Những sai phạm điển hình trongthời gian qua có thể kể đến: việc thực hiện không đúng quy định của Đảng vàNhà nước trong tiếp nhận, bổ nhiệm công chức; có biểu hiện vụ lợi trong việctuyển
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NÔNG BÍCH THẢO
THANH TRA TUYỂN DỤNG, SỬ DỤNG CÔNG CHỨC –
TỪ THỰC TIỄN THANH TRA CỦA BỘ NỘI VỤ
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
HÀ NỘI – 2020
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NÔNG BÍCH THẢO
THANH TRA TUYỂN DỤNG, SỬ DỤNG CÔNG CHỨC –
TỪ THỰC TIỄN THANH TRA CỦA BỘ NỘI VỤ
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
Mã số: 8 38 01 02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS NGUYỄN QUỐC VĂN
HÀ NỘI – 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân tác giả.Các kết quả nghiên cứu và kết luận trong luận văn là trung thực, không sao chép
từ bất kỳ nguồn nào hoặc hình thức nào Việc tham khảo các nguồn tài liệu (nếucó) đã được thực hiện trích dẫn và ghi nguồn tài liệu tham khảo đúng quy định
Tác giả
Nông Bích Thảo
Trang 4Tác giả xin chân thành cảm ơn TS Nguyễn Quốc Văn, người trực tiếphướng dẫn tác giả hoàn thành luận văn này.
Tác giả xin chân thành cảm ơn giáo viên chủ nhiệm Nguyễn Thị Ngân cùngtoàn thể các thầy, cô giáo và cán bộ Học viện Hành chính Quốc Gia đã giảng dạy
và giúp đỡ để tôi có thể hoàn thành khóa học và luận văn
Tác giả xin chân thành cảm ơn các đồng chí, lãnh đạo Thanh tra Bộ Nội vụ
đã tạo điều kiện và giúp đỡ tác giả trong quá trình thu thập thông tin và số liệu
để thực hiện luận văn này
Mặc dù đã cố gắng để hoàn thiện luận văn, tuy nhiên do kinh nghiệmnghiên cứu chưa nhiều, thời gian nghiên cứu ngắn, luận văn không thể tránhkhỏi những thiếu sót và hạn chế Tác giả rất mong nhận được sự đóng góp ý kiếnquý báu của Quý thầy cô và các bạn để bản thân được hoàn thiện hơn
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2020
Tác giả
Nông Bích Thảo
Trang 5DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Tuyển dụng, sử dụng công chức TDSDCC
Văn bản quy phạm pháp luật VBQPPL
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THANH TRA TUYỂN DỤNG, SỬ DỤNG CÔNG CHỨC 8
1.1 Khái niệm, vai trò và đặc điểm của hoạt động thanh tra việc tuyển dụng, sử dụng công chức 8
1.1.1 Khái niệm thanh tra tuyển dụng, sử dụng công chức 8
1.1.2 Đặc điểm thanh tra trong lĩnh vực tuyển dụng, sử dụng công chức 12
1.1.3 Vai trò của hoạt động thanh tra tuyển dụng, sử dụng công chức 16
1.2 Nội dung, nguyên tắc và quy trình tiến hành hoạt động thanh tra tuyển dụng, sử dụng công chức 19
1.2.1 Nội dung thanh tra tuyển dụng, sử dụng công chức 19
1.2.2 Nguyên tắc thanh tra tuyển dụng, sử dụng công chức 21
1.3 Các yếu tố tác động đến hoạt động thanh tra tuyển dụng, sử dụng công chức 26
1.3.1 Yếu tố khách quan 26
1.3.2 Yếu tố chủ quan 31
Tiểu kết Chương 1 34
Chương 2 THỰC TRẠNG THANH TRA TUYỂN DỤNG, SỬ DỤNG CÔNG CHỨC CỦA THANH TRA BỘ NỘI VỤ 35
2.1 Khái quát chung về thanh tra Bộ Nội vụ 35
2.2 Thực tiễn nội dung và quy trình tiến hành hoạt động thanh tra tuyển dụng, sử dụng công chức của Thanh tra Bộ Nội vụ 36
2.2.1 Nội dung thanh tra tuyển dụng, sử dụng công chức của Thanh tra Bộ Nội vụ 36
2.2.2 Quy trình tiến hành 41
2.3 Đánh giá kết quả hoạt động thanh tra tuyển dụng, sử dụng công chức của Thanh tra Bộ Nội vụ 49
Trang 72.3.1 Những mặt đạt được và nguyên nhân 49
2.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân 56
Tiểu kết Chương 2 61
Chương 3.QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM HOẠT ĐỘNG CÔNG TÁC THANH TRA TUYỂN DỤNG, SỬ DỤNG CÔNG CHỨC 62
3.1 Quan điểm về công tác thanh tra tuyển dụng, sử dụng công chức 62
3.1.1 Quan điểm chỉ đạo về thanh tra tuyển dụng, sử dụng công chức 62
3.1.2 Quan điểm của tác giả về công tác tuyển dụng, sử dụng công chức và hoạt động thanh tra trong lĩnh vực tuyển dụng, sử dụng công chức 63
3.2 Giải pháp bảo đảm hoạt động công tác thanh tra tuyển dụng, sử dụng công chức 68
3.2.1 Giải pháp chung bảo đảm hoạt động công tác thanh tra tuyển dụng, sử dụng công chức 68
3.2.2 Giải pháp đối với Bộ Nội vụ 74
Tiểu kết Chương 3 81
KẾT LUẬN 82
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 83
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài luận văn
Trong hoạt động của Nhà nước, đội ngũ công chức là lực lượng nòng cốt,đóng vai trò hết sức quan trọng trong công tác xây dựng và thực thi chủ trương,đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Việc xây dựng một đội ngũ côngchức đáp ứng đầy đủ cả về năng lực và phẩm chất, cống hiến hết mình cho nềncông vụ là điều tất yếu trước tình hình đổi mới đất nước để xây dựng nền hànhchính trong sạch, vững mạnh, thống nhất và hiệu quả Trong đó, công tác tuyểndụng và sử dụng công chức là hai khâu trọng yếu, quyết định trực tiếp đến chấtlượng và hiệu quả hoạt động của đội ngũ công chức
Nghị quyết số 03-NQ/TW ngày 18/6/1997 của Ban Chấp hành Trung ươngĐảng Cộng sản Việt Nam về Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệphóa, hiện đại hóa đất nước đã khẳng định: “Xây dựng đội ngũ cán bộ phải xuấtphát từ yêu cầu, nhiệm vụ của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóanhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, vănminh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội Công tác cán bộ được đổi mới có vaitrò quyết định thực hiện thắng lợi mục tiêu đó” [2] Sau hơn 20 năm thực hiện,đội ngũ cán bộ các cấp đã có bước trưởng thành, lớn mạnh về nhiều mặt, chấtlượng ngày càng được nâng lên Đội ngũ cán bộ có lập trường tư tưởng, bản lĩnhchính trị vững vàng, trình độ chuyên môn nghiệp vụ đáp ứng được đòi hỏi côngviệc, luôn tu dưỡng, phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ được giao, cống hiến cho sựnghiệp vĩ đại của dân tộc
Công tác cán bộ được triển khai đồng bộ, toàn diện ở các khâu, trong đó cónhiều khâu tạo được sự chuyển biến tích cực như công tác: quy hoạch, đào tạo,bồi dưỡng, luân chuyển, bổ nhiệm và thực hiện chính sách cán bộ Nội dung,phương pháp, cách thức triển khai chặt chẽ, đúng nguyên tắc, quy trình Việcphân cấp quản lý cán bộ được thực hiện hợp lý hơn nhằm tăng cường phân cấpcho cấp dưới Công tác kiểm tra, giám sát công tác cán bộ được tăng cường;
Trang 9công tác bảo vệ chính trị nội bộ tiếp tục được quan tâm… qua đó từng bước gópphần đổi mới công tác cán bộ Việc đề bạt, bổ nhiệm, bố trí cán bộ bảo đảm chặtchẽ, đúng về thủ tục, đủ về tiêu chuẩn, điều kiện, phù hợp với năng lực, sởtrường và triển vọng phát triển Không có tình trạng cục bộ, khép kín, lợi íchnhóm; lợi dụng để bố trí người nhà, người thân, người quen vào các chức vụlãnh đạo, quản lý dù không đủ điều kiện, tiêu chuẩn Các quy trình công tác cán
bộ ngày càng chặt chẽ, đồng bộ, công khai, minh bạch, khoa học và dân chủhơn Công tác kiểm tra, giám sát được thực hiện đồng bộ, có hiệu quả hơn Việc
xử lý kịp thời, nghiêm minh các cá nhân, tổ chức vi phạm đã góp phần cảnhtỉnh, răn đe, phòng ngừa tiêu cực trong công tác cán bộ đồng thời củng cố niềmtin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đáng ghi nhận ấy, công tác cán bộ nóichung và công tác tuyển dụng, sử dụng công chức nói riêng vẫn còn tồn tạinhững bất cập và hạn chế gây xôn xao dư luận Những sai phạm điển hình trongthời gian qua có thể kể đến: việc thực hiện không đúng quy định của Đảng vàNhà nước trong tiếp nhận, bổ nhiệm công chức; có biểu hiện vụ lợi trong việctuyển dụng, sử dụng công chức là người thân của lãnh đạo; bổ nhiệm sai quytrình, sử dụng công chức khi chưa đủ các tiêu chuẩn: thời gian công tác ở lĩnhvực mình phụ trách về chuyên môn nghiệp vụ ít nhất từ ba năm trở lên, có trình
độ Trung cấp lý luận chính trị trở lên, đã qua lớp bồi dưỡng nghiệp vụ quản lýnhà nước; cơ quan có số lượng cấp phó suýt soát tổng biên chế hay các sai phạmtrong đánh giá chất lượng thí sinh ứng tuyển công chức: chấm giảm điểm đểđánh trượt thí sinh, chấm khống hoặc nhắc bài, làm lộ đề… Nhiều sai phạm đã
và đang diễn ra ở nền công vụ nước nhà, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng độingũ công chức, lãng phí nguồn nhân lực, công tác cán bộ tồn tại hành vi thamnhũng, tiêu cực, thiếu hiệu quả, kém chuyên nghiệp Điều này đã gióng lên hồichuông báo động về việc thiếu cơ chế kiểm soát quyền lực trong công tác cán
bộ, đặc biệt là ở khâu tuyển dụng, sử dụng
Tại Hội nghị phòng chống tham nhũng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ
Trang 10rõ quyền lực luôn có nguy cơ bị tha hóa cho nên phải thiết lập một cơ chế kiểmsoát việc thực thi quyền lực, quyền lực phải ràng buộc với trách nhiệm, “bất cứ
ai cũng không có quyền lực tuyệt đối ngoài pháp luật” Nghị quyết 26-NQ/TWcủa Hội nghị lần thứ bảy, Ban Chấp hành Trung ương khóa XII cũng đề ranhiệm vụ tăng cường kiểm soát chặt chẽ quyền lực trong công tác cán bộ; chốngchạy chức chạy quyền
Từ đó cho thấy, đẩy mạnh công tác thanh tra việc thực hiện các quy địnhcủa pháp luật về tuyển dụng, sử dụng công chức là yêu cầu cấp thiết trong tìnhhình mới, đặc biệt là việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả của công tác này nhằmphát hiện những sơ hở, hạn chế để có biện pháp chấn chỉnh, khắc phục kịp thời.Nước ta đã có hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết
và hướng dẫn các nội dung thanh tra liên quan đến tuyển dụng và sử dụng côngchức Hệ thống này cơ bản đã được hoàn thiện, đổi mới tạo cơ sở pháp lý chocông tác thanh tra được thực hiện trơn tru, hiệu quả Trải qua hơn 40 năm xâydựng và trưởng thành, Thanh tra Bộ Nội vụ đã có những đóng góp quan trọngcho sự nghiệp tổ chức nhà nước và sự lớn mạnh không ngừng của hệ thốngthanh tra nhà nước Mỗi năm thực hiện nhiều cuộc thanh tra ở lĩnh vực quản lý,đặc biệt là lĩnh vực tuyển dụng, sử dụng công chức, thực hiện giải quyết khiếunại, tố cáo, tiếp công dân Qua các cuộc thanh tra đã phát hiện, ngăn chặn, xử lý,kiến nghị xử lý sai phạm, đề xuất nhiều biện pháp chấn chỉnh; đồng thời kiếnnghị với cấp có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung cơ chế, chính sách, pháp luật nhằmkhắc phục thiếu sót, sơ hở trong công tác quản lý góp phần nâng cao hiệu quảcông tác tổ chức nhà nước Quá trình hoạt động thanh tra thực tế của Thanh tra
Bộ Nội vụ cho thấy những thiếu hụt nhất định như: hệ thống pháp luật thanh trathiếu chặt chẽ, cụ thể; công tác thanh tra còn bị động, không có nhiều chủ thểtham gia, chuyên trách, năng lực thanh tra chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn;kết luận thanh tra chưa được thực hiện nghiêm túc, biện pháp thiếu cứng rắn vàchế tài chưa đủ sức răn đe
Trang 11Từ tình hình pháp luật và thực tiễn đòi hỏi bức thiết là cần phải có nhữngnghiên cứu về đổi mới tổ chức và hoạt động thanh tra nói chung và thanh tratrong tuyển dụng, sử dụng công chức nói riêng, góp phần nâng cao hơn nữa hiệulực, hiệu quả thanh tra tuyển dụng, sử dụng công chức Với những lý do trên, em
lựa chọn đề tài: “Thanh tra tuyển dụng, sử dụng công chức - từ thực tiễn thanh tra của Bộ Nội vụ” làm đề tài nghiên cứu của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học đề cập đến tổ chức và hoạtđộng của thanh tra nhà nước ở nhiều khía cạnh và mức độ khác nhau Có thể kểđến một số công trình nghiên cứu khoa học, bài viết nghiên cứu pháp luật vềthanh tra, thanh tra chuyên ngành như:
- Luận án Tiến sỹ Quản lý công: “Thẩm quyền thanh tra trong hoạt độngquản lý hành chính nhà nước”, Phạm Huỳnh Công, Hà Nội – 2018 Luận án làmbật lên thẩm quyền thanh tra trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước ởViệt Nam hiện nay trên nhiều khía cạnh: luận giải các lý thuyết, nghiên cứu thựctrạng các quy định của pháp luật, chỉ ra mặt mạnh và hạn chế Từ đó đề xuất cácgiải pháp, khuyến nghị khoa học nhằm hoàn thiện pháp luật về thẩm quyềnthanh tra; các giải pháp đổi mới phương thức tổ chứ, cách thức hoạt động thanhtra, nâng cao hiệu quả thực hiện thẩm quyền thanh tra trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước ở nước ta;
- Luận văn Thạc sĩ Luật: “Tổ chức và hoạt động của cơ quan thanh trahuyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa”, Trịnh Công Sơn, Hà Nội – 2017 Luận văntập trung làm sáng tỏ những lý luận cơ bản và thực tiễn về tổ chức và hoạt độngcủa Thanh tra cấp huyện, đánh giá những ưu, nhược điểm và đề xuất các địnhhướng, giải pháp nâng cao hiệu quả trong công tác tổ chức và hoạt động củathanh tra huyện với vai trò là cơ quan tham mưu, giúp việc cho UBND huyệntrong công tác thanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòngchống tham nhũng trong thời gian tới;
- Luận văn Thạc sĩ Luật: “Pháp luật về thanh tra chuyên ngành y tế từ thực
Trang 12tiễn tỉnh Hà Nam”, Nguyễn Tuấn Linh, Hà Nội – 2016 Luận văn đã chỉ ranhững cơ sở lý thuyết về thanh tra và thanh tra chuyên ngành, làm rõ khái niệm,đặc điểm, nội, dung và vai trò của pháp luật thanh tra chuyên ngành y tế Trên cơ
sở đó, đánh giá các quy định của pháp luật về thanh tra chuyên ngành y tế vàthực tiễn thực hiện pháp luật thanh tra chuyên ngành y tế trên địa bàn, từ đó đềxuất những giải pháp hoàn thiện và bảo đảm thực hiện pháp luật về thanh trachuyên ngành y tế tại các địa phương trên cả nước;
- Luận văn Thạc sỹ Luật: “Thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực Nội vụ ởtỉnh Nam Định”, Nguyễn Thanh Thủy, Hà Nội – 2016 Từ cơ sở lý luận và thựctrạng công tác thanh tra chuyên ngành Nội vụ trên địa bàn tác giả đề xuất nhữnggiải pháp nâng cao hiệu quả công tác thanh tra chuyên ngành Nội vụ tại tỉnhNam Định;
- Luận văn Thạc sĩ Luật: “Tổ chức và hoạt động của Thanh tra lao động,thương binh và xã hội – Thực trạng và giải pháp”, Nguyễn Thị Hồng Diệp, HàNội - 2009 Luận văn đã làm rõ khái niệm, đặc điểm về thanh tra và thực trạng
tổ chức, hoạt động của Thanh tra lao động, thương binh và xã hội; Trên cơ sởtham khảo mô hình tổ chức và hoạt động của các bộ, ngành trong nước cũng như
ở nước ngoài, chỉ ra những mô hình hiệu quả, tính khả thi và các điều kiện, giảipháp để thực hiện mô hình đó nhằm đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả củaquản lý nhà nước trong lĩnh thương binh và xã hội;
- Luận văn Thạc sĩ Luật: “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn trong tổ chức
và hoạt động của thanh tra ở Việt Nam”, Lê Thị Thu Oanh, Hà Nội – 2004;Tạp chí: “Thực hiện kết luận, kiến nghị sau thanh tra – thực trạng và giảipháp”, Nguyễn Thị Hồng Thúy, Tạp chí Thanh tra số 25/06/2015
Các công trình, luận văn trên đã tập trung nghiên cứu, làm sáng tỏ cơ sở lýluận và thực tiễn, đồng thời đưa ra những giải pháp tăng cường tính hiệu lực,hiệu quả trong công tác thanh tra, thanh tra chuyên ngành cũng như phương thức
tổ chức và cách thức hoạt động của cơ quan Thanh tra
Tuy nhiên, đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào về thanh tra việc
Trang 13tuyển dụng, sử dụng công chức, sự tương quan giữa pháp luật về thanh tra và pháp luật về cán bộ, công chức từ phương diện luật hành chính, hiến pháp
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài luận văn
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận chung và thựctiễn của hoạt động thanh tra việc tuyển dụng, sử dụng công chức đối với cơquan, tổ chức, cá nhân thuộc phạm vi quản lý của Bộ Nội vụ
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Dưới góc độ Luật Hiến pháp và Luật Hành chính, luận văn tập trung nghiêncứu hoạt động thanh tra việc tuyển dụng, sử dụng công chức, tập trung trongphạm vi của các Bộ, cơ quan ngang bộ, và các tổ chức hành chính trực thuộc tạiTrung ương; các Ủy ban nhân dân (UBND) cấp tỉnh và các tổ chức hành chínhtrực thuộc tại địa phương trong thời gian từ 2015 đến nay
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Mục đích nghiên cứu của đề tài luận văn nhằm làm rõ những vấn đề lý luậnchung về thanh tra việc tuyển dụng, sử dụng công chức Trên cơ sở thực tiễn tìm
ra các giải pháp có tính khả thi để đảm bảo hoạt động thanh tra việc tuyển dụng,
sử dụng công chức có hiệu quả, góp phần xây dựng nền hành chính trong sạch,vững mạnh và hiện đại
Để đạt được các mục đích trên, đề tài luận văn có nhiệm vụ làm rõ nhữngvấn đề cơ bản sau:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về thanh tra việc tuyển dụng, sử dụng công chức
- Phân tích và đánh giá thực trạng thanh tra việc tuyển dụng, sử dụng công chức.
- Đề xuất quan điểm và giải pháp đảm bảo công tác thanh tra việc tuyển dụng, sử dụng công chức
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài luận văn
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Lênin về duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh, đườnglối chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam về tuyển dụng, sử dụng công chức
Trang 14Mác-Đồng thời, luận văn được nghiên cứu trên cơ sở sử dụng kết hợp một số phươngpháp nghiên cứu cụ thể như: phân tích, tổng hợp; thống kê; điều tra xã hội học…
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Về mặt lý luận: Góp phần làm rõ và sâu sắc hơn các yếu tố làm ảnh hưởngtới hiệu quả tổ chức và hoạt động thanh tra việc tuyển dụng, sử dụng công chức
Về mặt thực tiễn, luận văn cung cấp tài liệu tham khảo cho các cơ quantrực tiếp thực hiện chức năng thanh tra tuyển dụng, sử dụng công chức ở địaphương có thể nâng cao hiệu quả hoạt động của mình
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung củaluận văn có 3 chương
Chương 1: Những vấn đề lý luận về thanh tra tuyển dụng, sử dụng côngchức
Chương 2: Thực trạng thanh tra tuyển dụng, sử dụng công chức của thanhtra Bộ Nội vụ
Chương 3: Quan điểm và giải pháp bảo đảm hoạt động công tác thanh tratuyển dụng, sử dụng công chức
Trang 15Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THANH TRA TUYỂN DỤNG, SỬ DỤNG CÔNG CHỨC
1.1 Khái niệm, vai trò và đặc điểm của hoạt động thanh tra việc tuyển dụng, sử dụng công chức
1.1.1 Khái niệm thanh tra tuyển dụng, sử dụng công chức
a) Khái niệm về thanh tra
Thuật ngữ thanh tra xuất phát từ gốc tiếng Latinh là “inspectare” có nghĩa
là “nhìn vào bên trong”, chỉ được kiểm tra, xem xét từ bên ngoài của chủ thể cóthẩm quyền đối với hoạt động của đối tượng nhất định Khái niệm thanh tra theo
từ điển luật học Đức được hiểu là sự tác động của chủ thể đến đối tượng đã vàđang thực hiện thẩm quyền được giao nhằm đạt được mục đích nhất định, đó là
sự tác động có tính trực thuộc Theo từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ họcnăm 2010 thì thanh tra được hiểu là sự kiểm soát, xem xét tại chỗ việc làm củađịa phương, cơ quan, xí nghiệp [44] Theo quan niệm này, thanh tra bao hàmkiểm soát, xem xét, phát hiện và ngăn chặn những gì trái với quy định
Ở mỗi quốc gia, khái niệm thanh tra được nhìn nhận ở nhiều góc độ khácnhau như: phạm vi hoạt động, tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan cóthẩm quyền thực hiện chức năng thanh tra Tùy thuộc vào chế độ chính trị, cấutrúc nhà nước và các đặc điểm riêng của mỗi quốc gia, dân tộc mà việc thiết lập
cơ quan thanh tra theo nhiều cách khác nhau như: cơ quan thanh tra nằm trong tổchức trong hệ thống cơ quan hành pháp hoặc chức năng thanh tra gắn liền vớikiểm toán và được tổ chức thành một cơ quan độc lập
Ở nước ta quan niệm về thanh tra được đề cập ở nhiều góc độ khác nhauthể hiện qua mô hình nhà nước trong lịch sử, các quy định của pháp luật từngthời kỳ như: Thời phong kiến khái niệm thanh tra chưa được sử dụng nhưng cócác chức quan làm công việc giống như thanh tra (Gián nghị đại phu, Ngự sửđài, Quan ngự sử )
Trang 16Thuật ngữ thanh tra mang tính pháp lý lần đầu tiên xuất hiện trong Sắc lệnh
số 64/SL ngày 23/11/1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Chính phủ sẽ thành lậpngay một Ban thanh tra đặc biệt, có ủy nhiệm là đi giám sát tất cả công việc vàcác nhân viên của Ủy ban nhân dân và các cơ quan của Chính phủ” [21] Luậtthanh tra năm 2010 khẳng định: “Thanh tra Nhà nước là hoạt động xem xét,đánh giá, xử lý theo quy trình thủ tục do pháp luật quy định của cơ quan nhànước có thẩm quyền đối với việc thực hiện chính sách pháp luật, nhiệm vụ,quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân Thanh tra nhà nước bao gồm thanh trahành chính và thanh tra chuyên ngành” [27] Hiến pháp năm 2013 quy định chứcnăng thanh tra gắn liền với nhiệm vụ của Chính phủ như sau: “tổ chức công tácthanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống quan liêu, tham
nhũng trong bộ máy nhà nước ” [29].
Thanh tra có tác động tích cực đối với quản lý và góp phần nâng cao hiệulực hiệu quả quản lý nhà nước Trong vai trò của mình, thanh tra không chỉ làhoạt động kiểm tra, giám sát; kịp thời phát hiện sai phạm; kiến nghị, xử lýnghiêm khắc đối với hành vi vi phạm và đề ra các biện pháp khắc phục, sửachữa mà hơn hết là phương tiện để chủ thể quản lý phát hiện những biểu hiện trìtrệ, không phù hợp với thực tiễn khách quan của cơ chế, phương pháp quản lý đã
và đang cản trở các hoạt động quản lý, từ đó đề xuất các biện pháp cải cách hoànthiện các hoạt động quản lý nhà nước
Khi tiến hành hoạt động thanh tra thì những hành vi vi phạm thường được
xử lý bằng các biện pháp kỷ luật hành chính, do đó ta có thể phân thành hai loạigồm: thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành
Đối với thanh tra chuyên ngành: là hoạt động thanh tra của cơ quan nhà
nước có thẩm quyền theo ngành, lĩnh vực đối với cơ quan, tổ chức, cá nhântrong việc chấp hành pháp luật chuyên ngành, quy định về chuyên môn - kỹthuật, quy tắc quản lý thuộc ngành, lĩnh vực đó [27] Hoạt động thanh tra chuyênngành do các cơ quan có chức năng quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực tiếnhành (Thanh tra Bộ, Thanh tra Sở) và cơ quan được giao thực hiện nhiệm vụ
Trang 17thanh tra chuyên ngành (Tổng cục, Cục thuộc bộ, Chi cục thuộc sở được giaochức năng thanh tra chuyên ngành) Như vậy, hoạt động thanh tra chuyên ngànhchủ yếu hướng tới việc kiểm soát việc chấp hành chính sách, pháp luật chuyênngành của mọi đối tượng thuộc phạm vi quản lý nhằm phục vụ hiệu lực, hiệuquả hoạt động quản lý nhà nước trên các lĩnh vực của đời sống xã hội Mục đíchcủa hoạt động thanh tra chuyên ngành tập trung và phát hiện những sơ hở trong
cơ chế quản lý và chính sách pháp luật để kiến nghị cấp có thẩm quyền xử lý kịpthời phòng ngừa phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật trong các lĩnhvực quản lý nhà nước
Đối với thanh tra hành chính: là hoạt động kiểm tra của cơ quan nhà nước
có thẩm quyền đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trực thuộc trong việc thực hiệnchính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn được giao [27] Như vậy, thanh trahành chính là hoạt động thanh tra trong nội bộ bộ máy nhà nước; đối tượng củathanh tra hành chính là các cơ quan, tổ chức, cá nhân trực thuộc Nội dung củathanh tra hành chính nhằm xem xét, đánh giá việc thực hiện chính sách, phápluật, nhiệm vụ, quyền hạn được giao của cơ quan, tổ chức và cá nhân trực thuộc.Đây là điểm khác biệt cơ bản giữa thanh tra hành chính và thanh tra chuyênngành Nó thể hiện quan hệ trong chỉ đạo, điều hành, kiểm tra, kiểm soát giữacấp trên với cấp dưới, giữa cơ quan có thẩm quyền với đối tượng trực thuộc chịu
sự quản lý
b) Khái niệm công chức và tuyển dụng, sử dụng công chức.
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viênchức quy định: Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệmvào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan củaĐảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấptỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải
là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn
vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan
Trang 18phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế vàhưởng lương từ ngân sách nhà nước.
Luật cán bộ, công chức năm 2008 quy định: Công chức cấp xã là công dânViệt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủyban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước [26].Công chức có vị trí rất quan trọng trong việc duy trì hoạt động của các cơquan trong hệ thống chính trị Chính vì thế việc tuyển dụng và sử dụng đượcquan tâm đặc biệt Có thể hiểu tuyển dụng công chức là quy trình do cơ quan cóthẩm quyền tiến hành nhằm sàng lọc và tuyển chọn những người đáp ứng đầy đủnăng lực, phẩm chất theo yêu cầu nhiệm vụ, vị trí việc làm và chỉ tiêu biên chếcủa cơ quan sử dụng công chức Ngoài ra còn phải đáp ứng các điều kiện riêngnhất định do Luật Cán bộ, Công chức quy định Trường hợp đáp ứng các điềukiện đã nêu và cam kết tình nguyện làm việc từ 5 năm trở lên ở miền núi, biêngiới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh
tế - xã hội đặc biệt khó khăn hoặc người học theo chế độ cử tuyển, sinh viên tốtnghiệp xuất sắc, nhà khoa học trẻ thì tuyển dụng thông qua xét tuyển
Sử dụng công chức là việc sắp xếp vị trí việc làm của cơ quan có thẩmquyền đối với công chức dưới các hình thức: bố trí, phân công công tác; chuyểnngạch, nâng ngạch công chức; điều động, luân chuyển, biệt phái công chức; bổnhiệm, bổ nhiệm lại, từ chức, miễn nhiệm công chức; đánh giá công chức nhằmphát huy tối đa năng lực làm việc của công chức theo yêu cầu nhiệm vụ, theoquy hoạch, kế hoạch sử dụng công chức trên cơ sở quy định của pháp luật
Việc đánh giá công chức là hoạt động được tiến hành hàng năm trước khibầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm, quy hoạch, điều động, đào tạo, bồi dưỡng kết thúcnhiệm kỳ, kết thúc thời gian luân chuyển đối với công chức và trước khi bổnhiệm quy hoạch, điều động, đào tạo, bồi dưỡng, kết thúc thời gian biệt phái đốivới công chức Mục đích đánh giá công chức được xác định là để làm rõ phẩmchất chính trị, đạo đức, năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kết quả thựchiện nhiệm vụ được giao Kết quả đánh giá là căn cứ để bố trí, sử dụng, đào tạo,
Trang 19bồi dưỡng, khen thưởng, kỷ luật và thực hiện chính sách đối với công chức Việcđánh giá công chức là người đứng đầu cơ quan, đơn vị sử dụng công chức thựchiện.
c) Khái niệm thanh tra tuyển dụng, sử dụng công chức.
Hoạt động thanh tra tuyển dụng, sử dụng công chức (TDSDCC) được tiếnhành theo một trình tự, thủ tục luật định nhằm phòng ngừa, phát hiện và xử lý cáchành vi vi phạm pháp luật; những sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật
để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền các biện pháp khắc phục
Đối với cơ quan Nội vụ nói riêng: thanh tra tuyển dụng, sử dụng công chức
là một nội dung của thanh tra chuyên ngành Nội vụ, được tiến hành bởi các cơquan thanh tra nhà nước (Thanh tra Bộ Nội vụ, Thanh tra Sở Nội vụ) đối với cơquan, tổ chức, cá nhân thuộc phạm vi quản lý của Bộ Nội vụ, Sở Nội vụ và cơquan, tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ chấp hành quy định pháp luật trong các lĩnhvực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Nội vụ, Sở Nội vụ [16]
Như vậy: Thanh tra tuyển dụng, sử dụng công chức là hoạt động đánh giá,xem xét, kết luận của cơ quan thanh tra ngành Nội vụ đối với việc thực hiện cácquy định pháp luật về tuyển dụng, sử dụng công chức của cơ quan, tổ chức, cánhân thuộc phạm vi quản lý mà pháp luật quy định cho thanh tra nội vụ
1.1.2 Đặc điểm thanh tra trong lĩnh vực tuyển dụng, sử dụng công chức
a) Đặc điểm về chủ thể và đối tượng thanh tra
Mục đích của hoạt động thanh tra nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lýnhà nước Do đó, chủ thể của hoạt động thanh tra TDSDCC là các cơ quan thanhtra nhà nước (Thanh tra Bộ Nội vụ, Thanh tra Sở Nội vụ); đối tượng của thanhtra là đối tượng quản lý nhà nước Đây là những yếu tố căn bản để phân biệthoạt động thanh tra với các phương thức kiểm soát khác như hoạt động kiểm tra,giám sát của các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, của công dân đối với hoạtđộng hành chính nhà nước
Kiểm tra và thanh tra đều là một chức năng chung của quản lý nhà nước làhoạt động mang tính chất “phản hồi” của chu trình quản lý Kiểm tra và thanh
Trang 20tra có quan hệ gần gũi, bổ sung lẫn nhau Nếu hiểu theo nghĩa rộng thì kiểm trabao hàm thanh tra, hay nói cách khác thanh tra là một loại hình đặc biệt củakiểm tra mà ở đó nó luôn luôn do một loại chủ thể là Nhà nước tiến hành vàmang tính quyền lực nhà nước Ngược lại, nếu hiểu theo nghĩa hẹp thì thanh tracũng bao hàm kiểm tra Các hoạt động, các thao tác nghiệp vụ trong một cuộcthanh tra chính là kiểm tra Ví dụ như việc kiểm tra sổ sách, giấy tờ, tài liệu;kiểm tra kho quỹ của đối tượng thanh tra; so sánh, đối chiếu, đánh giá các số liệuthu thập được trong quá trình thanh tra đó chính là kiểm tra.
Thanh tra với giám sát đều là các hình thức của phương pháp kiểm soát nóichung, trong kiểm soát hoạt động quản lý nhà nước nói riêng Giám sát đượchiểu là việc theo dõi, kiểm tra, xem xét của chủ thể bên ngoài hướng vào các cơquan hành chính nhà nước trong việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật về thựchiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao xử lý theo thẩm quyền hoặc yêucầu, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý Giám sát thường là hoạt động củachủ thể ngoài hệ thống đối với đối tượng thuộc hệ thống khác, tức là giữa cơquan giám sát và cơ quan chịu sự giám sát không nằm trong một hệ thống phụthuộc nhau
Như vậy, chủ thể của hoạt động thanh tra TDSDCC mang tính quyền lực nhà nước Quyền lực nhà nước trong quá trình thanh tra TDSDCC được xác
định về mặt pháp lý tính chất nhà nước của tổ chức thanh tra Thanh traTDSDCC xuất hiện, tồn tại và tiêu vong cùng với Nhà nước Tính quyền lực nhànước trong quá trình thanh tra TDSDCC được cụ thể hoá trong chức năng,nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan thanh tra, mà chủ yếu là cơ quan thanh tranội vụ, cơ quan có nhiệm vụ chính về thanh tra TDSDCC Để thực hiện quyềnhạn thanh tra theo pháp luật, các cơ quan thanh tra có quyền quyết định tổ chứccác cuộc thanh tra theo chương trình, kế hoạch được phê duyệt; trình thủ trưởng
cơ quan quản lý hành chính phê duyệt hoặc quyết định thanh tra đột xuất khiphát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật; yêu cầu các cơ quan, đơn vị và cá nhân
có liên quan cung cấp những thông tin và những tư liệu cần thiết phục vụ cho
Trang 21công tác thanh tra cũng như có quyền yêu cầu đối tượng thanh tra cung cấp tàiliệu và trả lời chất vấn của cán bộ thanh tra Ngoài ra, cơ quan thanh tra, thanhtra viên và cán bộ thanh tra có thẩm quyền còn có các quyền hạn khác như trưngcầu giám định, niêm phong tài liệu và tài sản khi có căn cứ nhận định rằng tàiliệu và tài sản đó liên quan đến vi phạm pháp luật hoặc tạm đình chỉ hay đìnhchỉ công tác đối với một người nào đó nếu thấy cần thiết.
Ngoài ra, xuất phát từ bản chất của thanh tra, thanh tra tuyển dụng, sử dụng công chức có tính độc lập tương đối Là bộ phận quan trọng, không thể thiếu trong
cơ cấu bộ máy nhà nước, là công cụ đắc lực để giữ gìn, bảo vệ và tăng cường trật
tự, kỷ cương quản lý, là chức năng thiết yếu của các cơ quan quản lý nhà nước,nhưng có tính độc lập tương đối với cơ quan quản lý Cơ quan thanh tra TDSDCCchịu sự chỉ đạo trực tiếp của thủ truởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp đồngthời chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn về công tác tổ chức, nghiệp vụ thanh tra của thanhtra Chính phủ; chịu sự hướng dẫn về công tác, nghiệp vụ của cơ quan thanh tra cấptrên; thủ trưởng các cơ quan thanh tra nhà nước được quyền ra quyết định xử lýtheo quy định của pháp luật đối với những hành vi vi phạm
Đối tượng thanh tra TDSDCC là các cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc phạm
vi quản lý của Bộ Nội vụ, Sở Nội vụ và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có nghĩa
vụ chấp hành quy định pháp luật trong các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhànước của Bộ Nội vụ, Sở Nội vụ Do đó, Đối tượng thanh tra TDSDCC là các cơquan, tổ chức có thẩm quyền ban hành các văn bản, quy định liên quan đếntuyển dụng, sử dụng công chức và trực tiếp tổ chức thực hiện công tác tuyểndụng, bố trí, phân công công tác; chuyển ngạch, nâng ngạch công chức; điềuđộng, luân chuyển, biệt phái công chức; bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, từ chức, miễnnhiệm công chức; đánh giá công chức cơ sở quy định của pháp luật, là một bộphận của hệ thống công vụ
b) Đặc điểm về hình thức thanh tra
Thanh tra TDSDCC là hoạt động thanh tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo ngành, lĩnh vực đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc chấp
Trang 22hành pháp luật chuyên ngành về TDSDCC Hoạt động thanh tra chỉ xem xét,đánh giá đối tượng thanh tra trên một hoặc một số mặt hoạt động nhất định liênquan đến thẩm quyền của cơ quan quản lý nhà nước Đồng thời được thực hiệndưới ba hình thức: thanh tra theo kế hoạch, thanh tra thường xuyên hoặc thanhtra đột xuất:
Thứ nhất, thanh tra theo kế hoạch: được tiến hành theo kế hoạch đã được
phê duyệt Chánh thanh tra bộ, chánh thanh tra sở ra quyết định thanh tra vàthành lập đoàn thanh tra Đối với những vụ việc phức tạp, liên quan đến tráchnhiệm quản lý của nhiều cơ quan, đơn vị, nhiều cấp, nhiều ngành thì bộ trưởng,giám đốc sở ra quyết định thanh tra và thành lập đoàn thanh tra
Thứ hai, thanh tra thường xuyên: được tiến hành trên cơ sở chức năng,
nhiệm vụ của cơ quan nội vụ được giao thực hiện chức năng thanh tra TDSDCC
Thứ ba, thanh tra đột xuất: được tiến hành khi phát hiện có dấu hiệu vi
phạm pháp luật hoặc theo yêu cầu của việc giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặcphòng, chống tham nhũng hoặc theo yêu cầu của bộ trưởng, chánh thanh tra bộ,giám đốc sở, chánh thanh tra sở Chánh thanh tra bộ, chánh thanh tra sở ra quyếtđịnh thanh tra đột xuất, thành lập đoàn thanh tra và gửi quyết định thanh tra độtxuất để báo cáo bộ trưởng, giám đốc sở Đối với vụ việc phức tạp, liên quan đếntrách nhiệm quản lý của nhiều cơ quan, đơn vị, nhiều cấp, nhiều ngành thì thủtrưởng cơ quan quản lý nhà nước ra quyết định thanh tra đột xuất và thành lậpđoàn thanh tra
Thanh tra TDSDCC được tiến hành theo phương thức đoàn thanh tra với cơcấu, tổ chức chặt chẽ, thành viên của đoàn bao gồm: trưởng đoàn thanh tra,thanh tra viên và các thành viên khác Trưởng đoàn là người chịu trách nhiệmquản lý và chỉ đạo toàn bộ hoạt động của đoàn thanh tra, là một trong các yếu tốquyết định đến kết quả hoạt động của đoàn thanh tra
Thanh tra TDSDCC là một nội dung của thanh tra chuyên ngành nội vụ, do
đó, thanh tra viên ngành nội vụ có các tiêu chuẩn đặc thù [16] Thanh tra viênđược bổ nhiệm vào ngạch thanh tra để thực hiện nhiệm vụ thanh tra và các
Trang 23nhiệm vụ khác theo sự phân công của chánh thanh tra Bộ Nội vụ, chánh thanhtra Sở Nội vụ Thanh tra viên được cấp trang phục, thẻ thanh tra Cộng tác viênthanh tra ngành nội vụ là người có chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp với nhiệm
vụ thanh tra được thanh tra Bộ Nội vụ, thanh tra Sở Nội vụ trưng tập tham giađoàn thanh tra và không thuộc biên chế của các cơ quan thanh tra nhà nước
1.1.3 Vai trò của hoạt động thanh tra tuyển dụng, sử dụng công chức
Thứ nhất, gắn liền với quản lý nhà nước trong lĩnh vực tuyển dụng, sử dụng công chức Là một giai đoạn của chu trình quản lý nhà nước trong lĩnh vực
TDSDCC vì thế thanh tra TDSDCC gắn liền với vai trò của Nhà nước trongkiểm soát nhà nước, kiểm soát xã hội để thực hiện những chức năng chung củanhà nước Để quản lý nhà nước, thanh tra là một công cụ để xem xét, địnhhướng đánh giá kết quả quản lý trong lĩnh vực TDSDCC
Trong mối quan hệ giữa quản lý và thanh tra TDSDCC thì quản lý nhànước giữ vai trò chủ đạo, chi phối hoạt động của thanh tra TDSDCC (quy địnhthẩm quyền, tổ chức, quyết định và kết luận, sử dụng các kết quả và thông tin từphía các cơ quan thanh tra) Mặt khác, hoạt động chấp hành của quản lý nhànước thường bao hàm cả sự điều hành, cho nên trong quá trình thực hiện các vănbản pháp luật đòi hỏi phải có sự kiểm tra nghiêm ngặt của các cơ quan có thẩmquyền Thanh tra TDSDCC nhân danh quyền lực nhà nước thực hiện sự tác độnglên các đối tượng bị quản lý là những vấn đề liên quan đến TDSDCC Xem xét
cơ cấu, chức năng của quản lý thì thanh tra TDSDCC là công cụ, phương tiện đểquản lý nhà nước
Thứ hai, là một trong những chức năng quan trọng và thiết yếu trong hoạt động quản lý nhà nước, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước Quản lý nhà nước là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh mang tính
quyền lực nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của conngười để duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự xã hội nhằm thựchiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước Nhà nước là chủ thể của quản
lý nhà nước với việc tập trung quyền lực của nhân dân, thể hiện tâm tư, ý chí,
Trang 24nguyện vọng và đảm bảo quyền lợi của nhân dân Nhà nước quản lý mọi mặthoạt động của xã hội bằng pháp luật; các chế tài, thiết chế quyền lực nhà nước
và quản lý nhà nước thông qua các cơ quan chuyên môn với nhiệm vụ, chứcnăng nhất định
Hiệu lực quản lý của Nhà nước phần lớn tuỳ thuộc vào nội dung, chấtlượng và biện pháp tổ chức thực hiện các quyết định quản lý nhà nước Trongkhi đó Thanh tra TDSDCC là một chức năng quan trọng của quản lý nhà nướcnên nó là một trong những phương thức đảm bảo các quyết định quản lý đượctuân thủ một cách nghiêm túc, đồng thời góp phần xem xét cả tính hiệu quả củaquản lý nhà nước Hiệu quả của quản lý nhà nước được tính trên hai phươngdiện kết quả đạt được cuối cùng và chi phí thực hiện để đạt kết quả (con người,tiền bạc, thời gian, công sức ) Hiệu quả trong quản lý là đạt kết quả cuối cùngđạt được so với mục tiêu đề ra với chi phí ở mức tối thiểu
Công tác thanh tra TDSDCC với mục đích xem xét, đánh giá thực hiệnquyết định quản lý công tác cán bộ đồng thời xem xét kết luận, đánh giá kết quảthực hiện các mục tiêu, chương trình, nhiệm vụ của chính cơ quan quản lý nhànước Thông qua thanh tra TDSDCC nhiều vụ việc vi phạm pháp luật, tiêu cựctrong công tác cán bộ đã được phát hiện, từ đó các chủ thể quản lý nắm bắt đượctình hình thực hiện pháp luật và nhiệm vụ mà nhà nước giao cho các đối tượngquản lý thuộc quyền, phát hiện những ưu, khuyết điểm trong quản lý, trong côngtác điều hành, chỉ đạo, từ đó kịp thời ban hành những quyết định hay biện phápkhắc phục, sửa chữa cũng như các biện pháp tác động phù hợp nhằm củng cốtrật tự pháp luật và phát huy dân chủ trong đời sống xã hội
Đối với hoạt động thanh tra TDSDCC đòi hỏi phải thu thập và xử lý; nhận xét
và đánh giá, phân tích tổng hợp nguyên nhân, dữ liệu, số liệu nhiều hơn, phức tạphơn Trong quá trình thực hiện chức năng quản lý nhà nước các cơ quan quản lýnhà nước nhất thiết phải tiến hành hoạt động thanh tra thực hiện các quyết định liênquan đến việc TDSDCC mà mình đã ban hành Đó là một khâu không thể thiếu và
có ý nghĩa đặc biệt trong quá trình hoạt động quản lý nhà nước
Trang 25Thứ ba, là một biện pháp phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và xử lý những hành vi vi phạm pháp luật Vi phạm pháp luật xảy ra với nhiều lý do khác nhau,
nhà nước có thể áp dụng nhiều biện pháp từ giáo dục, thuyết phục đến cưỡngchế Vi phạm pháp luật xuất phát từ thiếu trách nhiệm trong quá trình thực thicông vụ cần phải có hình thức xử lý nghiêm khắc, mạnh mẽ để cho người viphạm hiểu và sửa chữa những sai phạm đồng thời răn đe với những hành vitương tự khác có thể xảy ra
Thanh tra TDSDCC góp phần phát hiện và kiến nghị cơ quan, đơn vị cóthẩm quyền sửa đổi, bổ sung, điều chỉnh những tồn tại, hạn chế trong cơ chếquản lý, điều hành trong lĩnh vực chuyên ngành nội vụ Hoạt động của cơ quanthanh tra được tiến hành định kỳ, thường xuyên hay đột xuất là sự nhắc nhở,đồng thời tạo ra một “sức ép” nhất định lên các đối tượng vi phạm để hạn chế viphạm pháp luật có thể xảy ra trên thực tế Ngoài chức năng bảo đảm pháp chếthanh tra TDSDCC còn có chức năng tìm hiểu, giúp đỡ tìm hướng cho các đốitượng thực hiện đúng các quy định của pháp luật
Các kiến nghị xử lý được đưa ra từ hoạt động thanh tra TDSDCC hướngvào việc xử lý hành vi vi phạm pháp luật được phát hiện qua việc phân tích, mổ
xẻ một cách sâu sắc đầy đủ về nguyên nhân, động cơ, mục đích, tính chất mức
độ của hành vi vi phạm Ngoài ra còn có tác dụng khắc phục các kẽ hở của chínhsách, pháp luật, ngăn ngừa tận gốc mầm mống phát sinh những vi phạm phápluật tương tự xảy ra ở một nơi khác hoặc vào một thời điểm khác Vai trò phòngngừa của thanh tra TDSDCC mang tính chủ động Trong rất nhiều trường hợp,qua thanh tra mà có thể dự báo được một hành vi vi phạm sẽ xảy ra trong tươnglai nếu không có sự chấn chỉnh, không có sự định hướng lại cho các đối tượngmột cách kịp thời
Thứ tư, là phương thức bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa được thực hiện nghiêm chỉnh Với tư cách là một chức năng quản lý nhà nước, thanh tra
TDSDCC chính là hoạt động xem xét tại chỗ việc làm của các cơ quan, tổ chức
cá nhân có đúng chính sách, pháp luật hay không Nếu họ làm sai hoặc làm
Trang 26chậm thì giúp họ sửa chữa và làm cho đúng Mục đích của thanh tra TDSDCC lànhằm phòng ngừa, phát hiện và xử lý những vi phạm pháp luật, bảo đảm để các
cơ quan, tổ chức và cá nhân tuân thủ và chấp hành một cách chính xác, đầy đủ
và nghiêm chỉnh pháp luật nhà nước Để mọi người hiểu biết pháp luật cần nângcao công tác tuyên truyền và giáo dục pháp luật nhằm tăng cường tính pháp chế
xã hội chủ nghĩa
Những quy định trái pháp luật được phát hiện qua công tác thanh traTDSDCC được người đứng đầu cơ quan thanh tra kiến nghị với cơ quan nhànước có thẩm quyền để đình chỉ việc thi hành hoặc hủy bỏ các quy định tráipháp luật Ngoài ra người đứng đầu cơ quan thanh tra kiến nghị với chủ tịch ủyban nhân dân các cấp xử lý việc chồng chéo, trùng lặp về chương trình, kếhoạch, nội dung thanh tra thuộc quyền quản lý nhà nước của cấp mình Cơ quanthanh tra thực hiện tốt nhiệm vụ, quyền hạn của mình sẽ góp phần tích cực vàoviệc bảo đảm tính pháp chế xã hội chủ nghĩa
1.2 Nội dung, nguyên tắc và quy trình tiến hành hoạt động thanh tra tuyển dụng, sử dụng công chức
1.2.1 Nội dung thanh tra tuyển dụng, sử dụng công chức
Nội dung của hoạt động thanh tra TDSDCC chủ yếu hướng tới việc kiểmsoát việc chấp hành chính sách, pháp luật liên quan đến lĩnh vực tuyển dụng, sửdụng công chức của các đối tượng thuộc phạm vi quản lý nhằm phục vụ hiệulực, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước trên lĩnh vực này Nghị định số90/2012/NĐ-CP ngày 25/11/2012 có nêu nội dung thanh tra ngành Nội vụ:
“Thanh tra việc chấp hành pháp luật chuyên ngành về các lĩnh vực: tổ chức hànhchính, sự nghiệp nhà nước; chính quyền địa phương, địa giới hành chính; cán
bộ, công chức, viên chức nhà nước; hội, tổ chức phi chính phủ; phối hợp với các
tổ chức thuộc Bộ thanh tra việc chấp hành pháp luật chuyên ngành về các lĩnhvực: cơ yếu, tôn giáo, thi đua – khen thưởng và văn thư – lưu trữ” [16]
Ngày 10/12/2012, Thông tư số 09/2012/TT-BNV của Bộ Nội vụ đã quyđịnh quy trình, nội dung thanh tra về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức,
Trang 27viên chức Đây là văn bản pháp luật quy định cụ thể nhất từ trước đến nay vềlĩnh vực thanh tra TDSDCC, tạo căn cứ pháp lý vững chắc cho các cuộc thanhtra TDSDCC trên toàn quốc Theo đó, nội dung thanh tra bao gồm:
“Các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước, đường lối, chính sách củaĐảng được cơ quan, đơn vị là đối tượng áp dụng liên quan đến việc tuyển dụng,
sử dụng và quản lý công chức trong giai đoạn và phạm vi thanh tra
Các văn bản của cơ quan, đơn vị là đối tượng thanh tra và các cơ quan, đơn
vị thuộc và trực thuộc đối tượng thanh tra ban hành liên quan đến việc tuyểndụng, sử dụng và quản lý công chức được áp dụng trong giai đoạn, phạm vithanh tra.” [6]
Như vậy, hoạt động thanh tra tuyển dụng, sử dụng công chức được baogồm các nội dung chính sau:
Thứ nhất, thanh tra các căn cứ pháp lý của việc tuyển dụng, sử dụng và
quản lý công chức: các VBQPPL của Nhà nước, đường lối, chính sách của Đảngđược cơ quan, đơn vị là đối tượng áp dụng liên quan đến việc tuyển dụng, sửdụng và quản lý công chức; các văn bản của cơ quan, đơn vị là đối tượng thanhtra ban hành liên quan đến việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức được
áp dụng trong giai đoạn, phạm vi thanh tra
Thứ hai, thanh tra công tác thực hiện tuyển dụng công chức của cơ quan,
đơn vị là đối tượng thanh tra Đoàn thanh tra tiến hành thanh tra các căn cứ, điềukiện, thẩm quyền tuyển dụng công chức; thanh tra các nội dung thi tuyển, xéttuyển công chức; thanh tra các nội dung về xét chuyển công chức cấp xã thànhcông chức cấp huyện trở lên
Thứ ba, thanh tra việc bố trí, phân công công tác đối với công chức.
Thứ tư, thanh tra việc chuyển ngạch, nâng ngạch và tiêu chuẩn ngạch công chức Thứ năm, thanh tra căn cứ, lý do để thực hiện điều động, luân chuyển, biệt
phái công chức; trình tự, thủ tục; việc bố trí, phân công công tác đối với côngchức; việc thực hiện chế độ, chính sách đối với công chức; thời hạn điều động,luân chuyển, biệt phái
Trang 28Thứ sáu, thanh tra các căn cứ, tiêu chuẩn, điều kiện và quy trình về công
tác bổ nhiệm, bổ nhiệm lại công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý Trình tự,thủ tục bổ nhiệm đối với nguồn nhân sự tại chỗ và bổ nhiệm đối với nguồn nhân
sự từ nơi khác
Thứ bảy, thanh tra việc từ chức, miễn nhiệm của công chức giữ chức vụ
lãnh đạo, quản lý
1.2.2 Nguyên tắc thanh tra tuyển dụng, sử dụng công chức
Sau Luật thanh tra 2004, ngày 10/11/2006 Quyết định số TTCP được ban hành đã quy định những nội dung quan trọng của Đoàn Thanh tra,
2151/2006/QĐ-cụ thể là nguyên tắc, chế độ làm việc trong hoạt động thanh tra;những hành vi bịnghiêm cấm trong hoạt động thanh tra; tổ chức và hoạt động thanh tra; nhiệm vụ,quyền hạn của Trưởng Đoàn Thanh tra Năm 2010 Luật thanh tra ra đời đã gópphần hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) của ngành Thanhtra, theo đó, nguyên tắc của hoạt động thanh tra tuyển dụng, sử dụng công chức lànhững quy tắc chỉ đạo, tiêu chuẩn hành động xuyên suốt trong quá trình tiến hànhthanh tra của cơ quan thanh tra Nội vụ và bao gồm những nguyên tắc sau:
Thứ nhất, nguyên tắc hoạt động thanh tra tuyển dụng, sử dụng công chức tuân theo pháp luật Khi có đầy đủ những căn cứ do pháp luật quy định, thanh
tra TDSDCC được quyền tiến hành hoạt động thanh tra một cách độc lập và chỉtuân theo pháp luật Việc can thiệp không có căn cứ pháp luật của bất kỳ tổ chức,
cá nhân nào đều là bất hợp pháp và tùy theo mức độ nặng, nhẹ sẽ bị xử lý theocác quy định của pháp luật
Trong quá trình thanh tra TDSDCC, những người được giao thực hiệnnhiệm vụ, quyền hạn thanh tra phải tuân thủ đúng những quy định của pháp luật
về hoạt động thanh tra, bảo đảm tính độc lập, nghiêm minh khi thực hiện nhữngthủ tục cần thiết và trong phạm vi thẩm quyền cho phép Người ra kết luận thanhtra, trưởng đoàn thanh tra, thành viên đoàn thanh tra phải chịu trách nhiệm trướcpháp luật về kết luận và việc làm của mình trong quá trình thanh tra
Trang 29Hoạt động thanh tra TDSDCC được tiến hành từ chương trình, kế hoạchhoạt động của các tổ chức thanh tra đến việc ra quyết định thanh tra, cử đoànthanh tra, thanh tra viên đến việc kết luận, kiến nghị, quyết định xử lý, giảiquyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động thanh tra đều phải tuân thủ đầy đủ cácquy định của pháp luật thanh tra Các hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn thanhtra để thực hiện hành vi trái pháp luật, sách nhiễu, gây khó khăn, phiền hà chođối tượng thanh tra; thanh tra vượt quá thẩm quyền, phạm vi, nội dung thanh tra;
cố ý kết luận sai sự thật, quyết định, xử lý trái pháp luật, bao che cho người cóhành vi vi phạm đều bị nghiêm cấm và bị xử lý theo quy định của pháp luật
Thứ hai, nguyên tắc hoạt động thanh tra không được làm cản trở hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân là đối tượng thanh tra Hoạt động thanh tra nhằm góp phần đảm bảo tuân thủ pháp chế và kỷ luật nhà nước,
tăng cường hiệu quả, hiệu lực hoạt động quản lý hành chính nhà nước Mục đíchcuối cùng của hoạt động thanh tra TDSDCC là góp phần bảo đảm sự phát triển
ổn định và lành mạnh Chính vì vậy mà thanh tra không được làm cản trở hoạtđộng của đối tượng Đây là nguyên tắc thể hiện mối quan hệ giữa các cơ quanthanh tra TDSDCC với cơ quan, tổ chức, cá nhân là đối tượng thanh tra; giữa cơquan, tổ chức, cá nhân thực thi quyền lực nhà nước với đối tượng chịu sự quảnlý
Pháp luật trao cho cơ quan thanh tra những nhiệm vụ, quyền hạn đặc biệt vìthế khi tiến hành hoạt động thanh tra, cơ quan thanh tra phải đảm bảo không cảntrở đến hoạt động bình thường của các cơ quan, tổ chức, cá nhân Có như vậy,thanh tra mới thực sự là công cụ để củng cố và tăng cường pháp chế và kỷ luậtnhà nước trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước
Cơ quan thanh tra TDSDCC chỉ tiến hành thanh tra những nội dung ghitrong quyết định thanh tra, không được tự ý mở rộng phạm vi thanh tra hoặc kéodài thời gian thanh tra… Việc kết luận phải chính xác, khách quan, không vìđộng cơ cá nhân, không được gây khó khăn, phiền hà, sách nhiễu làm ảnh hưởngđến hoạt động bình thường của đối tượng thanh tra Nguyên tắc có ý nghĩa thựctiễn rất quan trọng, khi vẫn còn tình trạng một bộ phận cán bộ thanh tra lợi dụng
Trang 30việc thanh tra để thực hiện nhưng hành vi tiêu cực, gây ảnh hưởng không nhỏđến hoạt động của đối tượng thanh tra.
Thứ ba, nguyên tắc thanh tra phải bảo đảm tính chính xác, khách quan, công khai, trung thực, dân chủ, kịp thời Tính chính xác bảo đảm cho công tác
thanh tra TDSDCC đạt hiệu quả cao, được đối tượng chấp nhận, nhân dân đồngtình ủng hộ, tạo cơ sở thực hiện kết luận, quyết định xử lý về thanh tra Muốnđảm bảo tính chính xác trong hoạt động thanh tra cần có quan điểm đúng đắncũng như kiến thức, năng lực và phương pháp nghiệp vụ mới có thể đem lại kếtquả chính xác Kết quả trong thanh tra TDSDCC không đảm bảo tính chính xác
sẽ dẫn đến việc nhìn nhận, đánh giá sai đối tượng thanh tra, từ đó có những kếtluận, kiến nghị xử lý thiếu đúng đắn, trái pháp luật
Tính khách quan bảo đảm phản ánh đúng sự thật, không thiên lệch và bópméo sự thật Tính chính xác và tính khách quan có tác động qua lại lẫn nhau Cókhách quan mới bảo đảm chính xác, ngược lại có chính xác mới thể hiện đượctính khách quan Để bảo đảm tính khách quan, phải sâu sát thực tế, tôn trọng sựthật, phản ánh đúng sự thật Điều quan trọng là phải có bản lĩnh vững vàng, ýthức trách nhiệm cao và có năng lực xem xét, phân tích chính xác, khoa học.Tính trung thực là phản ánh đúng và đầy đủ bản chất của sự việc, khôngthêm, bớt đồng thời cũng viện dẫn đầy đủ không cắt xén các quy định pháp luật
để xác định rõ đúng, sai
Tính công khai trong hoạt động thanh tra TDSDCC thể hiện ở chỗ phảithông báo nội dung thanh tra để mọi người biết nhằm động viên đông đảo nhândân tham gia phát hiện, giám sát, kiểm tra góp phần bảo đảm tính chính xác.Những nội dung cần công khai bao gồm: quyết định thanh tra; tiếp công khai đốitượng thanh tra và mọi người có liên quan ở nơi thanh tra; công khai kết luậnthanh tra Tuỳ theo từng tính chất vụ việc thanh tra mà có hình thức công khaicho thích hợp trừ trường hợp về bí mật quốc gia, thuộc an ninh quốc phòng hoặccần giữ bí mật về người tố cáo để bảo vệ họ thì không được phép công khai
Trang 31Tính dân chủ trong hoạt động thanh tra TDSDCC là thể hiện sự tôn trọngvới đối tượng thanh tra góp phần tích cực vào kết quả kiểm tra, thanh tra Trongquá trình thanh tra cần coi trọng phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, coi trọngtính thuyết phục và việc thu thập, tiếp nhận thông tin có liên quan, kể cả tạo điềukiện cho đối tượng thanh tra được trình bày ý kiến của họ để rà soát lại tính đúngđắn từng việc làm cụ thể Cần tránh mọi biểu hiện chủ quan áp đặt, bất chấp ýkiến người khác Tuy nhiên qua ý kiến đóng góp trình bày của nhiều người, đoànthanh tra, thanh tra viên phải xem xét, cân nhắc, để có sự quyết đoán chính xác,dám chịu trách nhiệm về các quyết định và việc làm của mình Nếu do dự hoặckhông biết chọn lọc ý kiến sẽ rất lúng túng, mất tính chủ động trong kiểm tra,thanh tra.
Tính kịp thời trong hoạt động thanh tra TDSDCC cũng rất quan trọng bởi
vì do yêu cầu quản lý nhà nước và những vấn đề cuộc sống đặt ra là phải đượckiểm tra, thanh tra và trả lời đầy đủ, kịp thời mới có đối sách ứng xử cho sáthợp Nếu hoạt động thanh tra tiến hành chậm trễ hoặc không gắn với chu trìnhquản lý sẽ kém hiệu quả Muốn bảo đảm kịp thờiphải có kiến thức và năng lực
để phát hiện, phân tích, giám sát chiều sâu, làm rõ các mối liên hệ mới có thểđánh giá đúng bản chất của sự vật, không lầm lẫn Yêu cầu này nhằm đảm bảophát hiện, ngăn ngừa và xử lý kịp thời những việc làm vi phạm pháp luật, bảo vệquyền, lợi ích hợp pháp của nhà nước, tập thể và các cá nhân trong xã hội
Thứ tư, nguyên tắc không trùng lặp về phạm vi, đối tượng, nội dung, thời gian thanh tra giữa các cơ quan thực hiện chức năng thanh tra Thủ trưởng cơ
quan thanh tra TDSDCC cần nghiên cứu, xem xét kỹ các căn cứ và những điềukiện khác có liên quan trước khi ra quyết định thanh tra và thành lập đoàn thanhtra để tránh trùng lặp, cố gắng tránh hiện tượng có thể xảy ra là 1 năm liên tiếp
có nhiều đoàn kiểm tra, thanh tra đến một cơ quan, đơn vị, nhất là thanh tra,kiểm tra về cùng 1 nội dung Trong quá trình thanh tra, kiểm tra, trưởng đoàn vàcác thành viên cần thực hiện đúng kế hoạch thanh tra, đúng quyền hạn, trình tựthủ tục và đúng thời gian, thời hiệu thanh tra
Trang 32Việc xác định đối tượng, phạm vi, nội dung hoạt động thanh tra có căn cứ
từ hai phương diện: mức khái quát, hệ thống quản lý cần thông tin về vấn đề gì
và thanh tra đáp ứng theo phương pháp nào lấy ngăn chặn, phòng ngừa là chínhhay xử lý là chính; mức cụ thể, hoạt động thanh tra thuộc quản lý nhà nước ởlĩnh vực nào thì có đối tượng phạm vi, nội dung cụ thể theo lĩnh vực đó và điều
đó được thể hiện trực tiếp thông qua quyết định của cấp có thẩm quyền
Thứ năm, nguyên tắc sử dụng đúng quyền hạn trong hoạt động thanh tra tuyển dụng, sử dụng công chức Quyền hạn trong hoạt động thanh tra TDSDCC
là yếu tố mang tính nguyên tắc đảm bảo cho thanh tra đạt được mục đích đề ra.Hoạt động thanh tra TDSDCC là hoạt động nhân danh quyền lực hành chính nhànước của cơ quan quản lý hành chính cấp trên đối với cấp dưới Do vậy giới hạn,phạm vi sử dụng quyền trong thanh tra TDSDCC nằm trong khuôn khổ củaquyền lực hành chính nhà nước Việc sử dụng đúng quyền hạn trong thanh trađòi hỏi trên các khía cạnh: phạm vi, tính chất vấn đề, hành động và không hànhđộng trong sử dụng quyền
Thứ sáu, nguyên tắc tuân thủ trình tự thanh tra tuyển dụng, sử dụng công chức Muốn tiến hành thanh tra tuyển dụng, sử dụng công chức trước hết phải có
quyết định thanh tra do người có thẩm quyền ban hành Quyết định thanh traphải ghi rõ nội dung thời hạn thanh tra và xác định rõ người thực hiện Khi thờihạn thanh tra đã hết, nếu cuộc thanh tra chưa kết thúc phải có quyết định kéo dàihoặc gia hạn thời hạn thanh tra
Kết thúc cuộc thanh tra TDSDCC, đoàn thanh tra (thanh tra viên) phải có
báo cáo kết quả thanh tra, kiến nghị về các nội dung đã được thanh tra và chịutrách nhiệm trước pháp luật về các kết luận, quyết định, các kiến nghị Người raquyết định thanh tra TDSDCCphải ra kết luận thanh tra Kết luận thanh tra phảixác định rõ đúng, sai; xác định các nguyên nhân khách quan, chủ quan; quy rõtrách nhiệm Tất cả các kết luận đều phải có hồ sơ, tài liệu, chứng cứ, vật mangtin khác bảo đảm
Trang 331.3 Các yếu tố tác động đến hoạt động thanh tra tuyển dụng, sử dụng công chức
1.3.1 Yếu tố khách quan
a) Yếu tố chính trị
Qua việc nghiên cứu quan điểm của Đảng và Nhà nước về công tác thanhtra cho thấy, hơn 70 năm qua, cùng với sự lớn mạnh và phát triển của đất nước,công tác thanh tra luôn luôn được Đảng và Nhà nước coi trọng và nhất quánphương châm tăng cường củng cố và phát triển để đáp ứng yêu cầu nhà nướcqua mỗi thời kỳ cách mạng của đất nước Mỗi giai đoạn, mỗi thời kỳ lịch sử, đấtnước ta có một nhiệm vụ chính trị riêng, chính vì thế hoạt động thanh tra cũngvận hành phù hợp để góp phần thực hiện nhiệm vụ chính trị chung của đất nước.Vào những năm mới dành độc lập, nhiệm vụ chính trị đặt ra là ổn định đờisống nhân dân trên cơ sở tôn trọng và bảo đảm các quyền của người dân đượcthực thi Từ ý nghĩa đó ngày 23/11/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh
số 64/SL, thành lập Ban thanh tra đặc biệt, trong đó nêu rõ: “Ban thanh tra đặcbiệt có toàn quyền nhận các đơn khiếu nại của dân; điều tra, hỏi chứng, xem xétcác tài liệu giấy tờ của UBND hoặc các cơ quan của Chính phủ cần thiết chocông việc giám sát; đình chức, bắt giam bất cứ nhân viên nào trong UBND haycủa Chính phủ đã phạm lỗi" [21] Người dành sự quan tâm đặc biệt đối với côngtác thanh tra trong sự nghiệp cách mạng chung của cả nước Nội dung mà côngtác thanh tra hướng tới trong thời gian này là giải quyết các khiếu nại của nhândân và thanh tra, xem xét sự thi hành chủ trương, chính sách của Chính phủ.Sau một thời gian dài, đất nước ta đã có nhiều thành tựu trong công cuộcxây dựng và phát triển đất nước, giai đoạn mới đặt ra cho chúng ta nhiều tháchthức, hoạt động thanh tra cũng có những thay đổi phù hợp, trong đó phải kể đến
sự ra đời của Chỉ thị số 38 CT/TW ngày 20/2/1984 của Ban bí thư Trung ương:
"trước mắt, cũng như lâu dài, công tác thanh tra có tác dụng quan trọng trực tiếpđối với việc thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, giữ gìn pháp luật củaNhà nước" và "cần tăng cường cho các tổ chức thanh tra có đủ số lượng cán bộ
Trang 34thanh tra có phẩm chất, đạo đức tốt và có kiến thức, kinh nghiệm hoạt động thựctiễn" [1] hoặc Nghị quyết số 26-HĐBT ngày 15/2/1984: "Thanh tra là một khâukhông thể thiếu trong công tác lãnh đạo Đường lối chủ trương của Đảng đượcNhà nước cụ thể hoá bằng các chủ trương, chính sách và bằng việc tổ chức thựchiện, đồng thời phải thường xuyên thanh tra, kiểm tra việc tiến hành chủ trươngchính sách đã đề ra Mặt khác, đứng về Nhà nước và xã hội phải tăng cường xâydựng tổ chức ngành thanh tra" và "tổ chức thanh tra phải là một tổ chức có hiệulực của Nhà nước chuyên chính vô sản, đồng thời phải là một hình thức tổ chứccủa quần chúng để thực hiện quyền làm chủ của mình trong kiểm tra, giám sáthoạt động của cơ quan nhà nước".
Ngày 01/4/1990, Hội đồng Nhà nước đã ban hành Pháp lệnh Thanh tra, đếnnăm 2004 Quốc hội ban hành Luật Thanh tra đây là văn bản pháp lý cao nhất từtrước tới nay có phạm vi điều chỉnh tổng quát nhất, đề cập nhiều vấn đề có liênquan đến tổ chức và hoạt động thanh tra Luật Thanh tra ra đời có ý nghĩa quantrọng về thực tiễn và lý luận Đây là sự cụ thể ở mức cao quan điểm của Đảng vàNhà nước đối với công tác thanh tra: “thanh tra là một chức năng thiết yếu củaquản lý nhà nước” Trên cơ sở tổng kết thực tiễn tổ chức và hoạt động thanh tra;
kế thừa các quy định còn phù hợp của Luật Thanh tra năm 2004; tiếp thu cóchọn lọc kinh nghiệm của các nước trên thế giới về công tác thanh tra, Quốc hộikhóa XIII đã ban hành Luật Thanh tra năm 2010 với nhiều thay đổi về tổ chức,hoạt động thanh tra như làm rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, phạm vi,phương thức hoạt động thanh tra và sự phối hợp của các cơ quan thanh tra, khắcphục sự chồng chéo, trùng lắp trong hoạt động thanh tra; bảo đảm sự phối hợp
có hiệu quả giữa các công cụ giám sát, kiểm tra, thanh tra của bộ máy nhà nước
và của cả hệ thống chính trị đối với hoạt động của các cơ quan, tổ chức, cá nhân.Hiến pháp năm 2013 một lần nữa quy định chức năng thanh tra gắn liền vớinhiệm vụ của Chính phủ tại khoản 5, điều 96 như sau: “tổ chức công tác thanhtra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống quan liêu, tham nhũngtrong bộ máy nhà nước ” [29] Hiến pháp là cơ sở để Thủ tướng Chính phủ ban
Trang 35hành Chiến lược phát triển ngành Thanh tra đến năm 2020, tầm nhìn đến năm
2030 tại Quyết định số 2213/QĐ-TTg ngày 08/12/2015 với tinh thần nâng caođịa vị pháp lý của các cơ quan thanh tra phù hợp với chức năng, nhiệm vụ,quyền hạn được giao; xây dựng ngành Thanh tra với đội ngũ nhân lực hội đủnăng lực, trình độ, phẩm chất nhằm góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản
lý nhà nước, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và hộinhập quốc tế
Thanh tra TDSDCC là một hoạt động của ngành thanh tra, vì thế đặt ra yêucầu mới trong thời kỳ mở cửa đó là quản lý tốt hoạt động liên quan đến đội ngũcông chức, những người đang thực thi nhiệm vụ trong các cơ quan nhà nước.Qua trình thanh tra chịu áp lực không nhỏ từ xã hội cũng như yêu cầu của côngcuộc xây dựng nhà nước pháp quyền Để đảm bảo đáp ứng yêu cầu chính trị nàohiện nay thanh tra TDSDCC cần theo dõi, xem xét việc chấp hành các kế hoạchchỉ thị, chính sách đó, các địa phương
b) Yếu tố pháp luật
Tuân thủ pháp luật mang đến hiệu quả của pháp luật được thực hiện trênthực tế Pháp luật ban hành ra là để tất cả mọi ngời thực hiện và tuân thủ đầy đủcác quy định của pháp luật Chính vì thế hoạt động thanh tra cũng phải tuân thủđầy đủ các quy định của pháp luật Có thể nói tuân thủ pháp luật nói chung vàcác quy định pháp luật về thanh tra nói riêng là thước đo hiệu lực, hiệu quả củacông tác thanh tra Mức độ hoàn thiện của pháp luật ảnh hưởng đến chất lượng,hiệu quả của công tác thanh tra
Pháp luật có liên quan đến hoạt động thanh tra trong lĩnh vực TDSDCC baogồm hai nhóm: các văn bản pháp luật về công chức và TDSDCC và các văn bản
về thanh tra
Thứ nhất, pháp luật về tuyển dụng, sử dụng công chức
Chính phủ đã ban hành Nghị định số 24/2010/NĐ-CP ngày 15/3/2010 vềtuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức tạo cơ sở pháp lý giúp cơ quan, đơn
vị xây dựng văn bản quản lý, tổ chức thực hiện công tác cán bộ có quy trình, quy
Trang 36định cụ thể, rõ ràng, chặt chẽ hơn Việc đổi mới công tác cán bộ đã đặt ra yêucầu đó là hệ thống pháp luật phải phù hợp với thực tiễn.
Ngày 01/12/2017 Bộ Nội vụ đã ban hành Quyết định số 2823/QĐ-BNV vềphê duyệt Chiến lược phát triển ngành Nội vụ đến năm 2025, tầm nhìn đến năm
2035 với mục tiêu: “Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức ngành Nội
vụ đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính; có số lượng và cơ cấu hợp lý; có phẩmchất đạo đức tốt, năng động, sáng tạo; đề cao trách nhiệm giải trình, tăng cường
kỷ luật, kỷ cương hành chính, đạo đức công vụ” [10] Đây đã trở thành địnhhướng cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân xây dựng kế hoạch, quy hoạch và hoànthiện cơ chế chính sách công tác cán bộ trong những năm gần đây
Ngày 29/11/2018 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 161/2018/NĐ-CPquy định về tuyển dụng công chức, viên chức, nâng ngạch công chức và thănghạng viên chức đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 24/2010/NĐ-
CP, và ngày 14/5/2019 Bộ Nội vụ đã ban hành Thông tư số 03/2019/TT-BNVsửa đổi, bổ sung một số quy định về tuyển dụng công chức, viên chức, nângngạch công chức, thăng hạng chức danh nghề nghiệp viên chức và thực hiện chế
độ hợp đồng một số loại công việc trong cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị
sự nghiệp công lập với những điểm mới thắt chặt hơn nữa quy trình TDSDCCnhằm tăng tính cạnh tranh minh bạch, công bằng; hạn chế tiêu cực
Thứ hai, các văn bản pháp luật về Thanh tra
Từ định hướng của các văn kiện Đảng như Nghị quyết số 48/2005/NQ/TWngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thốngpháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020; Nghị quyết Hội nghịlần thứ ba Ban Chấp hành Trung tương Đảng khóa X về tăng cường sự lãnh đạocủa Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí; Kết luận Hội nghịTrung ương 5 (Khóa XI) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tácphòng, chống tham nhũng lãng phí… đã chỉ rõ cần đẩy mạnh thanh tra, tăng cườngtính độc lập tự chịu trách nhiệm của các cơ quan thanh tra, tăng cường thanh traviệc thực hiện chức trách, nhiệm vụ công vụ… trong đó có nội dung về TDSDCC
Trang 37Trên cơ sở đó, hệ thống pháp luật về thanh tra đã được ban hành với vănbản cụ thể như: Nghị định số 90/2012/NĐ-CP ngày 05/11/2012 của Chính phủ
về tổ chức và hoạt động thanh tra ngành Nội vụ; Thông tư số 09/2012/TT-BNVngày 10/12/2012 của Bộ Nội vụ đã Quy định quy trình, nội dung thanh tra vềtuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức, viên chức đã tạo cơ sở pháp lý vữngchắc cho hoạt động thanh tra TDSDCC
c) Yếu tố tập quán - văn hóa
Tập quán văn hóa có một ảnh hưởng không thể phủ nhận đối với pháp luật,đặc biệt trong quản lý nhà nước trên các lĩnh vực Tập quán văn hóa chính lànhững chuẩn mực của hành vi của con người trong cuộc sống Do đó, việc xâydựng pháp luật phải dựa trên những kinh nghiệm văn hóa, tức là pháp luật phải
có khả năng biến thành văn hóa để điều chỉnh cuộc sống Văn hóa điều chỉnhhành vi của con người mạnh hơn cả pháp luật Vì thế pháp luật phải được xâydựng dựa trên những kinh nghiệm văn hóa đã có trong cuộc sống
Tập quán – văn hóa ảnh hưởng không chỉ đến pháp luật mà còn tác độngtrực tiếp tới tổ chức, hoạt động của cơ quan và công chức nhà nước Trong lĩnhvực thanh tra TDSDCC thì yếu tố tập quán – văn hóa được hiểu là những kinhnghiệm, thói quen mà cán bộ, công chức đang áp dụng để giải quyết công việc
mà pháp luật cho phép
Thực tế cho thấy ở Việt Nam không có tập quán, truyền thống “soi xét lại”
các quy định TDSDCC Thường xem việc TDSDCC là trách nhiệm của ngườiđứng đầu, cho nên dẫn đến tình trạng thụ động, bị động trong tuân thủ các quyđịnh của lãnh đạo về TDSDCC Ở Việt Nam chưa hình thành văn hóa thi tuyển,văn hóa công khai, minh bạch trong tuyển dụng, sử dụng nên dẫn đến tình trạngthi cử không minh bạch, còn chạy điểm, tiêu cực trong thi cử
Có thể nói Tập quán – văn hóa không giải quyết tốt sẽ trở thành những ràocản rất lớn cho công tác thanh tra Thậm chí ở nhiều cơ quan việc TDSDCC còn
là vấn đề bí mật nên không thể giám sát Tình trạng nàydiễn ra thường xuyêngây ảnh hưởng rất lớn đến việc thu thập thông tin để giải quyết, xử lý đối với cáccuộc thanh tra
Trang 381.3.2 Yếu tố chủ quan
a) Việc tổ chức thực hiện hoạt động thanh tra tuyển dụng, sử dụng công chức
Hoạt động thanh tra TDSDCC được tiến hành theo hai hình thức là theo kếhoạch và đột xuất Theo cách hiểu chung nhất, hình thức là cách thức tổ chức,tiến hành một hoạt động có mục đích, phương tiện, thời hạn, phạm vi, đối tượng,yêu cầu cụ thể Thực tiễn cho thấy, có cuộc thanh tra theo kế hoạch nhưng thờihạn thanh tra ngắn, phạm vi thanh tra hẹp và ngược lại, có cuộc thanh tra độtxuất nhưng đòi hỏi phải thanh tra toàn diện, nội dung phức tạp, kéo dài
Việc xác định rõ các nội dung theo từng hình thức thanh tra sẽ giúp việc tổchức thực hiện hoạt động thanh tra TDSDCC đảm bảo tính toàn diện và cụ thể, sửdụng tối ưu nguồn lực, đáp ứng yêu cầu của công tác quản lý, tránh tình trạng chậmtrễ chủ yếu trong ban hành Kết luận thanh tra hoặc không hoàn thành kế hoạchthanh tra do cơ quan thanh tra phải tiến hành nhiều cuộc thanh tra đột xuất
b) Công tác chỉ đạo đối với hoạt động thanh tra tuyển dụng, sử dụng công chức
Tổ chức thanh tra TDSDCC phân bố từ trung ương đến địa phương phải đảmbảo sự chỉ đạo của cơ quan thanh tra nhà nước cấp trên trong công tác xây dựng vàphát triển ngành quy hoạch đội ngũ cán bộ thanh tra giỏi nghiệp vụ, tâm huyết gắn
bó với ngành; thống nhất thẩm quyền, căn cứ tiến hành thanh tra đột xuất
Thực tế cho thấy các cơ quan thanh tra thiếu tính độc lập và phụ thuộc vào
cơ quan quản lý cùng cấp về nhiều mặt: cơ cấu tổ chức, công tác nhân sự, kinhphí, xây dựng và thực hiện kế hoạch thanh tra Điều này cần được quan tâm,điều chỉnh kịp thời tránh ảnh đến công tác chỉ đạo và tổ chức thực hiện hoạtđộng thanh tra TDSDCC và phải đảm bảo tính chủ động, tự chịu trách nhiệmcủa các cơ quan thanh tra trong việc quyết định thanh tra
c) Yếu tố năng lực và đạo đức công vụ của các chủ thể trong hoạt động thanh tra tuyển dụng, sử dụng công chức
Năng lực và đạo đức công vụ của các chủ thể trong hoạt động thanh tratuyển dụng, sử dụng công chức là yếu tố chủ quan tác chủ đạo quyết định đếnhiệu quả của hoạt động này Hoạt động thanh tra TDSDCC hiện nay bao gồmcác chủ thể sau: Thủ trưởng cơ quan hành chính; người ra quyết định thanh tra;
Trang 39trưởng đoàn thanh tra; thành viên đoàn thanh tra; giám định viên và các cơ quanphối hợp liên quan.
Người ra quyết định thanh tra: Tuy không trực tiếp giải quyết các công
việc cụ thể của đoàn thanh tra nhưng người ra quyết định thanh tra có vị trí, vaitrò hết sức quan trọng đối với đoàn thanh tra Người ra quyết định thanh tra cótrách nhiệm chỉ đạo, kiểm tra đoàn thanh tra thực hiện đúng nội dung, thời hạnghi trong quyết định thanh tra
Người ban hành quyết định thanh tra phải chọn những người có năng lực,trình độ, phù hợp với yêu cầu của cuộc thanh tra Trong đó, việc chọn cử trưởngđoàn là rất quan trọng, trưởng đoàn là người trực tiếp chỉ đạo, điều hành tiếnhành cuộc thanh tra, chịu trách nhiệm trước người ra quyết định và trước phápluật về kết quả cuộc thanh tra
Tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra các hoạt động của đoàn thanh tra Việc kiểm tracủa người ra quyết định thanh tra đối với đoàn thanh tra rất quan trọng, giúpđoàn thanh tra khắc phục kịp thời những thiếu sót, tháo gỡ những vướng mắc,đảm bảo cho cuộc thanh tra đạt được mục đích, yêu cầu đề ra
Trưởng đoàn thanh tra: là người nghiên cứu kỹ nội dung thanh tra, nguồn
gốc và tài liệu làm căn cứ ra quyết định thanh tra để từ đó xác định mục đích,yêu cầu của cuộc thanh tra; xác định trọng tâm, trọng điểm, phương pháp tiếnhành cuộc thanh tra; bố trí lực lượng, kinh phí phục vụ cho cuộc thanh tra.Trưởng đoàn thanh tra phải lường được những thuận lợi, khó khăn, những yếu
tố tác động đến cuộc thanh tra Đây là việc quan trọng, có tác dụng định hướngxuyên suốt quá trình hoạt động thanh tra
Trưởng đoàn thanh tra có vai trò là người tổ chức và quản lý, nên phải làcán bộ có năng lực tổ chức và chỉ đạo, điều hành Hoạt động của đoàn thanh tratrong quá trình thanh tra phải được quản lý chỉ đạo chặt chẽ và rất cụ thể, tính kỷluật cao Trưởng đoàn phải am hiểu về hoạt động quản lý, điều hành thì mới đề
ra được nhiệm vụ, kế hoạch thanh tra sát, đúng, phân công cho mỗi thành viên
và hướng dẫn họ hoạt động có trọng tâm, trọng điểm cụ thể để thực hiện theođúng kế hoạch Đồng thời, trưởng đoàn phải có nhận thức bao quát hơn, có trình
Trang 40độ tổng hợp cao mới có thể từ những sự việc cụ thể, khác nhau, phân tích làm rõmối liên hệ hữu cơ giữa các sự việc, hành vi đảm bảo cho việc kết luận chínhxác, khách quan và kiến nghị xử lý đúng người, đúng lỗi và khả thi.
Thành viên đoàn thanh tra: là người trực tiếp thực hiện các công việc
chuyên môn, nghiệp vụ cụ thể như: giao nhận hồ sơ, tài liệu; kiểm tra thực trạng
hồ sơ, tài liệu có đảm bảo chất lượng, đúng yêu cầu không; trực tiếp quản lý hồ
sơ, tài liệu trong thời gian thanh tra; tiến hành các phương pháp kiểm tra, đốichiếu, đánh giá; yêu cầu đối tượng thanh tra giải trình và xác minh những vấn đềliên quan đến nội dung thanh tra…
Với vai trò này, đòi hỏi các thành viên trong đoàn thanh tra phải đáp ứngcác tiêu chuẩn theo quy định pháp luật; nắm được tình hình chính trị, kinh tế, xãhội có ảnh hưởng tới việc thực hiện nhiệm vụ của đối tượng thanh tra trong thời
kỳ được thanh tra; khái quát được kết quả thực hiện các nội dung được thanh tra;
ưu, khuyết điểm trong việc chỉ đạo, điều hành; nguyên nhân khách quan, chủquan Đây là một trong những căn cứ quan trọng cho kết luận cuộc thanh tra saunày không bị sai lệch, phiến diện
Trước yêu cầu đổi mới hoạt động thanh tra hiện nay, càng đòi hỏi mỗithanh tra viên phải trau dồi, học tập, tìm hiểu thường xuyên chủ trương chínhsách và thực tế xã hội, coi đó là một quá trình tích luỹ đối với mỗi thanh traviên, tạo cho mình sự hiểu biết đa dạng, phong phú; đó là điều kiện cần thiết để
có thể thực hiện tốt nhiệm vụ trong tình hình mới
Ngoài ra, đối tượng thanh tra và cơ quan, tổ chức, các nhân có liên quan
đến nội dung thanh tra có trách nhiệm báo cáo, giải trình, cung cấp đầy đủ, kịpthời thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung thanh tra; thực hiện yêu cầu, kếtluận, kiến nghị, quyết định xử lý về thanh tra của người có thẩm quyền Hoạtđộng thanh tra ảnh hưởng trực tiếp đến uy tín, quyền lợi kinh tế - chinh trị củađối tượng thanh tra nên sự hợp tác của đối tượng thanh tra có sự ảnh hưởng lớnđến hiệu quả của cả quá trình thanh tra