang 9

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

10 GDQP&AN Giáo dục quốc phòng và an ninh

11 GDQP&AN - ĐHTN Giáo dục quốc phòng và an

ninh-Đại học Thái nguyên

vii

Trang 10

dụng phương pháp nêu vấn đề vào dạy học 29Bảng 2.5 Nhận thức của giảng viên về tầm quan trọng của phương pháp nêu

vấn đề 30Bảng 2.6 Đánh giá của giảng viên về thực trạng sử dụng phương pháp nêu vấn

đề vào dạy học 30Bảng 2.7 Những ưu điểm của sử dụng phương pháp nêu vấn đề vào dạy học 31Bảng 2.8 Đánh giá của giảng viên về mức độ cần thiết và tính khả thi của sử

dụng phương pháp nêu vấn đề 32Bảng 2.9 Đánh giá của giảng viên về thái độ học tập của sinh viên trong dạy học

nêu vấn đề 33Bảng 2.10 Đánh giá của giảng viên về những tác động đến hiệu quả sử dụng

phương pháp nêu vấn đề 34Bảng 2.11 Đánh giá của Ban Giám đốc và các phòng, ban chức năng về tầm

quan trọng của phương pháp nêu vấn đề 35Bảng 2.12 Đánh giá của Ban Giám đốc và các phòng, ban chức năng về hiệu quả

của phương pháp nêu vấn đề vào dạy học 36Bảng 3.1 Kết quả kiểm tra 1 tiết lớp thực nghiệm và lớp đối chứng trường Đại

học CNTT&TT Thái nguyên ở Trung tâm GDQP&AN - ĐHTN 69Bảng 3.2 Kết quả kiểm tra 1 tiết lớp thực nghiệm và lớp đối chứng trường Đại

học CNTT&TT Thái nguyên ở Trung tâm GDQP&AN - ĐHTN 71Bảng 3.3 Mức độ hứng thú học tập của sinh viên

73

Bảng 3.4 Mức độ hiểu bài của sinh viên theo phương pháp nêu vấn đề

74

Trang 11

DANH MỤC CÁC HÌNH

Biểu đồ 3.1 Kết quả kiểm tra 1 tiết lớp thực nghiệm và lớp đối chứng 70Biểu đồ 3.2 Kết quả kiểm tra 1 tiết lớp thực nghiệm và lớp đối chứng 72Biểu đồ 3.3 So sánh mức độ hứng thú học tập của sinh viên lớp thực nghiệm và lớp

đối chứng 73

Trang 12

Trên cơ sở quán triệt sâu sắc các chỉ thị, nghị định của Đảng, Chính phủ vềcông tác GDQP&AN, những năm qua, Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) tích cựcphối hợp với Bộ Quốc phòng và các bộ, ngành liên quan triển khai nhiều giải phápđồng bộ nhằm thực hiện tốt công tác GDQP&AN cho học sinh, sinh viên Qua đó,giáo dục thế hệ trẻ nhận thức đúng về quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm đối với sự nghiệpxây dựng và bảo vệ Tổ quốc, góp phần quan trọng hoàn thiện nhân cách con ngườiViệt Nam trong giai đoạn mới Tuy nhiên, việc tổ chức và áp dụng các phương phápdạy học (PPDH) là chưa phù hợp với đặc thù môn học cũng như với đối tượng họcsinh, sinh viên Kết quả là chất lượng GDQP&AN cho học sinh, sinh viên ở một sốnơi còn thấp, nhất là ở các trường trung học phổ thông, trung cấp chuyên nghiệp, dạynghề và một số trường cao đẳng, đại học Vì thế, đổi mới phương pháp giảng dạymôn học GDQP&AN là yêu cầu cấp thiết, quan trọng nhất là trong bối cảnh thế giớihiện nay.

Là Trung tâm Giáo dục quốc phòng và an ninh lớn của khu vực trung du miềnnúi phía Bắc, với nhiệm vụ giáo dục quốc phòng và an ninh cho học sinh, sinh viên

và đào tạo giáo viên quốc phòng an ninh, những năm qua, Trung tâm Giáo dục quốc

Trang 13

phòng và an ninh - Đại học Thái nguyên (GDQP&AN - ĐHTN) đã có nhiều biệnpháp thiết thực, hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo các học phầnGDQP&AN Trong đó, đặc biệt chú trọng đến công tác đổi mới các hoạt động dạyhọc, đổi mới phương pháp giảng dạy Trong thực tế, nhiều phương pháp dạy học tíchcực, phát huy năng lực người học bước đầu được vận dụng vào giảng dạy trong cáchọc phần tại Trung tâm GDQP&AN - ĐHTN Các hội nghị học tốt, dạy tốt cũng đãđược tổ chức thường niên nhằm trao đổi và đẩy mạnh hơn nữa chất lượng dạy và học.Tuy nhiên, ở một số học phần do đặc thù về nội dung và cấu trúc chương trình nênviệc áp dụng các phương pháp tích cực là chưa thực sự hiệu quả

Phương pháp nêu vấn đề (PPNVĐ) là PPDH trong đó giáo viên tạo ra nhữngtình huống có vấn đề (THCVĐ), gợi dẫn người học phát hiện vấn đề, hoạt động tựgiác, tích cực, chủ động, sáng tạo để giải quyết vấn đề và thông qua đó chiếm lĩnh trithức, rèn luyện kĩ năng và đạt được những mục đích học tập khác Với những ưu thếsẵn có, phương pháp này dù đã được sử dụng ở một số học phần trong chương trìnhGDQP&AN Tuy nhiên, theo đánh giá chủ quan việc vận dụng PPDH này vẫn cònnhiều hạn chế, bất cập

Xuất phát từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài “Sử dụng phương pháp nêu vấn đề trong dạy học học phần: “Công tác quốc phòng, an ninh” ở Trung tâm Giáo dục Quốc phòng và an ninh - Đại học Thái Nguyên” làm luận văn tốt nghiệp.

Đề tài mong muốn đi sâu vào việc ứng dụng PPNVĐ với nhiều ưu điểm đã đượccông nhận rộng rãi trên thế giới và có tính khả thi trong việc phát huy tính tích cực,chủ động, sáng tạo của sinh viên nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn GDQP&AN

ở Trung tâm GDQP&AN - ĐHTN hiện nay

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Đề tài nghiên cứu cơ sở lý luận và thực trạng sử dụng PPNVĐ trong dạy họchọc phần: Công tác quốc phòng, an ninh ở Trung tâm GDQP&AN - ĐHTN Từ đó,

đề xuất các biện pháp đổi mới nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng phương pháp này vàodạy học môn GDQP&AN ở Trung tâm GDQP&AN - ĐHTN trong thời gian tới

3 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

- Xây dựng cơ sở lý luận của việc sử dụng PPNVĐ trong dạy học học phần:Công tác quốc phòng, an ninh ở Trung tâm GDQP&AN - ĐHTN

Trang 14

phòng, an ninh ở Trung tâm GDQP&AN - ĐHTN.

- Tiến hành thực nghiệm một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụngPPNVĐ trong dạy học học phần: Công tác quốc phòng, an ninh ở Trung tâmGDQP&AN - ĐHTN

4 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Đối tư ng và hách th nghiên c u:

- Đối tượng nghiên cứu: Việc sử dụng PPNVĐ trong dạy học học phần: Côngtác quốc phòng, an ninh ở Trung tâm GDQP&AN - ĐHTN

- Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học học phần: Công tác quốc phòng,

an ninh ở Trung tâm GDQP&AN - ĐHTN

hạm vi nghiên c u:

Đề tài tập trung nghiên cứu việc sử dụng PPNVĐ trong dạy học học phần: Công tác quốc phòng, an ninh ở Trung tâm GDQP&AN - ĐHTN trong năm học

2018 - 2019 và 2019 - 2020

5 Giả thuyết nghiên cứu

Trong quá trình dạy học, nếu giảng viên xây dựng được các tình huống và quytrình sử dụng PPNVĐ thích hợp với từng bài, từng học phần và sử dụng đúng đắn sẽgiúp sinh viên hứng thú hơn trong học tập Qua quá trình thực hiện PPNVĐ, sinh viên

sẽ phát huy được tính tích cực, chủ động trong nhận thức góp phần nâng cao chấtlượng giáo dục đào tạo môn học GDQP&AN, góp phần giáo dục con người phát triểntoàn diện, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ giáo dục đào tạo trong tình hình hiện nay

6 Phương pháp nghiên cứu của đề tài

* Phương pháp luận

Đề tài dựa trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ ChíMinh; các quan điểm của Đảng về giáo dục - đào tạo Đồng thời, đề tài dựa trên quanđiểm hệ thống - cấu trúc; đối chiếu - so sánh; lôgic - lịch sử, quan điểm thực tiễn làm

cơ sở xem xét và phân tích những vấn đề có liên quan đến vận dụng PPNVĐ vào dạyhọc

Trang 15

* Phương pháp nghiên cứu

Tác giả lựa chọn và sử dụng tổng hợp các phương pháp Nghiên cứu lý thuyết

và thực tiễn sau đây:

- Nhóm nghiên cứu lý thuyết gồm: Phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống

hoá, khái quát hoá các tài liệu lý luận chuyên ngành phương pháp dạy học, liên ngành

và nghiên cứu các tài liệu kinh điển; Các văn kiện, nghị quyết, chỉ thị, quy chế củaĐảng các cấp; Các văn bản pháp luật, chính sách của Đảng, Nhà nước để xây dựng cơ

sở lý luận của vấn đề nghiên cứu

- Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn bao gồm:

+ Quan sát hoạt động dạy học của đội ngũ giảng viên cũng như hoạt động họctập của các đối tượng sinh viên trong Trung tâm

+ Gặp gỡ, trao đổi với 22 giảng viên, cán bộ Khoa Giáo viên và sinh viên đanghọc tập tại trung tâm về vấn đề thực trạng sử dụng PPNVĐ trong môn họcGDQP&AN

+ Trưng cầu ý kiến bằng phiếu hỏi đối với 22 cán bộ, giảng viên bộ mônGDQP&AN và các sinh viên thuộc trung đội 1 và trung đội 4

+ Để đảm bảo tính khách quan của kết quả nghiên cứu tác giả đã sử dụngphương pháp thống kê toán học để phân tích và xử lý các số liệu điều tra

7 Những đóng góp mới của đề tài

- Về lý luận: Đề tài phân tích và hệ thống hóa những vấn đề lý luận chung về

quá trình áp dụng PPNVĐ trong giảng dạy môn GDQP&AN

- Về thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của đề tài là nguồn tư liệu tham khảo cho

các nhà nghiên cứu sư phạm và các giảng viên trực tiếp giảng dạy môn GDQP&ANnói riêng, các môn khoa học quân sự Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung

8 Kết cấu đề tài

Đề tài ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Kiến nghị, Danh mục tài liệu tham khảo

và Phụ lục thì nội dung đề tài gồm có ba chương

Trang 16

NỘI DUNG Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP NÊU VẤN ĐỀ TRONG DẠY HỌC HỌC PHẦN: “CÔNG TÁC QUỐC PHÒNG, AN NINH” Ở TRUNG

TÂM GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH 1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Các công trình nghiên c u nước ngoài

Quan niệm về dạy học nêu vấn đề đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử Ngay từ thời

cổ đại, các nhà tư tưởng như Xocrats, Khổng Tử đã sử dụng nêu vấn đề để nhằm khơigợi ý tưởng cũng như phát huy năng lực phán đoán, lập luận, giải quyết các vấn đềcủa học trò Tuy nhiên, phải đến đầu đầu thế kỷ XX, phương pháp này mới được cácnhà giáo dục sử dụng rộng rãi Điển hình như các nhà sinh vật học A.T.Ghecđơ,B.E.Raicôp; các nhà sử học N.M.Xtaxiulêvit, N.A.Rôgiơcôp; các nhà ngôn ngữ họcX.P.Banlaton, M.A.Rưpnicôva, đã yêu cầu người học phân tích các hiện tượng, cáctình huống có chứa đựng những mâu thuẫn, những trở ngại có thể nảy sinh trong thựctiễn Từ đó, người học tự lực đưa ra hoặc luận bàn về cách thức giải quyết các hiệntượng, các tình huống đã nêu Dù được áp dụng khá phổ biến, song lý thuyết về dạyhọc nêu vấn đề vẫn nhiều hạn chế và chưa đồng nhất

Năm 1968, nhà giáo dục học Ba Lan V.O.Kon từ việc đúc kết quá trình thực

nghiệm dạy học của bản thân, trong công trình: “Những cơ sở của dạy học nêu vấn đề” đã đưa ra nhiều kiến giải, luận điểm có giá trị về phương pháp dạy học nêu vấn

đề nhất là việc tác giả chỉ ra điều kiện để xuất hiện các tình huống có vấn đề trong cácmôn học khác nhau [33]

Nhà giáo dục I.Ia Lecne trong ấn phẩm: "Dạy học nêu vấn đề" trên cơ sở kế

thừa các kết quả của các nhà nghiên cứu trước đó đã lý giải và làm sáng tỏ bản chấtcủa dạy học nêu vấn đề, vạch ra cơ sở, tác dụng và phạm vi áp dụng của phương phápdạy học này [19]

Cuối thập niên 80, đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, nhiều nhà giáo dục học XôViết như M.I Makhơnutốp [23], M.A Đanhilôp, B.P Exicốp A M Machiuskin [1]

đã đặt vấn đề về sự cần thiết phải tích cực hóa hoạt động dạy học Trong đó nhấnmạnh đến việc sử dụng các tình huống có vấn đề trong dạy học nhằm phát huy tư duy

Trang 17

phản biện, năng lực sáng tạo và tính tự giác của học sinh Không những thế, các ông

đã đưa ra quy trình dạy học nêu vấn đề, đưa lý luận về phương pháp dạy học nêu vấn

đề trở thành một trong hệ thống những phương pháp dạy học tích cực phổ biến củathế kỷ XX…

Các công trình nghiên c u trong nước

* Các công trình nghiên cứu về dạy học nêu vấn đề

Trong công trình: Dạy học giải quyết vấn đề - một hướng đổi mới trong công tác giáo dục, đào tạo, huấn luyện”, của hai tác giả: Vũ Văn Tảo, Trần Văn Hà đã nêu

lên những quan niệm, đặc trưng cơ bản của dạy học giải quyết vấn đề Theo các ông,nêu vấn đề chính là việc xây dựng và giải quyết tình huống có vấn đề nảy sinh từ thựctiễn [25]

Hay như tác giả Thái Duy Tuyên đã chỉ ra được những ưu điểm của dạy học nêuvấn đề trong quá trình giáo dục đào tạo ở nhà trường qua công trình nghiên cứu của

mình với nhan đề: Phương pháp dạy học truyền thống và đổi mới” [26].

Tác giả Trần Bá Hoành trong bài viết: Phát triển trí sáng tạo của học sinh và vai trò của giáo viên” cũng đã đề cập đến những nghiên cứu về mặt lý luận cũng như

thực tiễn của việc vận dụng thành công dạy học nêu vấn đề Theo tác giả, Dạy họcnêu vấn đề là kiểu dạy để người học biết sử dụng kiến thức trong tình huống cụ thể,thay vì tham nhồi nhét kiến thức lý thuyết Dạy học nêu và giải quyết vấn đề chútrọng cho học sinh tập trung vận dụng các kiến thức, kĩ năng vào giải quyết các tìnhhuống trong thực tiễn [18]

Tác giả Nguyễn Bá Kim trong cuốn sách: “Phương pháp dạy học nêu vấn đề môn toán học”, trên cơ sở phân tích quá trình dạy học, tác giả đã chỉ ra sự kết hợp của

các phương pháp dạy học tích cực, trong đó nhấn mạnh phương pháp nêu và giải quyếtvấn đề là xây dựng các mẫu bài tập theo giả thuyết có vấn đề từ các bài học cụ thể đểgiúp người học phát huy được những khả năng tư duy độc lập, sáng tạo trong khi học[20]

Nhóm tác giả: Lê Nguyên Long, Nguyễn Đức Thâm, Phạm Hữu Tông trong

cuốn chuyên khảo: Phương pháp dạy học vật lý”, đã khẳng định: thông qua dạy học

nêu vấn đề, người học bằng hoạt động tích cực, tự lực của mình mà chiếm lĩnh kiếnthức, hình thành kỹ năng, phát triển năng lực sáng tạo [21]

Trang 18

Trên cơ sở tiếp cận là vận dụng phương pháp nêu vấn đề vào dạy học cácmôn khoa học Mác - Lênin, tác giả Vũ Quang Hiển và Khuất Thị Thanh Vân đãkhẳng định sự cần thiết phải vận dụng phương pháp nêu vấn đề vào tổ chức dạyhọc các môn Khoa học Mác - Lênin để phát huy tính tích cực, sáng tạo của ngườihọc [17, tr.64-68]; [34, tr43-45]

Từ góc nhìn của những người trực tiếp làm công tác giảng dạy cho sinh viênchuyên ngành Lý luận Chính trị của trường Đại học Sư phạm Hà Nội, tác giả Phùng

Văn Bộ cho rằng: Dạy học nêu vấn đề là phương pháp giảng dạy dùng lời nói hướng sinh viên vào tình huống có vấn đề, nêu vấn đề và tạo những điều kiện cần thiết để giải quyết vấn đề, cuối cùng kiểm tra lại vấn đề đã giải quyết để đi tới kết luận” [3] Tác giả Phan Thị Hồng Vinh thì lại quan niệm: “Dạy học nêu và giải quyết vấn đề là quan điểm, là kiểu dạy học nhằm khắc phục dạy học giáo điều, truyền thụ một chiều Trên cơ sở xây dựng tình huống có vấn đề và hướng dẫn người học giải quyết vấn đề, giáo viên phát triển tư duy biện chứng, tư duy sáng tạo cho người học, hình thành và rèn luyện phẩm chất của người làm công tác khoa học: độc lập, ý chí, sáng tạo” [35].

Ngoài ra, còn rất nhiều bài biết phân tích về ưu, nhược điểm, đặc trưng củaphương pháp nêu vấn đề như các công trình của các tác giả Nguyễn Phúc Chỉnh,Nguyễn Thị Hằng…

* Các công trình về đổi mới tổ chức dạy học học phần “Giáo dục quốc phòng,

Trang 19

tâm và đầu tư hơn nữa đến đổi mới và phát huy vai trò của đội ngũ cán bộ giảng viênquốc phòng và an ninh trong các trường đại học hoặc các Trung tâm giáo dục quốcphòng [7]

Tác giả Cẩm Mai có bài viết với nhan đề: “Giáo dục quốc phòng trong hệ thống trường phổ thông trung học - Vấn đề và giải pháp” đăng trong Tạp chí Quốc phòng

toàn dân, số 3/1999 tập trung làm rõ những hạn chế trong công tác giáo dục quốcphòng ở các trường trung học phổ thông nói chung Từ đó, tác giả đề xuất một số giảipháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác GDQP&AN trong thời gian tới [24]

Hay như các tác giả Nguyễn Nghĩa trong bài viết: “Một số vấn đề nâng cao chất lượng GDQP&AN cho cán bộ, học sinh, sinh viên” [30]; Lê Doãn Thuật trong bài viết: “Giáo dục quốc phòng trong các trường - bốn vấn đề bức xúc cần tháo gỡ từ cơ sở” [29]; Trần Đăng Thanh với bài viết:“Giáo dục lòng yêu nước - một nội dung quan trọng trong giáo dục quốc phòng cho học sinh, sinh viên” [27].… đã đề cập đến

một số vấn đề trọng yếu liên quan đến nội dung, PPDH của giảng viên, phương pháphọc tập môn GDQP&AN cho học sinh, sinh viên ở các nhà trường, các Trung tâm hiệnnay

Ngoài ra, còn phải kể đến một loại các bài viết của các tác giả bàn đến việc nângcao chất lượng và đổi mới phương pháp dạy học môn GDQP&AN ở các đơn vị đặc thùnhư:

Nguyễn Trường Vỹ: Trung tâm Giáo dục quốc phòng Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh - 5 năm xây dựng và phát triển” [36].

Đào Ngọc Dũng: “Trung tâm giáo dục quốc phòng Hà Nội 1 với nhiệm vụ nâng cao chất lượng giáo dục quốc phòng cho sinh viên” [7]…

Tóm lại, các công trình nghiên cứu kể trên đã đề cập đến nhiều khía cạnh khác

nhau của GDQP&AN cho cán bộ, học sinh, sinh viên trong các trường đại học, caođẳng, dạy nghề, trung học chuyên nghiệp và bậc trung học phổ thông Đồng thời, quacông trình, các tác giả cũng đề xuất các giải pháp khác nhau nhằm nâng cao chất lượngGDQP&AN cho học sinh, sinh viên Trong đó, các tác giả cũng đã đề cập đến các góc

độ khác nhau của việc nâng cao chất lượng học tập và bồi dưỡng PPDH mônGDQP&AN cho học sinh, sinh viên ở các nhà trường trong hệ thống giáo dục quốcgia

Trang 20

Dù rất nhiều công trình nghiên cứu về vận dụng PPNVĐ trong dạy học cũngnhư phân tích về vai trò, vị thế; ưu, nhược điểm của GDQP&AN, song chưa có công

Trang 21

* Phương pháp dạy học

Trong PPDH, chủ thể tác động - người thầy giáo và đối tượng tác động của họ

là học sinh Còn học sinh lại là chủ thể tác động của mình vào nội dung dạy học Vìvậy, người thầy giáo phải nắm vững những quy luật khách quan chi phối tác động củamình vào học sinh và nội dung dạy học thì mới đề ra những phương pháp tác độngphù hợp

Trang 22

Vì vậy, cấu trúc của PPDH trước tiên là mục đích của người giáo viên đề ra vàtiến hành một hệ thống hành động với những phương tiện mà họ có Dưới tác động

đó của người giáo viên làm cho người học đề ra mục đích của mình và thực hiện hệthống hành động với phương tiện mà họ có nhằm lĩnh hội nội dung dạy học

Trên cơ sở đó, ta có thể hiểu về PPDH như sau: “Phương pháp dạy học là tổng hợp các cách thức hoạt động, phối hợp thống nhất giữa người dạy và người học nhằm thực hiện mục đích, nhiệm vụ dạy học đặt ra”.

Như vậy, PPDH là hệ thống những hành động có chủ đích theo một trình tự nhấtđịnh của giáo viên nhằm tổ chức hoạt động nhận thức và hoạt động thực hành của họcsinh nhằm đảm bảo cho họ lĩnh hội nội dung dạy học và chính như vậy mà đạt đượcmục đích dạy học PPDH bao gồm phương pháp dạy của giáo viên và phương pháphọc của học sinh có sự tương tác lẫn nhau, trong đó PPNVĐ giữ vai trò chủ đạo, cònphương pháp học có tính chất độc lập tương đối, chịu sự chi phối của phương phápdạy, song nó cũng ảnh hưởng trở lại phương pháp dạy PPDH là tổ hợp những biệnpháp với tư cách là những thành phần cấu trúc của phương pháp dạy học, song việcphân như vậy cũng chỉ có tính chất tương đối

1.2.1.2 Quan niệm về phương pháp nêu vấn đề trong dạy học

* Dạy học nêu vấn đề

Trong lịch sử giáo dục của nhân loại, quan niệm về DHNVĐ đã được đề cập từrất sớm Nhiều nhà giáo dục đánh giá cao tầm quan trọng đặc biệt của DHNVĐ vàcoi đây là một trong những điều kiện cơ bản nhất để nâng cao chất lượng dạy học Cóthể kể đến các học giả sau:

Khổng Tử (551 - 479 Tr.CN) nhà giáo dục vĩ đại của Trung Hoa cổ đại chorằng, việc dạy cần thận trọng, cần quan tâm kích thích, gợi suy nghĩ độc lập, tính tự

Trang 23

lực cho trò; khi trò gặp những vấn đề gì khó khăn, chưa hiểu thì thầy cũng chỉ giảngcho những ý cần thiết thôi Thầy phải buộc trò suy luận, tự làm lấy Ông nhắc nhở:

“Bảo cho một góc, mà không suy ra ba góc kia thì không dạy nữa” Bằng phương

pháp tâm truyền , ông gợi mở học trò rồi yêu cầu trò tự lý giải, tự tìm hiểu lấy chứkhông giảng giải nhiều lời Ông cũng thường đưa học trò vào các tình huống có thểxảy ra trong tự nhiên, trong xã hội và đời sống để dẫn dắt trò tìm ra chân lý [4]

Xôcrát (469 - 390 Tr.CN) nhà giáo dục nổi tiếng của Hy Lạp cổ đại quan niệm:Bản chất giáo dục chỉ là việc đánh thức trong con người những tri thức còn ngái ngủ,dẫn dắt con người vào tình huống có vấn đề, khơi dậy ở học niềm say mê hứng thútích cực, chủ động trong học tập, chứ không phải đem tri thức của mình đặt vào lòngngười khác Ông là người đầu tiên đề ra phương pháp tìm tòi phát hiện chân lý thôngqua cách thức hỏi - đáp giữa người dạy và người học để qua đó hình thành kiến thứcmới; củng cố, khơi sâu kiến thức đã học và kiểm tra việc nắm kiến thức của ngườihọc Sau này, các nhà giáo dục học gọi phương pháp này là phương pháp đỡ đẻXôcrát hay phương pháp đàm thoại nêu vấn đề

Đặc trưng nổi bật của PPNVĐ là người học tự tiếp cận và giải quyết các tìnhhuống có vấn đề, điều này rèn luyện cho sinh viên kỹ năng biết tranh luận để mài sắc

tư duy, bảo vệ các luận điểm khoa học trước sự tấn công của các thế lực thù địch trênmặt trận tư tưởng Đồng thời, cũng là quá trình bồi dưỡng, nâng cao niềm tin vào thế

giới quan khoa học và tình cảm cách mạng cho sinh viên V.I.Lênin chỉ rõ: “Chỉ khi nào bạn học được cách giải quyết vấn đề một cách độc lập thì khi đó bạn mới cho mình đủ vững vàng trong quan điểm của mình và đủ sức bảo vệ nó một cách thành công trước bất kỳ ai và bất kỳ tình huống nào” [32].

Nói về vấn đề này, Hồ Chí Minh yêu cầu: Phải tự nguyện, tự giác xem công táchọc tập cũng là một nhiệm vụ mà người cán bộ cách mạng phải hoàn thành cho được,

do đó mà tích cực, tự động hoàn thành kế hoạch học tập, nêu cao tinh thần chịu khó,

cố gắng không lùi bước trước khó khăn nào trong việc học Phải nêu cao tác phongđộc lập suy nghĩ… Đối với bất cứ vấn đề gì đều phải đặt câu hỏi vì sao? Phải suynghĩ thật chín chắn [16]

Ở Việt Nam, nghiên cứu về DHNVĐ cũng cần kể đến một số các tác giả như:

Nhà nghiên cứu Nguyễn Ngọc Bảo trong cuốn: “Phát triển tính tích cực, tự lực của

Trang 24

học sinh trong quá trình dạy học” đã coi dạy học nêu vấn đề là một phương tiện tích

cực hoá hoạt động học tập của học sinh Tác giả cho rằng, tình huống có vấn đề làtạo cho người học một trạng thái tâm lý hưng phấn (sự rung cảm) muốn chinh phục,tìm tòi một vấn đề đặt ra của thực tiễn cuộc sống Qua đó, tác giả cũng chỉ rõ cáchthức tạo nên tình huống có vấn đề hoặc tạo ra bài tập, các giả thuyết đòi hỏi học sinhphải tìm ra các biện pháp để giải quyết Theo tác giả, nêu vấn đề sẽ kích thích họcsinh buộc phải khái quát sơ bộ sự kiện, gợi mở những hướng nghiên cứu mới chongười học [2]

Hay Tác giả Nguyễn Chính Trung lại cho rằng: Dạy học dựa trên vấn đề là mộtquy trình dạy học được bắt đầu bằng một vấn đề nghề nghiệp (đã xảy ra trong thực tếhoặc mô phỏng giống hệt thực tế) Qua đó, người học phát hiện những thông tin cần có

để có thể hiểu rõ và giải quyết được vấn đề đó [31, tr.14-24].

Trên cơ sở kế thừa những quan điểm của các nhà nghiên cứu, các nhà khoa học

về dạy học nêu vấn đề, có thể khẳng định: Dạy học nêu vấn đề là một trong những phương pháp dạy học tích cực Trong đó, người dạy giữ vai trò là người xây dựng các tình huống có vấn đề; người học giữ vai trò đề xuất và thực hiện các biện pháp giải quyết tình huống đó một cách chủ động, sáng tạo gắn với một chủ đề dạy học nhất định.

Người giảng viên không trình bày tri thức theo một trình tự có sẵn mà có sự sắpxếp lại tài liệu để đặt thành những tình huống có vấn đề, những mâu thuẫn kích thíchngười học phải suy nghĩ, phải tìm tòi hướng giải quyết Qua đó, giúp người học nắmđược các biện pháp của hoạt động nhận thức và lĩnh hội tri thức mới

Bản chất của phương pháp dạy học nêu vấn đề là: trong quá trình học tập, ngườihọc vừa nắm được kiến thức, vừa nắm được phương pháp, tức là trong quá trình học cóyếu tố tự nghiên cứu Người học gặp phải những mâu thuẫn, đó là mâu thuẫn giữanhững kiến thức đã biết với những kiến thức cần nhận thức Chính mâu thuẫn này làmcho người học có ý muốn phải giải quyết vấn đề

Như vậy, học theo vấn đề là cách học được tổ chức khác với cách học truyềnthống Để hoàn thành các nhiệm vụ học tập trong PPNVĐ, người học buộc phải nghiêncứu, khảo sát, phân tích các THCVĐ Vận dụng toàn bộ vốn kiến thức của bản thân đểđưa ra cách giải quyết tình huống phù hợp nhất Qua giải quyết các vấn đề, người học

Trang 25

xác định được mục tiêu, vận dụng và liên hệ được với thực tiễn cuộc sống, rèn luyệnđược nhiều kỹ năng và đánh giá chính xác năng lực của bản thân để tiếp tục bồi đắp vàngày càng hoàn thiện hơn trong thực tiễn hoạt động

* Phương pháp dạy học nêu vấn đề học phần Giáo dục quốc phòng và an ninh.

Cùng với quá trình đẩy mạnh đổi mới toàn diện giáo dục và đào tạo, trongnhững năm vừa qua, lĩnh vực GDQP&AN đã được quan tâm, đầu tư xây dựng cả vềnội dung chương trình cũng như định hướng đổi mới về PPDH Nhiều PPDH tích cựcnhư: phương pháp trực quan, phương pháp dạy học nhóm, phương pháp nghiên cứutrường hợp, phương pháp nêu vấn đề, phương pháp dạy học thực hành,…đã đượcnhiều nhà sư phạm, các chuyên gia giáo dục, các thầy cô giảng dạy bộ mônGDQP&AN áp dụng thường xuyên, phổ biến trên tất cả các cấp học thay cho dạy họcthuyết trình truyền thống như trước đây

Trong các PPDH nêu trên, dù mang nhiều ưu điểm song trên thực tế, việc vậndụng PPNVĐ vào dạy học các nội dung học phần môn GDQP&AN vẫn còn là vấn đềtương đối mới mẻ Do vậy, nghiên cứu và sử dụng phổ biến PPDH này trong dạy họccác nội dung học phần môn GDQP&AN có thể coi là một trong những khâu đột phá,góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn GDQP&AN trong thực tiễn

Xét về tổng thể, nếu các PPDH truyền thống chỉ hướng sinh viên tiếp thu kiếnthức một cách thụ động thì PPNVĐ tạo môi trường kích thích sự chủ động, sáng tạocủa người học trong việc tìm tòi, khám phá tri thức môn học, bài học PPNVĐ giúp

họ không chỉ nắm vững những kiến thức cơ bản mà còn biết vận dụng những tri thức

đó vào thực tiễn một cách linh hoạt

Tựu chung lại, DHNVĐ trong các học phần môn GDQP&AN chính là việc người dạy đưa ra các tình huống hoặc khơi gợi để người học tự phát hiện những tình huống, những vấn đề nảy sinh thuộc lĩnh vực quốc phòng an ninh Trên cơ sở đó, người học chủ động đề xuất các biện pháp, phương án giải quyết tình huống một cách phù hợp, tích cực và sáng tạo Qua đó, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học môn GDQP&AN.

Ưu, như c đi m của phương pháp nêu vấn đề trong dạy học

Thực tiễn giảng dạy cho thấy, không có một PPDH nào là vạn năng, càng khôngthể nào có một PPDH đem lại hiệu quả cao đối với tất cả các môn học Do đó, ngườidạy cần có nhận thức thấu đáo những ưu điểm, nhược điểm của PPNVĐ để từ đó vận

Trang 26

dụng linh hoạt trong từng bài dạy, từng đơn vị kiến thức sao cho phù hợp, đem lại hiệu quả cao nhất

1.2.2.1 Ưu điểm của phương pháp nêu vấn đề trong dạy học.

Trước hết, PPNVĐ cung cấp môi trường sư phạm lý tưởng cho người dạy tổchức hoạt động sư phạm trên lớp PPNVĐ giúp cho sinh viên có thêm hứng thú tronghọc tập, nghiên cứu môn GDQP&AN, phát huy được trí tuệ, tư duy Đồng thời, pháttriển năng lực tự chủ và tự học, biết gắn lí luận với thực tiễn, học đi đôi với hành,khắc phục lối học thuộc lòng câu chữ, thiếu sáng tạo, không phát huy được giá trị củamôn học;

PPNVĐ góp phần định hướng, tạo tiền đề, điều kiện cho sinh viên phát huy tínhchủ động, tích cực, sáng tạo trong nghiên cứu khoa học, hình thành cho sinh viên khảnăng phát hiện và giải quyết vấn đề thực tiễn linh hoạt, hiệu quả;

PPNVĐ hình thành ở người học ý thức tự giác, tinh thần dám nghĩ, dám làm,khắc phục và vượt qua mọi khó khăn, tính tổ chức, kỉ luật, thận trọng

Phương pháp nêu vấn đề không chỉ tạo ra sự hứng thú, yêu thích của sinh viênđối với môn học mà còn góp phần rèn luyện nhiều năng lực như giao tiếp, hợp tác,thuyết trình, lập kế hoạch…

Với lĩnh vực GDQP&AN, PPNVĐ giúp người học có thêm những hiểu biết sâusắc về kiến thức môn quốc phòng và an ninh; về truyền thống đấu tranh chống ngoạixâm trọng lịch sử dựng nước và giữ nước; về ý thức xây dựng và bảo vệ Tổ quốc,chống lại các tư tưởng phản động của các thế lực thù địch trong sự nghiệp cách mạngcủa nước ta, khắc phục tư tưởng thái độ xem thường môn GDQP&AN; phấn đấu xâydựng một nước Việt Nam hùng cường và phát triển

Sử dụng PPNVĐ cũng giúp người giảng viên có ý thức nâng cao kiến thức bộmôn, năng lực nghiệp vụ sư phạm của bản thân để có thể xây dựng và thiết kế kịchbản dạy học vận dụng PPNVĐ thành công, hấp dẫn, mang tính thời sự, góp phầnnâng cao chất lượng dạy học bộ môn trong xu thế hội nhập và phát triển

1.2.2.2 Nhược điểm của phương pháp nêu vấn đề trong dạy học

Bên cạnh nhiều ưu điểm như đã nêu, PPNVĐ cũng tồn tại một số những hạnchế sau:

Thứ nhất, nếu giảng viên quá lạm dụng hoặc sử dụng liên tục, thường xuyên

phương pháp này trong một tiết học mà không có sự phối hợp linh hoạt với cácPPDH khác sẽ dẫn tới sự nhàm chán, đơn điệu trong truyền đạt tri thức Việc lạm

Trang 27

dụng này sẽ khiến sinh viên không còn mấy hứng thú, đam mê trong quá trình giảiquyết các nhiệm vụ học tập mà giảng viên yêu cầu Trong thực tế, thực hiện cácnhiệm vụ học tập của PPNVĐ không phải cá nhân sinh viên nào cũng có khả năngđáp ứng, hoàn thành mà cần có sự hỗ trợ, phối hợp của các thành viên trong nhóm,lớp Tuy nhiên, việc vận dụng nhiều trong một tiết học khiến một bộ phận sinh viênmệt mỏi, không phối hợp dẫn đến tình trạng chỉ một vài hạt nhân tích cực thực hiệndẫn tới việc đánh giá sẽ cho ra kết quả không toàn diện, không chính xác Nếu có sự

cá biệt hóa thì một số sinh viên yếu kém nảy sinh tâm lí sợ học hoặc chán học;

Thứ hai, phương pháp này đòi hỏi giảng viên phải có kinh nghiệm, có năng lực

chuyên môn và am tường những vấn đề thực tiễn liên quan đến bộ môn Việc thiết kếkịch bản dạy học cũng mất nhiều thời gian hơn so với các phương pháp thông thường;

Thứ ba, việc xây dựng tình huống ngoài những yêu cầu về nội dung, về nguyên

tắc thì trong quá trình tổ chức dạy học giảng viên phải sử dụng linh hoạt các liệu phápngôn ngữ, kết hợp với các PPDH khác để kích thích sự say mê, hứng thú của sinhviên nếu không hiệu quả mang lại không cao;

Thứ tư, phương pháp này cũng đặt ra những đòi hỏi nhất định về cơ sở vật chất,

về các phương tiện, trang thiết bị dạy học mới có thể đạt hiệu quả tối ưu

3 Sự cần thiết của việc sử dụng phương pháp nêu vấn đề trong dạy học học phần: “Công tác Quốc phòng và an ninh” ở các Trung tâm Giáo dục Quốc phòng

và An ninh hiện nay

1.2.3.1 Tổng quan về cấu trúc, nội dung chương trình môn Giáo dục Quốc phòng, an ninh

Giáo dục quốc phòng và an ninh (GDQP&AN) được Đảng và Nhà nước ta xácđịnh là một nội dung trong chương trình giáo dục quốc dân; là nội dung cần thiết,quan trọng trong nhiệm vụ xây dựng quốc phòng toàn dân và có ý nghĩa quan trọngtrong chiến lược đào tạo con người mới xã hội chủ nghĩa GDQP&AN góp phần thựchiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam là xây dựng thànhcông chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa

Trong giai đoạn cách mạng hiện nay, nhiệm vụ của GDQP&AN là trang bị chothế hệ trẻ lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội; có những nhận thức đầy đủ về nhữngcông lao, sự nghiệp của các thế hệ cha ông đi trước Từ đó, sẵn sàng tham gia thựchiện nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc Vì vậy, GDQP&AN được xác định là môn học chínhkhóa ở các hệ đào tạo đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp; ở các trường dạynghề, các trường trung học phổ thông trong hệ thống giáo dục quốc dân; các trường

Trang 28

chính trị, hành chính và đoàn thể Về tổng thể chương trình, môn GDQP&AN khôngchỉ đơn thuần là môn học về kỹ thuật quân sự mà là một hệ thống kiến thức tổng hợp

về quốc phòng và an ninh, góp phần trang bị cho người học những kiến thức, kỹ năng

cơ bản nhất về sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc nói chung, về giáo dục về ý thức, tráchnhiệm của người công dân Việt Nam nói riêng Qua đó, rèn luyện phẩm chất, đạo đứcngười lao động mới, đội ngũ chiến sĩ dự bị động viên trong các nhà trường

* Chương trình học cụ thể:

Chương trình GDQP&AN trình độ đại học ban hành theo Thông tư số31/2012/TT-BGDĐT ngày 12/09/2012 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT [28] Chươngtrình được xây dựng trên cơ sở phát triển trình độ của các cấp học, bảo đảm liênthông, logic; thống nhất GDQP&AN trình độ cao đẳng, đại học trong một chươngtrình, với khối lượng kiến thức 8 tín chỉ Mỗi học phần là những khối kiến thức tươngđối độc lập, tiện cho sinh viên tích lũy trong quá trình học tập Trung tâmGDQP&AN - ĐHTN là cơ sở giáo dục quốc phòng và an ninh cho sinh viên cáctrường Đại học, Cao đẳng thuộc đại học Thái Nguyên và các trường liên kết Trongnhững năm qua, đội ngũ học giảng viên của Trung tâm luôn thực hiện tốt nội dungchương trình đào tạo theo quy định về khung chương trình GDQP&AN mà BộGD&ĐT quy định tại thông tư Số: 31/2012/TT-BGDĐT ngày 12 tháng 9 năm

2012 của Bộ GD&ĐT về Ban hành chương trình giáo dục quốc phòng và an ninh,

với thời lượng cụ thể như sau:

1 Học phần I: Đường lối quân sự của Đảng Cộng sản Việt nam

Quan điểm cơ bản của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư

tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh, quân đội và

bảo vệ Tổ quốc

10 10

A3 Xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhândân bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa 7 7

A4 Chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xãhội chủ nghĩa 8 8

A5 Xây dựng lực lượng Vũ trang nhân dân Việt Nam 10 10

A6 Kết hợp phát triển kinh tế, xã hội với tăng cườngquốc phòng, an ninh và đối ngoại 10 10

A7 Nghệ thuật quân sự Việt Nam 10 10

Hướng dẫn thảo luận 5 5

Trang 29

2 Học phần II: Công tác quốc phòng, an ninh

Thời gian (tiết)

Trang 30

lật đổ của các thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam 5 5

Phòng chống địch tiến công hỏa lực bằng vũ khí công

B2

nghệ cao 3 3

Xây dựng lực lượng dân quân tự vệ, lực lượng dự bị

B3

động viên và động viên công nghiệp quốc phòng 4 4

B4 Xây dựng và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia 4 4

Một số nội dung cơ bản về dân tộc, tôn giáo và đấu tranh

B5 phòng chống địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo 3 3

chống phá cách mạng Việt Nam

B6 Những vấn đề cơ bản về bảo vệ an ninh quốc gia và giữgìn trật tự, an toàn xã hội 3 3

B7 Xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ an ninh tổ quốc 2 2

Những vấn đề cơ bản về đấu tranh phòng chống tội

B8

phạm và tệ nạn xã hội 2 2

Hướng dẫn thảo luận 4 4

Cộng 30 tiết 30 tiết

3 Học phần III: Quân sự chung và chiến thuật, ĩ thuật bắn súng ti u liên AK.

C8-1 Từng người trong chiến đấu tiến công 5 1 4C8-2 Từng người trong chiến đấu phòng ngự 5 1 4C9 Kỹ thuật bắn súng tiểu liên AK (CKC)

C9-1 Lý thuyết bắn súng tiểu liên AK, CKC 5 1 4C9-2 Ngắm trúng, ngắm chụm 5 1 4C9-3 Điều kiện bắn bái 1B súng tiểu liên AK, CKC 5 1 4C9-4 Tháo lắp súng thông thường ban ngày 5 5Hướng dẫn luyện tập tổng hợp 5 5

Trang 31

tự, an toàn xã hội, sẵn sàng bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

b) Mục tiêu cụ thể:

- Về kiến thức: Có kiến thức cơ bản về đường lối quân sự của Đảng trong sựnghiệp bảo vệ Tổ quốc; các quan điểm của Đảng về xây dựng nền quốc phòng toàndân, chiến tranh nhân nhân, an ninh nhân dân; đấu tranh, phòng chống chiếnlược diễn biến hòa bình bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch với cách mạng ViệtNam trong tình hình mới

- Về kỹ năng: Thuần thục trong thao tác các kỹ năng quân sự cần thiết, biết sửdụng một số loại vũ khí bộ binh, thành thạo trong sử dụng súng tiểu liên AK (CKC)

- Về thái độ: Rèn luyện phẩm chất, bản lĩnh chính trị vững vàng, yêu nước, yêuCNXH; xây dựng tác phong nhanh nhẹn; hình thành nếp sống có kỷ luật trong sinhhoạt tập thể, ý thức cộng đồng ở trường, lớp và khi ra công tác

3 Hướng dẫn thực hiện chương trình

Căn cứ vào quy chế đào tạo theo hệ thống tín chỉ hiện hành, các trường xâydựng chương trình chi tiết môn học cho phù hợp với quy trình, tiến trình đào tạo vàhình thức tổ chức đào tạo theo học chế, tín chỉ hay niên chế, học phần Thời gian quyđịnh trong chương trình không bao gồm thời gian kiểm tra, thi và tham quan Cáctrường bố trí thời gian kiểm tra, thi, tham quan ngoài thời gian quy định trong chươngtrình, theo quy chế đào tạo hiện hành Sinh viên có đủ số lần kiểm tra cho mỗi họcphần; mỗi lần kiểm tra đạt từ 5 điểm trở lên và có đủ 80% thời gian có mặt trên lớp sẽđược dự thi kết thúc học phần

Trang 32

Phương pháp đánh giá:

+ Tính điểm riêng cho từng học phần

+ Điểm môn học là điểm trung bình cộng của các học phần

+ Xếp loại kết quả môn học theo quy định của Bộ GD&ĐT

1.2.3.2 Tầm quan trọng của s dụng phương pháp nêu vấn đề vào dạy học học phần:

“Công tác Quốc phòng và an ninh” ở các Trung tâm Giáo dục Quốc phòng&An ninh hiện nay

Trong giai đoạn hiện nay, sự bùng nổ thông tin toàn cầu của cuộc cách mạngkhoa học công nghệ hiện đại đã tác động mạnh mẽ tới đời sống xã hội Việt Nam trêntất cả các lĩnh vực, trong đó phải kể đến GD&ĐT Chính vì vậy, GD&ĐT nói chung,giáo dục đại học nói riêng phải đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng tích cực,nhằm phát huy vai trò của người học, lấy người học làm trung tâm trong quá trìnhđào tạo, đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn xã hội ta hiện nay, mục tiêu GD&ĐT khôngchỉ tạo ra những nhà khoa học giỏi về tri thức chuyên môn mà còn trang bị cho họphương pháp giải quyết vấn đề một cách tích cực, chủ động, hiệu quả cao nhất Điều

đó, cần được thực hiện ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường, để sau này khi racuộc sống sinh viên sẽ có năng lực làm chủ, tự tin, có bản lĩnh, chủ động trước nhữngvấn đề, thách thức của cuộc sống và nghề nghiệp đặt ra

Thực tiễn giáo dục trước kia ở nước ta cho thấy, phương pháp truyền thống cónhiều ưu điểm như: Khắc phục được tình trạng khan hiếm về tài liệu, giáo trình tronggiảng dạy; người học không cần mất nhiều thời gian đã có thể lĩnh hội đầy đủ lượngthông tin cần thiết do người dạy cung cấp; Không cần trang bị các nhiều các phươngtiện, thiết bị dạy học Tuy nhiên, phương pháp thuyết trình dễ làm người học rơi vàothế thụ động, ỷ lại vào hoàn cảnh, làm người học thiếu tự tin khi gặp phải những vấn

đề cần phải giải quyết liên quan đến chuyên môn và cuộc sống của họ

Để khắc phục những hạn chế trên, một trong những giải pháp cơ bản là ngườidạy phải đổi mới phương pháp, kỹ thuật dạy học Với đặc thù của bộ mônGDQP&AN, trong nhiều phương pháp dạy học tích cực thì PPNVĐ có nhiều ưu thếhơn cả Trong thực tế, nhiều sinh viên có tâm lí cho rằng môn GDQP&AN là mônhọc khô khan, khó hiểu, ít có giá trị thực tiễn, không liên quan đến chuyên môn

Trang 33

chuyên ngành Sở dĩ có quan niệm như vậy, một phần do hoàn cảnh thực tiễn lịch sửmang lại, phần khác xuất phát từ chính việc giảng dạy bộ môn của một bộ phận cán

bộ, giảng viên chuyên trách

Qua điều tra thực tế, phần lớn giảng viên dạy môn GDQP&AN đều chủ yếu sửdụng phương pháp thuyết trình Chỉ có một số ít giảng viên có vận dụng một vàiphương pháp khác, song không vận dụng thường xuyên, liên tục Điều này đã khiếnsinh viên xuất hiện tâm lí chán học, học cho xong, học để qua Hơn nữa, do thờilượng trên lớp không nhiều, số lượng sinh viên đông nên người học không có cơ hộibộc lộ những trăn trở, suy nghĩ của mình về những tri thức của bài giảng, càng ít có

cơ hội trao đổi với giảng viên những mong muốn, kỳ vọng của bản thân nhất là vềphương pháp dạy học của các thầy cô Vì vậy, phần đa sinh viên đều có tâm lý,GDQP&AN chỉ là môn học điều kiện, ít giá trị thực tiễn, môn học vô bổ, không cầnthiết nhất là trong thời bình như hiện nay Thậm chí một số khác còn bỏ học, khôngtham gia học thường xuyên nên phải thi lại và học lại nhiều lần

Để thay đổi nhận thức của người học về ý nghĩa, vai trò của bộ mônGDQP&AN không phải là điều dễ dàng Phải có sự cộng hưởng từ nhiều lực lượnggiáo dục Tuy nhiên, việc trước mắt để khiến người học yêu thích và có ý thức tronghọc tập bộ môn phải được bắt đầu từ sự nỗ lực của đội ngũ giảng viên trực tiếp đứnglớp Muốn phát huy được tính chủ động, sáng tạo, tính tích cực học tập của sinh viên

thì điều đầu tiên người giảng viên biến môn học từ trạng thái tĩnh sang trạng thái động Giảng viên phải không ngừng trau dồi về cả kiến thức lẫn năng lực, nghiệp

vụ sư phạm; phải thường xuyên cập nhật, không ngừng tiếp thu tri thức mới; phải vậndụng linh hoạt các PPDH kết hợp với đặc thù bộ môn trong tổ chức dạy học Có nhưvậy, mới kích thích được tính chủ động, tích cực, sáng tạo của người học, biến giờhọc trên lớp thành một buổi đối thoại, giao lưu tri thức giữa người dạy và người học;xây dựng lớp thành môi trường thuận lợi để sinh viên có điều kiện tham gia ý kiến,trình bày tham luận, thuyết trình những vấn đề mà mình trăn trở trong thực tiễn đangphải đối mặt Giảng viên GDQP&AN phải thực sự là người giữ vai trò dẫn dắt, địnhhướng, là người truyền lửa giúp sinh viên có thể tự rèn luyện năng lực tư duy, sángtạo; thói quen tự học, tự tìm hiểu để phát triển bản thân

Trang 34

Kết luận chương 1

Nêu vấn đề là phương pháp dạy học xuất hiện từ lâu trong lịch sử và cũng làmột trong những phương pháp tích cực được nhiều nhà khoa học, nhiều nhà giáo dụctrên thế giới nghiên cứu, vận dụng và phát triển ở nhiều khía cạnh khác nhau Chođến thời điểm hiện nay, PPNVĐ đã được áp dụng phổ biến ở mọi lĩnh vực, chuyênngành dạy học

Ở Việt Nam trong một vài thập kỷ trở lại đây, cũng đã có nhà nghiên cứu, nhiềuhọc giả, nhiều nhà sư phạm quan tâm nghiên cứu, vận dụng PPNVĐ vào thực tiễn vàcũng có những đánh giá cao về hiệu quả sử dụng phương pháp này trong thực tế.Trên nhiều diễn đàn giáo dục, phương pháp này cũng đã trở thành một trong những

đề tài được luận bàn sôi nổi và cũng được các tác giả đề xuất nhiều biện pháp nhằmnâng cao hiệu quả vận dụng trong thực tiễn

Là phương pháp dạy học tích cực, trong đó người dạy tổ chức nội dung bài họcthông qua các tình huống có vấn đề để giúp cho người học tham gia giải quyết tìnhhuống có vấn đề, hình thành cho các em những kiến thức, kỹ năng cần thiết như: kỹnăng làm việc nhóm, kỹ năng trình bày trước đám đông, kỹ năng giao tiếp…phù hợpvới mục tiêu dạy học hiện đại lấy người học làm trung tâm, lý luận gắn liền với thựctiễn, học đi đôi với hành Vì vậy, PPNVĐ có vai trò quan trọng trong phát huy nhữngnăng lực của người học nói chung, của sinh viên học tập môn GDQP&AN nói riêng.Tuy nhiên, chưa có công trình nào trực tiếp nghiên cứu về việc vận dụng PPNVĐ vàodạy học môn GDQP&AN ở Trung tâm GDQP&AN - ĐHTN

Trang 35

Chương 2 THỰC TRẠNG SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP NÊU VẤN ĐỀ TRONG DẠY HỌC HỌC PHẦN: “CÔNG TÁC QUỐC PHÒNG, AN NINH”

Ở TRUNG TÂM GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH

-ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

2.1 Khái quát về Trung tâm Giáo dục Quốc phòng và An Ninh - Đại học Thái Nguyên

Trung tâm Giáo dục Quốc phòng Thái Nguyên được thành lập theo Quyết địnhsố: 2963/QĐ-TCCB ngày 17/12/1992 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Ngày 15/02/2017Trung tâm được đổi tên thành Trung tâm Giáo dục Quốc phòng và an ninh - Đại họcThái Nguyên Quyết định số 437/QĐ-BGDĐT ngày 15/02/2017 của Bộ GD&ĐT Làmột trong những trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh được thành lập đầu tiêntrong cả nước, trải qua hơn 28 năm xây dựng và phát triển, Trung tâm GDQP&AN-ĐHTN ngày càng khẳng định được vị thế, vai trò của mình trong sự nghiệp giáo dụcquốc phòng, an ninh nói riêng và trong sự nghiệp giáo dục đào tạo trên địa bàn cáctỉnh trung du miền núi phía Bắc và cả nước nói chung

Để có được kết quả và thành tích như hiện nay, Trung tâm đã trải qua quá trìnhphấn đấu không ngừng của các thế hệ lãnh đạo, đội ngũ cán bộ chuyên trách và cácthầy cô giáo trong gần 3 thập kỷ Năm 1994, Đại học Thái Nguyên được thành lậptrên cơ sở hợp nhất 5 trường: Trường Đại học Sư phạm Việt Bắc, Trường Đại học Ykhoa Việt Bắc, Trường Đại học cơ điện Việt Bắc, Trường Đại học Nông nghiệp 3 -Bắc Thái và Trường Công nhân Cơ điện - Bắc Thái Cùng với đó, Trung tâmGDQP&AN- ĐHTN được thành lập, là sự hợp nhất của Trung tâm Giáo dục quốcphòng thành phố Thái Nguyên với Bộ môn Giáo dục Quốc phòng - Trường Đại học

Sư phạm Việt Bắc và các Bộ môn quân sự thuộc các trường đại học nêu trên Banđầu, bộ máy cốt cán và giảng viên tại trung tâm bao gồm các sĩ quan biệt phái do Bộchỉ huy quân sự tỉnh Thái Nguyên điều động và trực tiếp quản lý Trụ sở đầu tiên củaTrung tâm đặt tại Khu B của trường Đại học Sư phạm Việt Bắc (Cao đẳng Sư phạmViệt Bắc cũ) Năm 1996, Trung tâm GDQP&AN - ĐHTN chuyển địa điểm vềTrường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp và cũng là đơn vị trực thuộc Trường Đại học

Kỹ thuật Công nghiệp Thái Nguyên

Trang 36

Tháng 5 năm 2008 trước yêu cầu, nhiệm vụ mới, Trung tâm di chuyển về địađiểm mới tại xóm Nước Hai, xã Quyết Thắng, TP Thái Nguyên và được Nhà nước đầu

tư xây dựng theo Quyết định số 07/2003/QĐ-TTg ngày 09 tháng 01 năm 2003 của Thủtướng Chính phủ về việc quy hoạch các Trung tâm GDQP&AN giai đoạn 2001 - 2010.Ngày 15/02/2017, Bộ Giáo dục và Đào tạo ra Quyết định số 437/QĐ-BGDĐTđổi tên Trung tâm Giáo dục Quốc phòng Thái Nguyên thành Trung tâm Giáo dục quốcphòng và an ninh - Đại học Thái Nguyên

Hiện nay, Trung tâm GDQP&AN - ĐHTN đã cơ bản ổn định về tổ chức, biênchế Hiện tại, cơ cấu tổ chức của Trung tâm được xây dựng gồm: Ban Giám đốc,Phòng chức năng (Phòng Kế hoạch, Tổng hợp; Phòng Đào Tạo, Quản lý người học),Khoa Giáo viên Cùng với việc kiện toàn tổ chức, Trung tâm chú trọng tăng cườngcông tác bồi dưỡng, nâng cao trình độ và từng bước chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, giảngviên

Đội ngũ giảng viên tại Trung tâm chủ yếu được tuyển dụng từ hai nguồn: độingũ sỹ quan trong quân đội được Quân khu I biệt phái sang đảm nhiệm công tácgiảng dạy, quản lý Đây là những cán bộ có trách nhiệm, nhiệt tình, tâm huyết vớinghề và có kinh nghiệm trong huấn luyện, giảng dạy tại các đơn vị, nhà trường trongquân đội, đã trải qua các đơn vị chủ lực nên có nhiều kinh nghiệm thực tiễn tronggiảng dạy, quản lý; Nhóm thứ hai là đội ngũ giảng viên được đào tạo chuyên ngànhGiáo dục quốc phòng, an ninh từ các trường đại học trong toàn quốc Phần đa, nhómgiảng viên này đều những giảng viên có tuổi đời còn trẻ, có năng lực, phẩm chất đạođức tốt đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cả trước mắt và lâu dài

Đối với các môn học, nhà trường đều tổ chức các giờ bình giảng, trong đó mônchính trị là 12 giờ/năm; môn quân sự là 18 giờ/năm Thông qua những buổi bìnhgiảng, các cán bộ giảng viên trong Khoa có thể thẳng thắn, nhìn nhận chỉ ra nhữngmặt mạnh, mặt yếu của từng giảng viên để từ đó rút kinh nghiệm chung cho toàngiảng viên, trong đó đặc biệt chú ý đối với những giảng viên mới về tham gia giảngdạy

Ngoài chiến lược phát triển đội ngũ, trong những năm gần đây, điều kiện cơ sởvật chất - hạ tầng của trung tâm cũng được quan tâm đầu tư xây dựng đồng bộ cả vềdoanh trại, thao trường, bãi tập với các trang thiết bị phục vụ cho việc dạy và học Có

Trang 37

thể kể đến các công trình như: Nhà điều hành chung; Hệ thống giảng đường, phònghọc chuyên sâu, phòng máy tính, thư viện, hội trường, ký túc xá SV; Khu thao trường

Trang 38

kỹ chiến thuật, Nhà kho quân khí, quân trang; Sân vận động với diện tích đất sửdụng là: 15,5327 ha Với những lợi thế cả về nhân lực và tài lực, trung tâm có đủ khảnăng tiếp nhận, tổ chức dạy học môn GDQP&AN cho khoảng 1.700 SV mỗi khóa.Với vai trò là cơ sở giáo dục quốc phòng của Đại học vùng, trong những nămqua, Trung tâm GDQP&AN - ĐHTN đã đạt được nhiều kết quả to lớn Từ nhữngthành tích vượt bậc, trung tâm đã được Đảng, Nhà nước tặng Huân chương bảo vệ Tổquốc hạng nhì và hạng ba; Thủ tướng chính phủ tặng bằng khen; được Bộ Giáo dục &Đào tạo, UBND tỉnh Thái Nguyên, Tư lệnh Quân khu 1 tặng nhiều Bằng khen chocác tập thể và cá nhân đã có thành tích xuất sắc trong công tác Giáo dục quốc phòng,

an ninh

Để có được những thành tích đó, trong hơn 28 năm xây dựng và phát triển,ngoài sự cố gắng, nỗ lực của tập thể đơn vị, đội ngũ cán bộ, viên chức, người laođộng trong phát huy tốt bản chất truyền thống Quân đội, quyết tâm vượt qua nhữngkhó khăn để từng bước xây dựng, ổn định cơ sở vật chất bảo đảm cho quá trình hoạtđộng tổ chức thực hiện thắng lợi nhiệm vụ giáo dục quốc phòng, trung tâm đã được

sự quan tâm, đầu tư cả về vật chất lẫn đội ngũ cán bộ của cả Đảng ủy, Ban Giám đốcĐại học Thái Nguyên; của Ban chỉ huy Quân khu 1 và sự quan tâm tạo điều kiện củacác trường Đại học thành viên, của hệ thống chính trị thành phố, tỉnh Thái Nguyên

Với triết lý giáo dục "Kiến tạo giá trị theo Tiếp cận tri thức và Rèn luyện kỷ luật",

Trung tâm GDQP&AN- ĐHTN cam kết xây dựng một môi trường giáo dục lànhmạnh và có chất lượng, là địa chỉ tin cậy về GDQP&AN trong cả nước, ở đây sinhviên được trang bị đầy đủ kiến thức, kỹ năng về quốc phòng và an ninh, được rèn luyệntrong môi trường có tính kỷ luật cao

2.2 Những kết quả đạt được và nguyên nhân trong sử dụng phương pháp nêu vấn đề vào dạy học học phần: “Công tác quốc phòng, an ninh” ở Trung tâm Giáo dục Quốc phòng và An Ninh - Đại học Thái Nguyên

2.2.1 Những ết quả đạt đư c trong sử dụng phương pháp nêu vấn đề vào dạy học học phần: “Công tác quốc phòng, an ninh” ở Trung tâm Giáo dục Quốc phòng và

An ninh - Đại học Thái Nguyên

Để tìm hiểu sâu hơn thực trạng của việc sử dụng PPNVĐ trong tổ chức dạy họchọc phần: Công tác quốc phòng, an ninh tại Trung tâm GDQP&AN - ĐHTN, tác

Trang 39

giả đã tiến hành điều tra khảo sát ở 3 nhóm đối tượng sinh viên thuộc các trường: Đạihọc Công nghệ Thông tin và Truyền thông Thái Nguyên (CNTT&TT), Đại học Sưphạm Thái Nguyên, Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh Thái Nguyên(KT&QTKD) trong năm học 2019 - 2020 với quy trình sau:

1 Mục đích khảo sát:

Khảo sát sát nhằm thu thập số liệu để đánh giá thực trạng sử dụng PPNVĐ trongdạy học học phần: Công tác quốc phòng, an ninh ở Trung tâm GDQP&AN -ĐHTN một cách khách quan Từ đó, có đủ cơ sở thực tiễn đề xuất các biện phápnhằm góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng PPNVĐ vào dạy học ở Trung tâmGDQP&AN - ĐHTN thời gian tới

2 Nội dung khảo sát:

a Đối với sinh viên:

- Mức độ nhận thức của sinh viên về tầm quan trọng của sử dụng phương phápnêu vấn đề vào trong dạy học

- Mức độ nhận thức của sinh viên về mục tiêu tổ chức dạy học nêu vấn đề

- Mức độ tham gia của sinh viên trong quá trình dạy học nêu vấn đề

- Mức độ yêu thích của sinh viên và hiệu quả của hình thức tổ chức dạy học nêuvấn đề đem lại

b Đối với giảng viên

- Mức độ nhận thức của giảng viên về tầm quan trọng của dạy học nêu vấn đề

- Đánh giá của giảng viên về thực trạng sử dụng PPNVĐ trong dạy học

- Đánh giá của giảng viên về những ưu điểm trong sử dụng PPNVĐ vào dạy học

- Đánh giá của giảng viên về mức độ cần thiết và tính khả thi của sử dụngphương pháp nêu vấn đề

- Đánh giá của giảng viên về thái độ học tập của sinh viên vào dạy học nêu vấn đề

- Đánh giá của giảng viên về những tác động đến hiệu quả sử dụng PPNVĐ

c Đối với Ban Giám đốc trung tâm (BGĐTT)

- Đánh giá của BGĐTT về tầm quan trọng của phương pháp nêu vấn đề

- Đánh giá của BGĐTT về hiệu quả của phương pháp nêu vấn đề

Trang 40

3 Đối tượng, địa bàn khảo sát:

Khảo sát thực trạng sử dụng PPNVĐ trong dạy học học phần: Công tác quốcphòng, an ninh ở Trung tâm GDQP&AN - ĐHTN với tổng số 350 phiếu, trong đó:

- Ban Giám đốc và các phòng, ban chức năng: 20 phiếu

- Giảng viên đứng lớp: 30 phiếu

- Sinh viên Đại học Công nghệ Thông tin và Truyền thông Thái Nguyên: 100 phiếu

- Sinh viên Đại học Sư Phạm Thái Nguyên: 100 phiếu

- Sinh viên Đại học Kinh tế và Quản Trị Kinh Doanh Thái Nguyên: 100 phiếu

4 Phương pháp điều tra, khảo sát:

Để tiến hành khảo sát thực trạng, chúng tôi sử dụng phương pháp phỏng vấn,phương pháp quan sát, phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi với 3 mẫu phiếu gắn với

3 đối tượng

5 Thời gian khảo sát:

Năm học 2019 - 2020

6 Kết quả khảo sát:

* Đối với sinh viên:

- Nhận thức của sinh viên về tầm quan trọng của s dụng phương pháp nêu vấn

đề vào trong dạy học.

Để tìm hiểu mức độ nhận thức của sinh viên về tầm quan trọng của sử dụngPPNVĐ vào trong dạy học, chúng tôi sử dụng câu hỏi 1 ở phụ lục 2 gồm 4 phương ánchọn tương ứng với 4 mức độ thể hiện tầm quan trọng của việc sử dụng PPNVĐ vàotrong dạy học học phần: Công tác quốc phòng, an ninh cho sinh viên Kết quả thuđược qua bảng thống kê 2.1 tính theo tỉ lệ % như sau:

Bảng 2.1 Nhận thức của sinh viên về tầm quan trọng của phương pháp

nêu vấn đề STT Các mức độ Kết quả (số phiếu) Tỷ lệ (%)

Ngày đăng: 09/04/2021, 11:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. A.M.Machiuskin (1976), Tình huống có vấn đề trong tư duy và trong dạy học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình huống có vấn đề trong tư duy và trong dạy học
Tác giả: A.M.Machiuskin
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1976
2. Nguyễn Ngọc Bảo (1995), Phát triển tính tích cực, tính tự lực cho học sinh trong quá trình dạy học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển tính tích cực, tính tự lực cho học sinhtrong quá trình dạy học
Tác giả: Nguyễn Ngọc Bảo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1995
3. Phùng Văn Bộ (2001), Một số vấn đề phương pháp giảng dạy nghiên cứu triết học”, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề phương pháp giảng dạy nghiên cứu triếthọc”
Tác giả: Phùng Văn Bộ
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
5. Cađan. InK-Babansky (1983), Giáo dục học, Nxb Tiến Bộ Matxcơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học
Tác giả: Cađan. InK-Babansky
Nhà XB: Nxb Tiến Bộ Matxcơva
Năm: 1983
6. Nguyễn Phúc Chỉnh, Nguyễn Thị Hằng (2013), Một số vấn đề chung về dạy học theo vấn đề , Tạp chí Giáo dục, tháng 5/2013, Số 309, tr.32-33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Giáo dục
Tác giả: Nguyễn Phúc Chỉnh, Nguyễn Thị Hằng
Năm: 2013
7. Nguyễn Thị Doan (1998), Trường đại học với nhiệm vụ giáo dục quốc phòng , Tạp chí Quốc phòng toàn dân, 12/1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Quốc phòng toàn dân
Tác giả: Nguyễn Thị Doan
Năm: 1998
8. Đào Ngọc Dũng (2002), Trung tâm giáo dục quốc phòng Hà Nội 1 với nhiệm vụ nâng cao chất lượng giáo dục quốc phòng cho sinh viên , Tạp chí Quốc phòng toàn dân, số 6/2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Quốcphòng toàn dân
Tác giả: Đào Ngọc Dũng
Năm: 2002
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Nghị quyết Hội nghị lần thứ II Ban chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Hội nghị lần thứ II Ban chấp hànhTrung ương khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1996
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứIX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2006
12. Đảng cộng sản Việt Nam (2007), Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 BCHTW Đảng khóa X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 BCHTW Đảngkhóa X, Nxb Chính trị quốc gia
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2007
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứXI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2011
15. Giáo trình GDQP-AN (Bộ GD&ĐT) tái bản năm 2014. Dùng cho sinh viên các trường đại học và cao đẳng (tập 1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình GDQP-AN (Bộ GD&ĐT) tái bản năm 2014
16. Đào Thanh Hải - Minh Tiến (2005), Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục
Tác giả: Đào Thanh Hải - Minh Tiến
Nhà XB: NxbLao động
Năm: 2005
17. Vũ Quang Hiển (2007), Tạp chí Lịch s Đảng, Số 1, tr.64-68 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Lịch s Đảng
Tác giả: Vũ Quang Hiển
Năm: 2007
18. Trần Bá Hoành (1999), Phát triển trí sáng tạo của học sinh và vai trò của giáo viên , Tạp chí giáo dục, số 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí giáo dục
Tác giả: Trần Bá Hoành
Năm: 1999
19. I. Ia. Lecne (1997), Dạy học nêu vấn đề, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học nêu vấn đề
Tác giả: I. Ia. Lecne
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1997
20. Nguyễn Bá Kim (2001), Phương pháp dạy học nêu vấn đề môn toán học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học nêu vấn đề môn toán học
Tác giả: Nguyễn Bá Kim
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2001
21. Lê Nguyên Long, Nguyễn Đức Thâm, Phạm Hữu Tông (2002), Phương pháp dạy học vật lý, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương phápdạy học vật lý
Tác giả: Lê Nguyên Long, Nguyễn Đức Thâm, Phạm Hữu Tông
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2002
23. M.I.Makhơnutốp (1972), Lý luận và thực hành dạy học nêu vấn đề, Nxb Tiến Bộ Matxcơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và thực hành dạy học nêu vấn đề
Tác giả: M.I.Makhơnutốp
Nhà XB: Nxb TiếnBộ Matxcơva
Năm: 1972

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w