1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực hiện chính sách về chính sách pháp luật về thi hành dân chủ cơ sở ở vùng dân tộc thiểu số tại tỉnh quảng ninh

68 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 653,08 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực hiện chính sách pháp luật dân chủ ở cơ sở vùng dân tộc thiểu số a Pháp luật về dân chủ cơ sở Pháp luật về dân chủ là những quy tắc xử sự do Nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện

Trang 1

BỘ NỘI VỤ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI

NGUYỄN VĂN ĐÔNG

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT VỀ THI HÀNH DÂN CHỦ CƠ SỞ Ở VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ

TẠI TỈNH QUẢNG NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG CHUYÊN NGÀNH : CHÍNH SÁCH CÔNG

HÀ NỘI - 2021

Trang 2

BỘ NỘI VỤ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI

NGUYỄN VĂN ĐÔNG

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT VỀ THI HÀNH DÂN CHỦ CƠ SỞ Ở VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ

TẠI TỈNH QUẢNG NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG CHUYÊN NGÀNH : CHÍNH SÁCH CÔNG

MÃ SỐ: 8340402

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS ĐỖ THỊ THANH NGA

HÀ NỘI - 2021

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, Luận văn thạc sĩ Chính sách công với đề tài “Thực hiện chính sách về chính sách pháp luật về thi hành dân chủ cơ sở ở vùng dân tộc thiểu số tại tỉnh Quảng Ninh” là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Luận văn dựa trên quan điểm cá nhân của tác giả, trên cơ sở nghiên cứu lý luận, tổng hợp thực tiễn với sự hướng dẫn khoa học của thầy Tiến sĩ Đỗ Thị Thanh Nga

Các kết luận, tư liệu trình bày trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng Tác giả xin chịu trách nhiệm về công trình nghiên cứu khoa học của mình

Hà Nội, ngày….tháng….năm 2021

Tác giả

Nguyễn Văn Đông

Trang 4

Trong quá trình học tập, triển khai nghiên cứu đề tài và những gì đạt được hôm nay, tôi không thể quên được công lao giảng dạy và hướng dẫn của quý thầy, cô giảng viên khoa Khoa học chính trị, trường Đại học Nội vụ Hà Nội

Trong quá trình nghiên cứu, do trình độ, năng lực, kinh nghiệm còn hạn chế, thời gian nghiên cứu không nhiều, bởi vậy Luận văn còn những thiếu sót Kính mong các thầy cô giáo, các nhà quản lý, các nhà khoa học đóng góp để Luận văn được hoàn chỉnh hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Trang 5

DANH MỤC TÀI LIỆU VIẾT TẮT

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu luận văn 5

6 Đóng góp của luận văn 5

7 Kết cấu của luận văn 5

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT 6

VỀ DÂN CHỦ CƠ SỞ Ở VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ 6

1.1 Một số khái niệm 6

1.1.1 Dân chủ và thực hiện dân chủ cơ sở 6

1.1.2 Khái niệm dân tộc thiểu số, vùng dân tộc thiểu số 7

1.1.3 Thực hiện chính sách pháp luật dân chủ ở cơ sở vùng dân tộc thiểu số 8

1.2 Thực hiện chính sách chính sách pháp luật dân chủ cơ sở ở vùng dân tộc thiểu số 9

1.2.1 Quan điểm thực hiện chính sách pháp luật về dân chủ cơ sở ở vùng dân tộc thiểu số 9

1.2.2 Hình thức, nội dung và các tiêu chí đánh giá thực hiện chính sách pháp luật dân chủ cơ sở ở vùng dân tộc thiểu số 13

1.3 Nội dung pháp luật điều chỉnh về thực hiện dân chủ cơ sở 17

1.4 Vai trò của chính sách pháp luật về thực hiện dân chủ cơ sở 19

1.5 Những yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách pháp luật về dân chủ cơ sở ở vùng dân tộc thiểu số 20

1.5.1 Yếu tố kinh tế, chính trị 20

1.5.2 Yếu tố lịch sử, văn hóa 21

1.5.3 Quốc phòng và an ninh 22

1.5.4 Trình độ, năng lực lãnh đạo, quản lý điều hành của đội ngũ cán bộ 22

1.5.5 Chính sách, chế độ đối với đội ngũ cán bộ, công chức 22

1.6 Ý nghĩa của việc thực hiện chính sách pháp luật về dân chủ cơ sở ở vùng dân tộc thiểu số ở nước ta 23

1.6.1 Thực hiện chính sách pháp luật về dân chủ cơ sở góp phần mở rộng dân chủ, đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân vùng dân tộc thiểu số 23

1.6.2 Thực hiện chính sách pháp luật về dân chủ cơ sở thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội và bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số 23

Trang 7

Tiểu kết Chương 1 24

Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT VỀ DÂN CHỦ CƠ SỞ Ở VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở TỈNH QUẢNG NINH 25

2.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên và tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Ninh 25

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 25

2.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội 26

2.2 Phân tích thực hiện dân tộc thiểu số và thực hiện chính sách dân tộc trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh 26

2.2.1 Tình hình dân tộc thiểu số ở tỉnh Quảng Ninh 26

2.2.2 Phân tích thực hiện chính sách dân tộc trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh 27

2.3 Phân tích thực hiện chính sách pháp luật về dân chủ cơ sở ở vùng dân tộc thiểu số tỉnh Quảng Ninh 30

2.3.1 Tình hình chung trên địa bàn tỉnh 30

2.3.2 Phân tích thực hiện chính sách pháp luật về dân chủ cơ sở ở vùng dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh 33

2.4 Đánh giá chung về thực hiện chính sách pháp luật về dân chủ cơ sở ở vùng dân tộc thiểu số ở tỉnh Quảng Ninh 44

2.3.1 Những ưu điểm và nguyên nhân 44

2.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân 46

Tiểu kết Chương 2 48

Chương 3 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT VỀ DÂN CHỦ CƠ SỞ Ở VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ 49

Ở TỈNH QUẢNG NINH HIỆN NAY 49

3.1 Quan điểm thực hiện chính sách pháp luật về dân chủ cơ sở ở vùng dân tộc thiểu số ở tỉnh Quảng Ninh 49

3.1.1 Thực hiện tốt chính sách pháp luật dân chủ cơ sở để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân vùng dân tộc thiểu số 49

3.1.2 Thực hiện tốt chính sách pháp luật dân chủ cơ sở tạo nên sự đồng thuận, tăng cường sự đoàn kết của nhân dân vùng dân tộc thiểu số 49

3.1.3 Thực hiện tốt chính sách pháp luật dân chủ cơ sở để khơi dậy, phát huy sức mạnh của nhân dân vùng dân tộc thiểu số 50

3.2 Một số giải pháp tăng cường thực hiện chính sách pháp luật về dân chủ cơ sở vùng dân tộc thiểu số ở tỉnh Quảng Ninh 50

3.2.1 Nâng cao nhận thức của các chủ thể thực hiện pháp luật về vai trò, tầm quan trọng và nội dung của pháp luật về dân chủ cơ sở ở vùng dân tộc thiểu số 50

Trang 8

3.2.2 Đổi mới hoạt động của hệ thống chính trị ở cấp xã với việc thực hiện pháp

luật về dân chủ ở vùng dân tộc thiểu số 51

3.2.3 Tăng cường đối thoại giữa người dân và chính quyền trong việc thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở 54

3.2.4 Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, kỹ năng sử dụng quy định pháp luật về dân chủ cơ sở cho đồng bào dân tộc thiểu số 54

3.2.5 Do các văn bản pháp luật về dân chủ cơ sở bộc lộ một số bất cập 56

Tiểu kết Chương 3 56

KẾT LUẬN 57

TÀI LIỆU THAM KHẢO 58

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong quá trình hội nhập và đẩy mạnh phát triển đất nước, một trong những mục tiêu và động lực chính là việc thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa

Pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở (pháp luật dân chủ ở cơ sở) bao gồm hệ thống các quy định về tổ chức và hoạt động của các thiết chế tham gia vào quá trình thực hiện mục tiêu trong một lĩnh vực cụ thể Trên phương diện thủ tục, pháp luật dân chủ ở cơ sở là sự hợp thành của các phương pháp, trình tự, bước đi, hậu quả pháp lý do pháp luật ghi nhận để đảm bảo tính hợp pháp của quá trình thực hiện mục tiêu trong một lĩnh vực nhất định Vì vậy, pháp luật dân chủ ở cơ sở là tổng thể các nguyên tắc, thể chế, thiết chế và các điều kiện đảm bảo, gắn kết với nhau, hợp thành hệ thống, do pháp luật quy định, nhằm xác lập các quyền và khả năng để nhân dân thực hiện quyền làm chủ tại cơ sở

Ở Việt Nam, các thiết chế dân chủ ở cơ sở được biểu hiện trước hết ở các thiết chế đại diện của nhân dân do Hiến pháp và các đạo luật quy định (Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân, Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân, Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Luật Công đoàn…) Đây là các thiết chế do nhân dân lập

ra và thay mặt nhân dân để thực hiện quyền lực của nhân dân Thông qua hoạt động của các thiết chế này, người dân tham gia vào quản lý nhà nước, quản lý xã hội và kiểm soát hoạt động của Nhà nước, buộc hoạt động thực hiện quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước vận hành trong quỹ đạo phục vụ nhân dân

Theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Dân chủ là dân là chủ và dân làm chủ” Một chế độ dân chủ rộng rãi, một chế độ dân chủ thực sự là tất cả quyền lực đều

thuộc về nhân dân, lấy nhân dân làm trung tâm Nhân dân là điểm xuất phát cũng đồng thời

là điểm kết thúc của mọi quyền lợi

Thực hiện pháp luật là một quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật Thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở là hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật về thực hiện dân chủ cơ sở đi vào cuộc sống nhằm phát huy cao độ quyền làm chủ, sức sáng tạo của nhân dân trong phát triển kinh tế, văn hoá – xã hội đáp ứng yêu cầu xây dựng xã hội giàu đẹp, công bằng, dân chủ, văn minh, xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở trong sạch, vững mạnh

Thực hiện chính sách pháp luật dân chủ cơ sở ở xã, phường, thị trấn có đặc điểm về chủ thể, phạm vi, nội dung và các hình thức thực hiện khác với khác với thực hiện pháp luật trong các lĩnh vực, các ngành luật khác Riêng vùng dân tộc thiểu số thì việc thực hiện chính sách pháp luật dân chủ cơ sở còn phụ thuộc vào đặc điểm văn hóa, kinh tế, chính trị

và những đặc điểm khác như yếu tố tập quán, thói quen với các nguyên tắc tự quản truyền thống

Tỉnh Quảng Ninh là một địa phương thực hiện pháp luật dân chủ đã trở thành nền nếp và ngày càng phát huy ở các xã, phường, thị trấn trên địa bàn của cả tỉnh Chẳng hạn,

Trang 10

các xã, phường, thị trấn đều đã phát huy tốt nguyên tắc tập trung dân chủ; thực hiện công khai, minh bạch trong quản lý, điều hành và làm tốt phương châm “dân biết, dân bàn, dân kiểm tra; công tác tiếp dân, giải quyết đơn thư kiến nghị, phản ánh, khiếu nại, tố cáo của UBND cấp xã được quan tâm, từng bước nâng cao được chất lượng

Tỉnh Quảng Ninh tính đến thời điểm 01/4/2019) có tổng dân số là 1.320.324 người,

là tỉnh đông dân thứ 23 cả nước, với 43 dân tộc Trong đó dân tộc Kinh chiếm 87,7%, dân

tộc thiểu số chiếm 12,3% (Theo Báo cáo tại Hội nghị Tổng điều tra dân số và nhà ở năm

2019 của UBND tỉnh Quảng Ninh) Với đặc thù có 43 dân tộc thiểu số như vậy, việc triển

khai thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở tại các vùng này sẽ có những thuận lợi, khó khăn riêng Chủ thể, phạm vi, nội dung hay hình thức thực hiện chính sách pháp luật dân chủ cơ

sở ở vùng dân tộc thiểu số so với xã, phường, thị trấn nói chung sẽ phụ thuộc vào yếu tố tập quán, thói quen với các nguyên tắc tự quản truyền thống của đồng bào dân tộc ít người

Với tâm huyết muốn góp phần xây dựng một nền dân chủ rộng rãi và thực sự trong

xã hội của chúng ta, tôi mạnh dạn chọn đề tài “Thực hiện chính sách pháp luật về thi

hành dân chủ cơ sở ở vùng dân tộc thiểu số tại tỉnh Quảng Ninh” làm luận văn thạc sĩ

chuyên ngành Chính sách công

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Thực hiện chính sách pháp luật về dân chủ cơ sở ở vùng dân tộc thiểu số là một vấn

đề tương đối mới mẻ trong nghiên cứu khoa học ở nước ta những năm qua Tuy nhiên, ở những mức độ, phạm vi nhất định, đã có những công trình nghiên cứu được công bố có liên quan, có thể kể đến như:

- Viện Chính sách công và Pháp luật – Viện Nhà nước và Pháp luật (Đồng chủ biên: GS.TSKH Đào Trí Úc – PGS.TS Trịnh Đức Thảo – TS Vũ Công Giao – TS Trương Hồ

Hải, 2014), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về dân chủ trực tiếp, dân chủ cơ sở trên thế giới và ở Việt Nam (Kỷ yếu hội thảo), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Cuốn sách gồm tập

hợp những bài tham luận tại cuộc Hội thảo “Dân chủ trực tiếp, dân chủ cơ sở trên thế giới

và ở Việt Nam”, trong đó, các tác giả đã chia sẻ kiến thức, thông tin và trao đổi, thảo luận

về một loạt vấn đề lý luận, thực tiễn và các mô hình tổ chức thực hiện dân chủ trực tiếp, dân chủ cơ sở trên thế giới và ở Việt Nam, đồng thời đề xuất những quan điểm, giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật và các cơ chế bảo đảm dân chủ trực tiếp và dân chủ cơ sở ở nước

ta trong thời gian tới

- Viện Chính sách công và Pháp luật (Đồng chủ biên: GS TSKH Đào Trí Úc – TS

Vũ Công Giao, 2014), Dân chủ trực tiếp (Số tay IDEA Quốc tế), Nxb Đại học Quốc gia Hà

Nội Cuốn sách nghiên cứu bốn cơ chế dân chủ trực tiếp cung cấp cho các cử tri nhiều cơ hội hơn khi tham gia vào các hoạt động của chính phủ của họ, đó là trưng cầu dân, sáng kiến của công dân, sáng kiến chương trình nghị sự và bãi miễn Thông qua khảo sát phạm vi

sử dụng bốn cơ chế đó tại một số quốc gia trên thế giới, cuốn sách cung cấp các khuyến nghị và bài học thực tiễn thành công nhất, đưa ra những phân tích quan trọng dành cho những người có thể đang xem xét áp dụng một hoặc nhiều công cụ của dân chủ trực tiếp,

Trang 11

hoặc cho những người có thể đang tìm cách làm cho các thể chế và quy trình hiện có hoạt động hiệu quả hơn

- Viện Chính sách công và Pháp luật (Đồng chủ biên: GS TSKH Đào Trí Úc – TS

Vũ Công Giao, 2014), Dân chủ ở cấp địa phương (Số tay IDEA Quốc tế), Nxb Đại học

Quốc gia Hà Nội Cuốn sách nghiên cứu tập trung vào cấp quản trị thường bị bỏ qua - cấp địa phương – cấp gần gũi với người dân nhất Cuốn sách khuyến khích mọi người xem xét lại một cách chi tiết về mục đích, hình thức, và bản chất của nền dân chủ địa phương trên thế giới, đồng thời cũng là để chia sẻ kinh nghiệm phổ biến và cung cấp những kiến thức một cách sâu rộng, dễ tiếp cận, rõ ràng và có sự sắp xếp cẩn thận

- Viện Khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp, TS Nguyễn Văn Hiển, 2014, Về thi hành Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn năm 2007, Nxb Chính trị Quốc gia

Cuốn sách nghiên cứu thực trạng thi hành Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn nhằm phục vụ việc hoàn thiện thể chế pháp lý và nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật về dân chủ ở xã, phường, thị trấn, đồng thời, khắc phục những hạn chế, bất cập trong tổ chức và hoạt động của các cấp chính quyền địa phương

- Đỗ Văn Dương, Thực hiện pháp luật về dân chủ ở xã, phường, thị trấn trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên, Luận án tiến sĩ Luật, Hà Nội, 2014 Luận án nghiên cứu lý luận

và thực tiễn thực hiện pháp luật về dân chủ ở xã, phường, thị trấn trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên, từ đó nêu và đề xuất những quan điểm cơ bản và hệ thống giải pháp chủ yếu nhằm bảo đảm thực hiện pháp luật về dân chủ ở xã, phường, thị trấn trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên hiện nay

- Nguyễn Hồng Chuyên, Thực hiện pháp luật về dân chủ ở cấp xã theo yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luận án tiến sĩ Luật học, 2014, Hà

Nội Luận án làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và 5 đánh giá thực trạng, đề xuất các quan điểm và giải pháp thực hiện pháp luật về dân chủ ở cấp xã theo yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

- Vương Ngọc Thịnh, Thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở trên địa bàn huyện Hoài Đức, Hà Nội, Luận văn thạc sĩ Luật học, Hà Nội, 2010 Luận văn đi sâu vào phân tích

khái niệm, đặc điểm, nội dung pháp luật về dân chủ ở cơ sở và các hình thức thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở, vai trò của việc thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở ở xã, phường, thị trấn; đánh giá thực trạng việc thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở trên địa bàn huyện Hoài Đức và đề xuất phương hướng, luận giải một số giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật

về dân chủ cơ sở tại huyện Hoài Đức, Hà Nội

- Bùi Thị Hường, Pháp luật về thực hiện dân chủ cơ sở ở Việt Nam hiện nay - thực trạng và những vấn đề cần hoàn thiện, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Hà Nội, 2014 Luận văn

nghiên cứu các quy định về dân chủ ở xã, phường, thị trấn và các cơ quan, tổ chức, xí nghiệp, doanh nghiệp, mục đích nghiên cứu của luận văn là đề xuất những phương hướng

và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thực hiện QCDC ở cơ sở trong giai đoạn hiện nay

Trang 12

- Doãn Hùng (chủ nhiệm, 2010), Chính sách phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội đối với các vùng DTTS Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ - cơ sở lý luận và thực tiễn, Đề tài khoa học cấp Nhà nước;

- Phan Văn Hùng (Chủ biên), Một số vấn đề mới trong quan hệ dân tộc và chính sách dân tộc, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2015;

- Hoàng Hữu Bình - Phan Văn Hùng (Đồng Chủ biên), Một số vấn đề về đổi mới xây dựng và thực hiện chính sách dân tộc, Nxb Chính trị - Hành chính, Hà Nội,

2013;

- Hoàng Thị Hương (2012), Mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa DTTS ở Miền núi phía Bắc nước ta hiện nay, Luận án tiến

sĩ, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội

-“Chính sách phát triển vùng dân tộc thiểu số phía Bắc Việt Nam” Nxb Chính

trị quốc gia, Hà Nội, 2014 do TS Nguyễn Lâm Thành chủ biên Trên cơ sở phân tích thực trạng hệ thống chính chính sách phát triển vùng dân tộc thiểu số, cuốn sách những khó khăn, hạn chế cần giải quyết như: hệ thống chính sách chưa hoàn thiện; chính sách còn thiếu đồng bộ và tính liên kết, nhiều chính sách không đạt được mục tiêu Đồng thời đưa ra một số định hướng xây dựng chính sách, như là đổi mới cách tiếp cận về hệ thống chính sách, đổi mới công tác xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách

Tất cả đều đưa ra những luận cứ khoa học có giá trị tham khảo về khái niệm, bản chất, vai trò quan trọng của dân chủ, dân chủ cơ sở, thực hiện pháp 6 luật về dân chủ cơ sở; những thành công, hạn chế và những vấn đề đặt ra trong xây dựng và thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở nói chung và từng địa phương nói riêng Kết quả nghiên cứu sẽ đóng góp một phần vào việc phát triển kinh tế, ổn định xã hội tại các vùng dân tộc thiểu số của Quảng Ninh nói riêng, của tỉnh Quảng Ninh nói chung trong giai đoạn hiện nay

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Luận văn khảo sát, đánh giá thực trạng thực hiện chính sách pháp luật về dân chủ cơ

sở ở vùng dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, từ đó đề xuất một số các quan điểm và giải pháp bảo đảm thực hiện chính sách pháp luật về dân chủ cơ sở vùng dân tộc thiểu số ở tỉnh Quảng Ninh

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Làm rõ một số vấn đề lý luận chung về thực hiện chính sách pháp luật về dân chủ

cơ sở đối với vùng dân tộc thiểu số ở Việt Nam

- Đánh giá thực trạng thực hiện chính sách pháp luật về dân chủ cơ sở ở vùng dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh những năm qua

- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu để thực hiện chính sách pháp luật về dân chủ cơ

sở ở vùng dân tộc thiểu số tỉnh Quảng Ninh thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Trang 13

Thực hiện chính sách pháp luật về dân chủ cơ sở ở vùng dân tộc thiểu số tỉnh Quảng Ninh

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về không gian: Nghiên cứu thực hiện chính sách pháp luật về dân chủ cơ sở ở vùng dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh

- Về thời gian: Nghiên cứu thực hiện chính sách pháp luật về dân chủ cơ sở ở vùng

dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2016 – 2020

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu luận văn

5.1 Phương pháp luận

Luận văn được thực hiện trên cơ sở thế giới quan, phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin (phương pháp duy vật biện chứng và phương pháp duy vật lịch sử)

5.2 Phương pháp nghiên cứu

- Nghiên cứu lý thuyết, tài liệu liên quan đến đề tài, đặc biệt là các văn bản quy phạm pháp luật, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước

- Thu thập, phân tích, tổng hợp, so sánh các số liệu, kết quả trong phạm vi thời gian nghiên cứu;

6 Đóng góp của luận văn

Góp phần bổ sung những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách pháp luật dân chủ

cơ sở ở vùng dân tộc thiểu số

Làm rõ thực trạng thực hiện chính sách pháp luật về dân chủ cơ sở trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh với những thành công, hạn chế và nguyên nhân

Nêu quan điểm và một số giải pháp có tính khả thi để nâng cao chất lượng thực hiện chính sách pháp luật về dân chủ cơ sở ở tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn mới

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm

Trang 14

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT

VỀ DÂN CHỦ CƠ SỞ Ở VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ

1.1 Một số khái niệm

1.1.1 Dân chủ và thực hiện dân chủ cơ sở

a) Khái niệm dân chủ

Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về phạm trù “Dân chủ” xét theo đối tượng, phương pháp và mục đích khác nhau của nhiều bộ môn khoa học Quan điểm về dân chủ có hai cách tiếp cận:

Một là: Dân chủ là một hiện tượng lịch sử – xã hội, xuất hiện và phát triển với tư cách là sản phẩm trực tiếp của đời sống chính trị, của sự vận động chính trị trong cuộc đấu tranh giai cấp nhằm giải quyết vấn đề quyền lực chính trị thuộc về giai cấp nào trong xã hội

Hai là: Dân chủ là một hiện tượng lịch sử xã hội, một sản phẩm của sự vận động chính trị bị chế ước bởi trình độ và trạng thái hiện thực của kinh tế- xã hội; mà dân chủ còn

là thành tựu của sự phát triển văn hoá nhân loại, với tính cách là thước đo về trình độ giải phóng con người, xã hội mà loài người đã đạt được trong mỗi thời đại lịch sử Trong mối quan hệ này dân chủ là một động lực, một tiêu chuẩn của tiến bộ xã hội

b) Khái niệm dân chủ cơ sở

Cơ sở là thành tố, là đơn vị nhỏ nhất trong cấu trúc của một hệ thống các sự vật hiện tượng Khái niệm cơ sở được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp Theo nghĩa rộng, cơ sở là đơn vị xã hội nhỏ nhất mà Nhân dân tổ chức nên, đó là gia đình, buôn, làng, xóm, ấp, thôn, bản, cấp nhỏ nhất của một hệ thống cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị -

xã hội

Theo nghĩa hẹp, cơ sở là cấp chính quyền cuối cùng trong hệ thống chính quyền Nhà nước, các pháp nhân công quyền, các pháp nhân kinh tế Luận văn tiếp cận khái niệm cơ sở theo nghĩa này Theo điều 110 - Hiến pháp 2013, các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa

xã hội chủ nghĩa Việt Nam được chia thành 4 cấp: Trung ương, cấp Tỉnh, cấp huyện và cấp

xã Như vậy, cơ sở trong khái niệm trên được hiểu là: xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã)

Xuất phát từ vị trí, vai trò của cơ sở là nơi trực tiếp thực hiện mọi chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, là nơi cần thực hiện quyền dân chủ của Nhân dân một cách trực tiếp và rộng rãi nhất nên Đảng và Nhà nước ta chủ trương phát huy vai

trò làm chủ của Nhân dân trước hết từ cấp cơ sở Như vậy, dân chủ cơ sở là biểu hiện cụ thể của thiết chế dân chủ, là sự đảm bảo Nhân dân là nguồn gốc của quyền lực Nhà nước tại địa bàn xã, phường, thị trấn bằng những hình thức nhất định, phù hợp với các nguyên tắc, quy định của pháp luật

Dân chủ cơ sở không phải là hình thức dân chủ mà là cấp độ thực hiện dân chủ thông qua hai hình thức:

Trang 15

Thứ nhất, Dân chủ trực tiếp là hình thức qua đó Nhân dân bằng hành vi của mình trực tiếp thực hiện quyền dân chủ Nhà nước và xã hội Đó là thực hiện quyền được thông tin, bàn bạc và quyết định, trực tiếp giám sát

Thứ hai, Dân chủ đại diện là hình thức mà qua đó Nhân dân thực hiện sự “ủy quyền”, giao quyền lực của mình cho người, tổ chức mà Nhân dân trực tiếp bầu ra Những người và tổ chức ấy đại diện cho Nhân dân, thực hiện quyền làm chủ của Nhân dân

Có thể khái quát khái niệm “thực hiện dân chủ cơ sở” như sau: Thực hiện dân chủ

cơ sở là việc thừa nhận và thực hiện thường xuyên các quyền làm chủ của công dân; tăng cường tính cộng đồng trách nhiệm giữa Nhà nước và công dân nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của công dân ở cấp cơ sở

1.1.2 Khái niệm dân tộc thiểu số, vùng dân tộc thiểu số

Theo Từ điển Tiếng Việt, DTTS là dân tộc gồm có một số ít người, sống trong hình thức bộ lạc tuy có lối ăn mặc riêng, một ngôn ngữ riêng nhưng thường thì gần giống như

dân của nước mà dân tộc đó đang ở Còn dân tộc đa số là dân tộc chiếm số đông nhất, so

với các dân tộc chiếm số ít, trong một nước có nhiều dân tộc

Dưới góc độ khoa học pháp lý, DTTS là khái niệm thuộc phạm trù “người thiểu số”

- là những nhóm người dễ bị tổn thương, được sử dụng rộng rãi trong các văn kiện pháp lý quốc tế và trong nghiên cứu: Dân tộc thiểu số là thuật ngữ ám chỉ cho một nhóm người: (a)

Cư trú trên lãnh thổ của một quốc gia có chủ quyền mà họ là công dân của quốc gia này; (b) Duy trì mối quan hệ lâu dài với quốc gia mà họ đang sinh sống; (c) Thể hiện bản sắc riêng

về chủng tộc, văn hóa, tôn giáo và ngôn ngữ của họ; (d) Đủ tư cách đại diện cho nhóm dân tộc của họ, mặc dù số lượng ít hơn trong quốc gia này hay tại một khu vực của quốc gia này; (e) Có mối quan tâm đến vấn đề bảo tồn bản sắc chung của họ, bao gồm cả yếu tố văn hóa, phong tục tập quán, tôn giáo và ngôn ngữ của họ

Theo Phó giáo sư, tiến sĩ Khổng Diễn, vùng dân tộc là tỉnh, huyện, xã có trên 50% người DTTS sinh sống tập trung lại thành vùng; vùng DTTS, miền núi có thể hiểu theo

nghĩa là nơi cư trú, sinh sống của các dân tộc ở vùng đồng bằng, miền núi Như vậy, theo

quan niệm của ông, vùng dân tộc cần có tiêu chí trên 50% DTTS sinh sống, nhưng vùng

DTTS lại không cần đưa ra những tiêu chí cụ thể

Theo Tiến sỹ Nguyễn Lâm Thành: vùng DTTS là một vùng địa bàn liên xã, huyện hoặc liên tỉnh có đông đồng bào DTTS sinh sống thành khu vực cộng đồng, hình thành các đặc điểm KT-XH và văn hóa rõ nét Như vậy, có những cấp độ khác nhau về qui định như: qui mô liên xã là vùng dân tộc xét trên phạm vi cấp huyện, qui mô liên huyện là vùng dân tộc xét trên phạm vi cấp tỉnh, qui mô liên tỉnh là vùng dân tộc xét trên phạm vi quốc gia Có những đơn vị hành chính địa phương có đồng bào DTTS sinh sống nhưng với số lượng ít, không hình thành cộng đồng hoặc cộng đồng quá nhỏ thì được xem là “vùng có dân tộc

thiểu số” hoặc “vùng xen kẽ dân tộc thiểu số

Khái niệm vùng DTTS theo từng ngữ cảnh mà xác định nó ở quy mô khác nhau có thể liên xã, liên huyện, liên tỉnh dựa trên các tiêu chí xác định Từ những quan niệm trên có

Trang 16

thể rút ra định nghĩa: Vùng dân tộc, miền núi là nơi sinh sống của đồng bào các dân tộc ở địa bàn miền núi

Vùng dân tộc thiểu số được quy định tại Nghị định 05/2011/NĐ-CP của Chính phủ

về công tác dân tộc: “Vùng dân tộc thiểu số là địa bàn có đông các dân tộc thiểu số cùng sinh sống ổn định thành cộng đồng trên lãnh thổ nước CHXHCN Việt Nam”

Tuy nhiên, bao nhiêu là đông, cộng đồng là thôn, xã, huyện hay tỉnh chưa được xác định rõ ràng Trong khi đó các tiêu chí để xác định vùng dân tộc thiểu số và miền núi không

có chỉ tiêu về số lượng (tỷ lệ) hộ đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) Do đó, trong danh sách

5.266 xã vùng dân tộc thiểu số và miền núi hiện nay có 476 xã không có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống và 1.126 xã có rất ít đồng bào dân tộc thiểu số

Như vậy: Vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi là địa bàn các xã, thôn có tỷ

lệ hộ dân tộc thiểu số từ 15% số hộ trở lên;

1.1.3 Thực hiện chính sách pháp luật dân chủ ở cơ sở vùng dân tộc thiểu số

a ) Pháp luật về dân chủ cơ sở

Pháp luật về dân chủ là những quy tắc xử sự do Nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện, điều chỉnh những quan hệ phát sinh giữa Nhà nước, các tổ chức chính trị, chính trị xã hội, tổ chức kinh tế và công dân nhằm đảm bảo cho công dân thực hiện quyền làm chủ trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội

b)Thực hiện chính sách pháp luật về dân chủ ở cơ sở

Chính sách là một hệ thống nguyên tắc có chủ ý hướng dẫn các quyết định và đạt

được các kết quả hợp lý Các chính sách thường được cơ quan quản trị thông qua trong một

tổ chức Chính sách có thể hỗ trợ cả việc đưa ra quyết định chủ quan và khách quan Các chính sách tương phản để hỗ trợ việc ra quyết định khách quan thường hoạt động trong tự nhiên và có thể được kiểm tra khách quan

Pháp luật được định nghĩa là hệ thống những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc

chung do nhà nước được ban hành hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị và là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội phát triển phù hợp với lợi ích

của giai cấp mình

Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở chủ yếu là tập trung thực hiện những nội dung quy định của Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn (Pháp lệnh số 34/2007/PL- UBTVQH11) được Uỷ ban Thường vụ Quốc

hội thông qua ngày 20 tháng 04 năm 2007

c) Thực hiện chính sách pháp luật về dân chủ cơ sở vùng dân tộc thiểu số

Thực hiện chính sách pháp luật về dân chủ cơ sở vùng dân tộc thiểu số là hoạt động

có mục đích làm cho những quy định của pháp luật về thực hiện dân chủ cơ sở ở vùng dân tộc thiểu số đi vào cuộc sống nhằm phát huy cao độ quyền làm chủ, sức sáng tạo của nhân dân trong phát triển kinh tế, văn hoá – xã hội đáp ứng yêu cầu xây dựng xã hội giàu đẹp, công bằng, dân chủ, văn minh, xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở trong sạch, vững mạnh

Trang 17

1.2 Thực hiện chính sách pháp luật dân chủ cơ sở ở vùng dân tộc thiểu số

1.2.1 Quan điểm thực hiện chính sách pháp luật về dân chủ cơ sở ở vùng dân tộc thiểu số

1.2.1.1 Đảm bảo thực hiện dân chủ cơ sở cho đồng bào dân tộc thiểu số theo quy định của pháp luật

Việt Nam là một quốc gia thống nhất với 54 dân tộc Tính đến 0h ngày 01/4/2019 là 96.208.984 người trong tổng số hơn 90 triệu dân Việt Nam có trên 12,3 triệu người thuộc

53 dân tộc thiểu số, chiếm 14,3% dân số Việt Nam, tập trung chủ yếu ở các vùng núi, đặc biệt là vùng Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ, Tây Duyên hải miền Trung Các dân tộc Việt Nam có truyền thống đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc đấu tranh chống ngoại xâm, chế ngự thiên nhiên và xây dựng đất nước Mỗi dân tộc có bản sắc văn hóa riêng, tạo nên sự đa dạng, phong phú của nền văn hóa Việt Nam thống nhất

Điều 5 Hiến pháp năm 2013 ghi nhận: “Nước Cộng hoà XHCN Việt Nam là quốc gia thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia

rẽ dân tộc Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hoá tốt đẹp của mình Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để tất cả các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước” Ngoài ra, để bảo đảm các quyền của các DTTS, Điều 42 Hiến pháp năm 2013 cũng ghi nhận: “Công dân có quyền xác định dân tộc của mình, sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ, lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp” Đồng thời khẳng định:“Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật Không ai bị phân biệt đối

xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội” Nguyên tắc này cũng đã được thể hiện xuyên suốt trong toàn bộ hệ thống pháp luật Việt Nam, được thể chế và cụ thể hóa trong các văn bản luật như: Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, Luật Quốc tịch, Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Bộ luật Dân sự; Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật Lao động; Luật Giáo dục; Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân; Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác…

Đối với việc đảm bảo các quyền văn hóa của người DTTS, Việt Nam cũng đã dành

sự quan tâm đặc biệt nhằm đảm bảo ngày càng tốt hơn các quyền văn hóa của người DTTS trên lãnh thổ Việt Nam, điều này được thể hiện qua một số nội dung sau:

Quyền được tham gia vào các hoạt động của đời sống văn hóa và bảo tồn, giữ gìn bản sắc văn hóa riêng

Quyền bảo tồn và phát triển văn hóa DTTS được coi là quyền đặc thù có ý nghĩa quan trọng đối với cộng đồng DTTS và đã được quy định ở nhiều văn bản khác nhau Điều

41, Điều 42 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Mọi người có quyền hưởng thụ và tiếp cận các giá trị văn hóa, tham gia vào đời sống văn hóa, sử dụng các cơ sở văn hóa; Công dân có quyền xác định dân tộc của mình, sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ, lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp”

Để đảm bảo quyền này, Nhà nước ta không chỉ ban hành các văn bản pháp luật chuyên

Trang 18

ngành làm cơ sở pháp lý vững chắc cho việc thực hiện quyền mà còn có các chính sách, đề

án bảo tồn và phát triển văn hóa như: Đề án bảo tồn, phát triển văn hóa các DTTS Việt Nam đến năm 2020 theo Quyết định số 1270/QĐ-TTg hoặc là quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc ban hành khung dạy tiếng DTTS cho cán bộ, công chức công tác ở vùng DTTS, Bảo tồn, phát huy trang phục truyền thống các DTTS Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Quyền được sử dụng và phổ biến ngôn ngữ riêng và lựa chọn ngôn ngữ để giao tiếp Trong các quyền công dân được quy định trong Hiến pháp năm 2013, quyền sử dụng và tiếp cận ngôn ngữ đã được đề cập đến tại Điều 42 như sau: “Công dân có quyền xác định dân tộc của mình, sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ, lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp

Điều 5 Hiến pháp năm 2013 ghi rõ: “Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình”;

Luật Giáo dục năm 2005 quy định: “Nhà nước tạo điều kiện để người DTTS được học tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình nhằm giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, giúp học sinh người DTTS dễ dàng tiếp thu kiến thức khi học tập trong nhà trường và cơ sở giáo dục khác”;

Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 quy định về tiếng nói, chữ viết dùng trước Tòa án nhân dân: “Tiếng nói, chữ viết dùng trước Tòa án là tiếng Việt Tòa án bảo đảm cho những người tham gia tố tụng quyền dùng tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình trước Tòa án nhân dân, trường hợp này phải có phiên dịch”

Điều 21 Luật Di sản văn hóa năm 2013 cũng có những quy định tương tự Tiếp đó, Chính phủ Việt Nam đã ban hành Nghị định số 82/2010/NĐ-CP quy định việc dạy và học tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu số trong các cơ sở giáo dục phổ thông và trung tâm giáo dục thường xuyên Bộ Giáo dục và Đào tạo đang hợp tác với UNICEF thí điểm thực hiện giáo dục song ngữ trên cơ sở tiếng mẹ đẻ tại 3 tỉnh Lào Cai, Trà Vinh, Gia Lai…

Quyền tiếp cận và thụ hưởng các giá trị văn hóa

Quyền thụ hưởng các giá trị văn hoá có thể hiểu là quyền được thừa nhận và bảo đảm nhu cầu cảm nhận và khai thác các giá trị, các vốn xã hội tốt đẹp được sáng tạo, lưu giữ trong đời sống cộng đồng của một cá nhân, cộng đồng nào đó

Quyền thụ hưởng các giá trị văn hoá lần đầu tiên được nước ta ghi nhận vào một văn bản pháp lý là tại Hiến pháp năm 2013 (Điều 41) Theo đó, quyền này tập trung vào các khía cạnh sáng tạo, tiếp cận và hưởng thụ các giá trị văn hóa tinh thần xã hội Cụ thể, Điều

24 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật; Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật”; Điều 39: “Công dân có quyền và nghĩa vụ học tập”.Điều 40 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Mọi người có quyền nghiên cứu khoa học và công nghệ, sáng tạo văn học, nghệ thuật và thụ hưởng lợi ích

Trang 19

từ các hoạt động đó”; Điều 41: “Mọi người có quyền hưởng thụ và tiếp cận các giá trị văn hóa, tham gia vào đời sống văn hóa, sử dụng các cơ sở văn hóa”

Nhìn chung, có thể thấy, người dân dù thuộc về bất kỳ DTTS nào hay là người dân tộc Kinh, cũng đều được Nhà nước đảm bảo quyền bình đẳng trong thụ hưởng và khuyến khích phát huy các giá trị văn hóa do mình hoặc cộng đồng tạo ra Bên cạnh đó, Nhà nước cũng tạo mọi điều kiện, cả về pháp luật và cơ sở vật chất để đảm bảo quyền này của người dân, trong đó có người DTTS

1.2.1.2 Tập trung xây dựng, củng cố, mở rộng việc thực hiện dân chủ cơ sở cho đồng bào các dân tộc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn

Xác định công tác xây dựng dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài, cấp bách;

là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của hệ thống chính trị, những năm qua, Đảng, Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, pháp luật liên quan đến vấn

đề dân tộc và công tác dân tộc Đảng ta đã ban hành nhiều văn bản quan trọng liên quan đến vấn đề dân tộc và công tác dân tộc Nghị quyết số 24-NQ/TW, ngày 12/3/2003 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa IX) xác định những quan điểm cơ bản về công tác dân tộc, đề

ra mục tiêu, những nhiệm vụ chủ yếu và cấp bách, một số giải pháp chủ yếu về công tác dân tộc Ngày 30/10/2019, Bộ Chính trị ban hành Kết luận số 65-KL/TW về “Tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) về công tác dân tộc trong tình hình mới”

Kết luận số 65-KL/TW, ngày 30/10/2019 của Bộ Chính trị về “tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) về công tác dân tộc trong tình hình mới” xác định một số yêu cầu, trong đó có nội dung: “Hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật liên quan đến đồng bào dân tộc thiểu số Các chính sách phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh vùng dân tộc niềm núi phải toàn diện, hướng đến mục tiêu phát triển bền vững và phát huy lợi thế, tiềm năng của vùng và tinh thần tự lực của đồng bào dân tộc thiểu số”; “Nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về công tác dân tộc Rà soát, sửa đổi, bổ sung, lồng ghép, tích hợp các chính sách hiện hành để hoàn thiện hệ thống chính sách liên quan đến đồng bào dân tộc thiểu số, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi Đổi mới phương thức xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách, ban hành Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển bền vững kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030… Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản

lý nhà nước về thực hiện chính sách dân tộc Đổi mới mô hình tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ của cơ quan quản lý nhà nước về công tác dân tộc nhằm bảo đảm đồng bộ, thống nhất, tinh gọn, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới”

Nghị quyết số 88/2019/QH14 do Quốc hội khóa XIV (Kỳ họp thứ 8) ban hành ngày 18/11/2019, phê duyệt Đề án tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030 đề ra mục tiêu tổng quát: “Khai thác tiềm năng, lợi thế của các địa phương trong vùng, đổi mới sáng tạo, đẩy mạnh phát triển kinh tế, bảo

Trang 20

đảm an sinh xã hội; giảm nghèo nhanh, bền vững, thu hẹp dần khoảng cách về mức sống, thu nhập so với bình quân chung của cả nước; giảm dần số xã, thôn đặc biệt khó khăn; quy hoạch, sắp xếp ổn định dân cư, xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ, liên vùng, kết nối với các vùng phát triển; phát triển toàn diện giáo dục, đào tạo, y tế, văn hóa; cải thiện rõ rệt đời sống của nhân dân; nâng cao số lượng, chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động là người dân tộc thiểu số; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa tốt đẹp của các dân tộc thiểu số đi đôi với xóa bỏ phong tục tập quán lạc hậu; thực hiện bình đẳng giới và giải quyết những vấn đề cấp thiết đối với phụ nữ và trẻ em; xây dựng

hệ thống chính trị ở cơ sở vững mạnh, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo đảm an ninh biên giới quốc gia; củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết các dân tộc, nâng cao niềm tin của đồng bào các dân tộc đối với Đảng và Nhà nước” Đồng thời, yêu cầu về

tổ chức triển khai thực hiện, trong đó có nội dung: “Tổ chức rà soát các văn bản pháp luật liên quan đến vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi và chính sách dân tộc, kịp thời đề xuất, sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ các văn bản có liên quan không còn phù hợp để bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật nhằm tổ chức thực hiện có hiệu quả các nội dung của Đề án”

Thực hiện Nghị quyết của Trung ương, Kết luận của Bộ Chính trị, Nghị quyết của Quốc hội về công tác dân tộc trong tình hình mới, việc đẩy mạnh phát huy sự đóng góp của các chuyên gia, nhà khoa học tham gia xây dựng, phổ biến, giáo dục và thực thi pháp luật, thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh - quốc phòng đối với vùng dân tộc, miền núi, trong đó có vùng dân tộc thiểu số là hết sức cần thiết và cấp bách trong thời gian tới

1.2.1.3 Đẩy mạnh thực hiện pháp luật dân chủ ở cơ sở trong giai đoạn mới

Thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở (gọi tắt là Quy chế) trên cấp ủy đã có sự chuyển biến tích cực Rõ nét nhất là việc phân công các thành viên phụ trách địa bàn, cụ thể hóa quy chế dân chủ và công khai cho dân biết về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và nhiều lĩnh vực hoạt động khác Việc đẩy mạnh pháp luật dân chủ cơ sở trong giai đôạn mới ta cần chú trọng tới nội dung như sau

a) Huy động được sức dân

Tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả việc xây dựng và thực hiện Quy chế, thời gian qua hầu hết các cấp ủy đảng, chính quyền trong tỉnh đã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện nghiêm túc, gắn với việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước về thực hiện Quy chế HĐND các cấp tiếp tục đổi mới nội dung, nâng cao chất lượng hoạt động, ngày càng phát huy tốt hơn vai trò dân chủ đại diện Việc thực hiện kiểm tra, giám sát, tuyên truyền, nhân rộng các điển hình, mô hình xây dựng và thực hiện Quy chế được triển khai song song với việc kiện toàn, đổi mới, nâng chất lượng hoạt động của Ban chỉ đạo thực hiện Quy chế ở các cấp

Qua đẩy mạnh thực hiện Quy chế đã phát huy được vai trò, tiềm năng, sức sáng tạo của nhân dân tham gia bàn bạc những công việc của địa phương Bầu không khí dân chủ

Trang 21

trong Đảng, trong xã hội được mở rộng hơn, nhiều khó khăn trong quá trình phát triển được nhân dân đồng tình tham gia bàn bạc, góp ý, tháo gỡ, giải quyết có hiệu quả như: Vấn đề bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi triển khai thu hồi đất để thực hiện các công trình, dự án; hiến đất xây dựng các công trình giao thông nông thôn, các công trình trường học, nhà văn hóa… tạo khí thế phấn khởi, khích lệ các tầng lớp nhân dân tham gia đẩy mạnh các phong trào thi đua ở tất cả các địa phương trong tỉnh

Trong thực hiện Quy chế, nhiều địa phương đã đưa vấn đề ra cho nhân dân thảo luận, lựa chọn, quyết định; người dân được tham gia giám sát việc thực hiện các nhiệm vụ, chương trình, dự án đầu tư góp phần đẩy nhanh phát triển kinh tế - xã hội Đã có 100% xã, phường, thị trấn triển khai và hoàn thiện cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông”, thực hiện tốt công tác tiếp dân, đối thoại với nhân dân, giải quyết khiếu nại của công dân và kịp thời

tổ chức các cuộc hòa giải mâu thuẫn trong dân

Trung tâm Hành chính công của tỉnh, các huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh, tập trung các thủ tục hành chính về một đầu mối để thực hiện việc hướng dẫn, tiếp nhận giải quyết thủ tục hành chính, vừa rút ngắn thời gian vừa tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức và

cá nhân

Công tác tuyên truyền, phổ biến, quán triệt các chủ trương, chính sách, pháp luật về Quy chế ở một số địa phương, cơ quan, đơn vị kịp thời, thực hiện đúng theo chỉ đạo của Đảng và Nhà nước

1.2.2 Hình thức, nội dung và các tiêu chí đánh giá thực hiện chính sách pháp luật dân chủ cơ sở ở vùng dân tộc thiểu số

a) Hình thức

Dân chủ đại diện là việc nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình thông qua các

cơ quan, tổ chức đại diện cho họ theo nghĩa rộng Các cơ quan, tổ chức đại diện cho quyền lực và quyền làm chủ của nhân dân bao gồm: Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, các cơ quan nhà nước khác, các đoàn thể, các tổ chức xã hội

Dân chủ trực tiếp là hình thức thể hiện ý chí trực tiếp, có nghĩa là nhân dân trực tiếp làm chủ, trực tiếp tham gia xây dựng và quản lý Nhà nước ở xã, phường Trưng cầu ý dân;

Trang 22

chế độ bầu và bãi nhiệm đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp; hỏi ý kiến nhân dân, đưa ra thảo luận các chủ trương, chính sách, các quyết định quản lý; khiếu nại, tố cáo, giải quyết khiếu tố của nhân dân; chế độ công khai, báo cáo công việc trước nhân dân của

cơ quan nhà nước, cán bộ công chức nhà nước; nhân dân bàn và quyết định trực tiếp những vấn đề phát triển kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế, an ninh trật tự trên địa bàn địa phương, cơ sở; chế độ tự phê bình trước dân; tiếp nhận và giải quyết đơn thư khiếu tố, đơn thư dân nguyện; xây dựng chế độ và các tổ chức tự quản đời sống cộng đồng, tập thể

b) Nội dung

Thứ nhất, “Dân biết” được thể hiện qua hoạt động tiếp cận thông tin của Nhân dân

Quyền tiếp cận thông tin là quyền chính trị cơ bản đã được ghi nhận trong các văn kiện quốc tế cũng như Hiến pháp, pháp luật Hiến pháp năm 1946 và Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp năm 2013 (Điều 25) đều quy định công dân có quyền được thông tin Nghĩa là, công dân có quyền được biết những chủ trương của Đảng và Chính sách pháp luật của Nhà nước, được thông tin những vấn đề cấp thiết, gắn liền với cuộc sống hằng ngày Quyền tiếp cận thông tin của người dân phản ánh bản chất xã hội ta là Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, mọi việc của Nhà nước phải được cho dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra

Thứ hai, “Dân bàn” là xu hướng tất yếu khi người dân đã được cung cấp thông tin

Nhân dân có quyền tham gia bàn bạc, thảo luận các vấn đề chung của đất nước và địa phương; biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân Với tinh thần “lấy dân làm gốc”, các cơ quan Nhà nước và chính quyền các cấp, nhất là cấp xã, phải biết lắng nghe các ý kiến của Nhân dân, nắm bắt dư luận xã hội một cách nghiêm túc, phân tích nội dung các ý kiến của dân, dư luận xã hội một cách khoa học để nắm bắt chính xác, kịp thời tâm trạng, tình cảm, nguyện vọng của Nhân dân

Thứ ba, “Dân làm” là sự hiện thực hóa tư tưởng đã thông suốt thành những hành

động, việc làm cụ thể Từ chỗ được cung cấp thông tin một cách công khai, trung thực, kịp thời, qua bàn bạc, trao đổi ý kiến để tìm ra tiếng nói chung, có được sự đồng thuận giữa chính quyền và Nhân dân, người dân sẽ tự giác tuân thủ, thực hiện các quy định của pháp luật, hăng hái, nhiệt tình trong lao động sản xuất với năng suất, chất lượng và hiệu quả cao

Thứ tư, “Dân kiểm tra” được thể hiện qua hoạt động giám sát của Nhân dân Giám

sát là một nội dung thực hiện dân chủ cơ sở của Nhân dân góp phần xây dựng Đảng, Nhà nước và các đoàn thể Nhân dân trong sạch, vững mạnh Giám sát có ý nghĩa rất quan trọng trong phát hiện những khuyết điểm của cán bộ, công chức trong bộ máy của Đảng và Nhà nước để chấn chỉnh những sai phạm, đưa mọi hoạt động vào đúng nền nếp, kịp thời phát hiện những sai phạm để xử lý kỉ luật, tạo dựng trật tự kỷ cương, góp phần vào việc bảo vệ lợi ích của Nhà nước và của tập thể, quyền và lợi ích chính đáng của Nhân dân

Trang 23

c) Các tiêu chí đánh giá

* Tiêu chí đánh giá về hiệu quả tổ chức thực hiện của chính quyền (HĐND, UBND) cơ sở

Thứ nhất, chính quyền cơ sở công khai, minh bạch chỉ đạo để tạo điều kiện cho

Nhân dân thực hiện các quyền dân chủ

Thứ hai, chính quyền cơ sở thực hiện công tác tuyên truyền, phổ biến đến Nhân dân

nội dung thực hiện dân chủ cơ sở

Thứ ba, chính quyền cơ sở lắng nghe, tiếp thu và xử lí nghiêm túc và có trách nhiệm

giải trình các công việc mà Nhân dân đã thực hiện bàn bạc, quyết định, giám sát

* Tiêu chí đánh giá về chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức

Đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở là những người thay mặt Nhà nước trực tiếp thi hành quyền lực Nhà nước ở địa phương, giải quyết các công việc có liên quan tới lợi ích của Nhà nước và Nhân dân; đồng thời, cũng là 15 chủ thể trực tiếp triển khai thực hiện dân chủ

cơ sở Vì vậy, chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã được coi là tiêu chí để đánh giá thực hiện dân chủ cơ sở Nội dung của tiêu chí này được thể hiện ở các khía cạnh sau:

Thứ nhất, năng lực chuyên môn và trình độ kiến thức của cán bộ được nâng cao

Cán bộ, công chức cấp xã giải quyết nhanh chóng, hiệu quả, tránh tuỳ tiện, cảm tính các công việc chuyên môn thuộc phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao, đồng thời hướng dẫn, tuyên truyền pháp luật cho Nhân dân biết và thực hiện

Thứ hai, phẩm chất, đạo đức của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã được rèn luyện,

giữ gìn: ý thức, thái độ phục vụ Nhân dân lịch sự, hoà nhã trong giao tiếp với người dân; tôn trọng, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng, ý kiến của người dân để tìm ra cách giải quyết công việc của dân sao cho “thấu tình, đạt lí”; kiên quyết khắc phục mọi biểu hiện quan liêu, tắc trách, hách dịch, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để mưu cầu lợi ích cá nhân

* Tiêu chí đánh giá về chuyển biến trong hoạt động của cấp ủy Đảng, MTTQ và các tổ chức thành viên ở cơ sở

Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ được quy định, các cấp ủy Đảng, MTTQ và các tổ chức thành viên có vai trò quan trọng trong thực hiện dân chủ cơ sở Vì vậy, sự chuyển biến trong hoạt động của cấp ủy Đảng, MTTQ và các tổ chức thành viên ở cơ sở được coi là tiêu chí để đánh giá thực hiện dân chủ cơ sở Nội dung của tiêu chí này được thể hiện ở các khía cạnh sau:

Thứ nhất, đối với các cấp ủy Đảng, việc đánh giá sự thay đổi trong hoạt động ở các

nội dung sau: Các đường lối, chủ trương, định hướng cho việc thực hiện dân chủ cơ sở theo tình hình địa phương; Lãnh đạo và quán triệt quan điểm của Đảng về thực hiện dân chủ cơ

sở thông qua đội ngũ đảng viên; Bố trí cán bộ trong BCĐ thực hiện QCDC cơ sở; Kiểm tra Đảng, giám sát việc thực hiện dân chủ cơ sở đối với các tổ chức Đảng trực thuộc

Thứ hai, đối với MTTQ và các thành viên, việc đánh giá sự thay đổi trong hoạt động

ở các nội dung sau: lắng nghe và giải thích những bức xúc của người dân; Phân công người đứng đầu tham gia thành viên BCĐ thực hiện QCDC cùng cấp; Tổ chức các phong trào

Trang 24

đoàn kết trong Nhân dân cơ sở; Hoạt động giám sát đối với chính quyền cơ sở trong thực hiện dân chủ

* Tiêu chí đánh giá về trình độ hiểu biết và mức độ thực hiện nội dung pháp luật quy định về thực hiện dân chủ cơ sở của Nhân dân

Thực hiện dân chủ cơ sở nhằm phát huy quyền làm chủ của Nhân dân ngay từ cấp thấp nhất, thu hút Nhân dân tham gia quản lý, kiểm soát Nhà nước và Nhân dân được bàn và quyết định dân chủ đối với những công việc liên quan trực tiếp đến đời sống của Nhân dân trên địa bàn Vì vậy, trình độ hiểu biết và mức độ thực hiện nội dung Pháp luật quy định về thực hiện dân chủ cơ sở của Nhân dân được coi là tiêu chí để đánh giá thực hiện dân chủ cơ

sở [17] Nội dung của tiêu chí này được thể hiện ở các khía cạnh sau:

Thứ nhất, Nhân dân nhận thức được các quyền dân chủ của mình ở cơ sở Nhân dân

có những kiến thức cơ bản về quyền thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” và cách thức thực hiện các công việc đó Ví dụ: hiểu biết của Nhân dân về những nội dung, hình thức mà chính quyền cơ sở phải công khai, hiểu biết của Nhân dân về các hành vi bị nghiêm cấm trong thực hiện dân chủ cơ sở ở cấp xã …

Thứ hai, Nhân dân thực hiện được hành vi thể hiện quyền dân chủ cơ sở Nhân dân

có khả năng, có ý thức và có kĩ năng biến sự hiểu biết của bản thân để thực hiện các quyền dân chủ cơ sở Ví dụ: Nhân dân có tham gia bầu tổ trưởng dân phố, tham gia xây dựng quy ước, …

Thứ ba, Nhân dân đánh giá và điều chỉnh được hành vi thực hiện dân chủ cơ sở của bản thân Nhân dân tự đánh giá và điều chỉnh hành vi của mình theo hướng tích cực và thúc đẩy cộng đồng, xã hội phát triển Nhân dân có khả năng nhận ra sự thiết sót, chưa đúng trong pháp luật và hoạt động của Nhà nước về thực hiện dân chủ cơ sở Ví dụ: Nhân dân đánh giá đúng hay sai về hành vi không tham gia các cuộc họp tổ dân phố, Nhân dân đánh giá đúng hay sai về hành vi không tố cáo cá nhân, tổ chức vi phạm pháp luật …

* Tiêu chí đánh giá về tác động đối với đời sống địa phương

Có thể nói, không thể có dân chủ thực sự trong một xã hội kinh tế trì trệ, xã hội kém phát triển, văn hóa nghèo nàn, các chính sách xã hội không được thực hiện Vì vậy, tác động đối với đời sống địa phương được coi là tiêu chí để đánh giá thực hiện dân chủ cơ sở Nội dung của tiêu chí này được thể hiện ở các khía cạnh sau:

Thứ nhất, kinh tế, văn hóa – xã hội được phát triển, thể hiện ở một số nội dung sau:

Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai nhận được sự đồng thuận của Nhân dân; Chuyển dịch

cơ cấu kinh tế phù hợp với đặc điểm cơ sở; Quyết toán ngân sách được công khai; Xây dựng cơ sở trường, trạm, các dự án … đáp ứng nhu cầu Nhân dân; Các thiết chế văn hóa giúp nâng cao đời sống tinh thần của Nhân dân; Công khai mức thuế, phí và lệ phí, vốn vay xóa đói, …

Thứ hai, tình hình an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội được bảo đảm, thể hiện ở

một số nội dung sau: sự đồng thuận, đoàn kết trong Nhân dân; Nhân dân được bàn và quyết định trực tiếp những vấn đề an ninh, trật tự, xây dựng và tổ chức tự quản đời sống cộng

Trang 25

đồng; Chính quyền có trách nhiệm tiếp nhận và giải quyết đơn thư dân nguyện; Chính quyền bảo đảm cho Nhân dân được bảo về tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, các quyền về kinh tế …

1.3 Nội dung pháp luật điều chỉnh về thực hiện dân chủ cơ sở

Theo quy định hiện hành (Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn số 34/2007/PL-UBTVQH11 do Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành ngày 20-4-2007), nội dung pháp luật về thực hiện dân chủ cơ sở bao gồm các bộ phận chính sau đây:

* Nguyên tắc thực hiện dân chủ ở cấp xã: Bảo đảm trật tự, kỷ cương, trong khuôn

khổ Hiến pháp và pháp luật; Bảo đảm quyền của nhân dân được biết, tham gia ý kiến, quyết định, thực hiện và giám sát việc thực hiện dân chủ ở cấp xã; Bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; Công khai, minh bạch trong quá trình thực hiện dân chủ ở cấp xã; Bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước

* Trách nhiệm tổ chức thực hiện dân chủ ở cấp xã: Hội đồng nhân dân, Uỷ ban

nhân dân cấp xã, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan có trách nhiệm tổ chức thực hiện dân chủ ở cấp xã Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm phối hợp với

Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận cùng cấp trong việc tổ chức thực hiện dân chủ ở cấp xã Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận ở cấp xã có trách nhiệm giám sát việc thực hiện và tham gia tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện dân chủ ở cấp xã

* Các hành vi bị nghiêm cấm: Không thực hiện hoặc làm trái các quy định về thực

hiện dân chủ ở cấp xã; Trù dập người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị có liên quan đến việc thực hiện dân chủ ở cấp xã; Bao che, cản trở hoặc thiếu trách nhiệm trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị có liên quan đến việc thực hiện dân chủ ở cấp xã; Lợi dụng việc thực hiện dân chủ ở cấp xã để xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân

* Những nội dung, hình thức công khai để Nhân dân biết

Điều 5 quy định những nội dung mà chính quyền cấp xã phải công khai để Nhân dân biết, cụ thể: Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, phương án chuyển dịch cơ cấu kinh tế

và dự toán, quyết toán ngân sách hằng năm của cấp xã; Dự án, công trình đầu tư và thứ tự

ưu tiên, tiến độ thực hiện, phương án đền bù, hỗ trợ giải phóng mặt bằng, tái định cư liên quan đến dự án, công trình trên địa bàn cấp xã; quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chi tiết và phương án điều chỉnh, quy hoạch khu dân cư trên địa bàn cấp xã; Nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức cấp xã trực tiếp giải quyết các công việc của Nhân dân; Việc quản lý và

sử dụng các loại quỹ, khoản đầu tư, tài trợ theo chương trình, dự án đối với cấp xã; các khoản huy động Nhân dân đóng góp; Chủ trương, kế hoạch vay vốn cho Nhân dân để phát triển sản xuất, xoá đói, giảm nghèo; phương thức và kết quả bình xét hộ nghèo được vay vốn phát triển sản xuất, trợ cấp xã hội, xây dựng nhà tình thương, cấp thẻ bảo hiểm y tế; Đề

án thành lập mới, nhập, chia đơn vị hành chính, điều chỉnh địa giới hành chính liên quan trực tiếp tới cấp xã; Kết quả thanh tra, kiểm tra, giải quyết các vụ việc tiêu cực, tham nhũng

Trang 26

của cán bộ, công chức cấp xã, của cán bộ thôn, tổ dân phố; kết quả lấy phiếu tín nhiệm Chủ tịch và Phó Chủ tịch HĐND, Chủ tịch và Phó Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân cấp xã; Nội dung

và kết quả tiếp thu ý kiến của Nhân dân đối với những vấn đề thuộc thẩm quyền quyết định của cấp xã mà chính quyền cấp xã đưa ra lấy ý kiến Nhân dân theo quy định tại Điều 19 của Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn; Đối tượng, mức thu các loại phí, lệ phí

và nghĩa vụ tài chính khác do chính quyền cấp xã trực tiếp thu; Các quy định của pháp luật

về thủ tục hành chính, giải quyết các công việc liên quan đến Nhân dân do chính quyền cấp

xã trực tiếp thực hiện; Những nội dung khác theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của

cơ quan Nhà nước có thẩm quyền hoặc chính quyền cấp xã thấy cần thiết Về hình thức công khai cho Nhân dân biết, những nội dung quy định tại Điều 5 công khai bằng các hình thức: niêm yết công khai tại trụ sở HĐND, UBND cấp xã; công khai trên hệ thống truyền thanh của cấp xã; công khai thông qua Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố để thông báo đến Nhân dân

* Những nội dung, hình thức Nhân dân được bàn và quyết định trực tiếp

Những nội dung Nhân dân bàn, quyết định trực tiếp được quy định tại Điều 10, đó là: chủ trương và mức đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng, các công trình phúc lợi công cộng trong phạm vi xã, thôn do Nhân dân đóng góp toàn bộ hoặc một phần kinh phí và các công việc khác trong nội bộ cộng đồng dân cư phù hợp với quy định của pháp luật

Về hình thức Nhân dân bàn và quyết định trực tiếp được quy định tại Điều 11 Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn năm 2007 bằng một trong các hình thức sau đây: Tổ chức cuộc họp cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình theo địa bàn từng thôn, tổ dân phố; Phát phiếu lấy ý kiến tới cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình; Trường hợp tổ chức họp cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình thì việc biểu quyết được thực hiện bằng hình thức giơ tay hoặc bỏ phiếu kín, nếu đa số người tán thành chưa đạt quá 50% tổng số cử tri hoặc

cử tri đại diện hộ gia đình trong thôn, tổ dân phố hoặc trong toàn cấp xã thì tổ chức lại cuộc họp; Trường hợp không tổ chức lại được cuộc họp thì phát phiếu lấy ý kiến tới cử tri hoặc

cử tri đại diện hộ gia đình

* Những nội dung, hình thức Nhân dân bàn, biểu quyết để cấp có thẩm quyền quyết định

Nhân dân bàn, biểu quyết để cấp có thẩm quyền quyết định quy định tại Điều 13, bao gồm: hương ước, quy ước của thôn; bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Trưởng thôn; bầu, bãi nhiệm thành viên Ban TTND, Ban giám sát đầu tư của cộng đồng Nhân dân bàn và biểu quyết để cấp có thẩm quyền quyết định bằng một trong các hình thức: Tổ chức cuộc họp cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình theo địa bàn từng thôn, tổ dân phố; Phát phiếu lấy ý kiến tới cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình; Trường hợp tổ chức họp cử tri hoặc cử tri đại diện

hộ gia đình thì việc biểu quyết được thực hiện bằng hình thức giơ tay hoặc bỏ phiếu kín; hình thức biểu quyết do hội nghị quyết định; nếu số người tán thành chưa đạt quá 50% tổng

số cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình trong thôn, tổ dân phố thì tổ chức lại cuộc họp; Trường hợp không tổ chức lại được cuộc họp thì phát phiếu lấy ý kiến tới cử tri hoặc cử tri

Trang 27

đại diện hộ gia đình, trừ việc bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố

* Những nội dung, hình thức Nhân dân tham gia ý kiến để cấp có thẩm quyền quyết định

Những nội dung Nhân dân tham gia ý kiến trước khi cơ quan có thẩm quyền quyết định (Điều 19) bao gồm: Dự thảo kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cấp xã; phương án chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cơ cấu sản xuất; đề án định canh, định cư, vùng kinh tế mới và phương án phát triển ngành nghề của cấp xã; Dự thảo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chi tiết và phương án điều chỉnh; việc quản lý, sử dụng quỹ đất của cấp xã; Dự thảo kế hoạch triển khai các chương trình, dự án trên địa bàn cấp xã; chủ trương, phương án đền bù, hỗ trợ giải phóng mặt bằng, xây dựng cơ sở hạ tầng, tái định cư; phương án quy hoạch khu dân cư;

Dự thảo đề án thành lập mới, nhập, chia đơn vị hành chính, điều chỉnh địa giới hành chính liên quan trực tiếp đến cấp xã; Những nội dung khác cần phải lấy ý kiến Nhân dân theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền hoặc chính quyền cấp xã thấy cần thiết

Về hình thức Nhân dân tham gia ý kiến để cơ quan có thẩm quyền quyết định được quy định trong Điều 20, bao gồm: Họp cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình theo địa bàn từng thôn, tổ dân phố; Phát phiếu lấy ý kiến cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình; Thông

qua hòm thư góp ý

* Những nội dung, hình thức Nhân dân giám sát

Tất cả những nội dung Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn năm 2007 quy định người dân có quyền được biết, được quyết định và được tham gia ý kiến thì người dân cũng có quyền giám sát Hình thức giám sát: Thông qua hoạt động của Ban TTND, Ban giám sát đầu tư của cộng đồng; Thông qua quyền khiếu nại, tố cáo, kiến nghị với cơ quan,

tổ chức có thẩm quyền hoặc kiến nghị thông qua Ủy ban MTTQ Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận cấp xã (Điều 24)

1.4 Vai trò của chính sách pháp luật về thực hiện dân chủ cơ sở

Thứ nhất, tạo bầu không khí cởi mở, dân chủ trong xã hội, củng cố niềm Nhân dân

Pháp luật thực hiện dân chủ cơ sở đã tạo bầu không khí dân chủ, cởi mở trong xã hội, củng

cố thêm niềm tin của Nhân dân vào chế độ xã hội, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân và vì dân Trong một thời gian dài trước đây dân chủ cơ sở đã không được quan tâm đúng mức, nhiều nơi, nhiều lúc dân chủ cơ sở bị

vi phạm nghiêm trọng, người dân không có cơ chế để bảo vệ và thực hiện quyền làm chủ của mình

Thứ hai, góp phần hoàn chỉnh hệ thống pháp luật, phù hợp với phát triển kinh tế - xã hội, góp phần xây dựng pháp chế xã hội chủ nghĩa Sự ra đời của pháp luật thực hiện dân

chủ cơ sở là một bước đột phá quan trọng trong việc thực hiện hóa bản chất dân chủ của Nhà nước ta Sự ra đời của pháp luật thực hiện dân chủ đã góp phần hoàn chỉnh hệ thống pháp luật, phù hợp với sự phát triển của các điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước trong

Trang 28

thời kỳ mới, bảo đảm nguyên tắc pháp chế ững quan hệ xã hội quan trọng phải được điều chỉnh bằng pháp luật Pháp luật về thực hiện dân chủ cơ sở đã khơi dậy tiềm tàng của Nhân dân trong quá trình xây dựng Nhà nước và xã hội Thông qua hình thức hoạt động dân chủ trực tiếp tại cơ sở người dân có điều kiện tham gia ý kiến, có điều kiện tập dượt, trưởng thành trong vai trò của người chủ đích thực Kinh tế, văn hóa, xã hội phát triển là nền tảng

để giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội ở địa phương, đất nước

Thứ ba, nâng cao nhận thức của xã hội đối với các quyền tự do dân chủ, hình thức dân chủ Hiến pháp và pháp luật nước ta đã xác nhận các quyền dân chủ, hình thức thực

hiện dân chủ của công dân trong việc tham gia quản lý Nhà nước, quản lý xã hội, tham gia thảo luận các vấn đề chung, trọng đại của cả nước cũng như của từng địa phương, nêu các

đề xuất, kiến nghị với các cơ quan Nhà nước Ở cấp xã, thông qua việc thực hiện pháp luật

về dân chủ cơ sở, người dân có điều kiện thuận lợi để biết được các quyền dân chủ của mình, hiểu các nguyên tắc, hình thức thực hiện các quyền đó cũng như các hành vi bị nghiêm cấm

Thứ tư, pháp luật về thực hiện dân chủ cơ sở là phương tiện pháp lý cơ bản, hiệu quả

nhất bảo đảm quyền con người, quyền công dân, thực thi quyền làm chủ của nhân dân tại địa bàn cơ sở Thực hiện tốt dân chủ tại cơ sở sẽ góp phần xây dựng, củng cố và phát huy nền dân chủ, góp phần bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân Tuy nhiên, dân chủ sẽ chỉ là những khẩu hiệu nằm trên biểu ngữ nếu không có cơ chế hữu hiệu để hiện thực hóa Thông qua các thể chế, thiết chế và các bảo đảm được ghi nhận và triển khai trên thực

tế, dân chủ sẽ chuyển hóa từ lý tưởng, mong muốn thành hiện thực đời sống

Thứ năm, góp phần xây dựng hệ thống chính trị của cơ sở nói chung, đặc biệt là chính quyền cơ sở Thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở góp phần đổi mới hoạt động của bộ máy

chính quyền cơ sở theo hướng công khai, minh bạch, dân chủ, chú trọng đến chất lượng và hiệu quả giải quyết công việc để thích ứng với yêu cầu ngày càng cao của đời sống dân chủ

ở địa phương Đồng thời, thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở là nền tảng để sửa đổi lề lối làm việc của đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở theo hướng chuyên nghiệp và hiện đại; nâng

cao vai trò, trách nhiệm của họ trong quá trình thực hiện dân chủ cơ sở Thứ sáu, tác động đến các văn bản quy phạm pháp luật khác Pháp luật về thực hiện dân chủ cơ sở đã góp

phần nâng cao hiệu quả tác động tới các luật khác như: Luật Tổ chức chính quyền địa phương, Luật Khiếu nại; Luật Tố cáo; Luật Tiếp công dân, luật Bầu cử đại biểu Quốc hộ đại

biểu Hội đồng nhân dân

1.5 Những yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách pháp luật về dân chủ cơ

sở ở vùng dân tộc thiểu số

1.5.1 Yếu tố kinh tế, chính trị

Xây dựng chính sách cần phải xử lý mối quan hệ giữa chính sách cho vùng, cộng đồng, cho hộ gia đình nói chung với chính sách dân tộc, tránh các can thiệp chồng chéo và không phù hợp Hiện nay, nhiều chính sách về dân tộc thường được thiết kế theo phương thức “một can thiệp phù hợp cho tất cả”, trong khi đặc điểm mỗi vùng miền, địa phương,

Trang 29

dân tộc là rất khác biệt Điều này không chỉ làm giảm sự phù hợp của chính sách, mà còn hạn chế tính sáng tạo, hiệu quả thực hiện chính sách ở cấp địa phương Vì vậy, cần quan tâm sử dụng phương pháp tiếp cận nhân học phát triển để phát huy những giá trị văn hóa và nguồn lực nội tại của các nhóm DTTS cho phát triển

Để chính sách, pháp luật thực sự đi vào cuộc sống, phải xây dựng theo cách tiếp cận

từ dưới lên, tránh việc đưa ra các mục tiêu, nội dung, nhiệm vụ, định mức thiếu thực tế Mặt khác, cần tránh việc quy định quá chi tiết, cụ thể các nội dung, định mức, cách thức, trong từng cơ chế, chính sách vĩ mô, vì như vậy sẽ làm mất tính chủ động, sáng tạo, cũng như làm giảm “trách nhiệm” của chính quyền địa phương trong tổ chức thực hiện, từ đó làm giảm hiệu quả các chính sách nói chung và cơ chế, chính sách về dân tộc nói riêng

Mặt khác, mỗi DTTS đều có nguồn năng lực nội sinh và thế mạnh riêng để tồn tại

Vì vậy, các chính sách cần hướng đến việc phát huy các nguồn năng lực nội sinh đó Không nên đưa ra các chính sách chỉ hỗ trợ mang tính “cho không” như hiện nay mà phải theo hướng “có điều kiện”, nghĩa là người nghèo, hộ nghèo, xã nghèo phải có trách nhiệm khi thụ hưởng chính sách của Nhà nước Đây là vấn đề mà chính sách giảm nghèo chưa tiếp cận đúng trong thời gian qua Không quy định điều kiện đối với đối tượng thụ hưởng sẽ dẫn đến tình trạng trông chờ, ỷ lại vào chính sách, vì thế không tạo được động lực phát triển

Về chính trị quyền tham gia bầu cử, ứng cử là quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân Trong những kỳ bầu cử vừa qua, tỷ lệ cử tri đi bỏ phiếu ở vùng đồng bào dân tộc thường chiếm tỷ lệ rất cao, là minh chứng rõ nét cho việc thực hiện và bảo đảm quyền chính trị của công dân nói chung Việc tham gia bộ máy nhà nước, tổ chức chính trị đại diện cho nhân dân cũng đạt thành tựu đáng kể, tăng cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu thành phần

các cấp qua các nhiệm kỳ

1.5.2 Yếu tố lịch sử, văn hóa

Các đặc điểm xã hội, văn hóa, phong tục, tập quán cũng như các yếu tố đặc điểm tự nhiên, lịch sử và kinh tế từng vùng, từng dân tộc có tác động lớn trong việc xây dựng chính sách dân tộc Để các chính sách có thể đi vào đời sống thực tế thì việc xây dựng chính sách dân tộc và các chương trình dự án phát triển vùng DTTS cần phải được xem xét, tính tới các yếu tố, đặc điểm văn hóa như một điều kiện để bảo đảm cho tính phù hợp của chính sách Trong thực tế, mỗi DTTS đều có phong tục, tập quán, nếp nghĩ, luật tục riêng biệt, do đó việc xây dựng chính sách, pháp luật để phát triển các DTTS có thể thực hiện bằng hai phương thức sau:

Thứ nhất, ban hành một đạo luật riêng với tên gọi phù hợp nhằm điều chỉnh các mối

quan hệ liên quan đến DTTS, tạo hành lang pháp lý cho phát triển các dân tộc, vùng DTTS Quan tâm đến các đặc thù về phong tục, tập quán, cách suy nghĩ và tư tưởng của các DTTS

để xây dựng luật cho phù hợp

Thứ hai, không ban hành luật riêng mà tiến hành rà soát lại tất các luật hiện hành có

liên quan để bổ sung, chỉnh sửa các nội dung còn thiếu, chưa phù hợp với vấn đề phát triển

Trang 30

các DTTS và vùng DTTS Cách làm này đòi hỏi phải nghiên cứu kỹ phong tục, tập quán, luật tục liên quan đến từng luật chuyên ngành để có sự bổ sung, sửa đổi phù hợp

1.5.3 Quốc phòng và an ninh

Đa số vùng nông thôn, nơi các DTTS sinh sống tập trung chưa được quy hoạch, xa các trung tâm huyện, tỉnh Các tỉnh có đông đồng bào DTTS sinh sống là những tỉnh trong nhóm nghèo và nghèo nhất cả nước, xa các trung tâm động lực phát triển các khu vực; tài nguyên môi trường vùng miền núi biến đổi mạnh, nhanh.Tình hình tôn giáo, tín ngưỡng ở các vùng DTTS diễn biến rất đa dạng và có không ít nơi không bình thường; có nơi tôn giáo

đã và đang bị kẻ xấu lợi dụng để tập hợp lực lượng, kích động phá hoại đoàn kết dân tộc, chống Đảng, chống chế độ, đòi ly khai… Các tổ chức phản động trong và ngoài nước tìm mọi cách lợi dụng những khó khăn phức tạp trong vùng DTTS để kích động, tập hợp lực lượng gây bất ổn về an ninh chính trị, trật tự xã hội

1.5.4 Trình độ, năng lực lãnh đạo, quản lý điều hành của đội ngũ cán bộ

Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở là người dân tộc thiểu số (DTTS) từng bước được củng cố, kiện toàn cả về số lượng và chất lượng, bảo đảm sự lãnh đạo, quản lý, góp phần thúc đẩy sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội khu vực Tuy nhiên, một bộ phận cán bộ chủ chốt cấp cơ sở là người DTTS có trình độ chuyên môn chưa đạt chuẩn, trình độ văn hoá thấp; chưa được bồi dưỡng quản lý nhà nước, đào tạo lý luận chính trị, còn yếu về kỹ năng lãnh đạo, quản lý Trước thực trạng trên, đòi hỏi các cấp ủy đảng, chính quyền các tỉnh cần có những giải pháp tăng cường đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lý của cán bộ chủ chốt cấp cơ sở là người DTTS, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ mới

1.5.5 Chính sách, chế độ đối với đội ngũ cán bộ, công chức

Một số cán bộ quản lý của các Sở, Phòng chưa biết hoặc ít biết tiếng dân tộc nên gặp khó khăn trong công tác quản lý, chỉ đạo, kiểm tra;

- Đội ngũ giáo viên dạy tiếng dân tộc thiểu số còn thiếu về số lượng, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm còn hạn chế Nguyên nhân là do phần lớn giáo viên chưa được đào tạo chính quy

- Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho việc đào tạo, bồi dưỡng tiếng dân tộc như: sách giáo khoa, tài liệu, tư liệu hỗ trợ chưa đáp ứng được so với nhu cầu của việc dạy

và học

- Về thực hiện chế độ chính sách: Ngân sách của Trung ương, của địa phương đầu tư cho công tác đào tạo, bồi dưỡng tiếng dân tộc cho CBCC còn hạn chế Nhiều địa phương chưa có chính sách hỗ trợ, động viên, khuyến khích và tạo điều kiện để đội ngũ nhà giáo, CBCC thực hiện tốt công tác dạy và học tiếng dân tộc

- Hình thức tổ chức lớp học: Do địa bàn rộng, đi lại khó khăn nên việc thực hiện dạy tiếng DTTS cho CBCC chỉ được thực hiện tại các trung tâm huyện, thành phố, trong khi nhu cầu cấp thiết là đội ngũ và nhà giáo đang công tác tại các xã vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào DTTS thì không có điều kiện được đào tạo, bồi dưỡng

Trang 31

- Đặc điểm cán bộ: Một bộ phận cán bộ, công chức học xong tiếng dân tộc thiểu số nhưng không có điều kiện áp dụng thường xuyên nên không phát huy được tác dụng Một số cán bộ, công chức có động cơ học tập tiếng dân tộc chưa đúng đắn như nhằm mục tiêu chuẩn hóa, miễn giảm trong việc thi nâng ngạch công chức, bổ nhiệm nên thường chú trọng bằng cấp, ít quan tâm đến chất lượng và quy chế học tập Các cơ quan, đơn vị chưa xây dựng kế hoạch cho CBCC tham gia lớp đào tạo, bồi dưỡng tiếng dân tộc

- Thời gian đào tạo, bồi dưỡng tiếng dân tộc còn rất ngắn chỉ khoảng 3 đến 6 tháng,

số tiết học ít nên chất lượng học tập chưa cao

1.6 Ý nghĩa của việc thực hiện chính sách pháp luật về dân chủ cơ sở ở vùng dân tộc thiểu số ở nước ta

1.6.1 Thực hiện chính sách pháp luật về dân chủ cơ sở góp phần mở rộng dân chủ, đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân vùng dân tộc thiểu số

Thực hiện dân chủ ở cơ sở đã tạo điều kiện cho các tầng lớp nhân dân được tham gia chính kiến, quan điểm vào quá trình xây dựng, hoạch định và giám sát việc thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật được coi trọng Quyền khiếu nại, tố cáo của nhân dân được bảo đảm thực hiện trên thực tế; việc giải quyết các vụ việc khiếu nại,

tố cáo của người dân ngày càng hiệu quả và kịp thời hơn

1.6.2 Thực hiện chính sách pháp luật về dân chủ cơ sở thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội và bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số

Thực hiện đân chủ cơ sở để thúc đẩy sự phát triển kinh tế của vùng DTTS, Ban Dân tộc tăng cường phối hợp tuyên truyền các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Chủ động nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của Nhân dân các dân tộc, phối hợp các sở, ngành liên quan giải quyết, tháo gỡ khó khăn cho các địa phương trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách ở vùng đồng bào dân tộc

Chủ trương thực hiện dân chủ cơ sở và bảo đảm ANQP ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới

Như vậy công tác đảm bảo an ninh, quốc phòng (ANQP) vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi thời gian qua đã đạt được những thành tựu rất quan trọng góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, góp phần tích cực trong phát triển kinh tế, xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số; khối đại đoàn kết dân tộc được tăng cường, niềm tin của đồng bào các dân tộc với Đảng, Nhà nước, chế độ được củng cố; đời sống mọi mặt cả

về vật chất và tinh thần của đồng bào các dân tộc ngày càng nâng cao; hệ thống chính trị và đội ngũ cán bộ ở cơ sở không ngừng được củng cố và trưởng thành vững mạnh

Trang 32

1.6.3 Thực hiện chính sách pháp luật về dân chủ cơ sở góp phần xây dựng chính quyền địa phương trong sạch, vững mạnh

Đảng cầm quyền, thực hiện dân chủ là một giải pháp hạn chế sự tha hóa của quyền

lực nhà nước

Thực hiện pháp lệnh dân chủ cơ sở không còn là một khẩu hiệu chung chung mà đã

trở thành những quy phạm pháp luật quy định cụ thể quyền của người dân, nhân dân đã có công cụ để thực hiện quyền làm chủ của mình ở cơ sở

Tiểu kết chương 1

Xã, phường, thị trấn là đơn vị hành chính cơ sở của nước ta, là cấp trực tiếp nhất, gần dân nhất Trong bốn cấp chính quyền của bộ máy nhà nước, chính quyền xã, phường, thị trấn là cấp cơ sở; là nền tảng của xã hội, là nơi đông đảo nhân dân sinh sống; là nơi dân thực hiện dân chủ một cách trực tiếp và rộng rãi nhằm giải quyết các công việc trong cộng đồng dân cư, bảo đảm đoàn kết, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội và vệ sinh môi trường; là nơi dân sản xuất, kinh doanh, lao động, học tập; xã, phường, thị trấn cũng là nơi nảy sinh nhiều yêu cầu bức xúc hàng ngày của các lĩnh vực kinh tế, chính trị-xã hội; cũng là nơi

thực hiện trực tiếp mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước

Thực hiện pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn sẽ góp phần cải cách hành chính, sửa đổi những cơ chế, chính sách và thủ tục hành chính sao cho sát thực, phù hợp với cuộc sống thực tiễn hàng ngày Thực hiện pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn còn là biện pháp phát huy và mở rộng dân chủ, đưa nội dung

“dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” đi vào cuộc sống, có hiệu quả cao hơn

Trang 33

Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT

VỀ DÂN CHỦ CƠ SỞ Ở VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở TỈNH QUẢNG NINH

2.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên và tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Ninh

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

- Điều kiện tự nhiên

Quảng Ninh nằm ở địa đầu phía đông bắc Việt Nam, có dáng một con cá sấu nằm chếch theo hướng đông bắc - tây nam Tỉnh Quảng Ninh cách thủ đô Hà Nội 153 km về phía Đông Bắc Phía đông nghiêng xuống nửa phần đầu Vịnh Bắc bộ, phía tây tựa lưng vào

40'

xuống nam khoảng 195 km Phía đông bắc của tỉnh giáp với Trung Quốc, phía nam giáp vịnh Bắc Bộ, phía tây nam giáp tỉnh Hải Dương và thành phố Hải Phòng, đồng thời phía tây bắc giáp các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang và Hải Dương

phố Móng Cái, ngoài khơi là mũi Sa Vĩ

xã Đông Triều

Quảng Ninh là một trong 25 tỉnh, thành phố có biên giới, tuy nhiên lại là tỉnh duy nhất có đường biên giới trên bộ và trên biển với Trung Quốc, với đường biên giới trên bộ dài 118,825 km và đường phân định Vịnh Bắc Bộ trên biển dài trên 191 km Mặt khác, Quảng Ninh là một trong 28 tỉnh, thành giáp biển, với đường bờ biển dài 250 km, trong đó

có 40.000 hecta bãi triều và trên 20.000 hecta eo vịnh, có 2/12 huyện đảo của cả nước

- Dân số

Tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2019, dân số toàn tỉnh Quảng Ninh đạt 1.320.324 người, mật độ dân số đạt 198 người/km².] Trong đó dân số sống tại thành thị đạt gần 845.805 người, chiếm 64,1% dân số toàn tỉnh[43], dân số sống tại nông thôn đạt 474.519 người, chiếm 35,9% dân số Dân số nam đạt 671.522 người, trong khi đó nữ đạt 648.802 người Tỷ lệ tăng tự nhiên dân số phân theo địa phương tăng 1,42 ‰

Dân cư Quảng Ninh tập trung chủ yếu ở bốn thành phố và hai thị xã, là các trung tâm của ngành công nghiệp khai thác than, du lịch và cửa khẩu của Việt Nam, phần 8 huyện còn lại dân cư tương đối thưa thớt, sống chủ yếu bằng nghề nông

Theo thống kê của tổng cục thống kê Việt Nam, tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2019, toàn tỉnh Quảng Ninh có 34 dân tộc và người nước ngoài cùng sinh sống Trong đó, người Kinh đông nhất với 1.157.193 người, tiếp sau đó là các dân tộc ít người như người Dao,

Trang 34

người Tày, Sán Dìu, người Sán Chay, người Hoa, người Nùng, người Mường, người Thái với 162.531 người

- Văn hóa

Quảng Ninh là nơi sản sinh và nuôi dưỡng rất nhiều các tài năng nghệ thuật, đặc biệt

là trong lĩnh vực âm nhạc Có thể kể đến các nghệ sĩ thế hệ đầu như Nghệ sĩ ưu tú Dương Phú, Nghệ sĩ Nhân dân Lê Dung, Nghệ sĩ Nhân dân Quang Thọ và sau này là những Hồ Quỳnh Hương, Ngọc Anh, Bích Phương, Kim Tiểu Phương, Tuấn Anh, Hoàng Thái, Hà Hoài Thu, Hoàng Tùng, Tô Minh Thắng v.v cùng với "cô con dâu" gốc Hà Nam Tân Nhàn

- Giáo dục

Năm 2017, toàn tỉnh có 100% đơn vị cấp xã đạt chuẩn phổ cập giáo dục, xóa mù chữ Trong đó, phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi đạt chuẩn 100%; phổ cập giáo dục tiểu học đạt chuẩn mức độ 1 là 0,5%, mức độ 2 là 6%, mức độ 3 là 93,5%; phổ cập giáo dục THCS đạt chuẩn mức độ 1 là 9,7%, mức độ 2 là 31,7%, mức độ 3 là 58,6%

Tính đến ngày 15/6/2018, tỷ lệ trường chuẩn quốc gia đạt 80,87% (520/643 trường, trong đó: THPT có 37 trường; THCS có 144 trường; tiểu học có 161 trường; mầm non có

Cùng với đó, trên địa bàn tỉnh đã hình thành hệ thống hơn 30 trung tâm, cửa hàng, điểm giới thiệu sản phẩm OCOP và hầu hết sản phẩn OCOP của tỉnh đã được trưng bày, giới thiệu tại các địa điểm này Nhiều sản phẩm OCOP của tỉnh không những được người tiêu dùng trong và ngoài tỉnh biết đến mà còn được du khách nước ngoài quan tâm, biết

đến, như: Đồ gốm sứ Quang Vinh, ngọc trai Hạ Long, ghẹ lột Móng Cái

2.2 Phân tích thực trạng dân tộc thiểu số và thực hiện chính sách dân tộc trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh

2.2.1 Tình hình dân tộc thiểu số ở tỉnh Quảng Ninh

Theo Quyết định số 582/QĐ-TTg ngày 28/4/2017 của Thủ tướng Chính phủ, vùng dân tộc thiểu số (DTTS) và miền núi của tỉnh gồm 113 xã, phường, thị trấn, trong đó có 64

xã khu vực I, 32 xã khu vực II, 17 xã khu vực III (xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn) và 03 xã biên giới thuộc diện đầu tư của Chương trình 135, 07 xã bãi ngang ven biển và 208 thôn ĐBKK Theo kết quả tổng điều tra dân số và nhà ở ngày 01/4/2019, tổng dân số trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh là 1.320.324 người, trong đó DTTS là 162.531 người,

Ngày đăng: 09/04/2021, 11:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Đảng Cộng sản Việt Nam, Báo cáo tổng kết 6 năm thực hiện Chỉ thị số 30 CT/TW của Bộ Chính trị(khóa VIII) về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, Hà Nội, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết 6 năm thực hiện Chỉ thị số 30 CT/TW của Bộ Chính trị(khóa VIII) về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở
3. Lê Trọng Ân, “Dân chủ và phát huy dân chủ của nhân dân trong sự nghiệp đổi mới”, Tạp chí Cộng sản, (24), 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lê Trọng Ân, “Dân chủ và phát huy dân chủ của nhân dân trong sự nghiệp đổi mới”
4. Lương Gia Ban, Dân chủ và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân chủ và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
5. Nguyễn Bá Chiến, Cơ chế đảm bảo dân chủ trong hệ thống pháp luật Việt Nam, Nxb Tư pháp, H.2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ chế đảm bảo dân chủ trong hệ thống pháp luật Việt Nam
Nhà XB: Nxb Tư pháp
6. Doãn Hùng (chủ nhiệm, 2010), Chính sách phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội đối với các vùng DTTS Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ - cơ sở lý luận và thực tiễn, Đề tài khoa học cấp Nhà nước Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội đối với các vùng DTTS Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ - cơ sở lý luận và thực tiễn
7. Phan Văn Hùng (Chủ biên), Một số vấn đề mới trong quan hệ dân tộc và chính sách dân tộc, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề mới trong quan hệ dân tộc và chính sách dân tộc
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật
8. Hoàng Hữu Bình - Phan Văn Hùng (Đồng Chủ biên), Một số vấn đề về đổi mới xây dựng và thực hiện chính sách dân tộc, Nxb. Chính trị - Hành chính, Hà Nội, 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về đổi mới xây dựng và thực hiện chính sách dân tộc
Nhà XB: Nxb. Chính trị - Hành chính
9. Hoàng Thị Hương (2012), Mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa DTTS ở Miền núi phía Bắc nước ta hiện nay, Luận án tiến sĩ, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa DTTS ở Miền núi phía Bắc nước ta hiện nay
Tác giả: Hoàng Thị Hương
Năm: 2012
13. Viện Chính sách công và Pháp luật (Đồng chủ biên: GS. TSKH. Đào Trí Úc – TS. Vũ Công Giao, 2014), Dân chủ trực tiếp (Số tay IDEA Quốc tế), Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân chủ trực tiếp (Số tay IDEA Quốc tế)
Nhà XB: Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội
14. Viện Chính sách công và Pháp luật (Đồng chủ biên: GS. TSKH. Đào Trí Úc – TS. Vũ Công Giao, 2014), Dân chủ ở cấp địa phương (Số tay IDEA Quốc tế), Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân chủ ở cấp địa phương (Số tay IDEA Quốc tế)
Nhà XB: Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội
15. Viện Khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp, TS. Nguyễn Văn Hiển, 2014, Về thi hành Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn năm 2007, Nxb. Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về thi hành Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn năm 2007
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
16. Đỗ Văn Dương, Thực hiện pháp luật về dân chủ ở xã, phường, thị trấn trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên, Luận án tiến sĩ Luật, Hà Nội, 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hiện pháp luật về dân chủ ở xã, phường, thị trấn trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên
17. Nguyễn Hồng Chuyên, Thực hiện pháp luật về dân chủ ở cấp xã theo yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luận án tiến sĩ Luật học, 2014, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hiện pháp luật về dân chủ ở cấp xã theo yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
18. Vương Ngọc Thịnh, Thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở trên địa bàn huyện Hoài Đức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở trên địa bàn huyện Hoài Đức
19. Vũ Thị Nhung, Thực hiện dân chủ ở cấp xã – thực trạng và giải pháp, Luận văn thạc sĩ Quản lý hành chính công, Hà Nội, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hiện dân chủ ở cấp xã – thực trạng và giải pháp
27. Trần Thị Minh Châu, Hoàn thiện pháp luật về thực hiện dân chủ cơ sở ở Việt Nam, ngày đăng 05/12/2018, xem tại http://tcnn.vn/news/detail/41762/Hoan-thien-phap- luat-ve-thuc-hien-dan-chu-co-so-o-Viet-Nam.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện pháp luật về thực hiện dân chủ cơ sở ở Việt Nam
1. Đại học Luật Hà Nội (2017), Giáo trình Luật Hiến pháp Việt Nam, Nxb Tư pháp, Hà Nội Khác
12. Viện Chính sách công và Pháp luật – Viện Nhà nước và Pháp luật (Đồng chủ biên: GS.TSKH. Đào Trí Úc – PGS.TS. Trịnh Đức Thảo – TS. Vũ Công Giao – TS.Trương Hồ Hải, 2014), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về dân chủ trực tiếp, dân chủ cơ Khác
21. Nguyễn Hữu Hải, Lê Văn Hoà (2013), Đại cương về phân tích chính sách công, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
22. PGS.TS. Nguyễn Bá Chiến, Cơ chế đảm bảo dân chủ trong hệ thống pháp luật Việt Nam,NXB Tư pháp,2018 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w