ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM --- HOÀNG VĂN THỦY KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC TÊN ĐỀ TÀI: ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP TẬP HUẤN KHUYẾN NÔNG ĐỂ ĐÁNH GIÁ NHU CẦU VÀ SỰ THAM GIA
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-
HOÀNG VĂN THỦY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
TÊN ĐỀ TÀI:
ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP TẬP HUẤN KHUYẾN NÔNG ĐỂ ĐÁNH GIÁ NHU CẦU VÀ SỰ THAM GIA CỦA NGƯỜI DÂN TẠI
XÃ TÂN LONG, HUYỆN ĐỒNG HỶ, TỈNH THÁI NGUYÊN
Hệ đào tạo : Chính quy Định hướng đề tài : Hướng ứng dụng Chuyên ngành : Khuyến Nông Khoa : Kinh Tế & PTNT Khoá học : 2013 – 2017
Thái nguyên-năm 2018
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-
HOÀNG VĂN THỦY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
TÊN ĐỀ TÀI:
ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP TẬP HUẤN KHUYẾN NÔNG ĐỂ ĐÁNH GIÁ NHU CẦU VÀ SỰ THAM GIA CỦA NGƯỜI DÂN TẠI
XÃ TÂN LONG, HUYỆN ĐỒNG HỶ, TỈNH THÁI NGUYÊN
Hệ đào tạo : Chính quy Định hướng đề tài : Hướng ứng dụng
Chuyên ngành : Khuyến Nông Khoa : Kinh Tế & PTNT Khoá học : 2013 – 2017
Giảng viên hướng dẫn : Th.S Nguyễn Mạnh Thắng
Thái nguyên-năm 2018
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Thực tập tốt nghiệp là một giai đoạn hết sức quan trọng của sinh viên,
đó là thời gian để sinh viên tiếp cận với thực tế nhằm củng cố và vận dụng những kiến thức mà mình đã học được ở nhà trường Một giai đoạn không thể thiếu đối với mỗi sinh viên các trường Đại học nói chung và sinh viên Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên nói riêng
Sau một thời gian thực tập, đến nay đề tài “Ứng dụng phương pháp
tập huấn khuyến nông để đánh giá nhu cầu và sự tham gia của người dân tại xã Tân Long, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên” đã được hoàn thành
Để có được kết quả này, ngoài sự cố gắng của bản thân, em còn nhận được nhiều sự hợp tác và giúp đỡ từ các thầy cô giáo, các ban ngành, gia đình và bạn bè Em xin trân trọng gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Th.s Nguyễn Mạnh Thắng, người đã trực tiếp hướng dẫn và tận tình giúp đỡ và đầy trách nhiệm
để em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Em trân trọng cảm ơn đến ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, các thầy cô giáo trong khoa KT & PTNT đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho em trong quá trình thực tập tốt nghiệp
Em cũng chân thành cảm ơn các đồng chí lãnh đạo HĐND, UBND xã Tân Long và người trực tiếp hướng dẫn em anh Hoàng Văn Chức cán bộ khuyến nông đã tận tình giúp đỡ em và các cán bộ xã trên địa bàn cùng người dân đã hợp tác và tạo điều kiện cho em trong quá trình tiếp cận thực tế
Cuối cùng, em xin chân thành cảm ơn gia đình và bạn bè đã nhiệt tình giúp đỡ em trong quá trình thực hiện và hoàn thành khóa thực tập tốt nghiệp
Thái nguyên, ngày tháng năm 2018
Sinh viên thực hiện
Hoàng Văn Thủy
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Diện tích các loại đất trên địa bàn xã Tân Long - Năm 2017 14
Bảng 3.2 Tình hình và công tác chỉ đạo sản xuất nông nghiệp của xã Tân Long năm 2017 16
Bảng 3.3 Hiện trạng dân số từng xóm của xã Tân Long năm 2017 18
Bảng 3.4 Hiện trạng lao động của Tân Long năm 2017 19
Bảng 3.5 Diện tích, năng suất một số cây trồng chính tại xã Tân Long năm 2017 23
Bảng 3.6 Số lượng người tham gia tập huấn 30
Bảng 3.7 Số lượng người tham gia vào buổi tập huấn của hai xóm: 31
Hồng Phong và Mỏ Ba 31
Bảng 3.8 So sánh mức độ tham gia tập huấn giữa các nhóm hộ tại 2 xóm trên địa bàn xã 33
Bảng 3.9 Tổng hợp đánh giá của người dân về các buổi tập huấn 35
Bảng 3.10 Đánh giá thái độ tập huấn của SVTT trong buổi tập huấn 36
Bảng 3.11 Đánh giá không khí trong buổi buổi tập huấn của SVTT 36
Bảng 3.12 Đánh giá phương pháp tập huấn của SVTT trong buổi tập huấn 37 Bảng 3.13 Đánh giá kỹ năng tập huấn của SVTT trong buổi tập huấn 39
Bảng 3.14 Đánh giá kiến thức tập huấn của SVTT trong buổi tập huấn 40
Bảng 3.15 Đánh giá mức độ hài lòng về buổi tập huấn 41
Bảng 3.16 Mức độ khác nhau giữa buổi tập huấn này với những buổi tập huấn trước đây 43
Bảng 3.17 So sánh phương pháp tập huấn của SVTT với CBKN 44
Trang 5DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1 Biểu đồ về Đánh giá không khí trong buổi buổi tập huấn của 2 xóm
Mỏ Ba và Hồng Phong 37 Hình 3.2 Biểu đồ về phương pháp tập huấn trong buổi buổi tập huấn của 2
xóm Mỏ Ba và Hồng Phong 38 Hình 3.3 Biểu đồ về kỹ năng tập huấn trong buổi buổi tập huấn của 2 xóm
Mỏ Ba và Hồng Phong 39 Hình 3.4 Biểu đồ về kiến thức tập huấn trong buổi buổi tập huấn của 2 xóm
Mỏ Ba và Hồng Phong 41 Hình 3.5 Biểu đồ về mức độ hài lòng của người tham gia tập huấn tại 2 xóm
Mỏ Ba và Hồng Phong 42 Hình 3.6 So sánh phương pháp tập huấn của SVTT với CBKN 45
Trang 7
MỤC LỤC
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.2.3 Yêu cầu về chuyên môn nghiệp vụ 2
1.2.4 Yêu cầu về thái độ và ý thức trách nhiệm 2
1.2.5 Yêu cầu về kỹ năng sống, kỹ năng làm việc 3
1.3 Ý nghĩa của đề tài 3
1.4 Nội dung thực tập và phương pháp thực hiện 3
1.4.1 Nội dung thực tập 3
1.4.2 Phương pháp thực hiện 4
1.5 Thời gian, Địa điểm 5
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 6
2.1 Cơ sở lý luận 6
2.1.1 Một số khái niệm liên quan đến nội dung thực tập 6
2.1.2 Các văn bản pháp lý liên quan đến nội dung thực tập 9
PHẦN 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 11
3.1 Điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội của xã Tân Long 11
3.1.2 Những thuận lợi và khó khăn của xã Tân Long 24
3.2 Kết quả tập huấn và đánh giá nhu cầu, sự tham gia 25
3.2.1 Nội dung thực tập và những công việc cụ thể tại cơ sở 25
3.2.2 Chuẩn bị các nội dung cho buổi tập huấn 26
3.3 Nhu cầu và sự tham gia của người dân trong tập huấn 27
3.3.1 Thuận lợi 28
3.3.2 Khó khăn 29
3.3.3 Kết quả tập huấn 30
Trang 83.3.4 Bài học kinh nghiệm rút ra từ thực tế 46
3.3.5 Giải pháp nâng cao hiệu quả tập huấn khuyến nông 47
PHẦN 4 KẾT LUẬN KIẾN NGHỊ 49
4.1 Kết luận 49
4.2 Kiến nghị 50
TÀI LIỆU THAM KHẢO 51
Trang 9PHẦN 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Việt Nam là một trong những nước có nền kinh tế chủ yếu sản xuất nông nghiệp, nằm trong nhóm các nước đang phát triển và thuộc trong số các nước nghèo trên thế giới Với phần lớn dân số sống ở khu vực nông thôn, phát triển kinh tế nông thôn được xem là yếu tố quan trọng nhất đảm bảo cho sự phát triển bền vững của quốc gia Nông thôn góp phần giải quyết vấn đề việc làm và xây dựng cuộc sống mới ở nông thôn, đáp ứng tốt nhu cầu ngày càng cao và phong phú của con người về lương thực, thực phẩm Có thể khẳng định trong quá trình phát triển nông nghiệp nông thôn, trạm khuyến nông giữ vai trò đặc biệt quan trọng, giúp thúc đẩy sự phát triển của đất nước
Phát triển công tác khuyến nông là mối quan tâm hàng đầu của các nhà quản lý Nhận thức được tầm quan trọng đó của hoạt động khuyến nông đối với sự nghiệp phát triển của nước ta ngày 02/03/1993 Chính Phủ ban hành nghị định 13/CP về công tác khuyến nông hệ thống khuyến nông nhà nước chính thức được thành lập từ trung ương đến địa phương, từ đó đến nay hoạt động khuyến nông thường xuyên được tiến hành góp phần đưa đất nước ngày một phát triển
Hiện nay phương pháp tập huấn đang được áp dụng rộng rãi trên cả nước nhất là đối với các trạm khuyến nông Nhờ vào công tác khuyến nông
mà cán bộ khuyến nông truyền đạt được những kiến thức, khoa học kỹ thuật đến người dân Thông qua các buổi trao đổi truyền đạt kiến thức cho người dân về kỹ thuật chăn nuôi trồng trọt mà có thể đánh giá được mức độ quan tâm của người dân đối với việc sản xuất thay đổi phương thức trồng trọt
Tuy nhiên công tác khuyến nông còn gặp nhiều khó khăn và thử thách như: Kinh phí cho các hoạt động khuyến nông còn hạn chế ảnh hưởng đến quá trình triển khai thực hiện, các hoạt động tuyên truyền, thông tin đại chúng
Trang 10chưa sát với người dân, trình độ dân trí còn chưa cao, cơ sở hạ tầng còn kém ảnh hưởng đến quá trình đi lại và học tập của người dân, số lượng người tham gia trong các lớp tập huấn còn ít…
Xuất phát từ những vấn đề đó, được sự đồng ý của ban chủ nhiệm Khoa
KT & PTNT trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên cùng với sự giúp đỡ của trạm khuyến nông huyện Đồng Hỷ, Thái Nguyên, dưới sự hướng dẫn trực tiếp
của thầy giáo Th.S Nguyễn Mạnh Thắng, em tiến hành đề tài:“Ứng dụng
phương pháp tập huấn khuyến nông để đánh giá nhu cầu và sự tham gia của người dân tại xã Tân Long, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên”
1.2 Mục tiêu
1.2.1 Mục tiêu chung
Tìm hiểu được các hoạt động khuyến nông của xã để đánh giá nhu cầu mức độ tham gia vào các hoạt động khuyến nông mà trạm thực hiện tại xã Tân Long, huyện Đồng Hỷ
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá được điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội của xã Tân Long
- Tổ chức và thực hiện được 2 lớp tập huấn cho nông dân
- Đánh giá được nhu cầu và sự tham gia của người dân trong tập huấn khuyến nông
- Đề suất các giải pháp để nâng cao hiệu quả tập huấn khuyến nông
1.2.3 Yêu cầu về chuyên môn nghiệp vụ
- Nắm vững được những chủ trương, chính sách của đảng, nhà nước và các nghành
- Tham khảo những kỹ năng quản lý, tổ chức các buổi tập huấn
- Có kiến thức về các phương pháp phân tích, tổng hợp, báo cáo
1.2.4 Yêu cầu về thái độ và ý thức trách nhiệm
- Về thái độ: Luôn trung thực, đánh giá đúng đời sống tinh thần của người dân
Trang 11- Ý thức trách nhiệm: Nâng cao ý thức trách nhiệm trong công việc + Nâng cao phẩm chất, đạo đức cá nhân
+ Có tác phong làm việc, hợp tác, thân thiện với cộng đồng
+ Nâng cao khả năng cập nhật kiến thức, có ý tưởng sáng tạo trong mọi công việc
1.2.5 Yêu cầu về kỹ năng sống, kỹ năng làm việc
- Luôn giữ thái độ khiêm nhường, cầu thị
- Thông qua việc thực tập bên ngoài trường không chỉ giúp học tập được chuyên môn mà còn là một dịp tốt để tập làm việc trong môi trường tập thể, giúp cho khả năng giao tiếp và xử thế tốt hơn
- Tạo được mối quan hệ tốt đẹp thân thiện với mọi người, hòa nhã với các cán bộ tại nơi thục tập và người dân tại xã
- Năng động, tự chủ, sáng tạo trong việc thực hiện nhiệm vụ
- Thực hiện công việc được giao với tinh thần trách nhiệm cao
1.3 Ý nghĩa của đề tài
- Đối với việc học tập: Thông qua đề tài giúp cho tôi nắm chắc những kiến thức đã học ở trường Học hỏi được những kinh nghiệm trong thực tế phục vụ cho công việc sau này
- Đối với thực tiễn: Qua quá trình tìm hiểu về tình hình tập huấn và sự tham gia của người dân trong đó rút ra được những tồn tại, những khó khăn trong việc truyền tải cho người kiến thức cho người dân, những nguyên nhân chủ yếu, từ đó có giải pháp phù hợp để khắc phục
1.4 Nội dung thực tập và phương pháp thực hiện
1.4.1 Nội dung thực tập
- Tìm hiểu điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hôi của xã
- Chọn 2 thôn mỗi thôn mở một lớp tập huấn nội dung của các lớp tập huấn là: Kỹ thuật phòng trừ sâu bệnh trên cây na và kỹ thuật ủ phân vi sinh làm phân bón cho cây bưởi da xanh
Trang 12- Sử dụng bảng hỏi để đánh giá nhu cầu, mức độ tham gia của người dân
- Nêu ra các giải pháp nâng cao hiệu quả tập huấn khuyến nông
1.4.2 Phương pháp thực hiện
1.4.2.1 Phương pháp thảo luận
Tổ chức trao đổi, thảo luận các vấn đề về thực tập bao gồm các thành phần là cán bộ tại cơ sở thực tập, giảng viên hướng dẫn và sinh viên nhằm giúp cho sinh viên hình thành, nắm bắt được các nguyên tắc cần tuân thủ trong quá trình thực tập; từ đó rút ra được các kết luận theo yêu cầu của quá trình thực tập.[3]
1.4.2.2 Phương pháp phân tích tổng kết kinh nghiệm
Từ việc nghiên cứu tài liệu, giáo trình, tìm hiểu các nguồn thông tin, tham khảo ý kiến, học hỏi kinh nghiệm làm việc của các cán bộ tại cơ sở thực tập để tiến hành thực hiện vai trò của cán bộ.[3]
1.4.2.3 Phương pháp phỏng vấn
Là phương pháp thu thập thông tin dựa trên cơ sở quá trình giao tiếp bằng lời nói có tính đến mục đích đặt ra để tìm hiểu một số thông tin như: Vai trò, chức năng, nhiệm vụ, của cán bộ trong các buổi tập huấn phẩn vấn để lấy thông tin của mọi người.[3]
1.4.2.4 Phương pháp chọn hộ tham gia lớp tập huấn
Lựa chọn số hộ tham gia băng cách mỗi xóm chọn 30 hộ tham buổi tập huấn bằng cách phát giấy mời chọn hộ ngẫu nhiên, trên địa bàn 2 xóm tại xã Tân Long
1.4.2.5 Phương pháp phỏng vấn sâu
Là phương pháp thu thập thông tin thông qua cuộc đối thoại được lặp đi
lặp lại giữa người điều tra và người cung cấp thông tin nhằm tìm hiểu cuộc sống, kinh nghiệm và nhận thức của người cung cấp thông tin thông qua chính ngôn ngữ của người ấy, thông qua phỏng vấn không cấu trúc và phỏng vấn bán cấu trúc
Trang 131.5 Thời gian, Địa điểm
Thời gian: Ngày 15 tháng 01 năm 2018 đến ngày 30 tháng 05 năm 2018 Địa điểm: UBND xã Tân Long - huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên
Trang 14PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Một số khái niệm liên quan đến nội dung thực tập
- Nông nghiệp: Là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, sử dụng đất đai để trồng trọt và chăn nuôi, khai thác cây trồng và vật nuôi làm tư liệu và nguyên liệu lao động chủ yếu để tạo ra lương thực thực phẩm và một
số nguyên liệu cho công nghiệp Nông nghiệp là một ngành sản xuất lớn, bao gồm nhiều chuyên ngành: Trồng trọt, chăn nuôi, sơ chế nông sản Theo nghĩa rộng, còn bao gồm cả lâm nghiệp, thủy sản.[5]
Nông nghiệp là một ngành kinh tế quan trọng trong nền kinh tế của nhiều nước, đặc biệt là trong các thế kỷ trước đây khi công nghiệp chưa phát triển
Trong nông nghiệp cũng có hai loại chính, việc xác định sản xuất nông nghiệp thuộc dạng nào cũng rất quan trọng:
- Nông nghiệp thuần nông hay nông nghiệp sinh nhai: Là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp có đầu vào hạn chế, sản phẩm đầu ra chủ yếu phục vụ cho chính gia đình của mỗi người nông dân Không có sự cơ giới hóa trong nông nghiệp sinh nhai.[5]
- Nông nghiệp chuyên sâu: Là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp được chuyên môn hóa trong tất cả các khâu sản xuất nông nghiệp, gồm cả việc sử dụng máy móc trong trồng trọt, chăn nuôi, hoặc trong quá trình chế biến sản phẩm nông nghiệp Nông nghiệp chuyên sâu có nguồn đầu vào sản xuất lớn, bao gồm cả việc sử dụng hóa chất diệt sâu, diệt cỏ, phân bón, chọn lọc, lai tạo giống, nghiên cứu các giống mới và mức độ cơ giới hóa cao Sản phẩm đầu ra chủ yếu dùng vào mục đích thương mại, làm hàng hóa bán ra trên thị trường hay xuất khẩu [5]
- Kinh tế hộ: Hộ sản xuất là một đơn vị kinh tế mà các thành viên đều dựa trên cơ sở sản xuất chung, các nguồn sản phẩm do các thành viên cùng
Trang 15tạo ra và cùng sử dụng chung Quá trình sản xuất của hộ được tiến hành một các độc lập và điều quan trọng là các thành viên của hộ thường có cùng huyết thống, thường cùng chung một ngôi nhà, có quan hệ chung với nhau, họ cũng
là một đơn vị để tổ chức lao động Kinh tế hộ là sản xuất tự cung tự cấp, sản xuất phục vụ cho gia đình không kinh doanh mua bán ra thị trường nên sản phẩm của kinh tế hộ không gọi là hàng hóa Kinh tế hộ không thuê mướn lao động mà chỉ sử dụng lao động trong gia đình.[1]
- Giá trị sản xuất nông nghiệp: Là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh toàn bộ kết quả lao động trực tiếp, hữu ích của ngành nông nghiệp trong một thời kỳ nhất định, và được thể hiện bằng giá trị của sản phẩm vật chất và dịch
vụ sản xuất ra trong thời kỳ đó của ngành nông nghiệp
- Phát triển kinh tế: Phát triển kinh tế tạo kiều kiện cho con người bất
kỳ nơi đâu trong 1 quốc gia hay cả hành tinh này nữa, điều được thỏa mãn nhu cầu sinh sống, đều được tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ tốt mà không phải lao động cực nhọc đều có trình độ học vấn cao, đều được những thành tựu về văn hóa tinh thần, có đủ tiện nghi cho một cuộc sống sung túc và đều được sống trong một môi trường lành mạnh, được hưởng các quyền lợi cơ bản của con người và việc đảm bảo an ninh.[1]
- Phát triển kinh tế: Là quá trình lớn lên hay tăng tiến về mọi mặt của nền kinh bao gồm tăng về quy mô sản lượng, sự biến đổi về cơ cấu kinh tế xã hội.[1]
- Khuyến nông:
+ Khuyến nông theo nghĩa hẹp Khuyến nông: Là công việc khi có những tiến bộ kỹ thuật mới do các cơ quan nghiên cứu, cơ quan đào tạo, nhà nghiên cứu… sáng tạo ra làm thế nào để nhiều nông dân biết đến và áp dụng
có hiệu quả Có nghĩa khuyến nông là chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất
+ Khuyến nông theo nghĩa rộng: Là khái niệm chung để chỉ tất cả
Trang 16những hoạt động hỗ trự sự nghiệp xây dựng và phát triển nông thôn Khuyến nông là ngoài việc hướng dẫn cho nông dân tiến bộ kỹ thuật mới, còn phải giúp họ liên kết với nhau để chống lại thiên tai, tiêu thụ sản phẩm, hiểu biết các chính sách, luật lệ Nhà nước, giúp nông dân phát triển khả năng tự quản
lý, điều hành, tổ chức các hoạt động xã hội như thế nào cho ngày càng tốt hơn Khuyến nông là cách đào tạo và rèn luyện tay nghề cho nông dân, đồng thời giúp cho họ hiểu được những chủ trương chính sách về nông nghiệp, những kiến thức về kỹ thuật, kinh nghiệm về quản lý kinh tế, những thông tin
về thị trường để họ có đủ khả năng tự giải quyết được các vấn đề của gia đình
và cộng đồng nhằm đẩy mạnh sản xuất, cải thiện đời sống, nâng cao dân trí, góp phần xây dựng và phát triển nông thôn mới.[3]
- Tập huấn: Là một quá trình dạy và học nhằm giúp cho người học làm được những công việc của họ mà trước đó họ chưa làm được
- Xây dựng nông thôn mới: Cuộc cách mạng và cuộc vận động lớn để cộng đồng dân cư nông thôn đồng lòng xây dựng thôn, xã khang trang, sạch đẹp; phát triển sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ một cách toàn diện; có nếp sống văn hoá, môi trường và an ninh nông thôn được đảm bảo; thu nhập, đời sống vật chất, tinh thần của người dân được nâng cao
- Cán bộ khuyến nông: Là người trực tiếp đào tạo các tiểu giáo viên khuyến nông hoặc đào tạo trực tiếp nông dân
- Cán bộ: Là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau này gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau này gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước
- Đánh giá nhu cầu tập huấn: Là được tiến hành nhằm giải thích những tính chất khác nhau của học viên có thể ảnh hưởng đến kết quả học tập của họ
Trang 17như: Giới tính, độ tuổi, dân tộc, trình độ văn hoá, kinh nghiệm, nhu cầu học tập và mong muốn
-Nhu cầu đào tạo: Nhu cầu đào tạo của một người là những gì người đó cần học để có thể đạt được một mục tiêu nhất định trong cuộc sống hay công việc của họ
- Đánh giá nhu cầu đào tạo: Đánh giá nhu cầu đào tạo là quá trình thu thập và phân tích thông tin để làm rõ nhu cầu cải thiện kết quả công việc
- Thuyết trình: Là phương pháp phổ biến và được nhiều giảng viên, tập huấn viên sử dụng khi giảng giải cho học viên trong nhà trường và các lớp tập huấn khuyến nông…
- Thảo luận: Là phương pháp đơn giản khi thực hiện tập huấn, tuy đơn giản nhưng đem lại hiệu quả cao khi tất cả các học viên đều tham gia thảo luận về chủ đề
- Hỏi đáp: Là phương pháp được các tập huấn viên sử nhiều trong khi tập huấn khuyến nông cho người dân, phương pháp này giúp cho các học viên tham gia vào nội dung tập huấn sôi nổi hơn ngoài ra giúp cho tập huấn viên và các học viên hòa nhập, gần gũi nhau hơn
- Làm mẫu: Phương pháp này thường được các tập huấn viên sử dụng trong các buổi tập huấn có mô hình và làm mẫu cho các học viên xem để học viên nắm được quy trình thực hiện tốt hơn
- Động não: Phương pháp động não là một hoạt động có chỉ định của giảng viên, trong đó giảng viên đưa ra những câu hỏi hoặc vấn đề đòi hỏi học viên suy nghĩ và thu thập tất cả những câu trả lời của học viên.[3]
2.1.2 Các văn bản pháp lý liên quan đến nội dung thực tập
Căn cứ Nghị đinh số 02/2010/NĐ-CP ngày 08 tháng 01 năm 2010 của Chính Phủ về khuyến nông, nêu rõ mục tiêu và nguyên tắc hoạt động của khuyến nông
Mục tiêu của khuyến nông
Trang 18Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của người sản xuất để tăng thu nhập, thoát đói nghèo, làm giàu thông qua các hoạt động đào tạo nông dân về kiến thức, kỹ năng và các hoạt động cung ứng dịch vụ để hỗ trợ nông dân sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao, thích ứng các điều kiện sinh thái, khí hậu và thị trường
Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng phát triển sản xuất hàng hóa, nâng cao năng suất, chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu; thúc đẩy tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, xây dựng nông thôn mới, bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, ổn định kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường
Huy động nguồn lực từ các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài tham gia khuyến nông
Nguyên tắc hoạt động khuyến nông
Xuất phát từ nhu cầu của nông dân và yêu cầu phát triển nông nghiệp của Nhà nước
Phát huy vai trò chủ động, tích cực và sự tham gia tự nguyện của nông dân trong hoạt động khuyến nông
Liên kết chặt chẽ giữa cơ quan quản lý, cơ sở nghiên cứu khoa học, các doanh nghiệp với nông dân và giữa nông dân với nông dân
Xã hội hóa hoạt động khuyến nông, đa dạng hóa dịch vụ khuyến nông
để huy động nguồn lực từ các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài tham gia hoạt động khuyến nông
Dân chủ, công khai, có sự giám sát của cộng đồng
Nội dung, phương pháp khuyến nông phù hợp với từng vùng miền, địa bàn và nhóm đối tượng nông dân, cộng đồng dân tộc khác nhau.[4]
Trang 19
PHẦN 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1 Điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội của xã Tân Long
3.1.1 Điều kiện tự nhiên tài nguyên thiên nhiên và cảnh quan môi trường
3.1.1.1 Điều kiện tự nhiên
a Vị trí địa lý
Xã Tân Long nằm ở phía Bắc huyện Đồng Hỷ, cách trung tâm huyện
khoảng 18 km có tuyến đường nhựa liên xã chạy qua trung tâm xã với chiều
dài 2km và trục đường liên xóm từ trung tâm xã đi đến các xóm trên địa bàn Đây là trục đường chính để lưu thông và trao đổi hàng hóa trên thị trường,
tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân trong xã phát triển kinh tế - văn hóa - xã
hội
Tổng diện tích tự nhiên của xã Tân Long là 4.114,7ha bao gồm 9 xóm, có
vị trí tiếp giáp với các địa phương lân cận như:
- Phía Đông giáp với xã La Hiên, huyện Võ Nhai
- Phía Tây giáp với xã Minh Lập, huyện Đồng Hỷ
- Phía Nam giáp với xã Hóa Trung, Quang Sơn huyện Đồng Hỷ
- Phía Bắc giáp với xã Văn Lăng, Hòa Bình, huyện Đồng Hỷ
- Đặc điểm địa hình:
Xã Tân Long là xã miền núi vùng cao của huyện Đồng Hỷ, địa hình
tương đối phức tạp, núi đá vôi chiếm 3/4 diện tích tự nhiên của xã Địa hình
của xã mang đặc trưng của địa hình miền núi, cao về phía bắc, thấp dần về
phía nam và chia làm 2 miền rõ rệt; miền trong (SaLung) địa hình phức tạp và
đi lại khó khăn hơn, miền ngoài Nằm xen kẽ là hệ thống khe suối tạo thành
những cánh đồng ruộng bậc thang có quỹ đất khá rộng để phát triển nông nghiệp
Diện tích đất tự nhiên của xã là 4.114,7ha Trong đó diện tích đất đồi
núi chiếm 70% tổng diện tích đất tự nhiên
- Đất sản xuất nông nghiệp: 980,36ha
Trang 20+ Đất lúa: 364 ha
+ Đất trồng cây hàng năm: 616,36ha
- Đất lâm nghiệp: 2.265,40ha
+ Đất trồng cây lâu năm: 274,66ha
+ Đất rừng phòng hộ: 1.083,72ha
+ Đất rừng sản xuất: 907,02ha
- Diện tích đất khu dân cư: 39,24ha
- Đất sông suối và mặt nước chuyên dùng: 9,31ha
- Diện tích đất chưa sử dụng khác: 384,82ha[2]
b Điều kiện tự nhiên
- Khí hậu, thời tiết:
Xã Tân Long thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa được chia thành 4 mùa rõ rệt: Xuân, hạ, thu, đông Mùa khô bắt đầu từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau, chịu ảnh huởng của gió mùa đông bắc khô hanh và rét đậm kéo dài Mưa từ tháng 5 đến tháng 10, thời tiết nóng ẩm, nhiệt độ trung bình 22°C, cao nhất 37°C và thấp nhất có thể xuống tới 8°C
Độ ẩm không khí trung bình đạt 82%, lượng mưa trung bình năm là 2.097mm, trong đó mùa mưa chiếm 91,6% lượng mưa cả năm, mưa nhiều nhất vào tháng 7 và tháng 8, nhiều khi xảy ra lũ
Đặc điểm gió: Hướng gió chủ yếu vào mùa mưa là gió Đông Nam, vào mùa khô là gió Đông Bắc
Số ngày có sương mù trong năm khoảng 4-5 ngày
Trang 21Nguồn nước ngầm: có độ sâu từ 5m – 15m với chất lượng nước được coi là đảm bảo vệ sinh
- Tài nguyên, khoáng sản:
Tài nguyên khoáng sản của xã chủ yếu là núi đá vôi, đá xây dựng Hiện trên địa bàn xã có 1 xí nghiệp kẽm chì khai thác quặng và có 5 mỏ đá khai thác đá xây dựng
- Tài nguyên rừng:
Diện tích rừng của xã Tân Long là 2.265,4ha Trong đó rừng trồng sản xuất 907,02ha, rừng phòng hộ: 1.083,72ha, sản lượng khai thác gỗ hàng năm đạt khoảng 800m3
Những năm gần đây với chủ chương, chính sách của Nhà nước trong việc phát triển và bảo vệ rừng, xã đã tổ chức triển khai giao khoán, chăm sóc, bảo vệ rừng tới từng hộ gia đình, từ đó đã nâng cao ý thức cũng như trách nhiệm của người dân trong việc chăm sóc, bảo vệ rừng Do đó diện tích rừng được chăm sóc, quản lý, bảo vệ và phát triển tốt, góp phần bảo vệ môi trường sinh thái, bảo vệ đất chống xói mòn, hạn chế thiệt hại do thiên tai gây ra
- Đất đai:
Xã Tân Long tổng diện tích đất tự nhiên là 4.114,7ha; Trong đó diện tích đất đồi núi chiếm 70% tổng diện tích đất tự nhiên, tầng đất tương đối dày; diện tích đất có độ dốc cao được bố trí trồng rừng, diện tích đất có độ dốc trung bình, tầng đất mặt dày hơn được nhân dân sử dụng trồng chè, cây ăn quả và làm nhà ở
Đất nông nghiệp còn tương đối tốt, tuy nhiên mấy năm gần đây việc sử dụng thuốc BVTV và phân hóa học đã phần nào gây cho đất bị bạc mầu và thoái hóa Loại đất này rất thích hợp đối với các loại cây lương thực và các loại cây hoa màu
Xã có tổng diện tích đất tự nhiên là 4.114,7ha; hiện trạng sử dụng đất đai được phân bố như sau:
Trang 22Bảng 3.1: Diện tích các loại đất trên địa bàn xã Tân Long - Năm 2017
2.6 Đất sông suối và mặt nước chuyên
dùng
3.3 Đất núi đá không có rừng cây 612,83 14,90
(Nguồn: UBND xã Tân Long năm 2017)
Đất đai của xã Tân Long đã được quy hoạch tổng thể, nhưng chưa quy
Trang 23hoạch chi tiết do vậy việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng chưa phù hợp với từng loại đất, người dân địa phương chưa thay đổi được tập quán canh tác, trình độ thâm canh còn ở mức thấp, hàng năm do mưa lũ nên đất thường xuyên bị rửa trôi, xói mòn, hệ số sử dụng đất còn thấp dẫn đến hiệu quả kinh tế trên 1 ha canh tác chưa cao
Qua bảng trên cho ta thấy tổng diện tích đất tự nhiên của xã Tân Long là: 4.114,7ha, trong đó diện tích đất sản xuất nông nghiệp là 980,36ha chiếm 24% diện tích đất tự nhiên, hàng năm nhân dân địa phương đã tận dụng triệt
để diện tích này trồng các loại cây lương thực đảm bảo cung cấp đủ lương thực cho người dân trong xã
Diện tích đất lâm nghiệp có rừng là 2.265,4ha chiếm 55% diện tích tự nhiên Đó là một lợi thế thuận lợi cho việc phát triển lâm nghiệp và làm cho khí hậu ôn hoà hơn, góp phần vào việc bảo vệ môi trường, sinh thái.[2]
- Tình hình, công tác chỉ đạo sản xuất nông nghiệp của xã Tân Long năm 2017
Kinh nghiệm của địa phương
Xã Tân Long chủ yếu là sản xuất nông nghiệp Trong đó lúa là cây trồng múi nhọn, để thấy điều đó ta tiến hành tìm hiểu hoạt động sản xuất nông nghiệp của xã (năm 2017) và từ đó rút ra những kinh nghiệm để phát triển trong sản xuất cũng như trong đời sống xã hội
Trang 24Bảng 3.2 Tình hình và công tác chỉ đạo sản xuất nông nghiệp của xã Tân
Cây lương thực:
-Lúa: được gieo trồng hàng năm với diện tích 130 ha/2
vụ, năng suất bình quân đạt 47 tạ/ha, sản lượng đạt 611tấn; Trong đó lúa lai 60 ha Lúa chất lượng cao 50 ha
- Ngô: địa bàn xã với diện tích cả năm là 200 ha,
100 % là ngô lai, năng suất bình quân 44,5 tạ/ha, sản lượng đạt 890 tấn,
Cây rau màu:
- Với các loại cây trồng: Lạc, đậu đỗ, khoai, rau xanh… diện tích khoảng 100ha
Cây công nghiệp:
- Địa bàn xã có 165 ha chè, năng suất bình quân đạt 110 tạ/ha, sản lượng đạt 1.815 tấn; trong đó diện tích chè giống mới 35ha
Cây ăn quả:
- Chủ yếu là Vải, Nhãn, Hồng, Na với diện tích 100 ha
Chăn nuôi
Trang 25Lâm nghiệp
Xã có 2.265,40ha lâm nghiệp Trong đó rừng sản xuất 907,02ha, rừng phòng hộ 1.083,72ha Sản lượng khai thác gỗ hàng năm đạt khoảng 1000m3 Diện tích rừng trồng lại, trồng thay thế hàng năm đạt 100 ha trở lên
Kinh nghiệm của
Trang 26Bảng 3.3 Hiện trạng dân số từng xóm của xã Tân Long năm 2017
(Nguồn UBND xã Tân Long, năm 2017)
Lao động toàn xã 4.423 người/6.036 người chiếm 73,2% dân số, trong đó Lao động Nông, Lâm nghiệp: chiếm 95% tổng số lao động Lao động nông nghiệp tại xã Tân Long vẫn chiếm tỷ lệ cao Lao động dồi dào nhưng số lao động được đào tạo nghề chiếm tỷ lệ chưa cao sản xuất theo kinh nghiệm
Lao động Công nghiệp - TTCN và dịch vụ thương mại: Chiếm 3,5% tổng số lao động.[2]
Trang 27Bảng 3.4 Hiện trạng lao động của Tân Long năm 2017
- Văn hoá - xã hội - thể thao:
Công tác văn hóa: UBND xã đã bám sát nhiệm vụ chính trị tuyên truyền vận động các tầng lớp nhân dân thực hiện tốt các chủ trương đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước phối kết hợp với ban ngành, đoàn thể MTTQ Vận động các khu dân cư làng xóm thực hiện tốt cuộc vận động
“Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, thực hiện quy ước, hương
Trang 28ước làng xóm Các hộ gia đình, xóm, cơ quan, trường học ký kết thi đua đạt danh hiệu văn hóa, cơ quan văn hoá đạt 100%
Công tác thể thao: Duy trì các đội bóng đá, bóng chuyền, đẩy gậy, kéo
co, cầu lông Tham gia thi đấu các giải do huyện tổ chức đạt kết quả cao Nhìn chung công tác thể thao của toàn xã luôn được duy trì và phát triển
- Y tế:
Toàn xã có 1 trạm y tế được đầu tư cơ sở vật chất cũng như trang thiết
bị y tế, có lực lượng bác sĩ, y sĩ và mạng lưới y tế thôn bản thường xuyên được quan tâm bồi dưỡng và hoạt động tốt đảm bảo khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân ngày một tốt hơn
- Môi trường:
Tân Long là xã vùng cao với cơ cấu kinh tế chủ yếu là nông - lâm ngư nghiệp Môi trường của xã là tốt, tuy nhiên một số năm gần đây, do việc phát triển sản xuất, sử dụng ngày càng nhiều chất hóa học như phân bón, thuốc trừ sâu cùng chất thải từ chăn nuôi, sinh hoạt, khai thác các mỏ đá, phát triển các khu dân cư nên phần nào đã gây ảnh hưởng đến môi trường
Tình hình sử dụng nước sinh hoạt của người dân: Nguồn nước sử dụng
từ giếng khoan, giếng đào và 03 công trình nước tự chảy do nhà nước đầu tư với 150 hộ hưởng lợi Tỷ lệ hộ được sử dụng nước hợp vệ sinh đạt 50 %, các
hộ có 3 công trình vệ sinh và chuồng trại chăn nuôi hợp vệ sinh còn thấp:
+ Tỷ lệ hộ có nhà tắm đạt chuẩn là 146 hộ chiếm 11,33 %
+ Tỷ lệ hộ có nhà tiêu hợp vệ sinh là 447 hộ đạt 34,7 %
+ Tỷ lệ hộ có cơ sở chăn nuôi hợp vệ sinh là 290 hộ đạt 22,5 %
Trên địa bàn vẫn có các đơn vị sản xuất kinh doanh, khai thác chế biến khoáng sản, hoạt động chưa đạt tiêu chuẩn về môi trường
Nghĩa trang: Xã chưa có điểm nghĩa trang tập trung, các phần mộ của người quá cố vẫn chủ yếu được chôn cất tại vườn nhà
Chất thải, nước thải của các hộ gia đình: Chưa được thu gom và xử lý
Trang 29theo qui định, chưa có bãi tập kết rác thải, rác thải được các hộ tự xử lý bằng cách chôn, đốt Các xóm chưa có các tổ thu gom rác thải Nước thải sinh hoạt của các hộ gia đình chủ yếu vẫn thải ra bề mặt, chưa có hệ thống cống rãnh thoát nước.[6]
3.1.1.3 Cơ cấu kinh tế
Thực hiện đường lối, chính sách đổi mới của đảng về phát triển kinh tế,
xã Tân Long, huyện Đồng Hỷ đã có những chuyển biến bước đầu, từ sản xuất
tự cung, tự cấp sang sản xuất hàng hoá Từng bước hoàn thành cơ cấu kinh tế theo phương hướng phát huy tiềm năng, thế mạnh của địa phương Kinh tế phát triển nhất là sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp Các ngành khác như công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, giao thông, tài chính, thương mại, thông tin liên lạc, xây dựng cơ sở hạ tầng đã góp phần quan trọng và tích cực vào phát triển kinh tế xã hội tại địa phương
Trong những năm gần đây nền kinh tế đang được chuyển dần từ kinh tế thuần nông tự cung, tự cấp sang sản xuất hàng hoá gắn với thị trường Xã có 9 xóm với điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội chủ yếu là thâm canh lúa nước, chăn nuôi và sản xuất ngô hàng hóa đó là thế mạnh của địa phương Hiện nay nhờ chuyển dịch cơ cấu cây trồng hợp lý, đưa giống mới, áp dụng khoa học
kỹ thuật vào sản xuất, đẩy mạnh thâm canh
Tuy còn gặp nhiều khó khăn về thời tiết, sâu bệnh hại nhưng nhờ có công tác phòng sâu bệnh trừ kịp thời nên sản lượng lương thực của xã vẫn đạt 3.445 tấn/năm (năm 2016), năm 2017 đạt 3.490 tấn/năm
Về lâm nghiệp: Được sự đầu tư của Nhà nước thông qua các chương trình dự án, các hộ dân đã được giao đất để trồng rừng, khoanh nuôi và bảo vệ tái sinh rừng Đến nay nghề rừng đã mang lại thu nhập đáng kể cho người dân đời sống nhân dân từng bước đã được cải thiện và ngày càng được nâng cao
Ngoài ngành nông nghiệp, ngành chăn nuôi cũng được đẩy mạnh và phát triển ở các hộ gia đình, hiện nay đặc biệt chú trọng đến chăn nuôi trâu,
Trang 30bò, dê, lợn, gà nhằm đáp ứng được nhu cầu thực phẩm cho toàn xã, cung cấp nguồn phân bón, thúc đẩy cho ngành trồng trọt phát triển mạnh, tăng năng suất cây trồng Đặc biệt sản xuất ngô tăng đã đảm bảo cho việc cung cấp thức
ăn chính cho chăn nuôi, nhằm cung cấp sản phẩm chăn nuôi như thịt, trứng, sữa cho người dân địa phương
Từ tình hình kinh tế nói trên, xã đề ra mục tiêu phấn đấu đến năm 2015
là đẩy mạnh phát triển Kinh tế - xã hội với nhịp độ tăng trưởng nhanh, bền vững theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hình thành rõ nét cơ cấu kinh
tế công nghiệp, nông lâm nghiệp và dịch vụ
Chuyển dịch cơ cấu mùa vụ, cơ cấu giống, chuyển hướng sản xuất tạo vùng nguyên liệu ổn định để phục vụ cho ngành công nghiệp chế biến, khai thác hết nguồn lực hiện có
Phát huy nội lực đất đai, lao động, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất và tìm hướng ra cho các sản phẩm của xã, đặc biệt là ngành trồng trọt, khuyến khích các thành phần kinh tế sản xuất kinh doanh phát triển, giải quyết các vấn đề xã hội như giảm hộ đói nghèo xuống 6%/năm, năm 2010 - 2015 giảm hộ đói nghèo xuống còn 25% Đầu tư đúng mức cho các thôn bản khó khăn của xã, phát triển và phấn đấu đến năm 2020 không còn hộ đói nghèo, có nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, tăng trưởng kinh
tế bền vững theo hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá với tốc độ tăng trưởng kinh tế 14%/năm, tốc độ tăng trưởng của ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp 4%, ngành nông nghiệp là 6%/ năm, ngành dịch vụ thương mại là 4% năm.[2]
3.1.1.4 Tình hình sản xuất nông nghiệp của xã
Trong những năm qua sản xuất nông nghiệp của xã đang từng bước phát triển toàn diện, đang chuyển dịch từ nền sản xuất lạc hậu, tự cung, tự cấp, năng suất lao động thấp sang sản xuất hàng hoá Vừa chuyên canh vừa kinh doanh tổng hợp, kết hợp với thâm canh tăng vụ, mở rộng diện tích có
Trang 31khả năng trồng các loại cây nông nghiệp, đặc biệt là trồng ngô và cây công nghiệp ngắn ngày, giải quyết được công ăn việc làm cho người lao động Bằng mọi biện pháp, xã đã giải quyết tốt công tác giao đất, giao rừng, ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất để nâng cao năng suất và sản lượng cây trồng các loại Tăng diện tích cây chủ lực, thâm canh lúa nước, đảm bảo cấy 100% diện tích lúa chiêm xuân, đẩy mạnh công tác chế biến sản phẩm nông nghiệp sau thu hoạch và bảo quản sau thu hoạch, nhờ vậy mà năng suất, sản lượng tăng rõ rệt
Bảng 3.5 Diện tích, năng suất một số cây trồng chính tại xã Tân Long
năm 2017
Loại cây Diện tích
(ha)
Năng suất (tạ /ha)
Sản lượng (tấn)
(Nguồn: UBND xã Tân Long năm 2017)
- Qua bảng 3.5 ta thấy lúa và ngô là 2 loại cây lương thực chủ yếu của
xã với diện tích gieo trồng chiếm tỷ lệ cao hơn so với các cây trồng hàng năm khác triển khai
- Trong vài năm gần đây xã cũng đã chú trọng đẩy mạnh việc trồng và phát triển cây ăn quả Hiện nay xã đã tiến hành đưa vào trồng mới, trồng lại bằng giống chè cành, một số loại cây như Lạc, Đỗ tương bước đầu đã cho hiệu quả năng suất cao, góp phần nâng cao thu nhập cho bà con nhân dân trong xã
- Về sản xuất nông nghiệp của xã nói chung đã có những kết quả đáng khích lệ, song bên cạnh đó vẫn còn những hạn chế chưa khắc phục được, do
Trang 32người dân địa phương đã quen với tập quán canh tác lâu năm, liên tục nhưng
ít chú trọng đến đầu tư phân bón, cho nên đất bị cằn cỗi thiếu chất dinh dưỡng cho cây trồng, dẫn đến năng suất và sản lượng cây trồng hàng năm còn thấp.[2]
3.1.2 Những thuận lợi và khó khăn của xã Tân Long
- Thuận lợi
Xã Tân Long là một có diện tích đất tự nhiên rộng, đất có độ phì cao rất thích hợp cho việc phát triển sản xuất nông lâm nghiệp, bên cạnh đó lực lượng lao động rồi rào chiếm 95% lao động sản xuất của toàn xã Vì vậy, thuận lợi cho việc phát triển cây lương thực, cây ăn quả, các loại cây công nghiệp ngắn ngày, cây lâm nghiệp nhằm phủ xanh đất trống đồi núi trọc và phát triển chăn nuôi đại gia súc, gia cầm
Nằm ở vị trí có tuyến đường huyện lộ điểm đầu từ quốc lộ 1B (Thái Nguyên, Lạng Sơn) qua khu trung tâm xã rồi đi Văn Lăng, Hoà Bình là trục giao thông xương sống đi qua địa bàn xã dài khoảng trên 4,5 km Đã tạo điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội của xã với những mũi nhọn đặc thù, đồng thời giúp xã tiếp thu nhanh tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ
Có tiềm năng về đất sản xuất nông, lâm nghiệp (chiếm 78,98 % tổng diện tích đất tự nhiên của toàn xã), sản xuất nông, lâm nghiệp, dịch vụ kinh doanh, tiểu thủ công nghiệp phát triển khá, đời sống nhân dân từng bước ổn định và nâng cao
Nguồn lao động dồi dào người dân cần cù sáng tạo Nhận thức về pháp luật, về tiến bộ khoa học kỹ thuật của người dân ngày được nâng lên thông qua các chương trình đào tạo tập huấn
Kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất: Công trình thủy lợi, hệ thống kênh mương nội đồng, hệ thống điện ngày càng hoàn thiện, cơ bản đảm bảo phục
vụ phát triển sản xuất của nhân dân trong xã.[2]