1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn cuối khóa chuyên ngành trồng trọt

43 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 43
Dung lượng 319,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn cuối khóa này dùng làm tài liệu tham khảo cho sinh viên chuyên ngành trồng trọt, muốn làm đề tài về cây cao su. Nội dung của luận văn này là :Theo dõi diễn biến năng suất mủ của một số dòng vô tính cao su. Chúng tôi tiến hành nghiên cứu bằng phương pháp thu thập số liệu và xử lý thống kê. Luận văn được thực hiện từ năm 2010, các bạn có thể tham khảo và sử dụng phương pháp nghiên cứu phù hợp với chương trình học của các bạn nhé

Trang 1

Cây cao su là một cây công nghiệp dài ngày có giá trị kinh tế cao Sảnphẩm chính là mủ cao su là nguyên liệu cần thiết cho nhiều ngành côngnghiệp hiện nay Ngoài ra, cây cao su còn cho sản phẩm phụ là gỗ và dầu hạt.Cây cao su có thể trồng trên nền đất kém dinh dưỡng, đất dốc, giúp phủ xanhđất trống, đồi núi trọc góp phần bảo vệ đất, tăng thu nhập và giúp cân bằngmôi trường sinh thái.

Trước nhu cầu thế giới còn tăng và ích lợi nhiều mặt của cây cao su(tăng kim ngạch xuất khẩu, tăng thu nhập của người sản xuất, cải thiện ansinh xã hội vùng trồng cao su, bảo vệ môi trường, phát triển các ngành côngnghiệp chế biến sản phẩm cao su và đồ gỗ cao su…), từ đầu năm 2007, Chínhphủ Việt Nam đã nâng mục tiêu 700.000 ha cây cao su lên 1 triệu ha vào năm

2015 hoặc 2020

Khí hậu Tây Nguyên nói chung và Gia Lai nói riêng phân làm hai mùa

rõ rệt: Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10 với lượng mưa khá lớn(1800 - 2000mm/năm), ảnh hưởng rất lớn đến việc cạo mủ và thu gom mủ.Đây là nguyên nhân chính làm giảm năng suất mủ trong mùa mưa Mùa khôkéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau với ẩm độ không khí thấp, nắng gắtkèm theo gió mạnh là hai yếu tố ảnh hưởng đến sản lượng mủ cao su trongmùa khô

Trang 2

Công việc khai thác mủ được tiến hành đều đặn quanh năm Do đặcđiểm khí hậu của vùng Gia Lai có mùa khô hạn kéo dài nên thời gian khaithác mủ được tiến hành từ cuối tháng 3 đến đầu tháng 2 năm sau và nghỉ cạokhi cây rụng lá hoàn toàn Sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng nóichung và cây cao su nói riêng đều phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên.Trong đó, lượng mưa, số ngày mưa và sự phân bố mưa đã ảnh hưởng rất lớnđến việc khai thác mủ của công nhân, đến việc hoàn thành chỉ tiêu năng suấtcủa các nông trường cao su.

Trước thực tế sản xuất và yêu cầu tiêu thụ, việc nắm bắt được diễn biếnnăng suất mủ của cao su sẽ giúp các nhà quản lý lên kế hoạch quản lý sảnphẩm cũng như đưa ra các biện pháp kỹ thuật phù hợp, khoán sản lượng vườncây cho từng nông trường để nâng cao hiệu quả sản xuất cũng như hiệu quảkinh tế của đơn vị sản xuất – kinh doanh

Xuất phát từ những vấn đề trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:

“Theo dõi diễn biến năng suất mủ của một số dòng vô tính cao su tại Nông trường Thống Nhất thuộc công ty cao su Chư Prông, Gia Lai.”

1.2 Giới hạn đề tài

Cao su là cây lâu năm do đó đòi hỏi phải có thời gian dài để theo dõi,

do thời gian thực hiện đề tài có hạn nên chúng tôi chỉ tiến hành thu thập, theodõi và đánh giá một số chỉ tiêu về năng suất mủ, điều kiện thời tiết ảnh hưởngđến hoạt động khai thác của nông trường để góp phần vào việc khoán sảnlượng vườn cây cho từng đội của nông trường

Trang 3

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Giới thiệu về cây cao su

Nguồn gốc: Cây cao su được tìm thấy tại vùng châu thổ sông Amazone(Nam Mỹ) bao gồm các nước: Brazil, Bolivia, Peru, Colombia, Ecuado,Venezuela, Guiyane thuộc Pháp…ở khu vực 50 vĩ Bắc và Nam Đây là mộtvùng nhiệt đới ẩm ướt, lượng mưa trên 2000mm, nhiệt độ cao và đều quanhnăm, có mùa khô kéo dài 3 - 4 tháng, đất thuộc loại đất sét tương đối giàudinh dưỡng, có độ pH = 4,5 - 5,5, tầng đất canh tác sâu, thoát nước trungbình Cây cao su trong tình trạng hoang dại là một cây rừng lớn, thân thẳng,cao 30 – 50m, chu vi thân đạt 5 - 7m, tán lá rộng và sống trên 100 năm Câylưỡng bội (2n) có số nhiễm sắc thể là 2n = 36, hoa đơn tính đồng chu [1], [5]

Giá trị của cây cao su: Cây cao su được trồng trên thế giới với với quy

mô lớn là nhờ vào sản phẩm đặc biệt của cây là mủ cao su, đó là một nguyênliệu cần thiết cho nhiều ngành công nghiệp hiện nay Ngoài ra, cây cao su còncho các sản phẩm khác cũng có công dụng không kém phần quan trọng như

gỗ, dầu hạt…Cây cao su còn có tác dụng bảo vệ môi trường sinh thái, cảithiện điều kiện kinh tế - xã hội nhất là ở các vùng trung du, miền núi, gópphần bảo vệ an ninh quốc phòng tại các vùng biên giới [2], [5]

2.2 Tình hình sản xuất, tiêu thụ cao su trên thế giới và trong nước

2.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ cao su trên thế giới

+ Tình hình sản xuất:

Đến năm 2007, sản lượng cao su thiên nhiên toàn thế giới đạt 9,725triệu tấn Thái Lan là nước dẫn đầu về sản lượng với 3.056 ngàn tấn, chiếm31,6% thị phần thế giới Indonesia đứng thứ hai với sản lượng 2.797 ngàn tấn,chiếm 28,8% thị phần thế giới Malaysia đứng thứ ba với sản lượng 1.200ngàn tấn, chiếm 12,3% thị phần thế giới Ấn Độ là nước có sản lượng đứng

Trang 4

thứ tư thế giới với sản lượng 807 ngàn tấn Việt Nam đứng thứ năm với 602ngàn tấn, chiếm 6,2% thị phần thế giới.

Tính đến thời điểm năm 2009 thì sản lượng cao su thiên nhiên của thếgiới có xu hướng giảm sút Theo Hiệp hội Các nước Sản xuất cao su Thiênnhiên thì tính đến năm 2009, diện tích cao su của thế giới là khoảng 10,2 triệu

ha với sản lượng ước đạt 9,4 triệu tấn Trong đó, sản lượng của Thái Lan ướcđạt 2,9 triệu tấn, giảm so với 3,09 triệu tấn năm 2008 Sản lượng củaIndonesia ước tính đạt 2,59 triệu tấn, giảm so với 2,75 triệu tấn năm trước đó.Sản lượng của Malaysia ước tính đạt 951.000 tấn, cũng giảm so với 1,07 triệutấn năm 2008

Sản lượng cao su thiên nhiên trên thế giới chủ yếu do tiểu điền, với tỷ

lệ 76 – 78% Những nước có diện tích cao su tiểu điền cao là Thái Lan(99,2%), Malaysia (98,8%), Ấn Độ (89,7%) và Indonesia (85%)

Năng suất cao su năm 2007 được ghi nhận ở Ấn Độ là 1.767 kg/ha, tiếptheo là Thái Lan với 1.702 – 1.706 kg/ha, Coote d’Ivoire với 1.700 kg/ha, ViệtNam với 1.612 – 1.640 kg/ha và Cameroon với 1.600 kg/ha [12]

Do điều kiện thời tiết bất thuận nên năng suất cao su của năm 2009 có

sự giảm sút so với năm 2008 Cụ thể là ở Ấn Độ năng suất từ 1903kg/ha năm

2008 giảm xuống còn 1753kg/ha trong năm 2009, Thái Lan giảm từ1698kg/ha xuống còn 1576kg/ha, Việt Nam giảm từ 1717kg/ha xuống còn1661kg/ha [13]

+ Tình hình tiêu thụ:

Năm 2007, Trung Quốc là nước tiêu thụ cao su nhiều nhất với mức5.985 ngàn tấn, chiếm 21,6% so với thế giới gồm 2.550 ngàn tấn cao su thiênthiên và 3.435 ngàn tấn cao su tổng hợp, tỷ lệ NR/SR là 43/57 Thứ hai là Hoa

Kỳ, tiêu thụ 2.959 ngàn tấn, chiếm 12,9% với tỷ lệ NR/SR là 34/66 Nhật Bảnxếp thứ ba, tiêu thụ 2.050 ngàn tấn, tỷ lệ NR/SR như Trung Quốc là 43/57 Ấn

Trang 5

Độ là nước thứ tư, tiêu thụ 1.141 ngàn tấn Đức đứng thứ năm với mức tiêuthụ 996 ngàn tấn.

Nhu cầu cao su thiên nhiên toàn cầu trong năm 2010 dự báo sẽ đạt 9,3triệu tấn, tăng so với 8,69 triệu tấn năm 2009, trong khi nguồn cung sẽ đạtkhoảng 9,4 triệu tấn Trung Quốc, nước tiêu thụ cao su lớn nhất thế giới,

dự kiến sẽ tăng cường nhập khẩu cao su tấm trong năm 2010 bởi chínhphủ giảm thuế nhập khẩu cao su nhằm giúp các hãng sản xuất lốp xe trongnước thoả mãn nhu cầu tăng trong bối cảnh tiêu thụ xe hơi tăng lên [13]

2.2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ cao su ở trong nước

+ Tình hình sản xuất:

Hạt cao su được du nhập và trồng thành công ở Việt Nam vào năm

1897 Vườn cao su kinh doanh đầu tiên được thiết lập tại miền Đông Nam bộ

từ năm 1906 Diện tích cao su tiếp tục phát triển đến mức cao nhất là 108.400

ha vào năm 1944 trước khi suy giảm do chiến tranh và chỉ còn khoảng 68.600

ha năm 1975

Cây cao su được trồng thử nghiệm ở miền Bắc vào năm 1958 Sau đóđược phát triển trên quy mô lớn từ năm 1961 và đạt 6.725 ha vào năm 1963.Một số vườn bị bão tác hại, đến năm 1975 chỉ còn 4.528 ha

Tại Tây Nguyên, cây cao su được trồng thử vào những năm 1920.Những vườn kinh doanh đầu tiên được phát triển từ năm 1957 và đến năm

1975, diện tích cao su tại đây là 3.490 ha

Năm 1976, tổng diện tích cao su khoảng 76.600 ha và sản lượng đạt40.200 tấn, phần lớn là dạng cao su đại điền, cao su tiểu điền chỉ có khoảng4.000 ha

Từ năm 1982, Nhà nước đã có chủ trương phát triển diện tích cao sulên đến 700.000 ha vào năm 2015 hoặc 2020 [8] Những năm 1980, diện tíchcao su trồng mới tăng nhanh từ 5.000 ha/năm lên 20.000 ha/năm Trong

Trang 6

những năm 1990, cao su tiểu điển được khuyến khích phát triển trong những

dự án của Nhà nước hoặc do tư nhân tự đầu tư [13]

Đến năm 2007, Chính phủ điều chỉnh mục tiêu phát triển cây cao sutăng đến 1 triệu ha vào năm 2015 – 2020 và hỗ trợ doanh nghiệp đầu tưkhoảng 2.000 ha cao su tại Lào và Campuchia

Năm 2007, diện tích cao su cả nước khoảng 549.600 ha, tăng 27.400 hahoặc 5,2% so với năm 2006, đạt diện tích lớn nhất trong các cây công nghiệplâu năm Diện tích được khai thác là 373.300 ha và sản lượng đạt 610.700 tấn,tăng 8,3% với năng suất bình quân đạt 1,612 kg/ha, tăng 3,4% so với năm

2006 Diện tích tái canh khoảng 7.000 ha, trong đó có một số diện tích bị ngã

đổ do gió bão năm 2006 là gần 2.000 ha So với 30 năm trước (1977), diệntích cao su đã tăng gấp 7 lần và sản lượng tăng gấp 17 lần nhờ vào năng suất

đã tăng đáng kể, gấp 2,3 lần

Nhu cầu cao su của thế giới gia tăng và giá cả thuận lợi trong nhữngnăm gần đây đã khuyến khích Chỉnh phủ Việt Nam hỗ trợ việc đầu tư mởrộng diện tích cao su 100.000 ha ở Lào và 100.000 ha ở Campuchia

Đến năm 2007, các doanh nghiệp Việt Nam đã trồng được khoảng21.000 ha cao su tại Lào và 260 ha tại Campuchia Kế hoạch trồng mới năm

2008 là khoảng 10.000 ha tại Lào và 1.900 ha tại Campuchia

Theo kế hoạch đến năm 2008, Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam

và các thành viên trực thuộc là những doanh nghiệp có diện tích cao su tạiLào và Campuchia chiếm tỷ lệ lớn hơn 65% Những doanh nghiệp khác làCông ty cao su Đăk Lăk, Công ty BIDINA (Bình Định) [12]

Hiệp hội cao su Việt Nam (VRA) cho biết, nhờ có một chiến lược pháttriển đúng hướng, sản xuất cao su của Việt Nam đã tăng mạnh trong ba nămqua, từ 601.700 tấn cao su trong năm 2007 lên 662.900 tấn trong năm 2008 và723.700 tấn vào năm 2009 Năng suất bình quân đã tăng từ 1.612 kg /ha trongnăm 2007 lên 1.661 kg/ha năm 2008 kg và 1.717 trong năm 2009

Trang 7

Theo số liệu thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn,năm 2009, tổng diện tích cây cao su đạt 674.200 ha, tăng 42.700 ha (13,5%)

so với năm 2008 Trong đó, diện tích cho khai thác là 421.600 ha (chiếm62,5% tổng diện tích), với sản lượng đạt 723.700 tấn, tăng 9,7% so năm 2008.Diện tích trồng cao su tập trung chủ yếu ở Đông Nam bộ (64%), kế đến làTây Nguyên (24,5%) và duyên hải miền Trung (10%) Diện tích cây cao su ởvùng Tây Bắc mới đạt khoảng 10.200 ha (chiếm 1,5%)

Hiện nay, diện tích cao su của Việt Nam được xếp thứ 6 (chiếm khoảng6,4% tổng diện tích cao su thế giới), sản lượng xếp thứ 5 (khoảng 7,7% tổngsản lượng cao su thế giới) và xuất khẩu đứng thứ 4 (khoảng 9%) Nhữngthành tựu này của ngành cao su sẽ tạo bàn đạp cho sức bứt phá trong năm

2010 và những năm tiếp theo để sớm đạt mục tiêu 800.000 ha với sản lượng1,2 triệu tấn cao su, kim ngạch xuất khẩu đạt 2 tỷ USD vào năm 2010 theomục tiêu của Chính phủ đề ra

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn dự kiến, năm 2010 ngành sẽphát triển thêm 40.000 ha, đưa diện tích cao su cả nước lên 715.000 ha, tăngsản lượng đạt khoảng 770.000 tấn [11]

+ Tình hình tiêu thụ:

Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải Quan, năm 2007, cao su ViệtNam đã xuất được 714.887 tấn, trị giá 1,39 tỷ USD với giá bình quân là 1.948USD/tấn, tăng hơn năm trước 1% về lượng, 8,3% về trị giá và 7,2% về đơn giá

Lượng cao su thiên nhiên nhập vào Việt Nam năm 2007 ước khoảng130.300 tấn, chủ yếu tạm nhập để tái xuất Thị trường nhập phần lớn ở TháiLan (30%) và Campuchia (29%), kế tiếp là Indonesia (7,6%) và Malaysia(5,8%) Lượng cao su xuất khẩu ròng của Việt Nam năm 2007 khoảng551.600 tấn quy khô Chủng loại cao su xuất khẩu nhiều nhất trong năm 2007

là cao su khối SVR3L, đạt 308,5 ngàn tấn, chiếm 43,2% Kế đến là cao suSVR 10, đạt 116,3 ngàn tấn, chiếm 16,3% và latex đạt 82.428 tấn (tương

Trang 8

đương 49.457 tấn mủ khô), chiếm 11,5% Cao su hỗn hợp chỉ đạt 42,4 ngàntấn, chiếm 5,9% Những chủng loại có số lượng ít là SVR 20, cao su tờ RSS,RSS 3 và cao su SVR CV.

Năm 2007, thị trường xuất khẩu cao su của Việt Nam có trên 40 nước,nhưng lớn nhất vẫn là Trung Quốc, mặc dù đã giảm hơn năm trước nhưng vẫnchiếm đến 58,2% thị phần, đạt 415,6 ngàn tấn với trị giá là 816,7 triệu USD.Các thị trường khác chỉ ở mức 5% trở xuống, chiếm từ 4 – 5% là Hàn Quốc,Malaysia, Đài Loan, Đức Trong đó, thị trường Malaysia tăng rất đáng kể, gấphơn 2 lần so với năm 2006, đạt trên 34 ngàn tấn

Năm 2009, Việt Nam đã xuất khẩu cao su thiên nhiên sang 71 nước,không sụt giảm nhiều so với năm 2008 (năm 2008 là 73 thị trường) TrungQuốc vẫn là thị trường dẫn đầu với số lượng khoảng 494,62 ngàn tấn quy khô,chiếm 67,6 % về lượng và tăng khoảng 6,6 % so với cùng kỳ năm trước, đạttrị giá 789 triệu USD Ngoài thị trường Trung Quốc, một số thị trường cũngtăng trưởng mạnh trong năm 2009 là Malaysia: 33,94 ngàn tấn (tăng 81,5%),Đài Loan: 23,97 ngàn tấn (tăng 29,0 %), Hàn Quốc: 23,6 ngàn tấn (tăng3,2%), Bỉ: 15,10 ngàn tấn (tăng 172,6 %), Ấn Độ: 5.800 tấn (tăng 137,2 %).Những thị trường lớn sụt giảm là Đức: 19,34 ngàn tấn (-4,7%), Hoa Kỳ: 14,22ngàn tấn (-12,5%), Nga: 11,1 ngàn tấn (-4,9%) và Nhật: 8,57 ngàn tấn (- 19,1%).Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, xuất khẩu cao su thiên nhiên năm 2009đạt 731,39 ngàn tấn, trị giá 1,226 tỷ USD với đơn giá bình quân là 1.677USD/tấn, tăng 11,1% về lượng nhưng giảm 23,5% về trị giá và giảm 31,1%

về giá so với năm 2008 [12]

2.3 Yêu cầu điều kiện sinh thái của cây cao su

2.3.1 Khí hậu

+ Nhiệt độ:

Cây cao su cần nhiệt độ cao và đều với nhiệt độ thích hợp nhất là từ 20

0C - 300C, trên 400C cây khô héo, dưới 100C cây có thể chịu đựng được

Trang 9

trong thời gian ngắn nếu kéo dài cây sẽ bị nguy hại như lá cây bị héo, rụng,chồi ngọn ngưng tăng trưởng, thân cây cao su kiến thiết cơ bản sẽ bị nứt nẻ, xì

mủ Nhiệt độ thấp 50C kéo dài sẽ dẫn đến chết cây Ở nhiệt độ 250C năngsuất cây đạt mức tối ưu Nhiệt độ mát dịu vào buổi sáng sớm (1 – 5 giờ sáng)giúp cây sản xuất mủ cao nhất

Các vùng trồng cao su trên thế giới hiện nay phần lớn ở vùng khí hậunhiệt đới có nhiệt độ bình quân năm là 280C  20C và biên độ nhiệt trongngày là 70C – 80C

+ Lượng mưa:

Cây cao su có thể trồng ở các vùng đất có lượng mưa từ 1500 –2000mm/năm Tuy vậy, các vùng có lượng mưa thấp hơn 1500mm/năm thìlượng mưa cần phân bố đều trong năm, đất phải có khả năng giữ nước tốt, đất

có thành phần sét khoảng 25% Ở những nơi không có điều kiện thuận lợi câycao su cần lượng mưa 1800 – 2000mm/năm

Các trận mưa tốt nhất cho cây cao su là 20 – 30mm và mỗi tháng cókhoảng 150mm nước mưa, dưới 100mm cây cao su chậm sinh trưởng, pháttriển Số ngày mưa tốt nhất là 100 – 150 ngày/năm Các trận mưa lớn kéo dài,nhất là các trận mưa vào buổi sáng gây trở ngại cho việc cạo mủ đồng thờilàm tăng khả năng lây lan, phát triển của các loại nấm bệnh gây hại trên mặtcạo cây cao su Mưa vào buổi sáng làm cho mất mủ, làm chậm trễ việc cạo

mủ, mất mủ tạp từ đó làm giảm sản lượng mủ

+ Gió:

Gió nhẹ 1 – 2 m/s có lợi cho cây cao su vì nó giúp vườn cây thôngthoáng, hạn chế được bệnh và giúp vỏ cây mau khô sau khi mưa Trồng cao su

ở nơi có gió mạnh thường xuyên, gió bão, gió lốc sẽ làm gãy cành, gẫy thân

do gỗ cao su dòn, dễ gãy và làm trốc gốc, đổ cây, nhất là những vùng đất cạn,

rễ cao su không phát triển sâu và rộng được

+ Giờ chiếu sáng, sương mù:

Trang 10

Giờ chiếu sáng ảnh hưởng trực tiếp tới cường độ quang hợp của cây,ảnh hưởng đến mức tăng trưởng và năng suất của cây Ánh sáng đầy đủ giúpcây ít bệnh, tăng trưởng nhanh và năng suất cao Số giờ chiếu sáng được ghinhận tốt nhất cho cây cao su bình quân là 1800 – 2800 giờ/năm và tối thích làkhoảng 1600 – 1700 giờ/năm.

Sương mù nhiều gây một tiểu khí hậu ẩm ướt tạo điều kiện cho các loạinấm bệnh phát triển và tấn công cây cao su như trường hợp bệnh phấn trắng

do nấm Oidium gây nên ở mức độ nặng ở các vùng trồng cao su Tây Nguyên

do sương mù buổi sáng xuất hiện thường xuyên [2]

2.3.2 Đất đai

+ Cao trình: Cây cao su thích hợp với các vùng đất có cao trình tươngđối thấp (<200m), càng lên cao càng bất lợi do độ cao của đất tương quan vớinhiệt độ và gió mạnh

+ Độ dốc: Độ dốc có liên quan đến độ phì đất Đất càng dốc xói mòncàng mạnh khiến dinh dưỡng trong đất nhất là ở lớp đất mặt mất đi nhanhchóng Khi trồng cao su trên các vùng đất dốc cần phải thiết lập các hệ thốngbảo vệ đất chống xói mòn rất tốn kém như hệ thống đê, mương, đường đồngmức…Hơn nữa các diện tích cao su trồng trên đất dốc sẽ gặp khó khăn lớntrong công tác cạo mủ, thu mủ và vận chuyển mủ về nhà máy chế biến Dovậy trong điều kiện có thể lựa chọn được nên trồng cao su ở các vùng đất ít dốc

Trang 11

Thành phần hạt (sa cấu): Đất có thể trồng cao su phải có thành phần sét

ở lớp đất mặt (0 - 30cm) tối thiểu 20% và lớp đất sâu hơn (>30cm) tối thiểu là25% Ở nơi có mùa khô kéo dài, đất phải có thành phần sét 30 - 40% mớithích hợp cho cây cao su

Chất dinh dưỡng trong đất: Đối với cây cao su, các chất dinh dưỡngkhông phải là yếu tố giới hạn nghiêm trọng nhưng nếu trồng cao su trên cácloại đất nghèo dinh dưỡng thì cần phải đầu tư nhiều phân bón sẽ làm tăng chiphí đầu tư khiến hiệu quả kinh tế kém đi [2]

Bảng 2.1 Bảng thang chuẩn đánh giá đất trồng cao su tại Việt Nam

Nguồn: Nguyễn Thị Huệ (2007) [5].

2.4 Sinh lý của cây cao su trong thời gian khai thác mủ

2.4.1 Ảnh hưởng của việc cạo mủ đến sinh trưởng của cây cao su

Cũng như các loại thực vật khác, dù có sản xuất mủ hay không cây cao

su vẫn tăng trưởng thường xuyên và liên tục Sự tăng trưởng của cây đượcbiểu diễn bằng khối lượng chất khô gia tăng của cây Một công thức tínhchung về mối tương quan giữa vanh thân cây và trọng lượng khô của câyđược Webster (1989) ghi nhận như sau:

W = aGb

W: Trọng lượng cây

G: Vanh thân

a, b: hằng số

Trang 12

Shorrock (1965) đã cụ thể hóa phương trình trên: W = 0,0026G 2 , 76

Khi cây được cạo theo một nhịp độ đều đặn, các chất đồng hóa đượctrong cây sẽ được sử dụng để vừa đảm bảo mức tăng trưởng thực vật của cây,vừa sản xuất được một khối lượng mủ tiết ra hàng ngày qua việc cạo mủ Dovậy, khi cạo mủ mức tăng trưởng của cây sẽ bị giảm so với trường hợp câykhông cạo mủ Một cách tổng quát, sản lượng cây càng nhiều có thể do cạocường độ cao, bôi thuốc kích thích mủ…thì mức tăng trưởng của cây càngchậm Có kết quả nghiên cứu cho thấy cứ 1kg mủ khô sản xuất tương đương

sự mất gia tăng 1 – 2,5kg trọng lượng thân Ngoài ra còn ghi nhận thêm làviệc cạo mủ chẳng những làm giảm bớt sự gia tăng trọng lượng thân cây màcòn gây nên sự thay đổi về tỷ lệ gia tăng giữa thân và tán cây, thường gia tăngnhiều phần tán cây cho nên ở cây cạo mủ tỷ lệ ngã đổ nhiều hơn cây khôngcạo mủ Cường độ cạo mủ càng cao thì sự sụt giảm của vanh thân càng lớn [5]

2.4.2 Phản ứng của cây khi khai thác mủ

Có sự khác biệt sinh lý giữa cây cạo mủ và cây không cạo mủ hay nóicách khác việc cạo mủ có ảnh hưởng đến sinh lý của cây cao su

Khi cạo mủ lấy đi một khối lượng mủ nước theo chế độ cạo khác nhau

đã bắt buộc các tế bào ống mủ phải hoạt động mạnh để tái tạo khối lượng mủnước đã mất đi Khai thác cao su hợp lý sẽ tạo nên sự cân bằng giữa hoạtđộng tái tạo mủ của các tế bào ống mủ với những hoạt động sinh lý kháctrong cây nhằm đảm bảo thu được khối lượng mủ nhiều mà không ảnh hưởngđến đời sống lâu dài của cây

Khi cạo lần đầu tiên, mủ cây chảy ra rất đậm đặc và ngưng chảy nhanh.Cạo liên tục theo một chu kỳ nhất định sẽ làm cho mủ bớt đậm đặc và thuđược một khối lượng mủ nhất định Lúc đó bên trong thân cây đã tạo đượccân bằng giữa sự chảy mủ và sự tái tạo mủ mới Khi cạo liên tục, hàm lượngcao su chứa trong mủ nước bên trong tế bào ống mủ thấp hơn cây không cạo

Trang 13

Khi cạo mủ, lưu lượng mủ chảy ra trong thân cây rất nhiều, sau đógiảm dần và ngừng hẳn sau khi cạo từ 1 - 3 giờ Sản lượng mủ thu được tùythuộc vào hai yếu tố: lưu lượng mủ chảy ra và thời gian chảy mủ Ở hai giốngcây có cùng sản lượng giống nhau nhưng dòng chảy mủ có thể hoàn toàn khácnhau Lưu lượng dòng chảy mủ là một đặc tính của giống cây Có giống cólưu lượng chảy mủ ban đầu rất nhiều, sau đó giảm nhanh và ngưng chảy hẳnsau khoảng 1 giờ Trái lại, có giống ban đầu có lưu lượng chảy không caonhưng thời gian chảy mủ kéo dài [5].

2.5 Thời gian cạo mủ trong năm

Cây cao su có đặc điểm là thời gian khai thác mủ có thể tiến hành đềuđặn gần như quanh năm, chỉ nghỉ cạo vào thời gian cây rụng lá và khi tán lá

ổn định thì vườn cây mới tiếp tục được khai thác Ở một số nước giữ côngnhân cạo mủ bằng cách cho khai thác mủ quanh năm

Nghỉ cạo lúc cây rụng lá qua đông: Cây cao su có một đặc điểm sinh lý

là hàng năm vào một thời điểm nhất định khoảng vào tháng 12 (âm lịch), câyrụng lá hoàn toàn và một thời gian sau cây lại ra lá mới và phát triển ổn định

Trong thời gian ra lá non cây phải huy động một lượng lớn các chấtdinh dưỡng trong thân cây để tái tạo một khối lượng lớn tế bào thực vật Dovậy cần tránh cạo mủ từ lúc cây rụng lá hoàn toàn cho đến lúc tán lá phát triển

ổn định thì mới được khai thác tiếp Thời gian rụng lá của cây cao su kéo dài

từ 40 – 50 ngày tùy từng khu vực và điều kiện thời tiết mà thời điểm rụng lácủa cây khác nhau Ở Việt Nam, cây rụng lá vào khoảng thời gian tết Nguyên Đán

Nghỉ cạo do mưa: Các trận mưa lớn kéo dài, nhất là các trận mưa vàobuổi sáng gây trở ngại cho việc cạo mủ và làm tăng khả năng lây lan và pháttriển của các loại nấm bệnh như: loét sọc mặt cạo, thối mốc mặt cạo…Do đó,khi mưa kéo dài từ đêm đến trưa ngày hôm sau thì phải nghỉ cạo nguyên ngày

do vậy làm mất mủ hoàn toàn Khi mưa kết thúc sớm vào buổi sáng (khoảng 8– 9 giờ) thì phải cạo muộn do phải chờ cây khô làm mất đi một phần sản

Trang 14

lượng từ 10% đến 40 – 50% Trút mủ sớm nếu mưa ngay sau khi cạo một sốcây trong phần cây và làm mất mủ tạp nếu mưa ngay sau khi trút mủ nước Vìvậy, mưa trong thời gian khai thác sẽ làm mất đi một phần sản lượng mủ.

Nghỉ cạo do bệnh lá:

+ Bệnh phấn trắng: Nguyên nhân do nấm Oidium hevea Bệnh phổ biến

vào giai đoạn cây cao su ra lá mới từ tháng 1 – 3 hàng năm Bệnh tấn cônggây rụng lá khiến cây mất đi nhiều dinh dưỡng làm chậm thời gian khai thác.Bệnh thường kéo dài từ 10 – 15 ngày, cá biệt có thể kéo dài 2 tháng Ở TâyNguyên, do số ngày có sương mù vào buổi sáng nhiều nên tỷ lệ cây bị nấmphấn trắng nhiều hơn ở vùng Đông Nam Bộ

+ Bệnh rụng lá mùa mưa: Vào thời gian mưa dầm (tháng 7, 8, 9) vườncây có thể xuất hiện bệnh rụng lá mùa mưa Nếu bệnh nặng sẽ làm cho sảnlượng mủ giảm do phải nghỉ cạo một thời gian [5]

2.6 Diễn biến năng suất mủ của cây cao su

Diễn biến trong năm: Mủ cao su phân bố không đều trong năm Năngsuất mủ thấp nhất vào các tháng bắt đầu cạo sau khi cây rụng lá qua đông,nhưng hàm lượng mủ cao Mủ cao su tăng dần vào các tháng tiếp theo và đạtcao nhất vào ba tháng cuối năm, sau đó cây nghỉ cạo cho đến khi tán lá pháttriển ổn định

Diễn biến theo chu kỳ kinh doanh: Cây cao su được trồng từ 5 – 7 nămthì có thể đưa vào khai thác mủ khi trong vườn cây có từ 50% số cây đủ tiêuchuẩn khai thác trở lên Khi cây mới đưa vào khai thác thì năng suất thấp sau

đó tăng dần và đạt tối đa vào năm cạo thứ 9 – 12 và kéo dài đến năm thứ 16 – 20,sau đó sản lượng của vườn cây lại giảm dần Khi vườn cây cho năng suất tốithiểu thì bị thanh lý để khai thác gỗ [5]

2.7 Những nghiên cứu trong và ngoài nước

2.7.1 Những nghiên cứu ngoài nước

Trang 15

Sanjeevaras, Tayarathnan, Sethuraj (1990) nghiên cứu một số chỉ tiêu

để đánh giá sự thích nghi với chế độ mưa và nhiệt độ của các vùng trồng cao

su ở Ấn Độ đưa ra nhận xét:

+ Lượng mưa phân bố đều và nhiệt độ tối ưu là hai yếu tố khí hậu chínhcho sự tăng trưởng và sản xuất mủ của cây cao su

+ Những vùng có nhiệt độ trung bình tối thiểu < 100C và nhiệt độ tối

đa > 400C ở bất cứ tháng nào, lượng mưa < 1400mm/năm và cao độ > 600m

so với mặt biển được gọi là giới hạn không thể trồng cao su [10]

Mak.S, Yin.S và Pookpakdi (2006) nghiên cứu ảnh hưởng của tướinước và phân bón đến năng suất và chất lượng mủ cao su tại Thái Lan chothấy: tưới nước và bón phân làm tăng năng suất mủ Tuy nhiên, hàm lượngcao su khô trong mủ có giảm so với không tưới nước [7]

2.7.2 Những nghiên cứu trong nước

Viện nghiên cứu cao su trong nhiều năm đã thực hiện nhiều đề ánnghiên cứu về cơ cấu giống thích hợp cho từng địa phương Trong đó cónhiều đề án mang tầm vĩ mô như: “Xây dựng và triển khai cơ cấu bộ giốngcao su địa phương hóa năm 1996 - 2000”, “Xây dựng và triển khai cơ cấu bộgiống cao su Đông Nam Bộ giai đoạn 2000 - 2002”, “Thực nghiệm giống cao sutriển vọng ở miền Bắc”, “Nghiên cứu chọn giống cao su vùng Tây Nguyên vàmiền Trung” Từ đây, Viện đã đưa ra khuyến cáo quan trọng cho từng giống:

* GT1: Sinh trưởng và sản lượng trung bình, ổn định trong các điềukiện khác nhau nên được sử dụng làm giống đối chứng trong vườn so sánh ởnhiều nước Ở Việt Nam nên hạn chế trồng GT1 ở vùng thuận lợi (Đông NamBộ) do thành tích kém hơn nhiều giống hiện có GT1 thích hợp ở vùng bấtthuận tại Tây Nguyên và miền Trung Mủ có thể sơ chế thành nguyên liệu cógiá trị cao

* RRIM600: Năng suất mủ khá và rất ổn định, sinh trưởng bình thườngnhưng tăng trưởng trong khi cạo khá Giống này trước đây có vấn đề về bệnh

Trang 16

nấm hồng và loét sọc mặt cạo, nhưng hiện nay bệnh đã phòng trị được nên cóthể trồng ở hầu hết các vùng Mủ sơ chế được nguyên liệu có giá trị cao đồngthời mủ nước đôi khi để dành phối trộn với các giống khác vì RRIM600 làmột giống có độ nhầy Mooney thấp đến trung bình.

* PB235: Thành tích biến động, nổi bật hẳn so với các giống khác ởđiều kiện thuận lợi nhưng giảm sút rõ trong điều kiện bất thuận Hiện đượckhuyến cáo trồng ở mức độ hạn chế ở nhiều nước do dễ bị khô miệng cạo vàkháng gió kém, nên hạn chế trồng PB235 ở Đông Nam Bộ do đã chiếm tỷ lệrất cao Không nên trồng ở Tây Nguyên có do cao trình cao, bệnh phấn trắngnặng và vùng miền Trung hay xảy ra gió bão [14]

Đỗ Kim Thành (1998), nghiên cứu biến thiên năng suất mủ theo mùa

vụ của cây cao su tại những vùng trồng cao su chính ở Việt Nam cho thấy:năng suất mủ của tất cả các dòng vô tính cho năng suất thấp ở 6 tháng đầunăm và năng suất tăng cao trong mùa mưa, đạt cao nhất vào 3 tháng cuối năm [8]

Trần Ngọc Duyên (2000), nghiên cứu diễn biến năng suất mủ cao sutheo mùa của một số dòng vô tính cao su tại Đăk Lăk cho thấy: Mùa khô kéodài nên năng suất mủ 6 tháng đầu năm thấp Trong mùa mưa, năng suất mủtăng khá đều nhưng do lượng mưa lớn và số ngày mưa nhiều đã ảnh hưởngđến năng suất vườn cây, nghiêm trọng nhất là tháng 9 Vào 3 tháng cuối năm,cây cho năng suất cao nhất do các điều kiện khí hậu thuận lợi: ít mưa, nhiệt

độ và độ ẩm thích hợp cho thời gian chảy mủ của cây cao su [3]

Phạm Thi Hòa (2004), tìm hiểu diễn biến năng suất mủ cao su theo mùa

vụ của một số dòng vô tính tại Công ty cao su Chư Prông, Gia Lai cho thấy:năng suất của một số dòng vô tính tăng cao trong các tháng mùa mưa và năngsuất tăng cao nhất vào 3 tháng cuối năm đặc biệt là tháng 12 [4]

PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Trang 17

3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Các dòng vô tính cao su: GT1, PB235, RRIM600

- Loại hình vườn cao su: Vườn cao su kinh doanh nhóm II (trồng năm 1990)

3.2 Tổng quan khu vực nghiên cứu

Công ty Cao su Chư Prông (thuộc Tập đoàn Công nghiệp Cao su ViệtNam) thành lập ngày 3 tháng 2 năm 1977, có diện tích cao su 6.600 ha, nằmtrên địa bàn 11 xã, thị trấn biên giới vùng sâu vùng xa huyện Chư Prông, tỉnhGia Lai Mặc dù là một đơn vị có quy mô nhỏ, nằm ở một địa bàn giáp biêngiới tương đối phức tạp nhưng những năm qua Công ty cao su Chư Prông đãvượt qua mọi khó khăn để trở thành một trong những doanh nghiệp hàng đầucủa Tập đoàn Công nghiệp cao su Việt Nam ở khu vực Tây Nguyên Hiệncông ty có 6 nông trường, 1 nhà máy chế biến cao su công suất 6.000 – 7.500tấn/năm, 1 nhà máy sản xuất phân hữu cơ vi sinh công suất 5.000 tấn/năm, 1nhà máy chế biến gỗ cao su và rừng trồng công suất 6.000m3/năm và 1 trungtâm y tế với tổng cộng hơn 2.000 cán bộ, công nhân viên

Huyện Chư Prông là một trong 16 đơn vị hành chính cấp huyện củatỉnh Gia Lai Trung tâm huyện cách thành phố Pleiku khoảng 40 km về phíaTây Nam, có đường biên giới kéo dài giáp với nước bạn Campuchia, do đóhuyện không những có thế mạnh về phát triển kinh tế mà còn có vị trí đặc biệtquan trọng trong việc giữ vững an ninh quốc phòng và chủ quyền biên giớiquốc gia Huyện có 20 xã, thị trấn với 174 thôn, làng gồm 21.501 hộ với97.472 nhân khẩu, tỷ lệ đói nghèo chiếm 19,17% Trên địa bàn huyện có 13dân tộc anh em sinh sống, trong đó có 9.727 hộ với 49.606 khẩu, chiếm46,99% dân số toàn huyện [9]

Địa bàn công ty chịu ảnh hưởng của khí hậu vùng cao với địa hìnhnhiều đồi và thung lũng, cao trình 300-350m, nằm trong khu vực nhiệt đới giómùa và chia làm hai mùa rõ rệt (mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô

từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau), nhiệt độ trung bình năm là 21,90C Theo kết

Trang 18

quả theo dõi khí tượng tại trạm khí tượng thành phố Pleiku thì khí hậu ở khuvực công ty cao su Chư Prông nói riêng và huyện Chư Prông nói chung là phùhợp cho sự sinh trưởng, phát triển của cây cao su Tuy nhiên, ở đây có lượngmưa phân bố không đều trong năm, mùa mưa chiếm khoảng 90% lượng mưa

cả năm gây hiện tượng thừa nước, xói mòn và rửa trôi đất Ngược lại vào mùakhô lại thiếu nước trầm trọng, nhất là vào tháng 2 và tháng 3 gây ảnh hưởnglớn đến năng suất vườn cây

Nông trường Thống Nhất là một trong 6 nông trường của Công ty cao

su Chư Prông Hiện nông trường đang quản lý 5 đội sản xuất với 1350 ha cao

su, trong đó gồm 825,4 ha cao su kinh doanh bao gồm các giống GT1,RRIM600, PB235 và 524,6 ha cao su kiến thiết cơ bản bao gồm các giốngGT1, RRIM600, PB235, RIV3

3.3 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 3 đến tháng 6/2010

- Địa điểm nghiên cứu: Vườn cao su kinh doanh tại Nông trường ThốngNhất thuộc Công ty cao su Chư Prông, Gia Lai

PHẦN 4 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

Trang 19

4.1 Mục tiên nghiên cứu

Theo dõi diễn năng suất mủ của một số dòng vô tính cao su tại Nôngtrường Thống Nhất thuộc công ty cao su Chư Prông, Gia Lai nhằm làm cơ sởđịnh mức khoán sản lượng vườn cây theo từng tháng, quý, năm góp phần ổnđịnh sản xuất và tăng hiệu quả sản xuất của nông trường

4.2 Nội dung nghiên cứu

- Đánh giá một số yếu tố khí khí hậu ảnh hưởng đến năng suất mủ củamột số dòng vô tính cao su tại Nông trường Thống Nhất thuộc Công ty cao suChư Prông, Gia Lai

- Xác định diễn biến năng suất mủ của một số dòng vô tính cao su theotừng tháng và từng năm tuổi tại Nông trường Thống Nhất thuộc Công ty cao

su Chư Prông, Gia Lai

- Xây dựng biểu đồ phân bố năng suất mủ của một số dòng vô tính cao

su tại Nông trường Thống Nhất thuộc Công ty cao su Chư Prông, Gia Lai

- Xác định quan hệ giữa các yếu tố khí hậu với năng suất mủ cao su

4.3 Phương pháp nghiên cứu

- Thu thập số liệu về sản lượng mủ trong 7 năm (2003 – 2009) của các

phần cây được chọn tại phòng kỹ thuật của nông trường

Trang 20

- Thu thập số liệu khí tượng đặc trưng cho huyện Chư Prông trong 7năm (2003 – 2009) tại trạm khí tượng Pleiku – Gia Lai Các chỉ tiêu thu thập:Lượng mưa, số ngày mưa, nhiệt độ, ẩm độ, lượng bốc hơi, vận tốc gió.

* Số liệu thứ cấp: thu thập số liệu từ nghiên cứu khảo nghiệm giống củaViện nghiên cứu cao su Việt Nam về năng suất mủ từ năm cạo thứ nhất đếnnăm cạo thứ 6 của 3 dòng vô tính GT1, PB235, RRIM600 tại công ty cao suChư Prông

4.3.3 Phương pháp xử lý số liệu

Số liệu thu thập được xử lý bằng phần mềm Excel 8.0

- Số liệu sản lượng mủ thu thập được tại nông trường được xử lý bằngcác công thức tính năng suất sau đây:

+ A (gam/cây/ngày cạo):

{(V x DRC) + 1/2P}

A = x 100

E

V : Thể tích mủ nước (lít/phần cạo/ngày cạo)

DRC : Hàm lượng cao su khô (%)

P : Trọng lượng mủ tạp (kg/ngày cạo/phần cạo)

E : Số cây thực cạo/phần cạo

Trang 21

PHẦN 5 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

5.1 Đánh giá ảnh hưởng của một số yếu tố khí hậu đến sinh trưởng

và phát triển của cây cao su tại nông trường

5.1.1 Lượng mưa và số ngày mưa (biểu đồ 5.1)

Biểu đồ 5.1: Diễn biến lượng mưa và số ngày mưa tại Chư Prông

Số ngày mưa (ngày)

Ngày đăng: 09/04/2021, 08:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Trần Ngọc Duyên (2000), “Diễn biến năng suất mủ cao su theo mùa của một số dòng vô tính cao su tại Đắc Lắc”, Một số kết quả nghiên cứu khoa học phát triển nông nghiệp và nông thôn Tây Nguyên, NXB Nông nghiệp Hà Nội, tr. 203-208 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diễn biến năng suất mủ cao su theo mùacủa một số dòng vô tính cao su tại Đắc Lắc
Tác giả: Trần Ngọc Duyên
Nhà XB: NXBNông nghiệp Hà Nội
Năm: 2000
7. Mak.S, Yin.S và Pookpakdi (2006), “Sản lượng và chất lượng mủ cao su dưới ảnh hưởng của nước tưới và phân bón”, Hội nghị cao su thiên nhiên quốc tế tại Tp. Hồ Chí Minh, 11-13/11/2006, tr.118 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sản lượng và chất lượng mủ caosu dưới ảnh hưởng của nước tưới và phân bón
Tác giả: Mak.S, Yin.S và Pookpakdi
Năm: 2006
10. Sanjeeva.R.P, Jayarathnam.K, Sethuraj.M.R (1990), “An index to assess ares hydrothermally suitable for rubber cultivation”, Rubber Reseach Institute of India.* TÀI LIỆU THAM KHẢO TỪ INTERNET 11. http://www.baodautu.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: An index toassess ares hydrothermally suitable for rubber cultivation
Tác giả: Sanjeeva.R.P, Jayarathnam.K, Sethuraj.M.R
Năm: 1990
1. Nguyễn Khoa Chi (1996), Kỹ thuật trồng, chăm sóc và chế biến cao su, NXB Nông nghiệp Tp. Hồ Chí Minh Khác
2. Trần Ngọc Duyên (1996), Bài giảng cây cao su, Đại học Tây Nguyên Khác
4. Phạm Thị Hòa (2004), Tìm hiểu diễn biến năng suất mủ cao su theo mùa vụ của một số dòng vô tính cao su tại Công ty cao su Chưprông, Gia Lai, Luận văn tốt nghiệp, Trường Đại học Tây Nguyên Khác
5. Nguyễn Thị Huệ (2007), Cây cao su, NXB Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh Khác
6. Trần An Phong, Trần Văn Doãn, Nguyễn Văn Chính, Nguyễn Võ Linh (1997), Tổng quan phát triển ngành cao su Việt Nam thời kỳ 1996- 2005, NXB Nông nghiệp Hà Nội Khác
9. Niên giám thống kê huyện Chư Prông năm 2009, Phòng Thống kê Chư Prông Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w