Trong sinh ho¹t chuyªn m«n kiÓu truyÒn thèng, mäi ngêi thêng cè t×m ra nh÷ng ®iÓm thÊt b¹i, khuyÕt ®iÓm cña gi¸o viªn sau ®ã lµ ®Ò xuÊt mét c¸ch d¹y kh¸c theo ý chñ quan cña m×nh, cho nª[r]
Trang 1Phần 1 phơng pháp dạy học lấy học sinh làm trung tâm
I Nhu cầu đổi mới thực hiện phơng pháp dạy học ở nớc ta hiện nay.
Vấn đề phát huy tính tích cực, tự lực, chủ động của học sinh nhằm đàotạo những ngời lao động sáng tạo đã đợc đặt ra trong ngành giáo dục từ nhữngnăm 1960 Khẩu hiệu “biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo” cũng
đã đi vào các trờng s phạm từ thời điểm đó Các sách lý luận dạy học đã viếtnhiều về u điểm, nhợc điểm của các phơng pháp dùng lời, trực quan và thựchành Các lớp giáo viên đợc đào tạo trong vài ba thập kỉ gần đây đã làm quenvới các phơng pháp đàm thoại, thí nghiệm nghiên cứu và dạy học nêu vấn đề
Phát huy tính tích cực của học sinh là phơng hớng của cải cách giáo dục đợc
triển khai ở các trờng phổ thông từ năm1980 Thế nhng cho đến nay, sự chuyểnbiến về phơng pháp dạy học trong trờng phổ thông cha đợc là bao Phổ biến vẫn
là thầy đọc trò chép, thuyết trình giảng giải xen kẽ vấn đáp tái hiện, biểu diễntrực quan minh họa Cũng có những giáo viên vận dụng sáng tạo các phơngpháp tích cực nhng cha nhiều, chủ yếu là trong các giờ thao giảng, các tiết dạythi giáo viên giỏi
Tình trạng trên có nhiều nguyên nhân: Công tác đào tạo và bồi dỡnggiáo viên cha đạt yêu cầu, đời sống giáo viên khó khăn không tạo điều kiện để
họ tập trung thời gian và công sức cho dạy học, phơng tiện thiết bị dạy họcnghèo nàn, thậm chí sách giáo khoa cho học sinh cũng cha đủ,…nh ng nguyênnh
nhân căn bản hạn chế sự phát triển phơng pháp tích cực là thiếu động lực học tập từ phía học sinh.
Bớc vào giai đoạn xã hội ta chuyển từ chế độ tập trung quan liêu bao cấpsang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, một bộ phận học sinh và cha mẹhọc sinh đã dần dần thích ứng với quan niệm học để có công ăn việc làm.Trong bối cảnh sản xuất cha phát triển mạnh, khả năng thu hút lao động củacác khu vực kinh tế còn rất hạn chế, thêm vào đó những tiêu cực trong đờisống xã hội làm cho học sinh giác ngộ một thực tế là không phải cứ học tốt là
có chỗ làm tốt, không phải cứ có trình độ cao là có thu nhập cao Trong thanhniên, học sinh hình thành một tâm lý thực dụng: không cần học cao, học giỏi,chỉ cần có chỗ làm đợc nhiều tiền, không cần rèn luyện theo mục tiêu pháttriển nhân cách nhiều mặt, chỉ cần học những gì tối thiểu cần thiết cho mục
đích kiếm sống Trong khi đó, nhà trờng ta từ hệ thống đến nội dung, phơng
Trang 2pháp, hình thức tổ chức hãy còn quá cứng, đồng loạt, đơn điệu, cha đáp ứngyêu cầu đa dạng linh hoạt của ngời học khiến học sinh không mấy hứng thúkhi đến trờng lớp Trong nhiều năm qua việc đánh giá thi cử cha có gì cải tiến
đáng kể, vẫn nặng về một số kiến thức trọng tâm của mấy môn trọng điểm,không khuyến khích giáo viên và học sinh coi trọng thực hành, rèn luyện ph-
ơng pháp học tập thông minh sáng tạo
Giờ đây, trên con đờng thích ứng với cơ chế thị trờng, chắc chắn trongthanh niên, học sinh sẽ có những chuyển biến đáng kể về mục đích, động cơhọc tập Thay cho mục đích cứng nhắc trớc kia: học để trở thành cán bộ nhà n-
ớc, có việc làm ổn định suốt đời; mà sẽ là học để chuẩn bị cho cuộc sống, cóviệc làm ngày tốt hơn Thay cho tâm lý ỷ lại là sự tháo vát xoay xở Cùng vớinhững điều chỉnh trong xã hội về sử dụng lao động, tiền lơng, đãi ngộ, khắcphục tiêu cực,…nhthanh niên học sinh sẽ ý thức đợc rằng học giỏi trong nhà tr-ờng đồng nghĩa với thành đạt trong cuộc đời, phấn đấu trong học tập là con đ-ờng tốt nhất để mỗi thanh niên học sinh đạt tới vị trí xã hội phù hợp với nănglực của họ Với một tâm lý nh vậy, họ sẽ lao vào học tập không mệt mỏi
Trớc một đối tợng nh vậy, sẽ đòi hỏi nhà trờng phải thay đổi nhiều vềnội dung, phơng pháp đào tạo để có những sản phẩm ngày càng tốt hơn, cungcấp cho thị trờng lao động
Để khắc phục tình trạng này, ngời ta kêu gọi phát huy tính tích cực họctập của học sinh, thực hiện dạy học phân hoá, quan tâm đến nhu cầu, khả năngcủa mỗi cá nhân học sinh trong tập thể lớp Các phơng pháp dạy học tích cực
đã ra đời và phát triển trong bối cảnh đó
Trong chơng trình tiểu học mới đề cập đến mục tiêu, phơng pháp giáodục tiểu học nh sau:
Mục tiêu của giáo dục tiểu học: “Giáo dục tiểu học nhằm giúp học
sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về
đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kĩ năng cơ bản, hình thành nhân cách con ngời Việt Nam xã hội chủ nghĩa, bớc đầu xây dựng t cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học trung học cơ sở.” (Luật
Giáo dục ban hành năm 2005)
Phơng pháp Giáo dục tiểu học: “phơng pháp Giáo dục tiểu học là
phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặ điểm của từng lớp học, môn học; bồi dỡng phơng pháp tự học, rèn
Trang 3luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”(Luật Giáo dục ban hành năm 2005).
Với cơ sở lý luận trên đây, chúng ta thấy việc đổi mới thực hiện phơngpháp dạy học là nhu cầu cần thiết đáp ứng yêu cầu giai đoạn phát triển mới
II Bản chất của dạy học lấy học sinh làm trung tâm
Quá trình dạy học bao gồm hai mặt quan hệ hữu cơ: hoạt động dạy củagiáo viên và hoạt động học của học sinh Trong lí luận dạy học có những quan
điểm khác nhau về vai trò của giáo viên và của học sinh, nhng tựu chung lại có
hai hớng: hoặc tập trung vào vai trò của giáo viên (lấy giáo viên làm trung tâm) hoặc tập trung vào học sinh (lấy học sinh làm trung tâm).
1 Khái niệm
1.1 Dạy học lấy giáo viên làm trung tâm.
Trong dạy học lấy giáo viên làm trung tâm, ngời ta quan tâm trớc hết
đến việc trang bị cho học sinh một trình độ kiến thức, giáo viên xem trách
nhiệm chính của mình là truyền đạt cho hết nội dung đã quy định trong chơngtrình sách giáo khoa
Nội dung dạy học mang tính hàn lâm, thiên về những kiến thức lí thuyết
hệ thống của các môn học
Phơng pháp dạy học chủ yếu là thuyết trình giảng giải, thày nói trò ghi,giáo viên tranh thủ truyền thụ những hiểu biết và kinh nghiệm của mình Họcsinh tiếp thu thụ động, thỉnh thoảng trả lời những câu hỏi giáo viên nêu ra vềnhững vấn đề đã giảng
Giáo án đợc thiết kế theo đờng thẳng, chung cho mọi học sinh, trên lớp
giáo viên chủ động thực hiện một mạch theo các bớc đã chuẩn bị
Bài lên lớp đợc tiến hành trong phòng học mà bàn giáo viên và bẳng đen
là trung tâm thu hút chú ý của mọi học sinh Giáo viên là ngời độc quyền đánh giá kết quả học tập của học sinh.
Phơng pháp dạy học lấy giáo viên làm trung tâm là phơng pháp lấy trìnhbày, giải thích làm khâu chủ yếu Trọng tâm của nó là nói, ghi nhớ và tái hiệnlại thông tin Học sinh chỉ là ngời tiếp nhận một cách thụ động Sự tham giacủa học sinh đợc giới hạn chủ yếu ở hỏi và trả lời về những vấn đề mà giáoviên đã giảng trên lớp Môi trờng dạy học mang nặng tính hình thức, ngời giáoviên giữ vị trí trung tâm của lớp học
1.2 Dạy học lấy học sinh làm trung tâm.
Trang 4Trong dạy học lấy học sinh làm trung tâm, điều quan tâm trớc hết là
chuẩn bị cho học sinh thích ứng với đời sống xã hội, tôn trọng mục đích, nhu
cầu, khả năng, hứng thú, lợi ích học tập của học sinh
Nội dung dạy học chú trọng đến các kĩ năng thực hành vận dụng kiếnthức, năng lực giải quyết các vấn đề thực tiễn, hớng vào sự chuẩn bị thiết thựccho tìm kiếm việc làm, hòa nhập và phát triển cộng đồng
Phơng pháp dạy học coi trọng việc rèn luyện cho học sinh phơng pháp
tự học thông qua thảo luận, thí nghiệm, hoạt động tìm tòi tập dợt nghiên cứu,quan tâm vận dụng vốn hiểu biết và kinh nghiệm của từng cá nhân và tập thểhọc sinh
Giáo án đợc thiết kế nhiều phơng án theo kiểu phân nhánh, đợc giáo
viên linh hoạt điều chỉnh theo tình hình thực tế của học sinh và diễn biến củatiết học, với sự tham gia tích cực của học sinh
Hình thức bố trí lớp học đợc thay đổi linh hoạt cho phù hợp với hoạt
động học tập trong tiết học, trong đó giáo viên là ngời tổ chức, hớng dẫn, điềutiết; học sinh tự giác chịu trách nhiệm về kết quả học tập của mình, tham gia
tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau.
Có nhiều quan điểm khác nhau về dạy học lấy học sinh làm trung tâm,xin đa ra một số quan điểm về vấn đề này nh sau:
Theo S.Raxếch và G Vaiđeenu (ngời Pháp) quan niệm một chơng trìnhlấy học sinh làm trung tâm có những đặc điểm sau:
- Giáo viên phải đáp ứng nhu cầu, mục đích của học sinh
- Giáo viên không bắt buộc phải bám sát một chơng trình không cầnthiết cho nhu cầu của học sinh
- Giáo viên đợc sáng tạo lựa chọn nội dung phù hợp với nhóm học sinh
- Giáo viên đợc điều chỉnh nhịp độ giảng dạy theo nhịp độ phát triển củahọc sinh
- Giáo viên đợc một khoảng rộng tự do hơn trong việc lập kế hoạch dạyhọc
Sự nhấn mạnh nhu cầu lợi ích của ngời học càng đợc quan tâm trongviệc thiết kế chơng trình giảng dạy khoa học cho mọi ngời vì sự phát triển củacộng đồng Ngời ta xem học tập là kết quả của việc tìm tòi giải quyết nhữngvấn đề hoặc nhu cầu nảy sinh trong đời sống hàng ngày của ngời học Trong
Trang 5quá trình phát triển nhận thức do hoạt động tìm tòi ngời học sẽ có đợc những
kĩ năng và thái độ cần thiết
Nh vậy, bên cạnh xu hớng truyền thống thiết kế chơng trình giảng dạy
lấy logic nội dung môn học làm trung tâm đã xuất hiện xu hớng thiết kế chơng trình học tập lấy nhu cầu, lợi ích của ngời học làm trung tâm.
Trên sách vở, có ngời quan niệm dạy học lấy học sinh làm trung tâm nhmột t tởng, một quan điểm, một cách tiếp cận quá trình dạy học, cũng có ngờihiểu dạy học lấy học sinh làm trung tâm ở tầm phơng pháp
Theo R.R.Singh (ngời Thái Lan) đã dùng các thuật ngữ “quá trình hiểu biếthọc tập lấy học sinh làm trung tâm”, “học tập do ngời học điều khiển” Trong dạyhọc tác giả đặc biệt nhấn mạnh hoạt động học, vai trò của ngời học Theo Singh:Trung tâm của hệ học tập do ngời học điều khiển là cá nhân ngời học, với cá tính
độc đáo của ngời đó Cá nhân ngời học vừa là mục đích vừa là chủ thể của quátrình học tập Ngời học đợc đặt ở vị trí trung tâm hay ngoại biên là nét đặc trngphân biệt hệ giáo dục này với hệ giáo dục khác Phát triển óc sáng tạo là mục tiêuchủ yếu của giáo dục và dạy học Mục tiêu này không những gắn bó chặt chẽ màcòn trực tiếp bắt nguồn từ dạy học lấy học sinh làm trung tâm Singh viết: “Làmthế nào cá thể hóa quá trình học tập để cho tiềm năng của mỗi cá nhân đợc pháttriển đầy đủ đang là một thách thức chủ yếu đối với giáo dục”
Theo R.C.Sharma (ngời New Zilân): “Trong phơng pháp dạy học lấyhọc sinh làm trung tâm, toàn bộ quá trình dạy học đều hớng vào nhu cầu, khảnăng, lợi ích của học sinh Mục đích là phát triển ở học sinh kĩ năng và nănglực độc lập và giải quyết các vấn đề Không khí trong lớp thân thiện và cởi mở
về mặt tâm lí Học sinh và giáo viên cùng nhau khảo sát các khía cạnh của vấn
đề hơn là giáo viên trao cho học sinh giải pháp của vấn đề Vai trò của giáoviên là tạo ra những tình huống để phát triển vấn đề, thu thập các t liệu, số liệuhọc sinh có thể sử dụng đợc, giúp học sinh nhận biết vấn đề, lập giả thuyết,làm sáng tỏ và thử nghiệm các giả thuyết, rút ra kết luận”
1.3 Những điểm khác nhau giữa dạy học lấy giáo viên làm trung tâm với“ ”
dạy học lấy học sinh làm trung tâm “ ”
Để làm rõ hơn bản chất của dạy học lấy học sinh làm trung tâm, có thể
so sánh với dạy học lấy giáo viên làm trung tâm ở những điểm sau đây:
Trang 6Dạy học lấy học sinh làm trung tâm
Hớng vào việc chuẩn bị cho họcsinh sớm thích ứng với đời sốngxã hội, hòa nhập và góp phầnphát triển cộng đồng, tôn trọngnhu cầu, lợi ích, tiềm năng củahọc sinh
Lợi ích và nhu cầu bản chất củahọc sinh là sự phát triển toàn diệnnhân cách Mọi nỗ lực giảng dạygiáo dục của nhà trờng đều phảihớng tới tạo điều kiện thuận lợi
để mỗi học sinh- bằng hoạt độngsáng tạo của mình- sáng tạo ranhân cách của mình, hình thành
lí thuyết, sự phát triển tuần tự cáckhái niệm, định luật, học thuyếtkhoa học
Chú trọng các kĩ năng thực hành,vận dụng kiến thức lý thuyết,năng lực phát hiện và giải quyếtcác vấn đề thực tiễn
Giáo viên lo trình bày cặn kẽ nộidung bài học, tranh thủ truyền thụvốn hiểu biết và kinh nghiệm củamình Học sinh tiếp thu thụ động,
cố hiểu và nhớ những điều giáoviên đã giảng giải, trả lời nhữngcâu hỏi giáo viên nêu ra về nhữngvấn đề đã dạy Giáo án đợc thiết
Trang 7học chung cho cả lớp học, giáo viên
chủ động thực hiện theo các bớc
đã chuẩn bị
hoạt điều chỉnh theo diến biếncủa tiết học với sự tham gia tíchcực của học sinh, thực hiện giờhọc phân hóa theo trình độ vànăng lực của học sinh, tạo điềukiện thuận lợi cho sự bộc lộ vàphát triển tiềm năng của mỗi họcsinh
Học sinh thờng dùng bàn ghế cánhân, đợc bố trí thay đổi linhhoạt cho phù hợp với hoạt độnghọc tập trong tiết học, thậm chítheo yêu cầu s phạm của từngphần trong tiết học Nhiều bàihọc đợc tiến hành trong phòng thínghiệm, ngoài trời, tại viện bảotàng, tại cơ sở sản xuất,…nh
5 Đánh
giá
Giáo viên là ngời độc quyền đánhgiá kết quả học tập của học sinh,chú ý tới khả năng ghi nhớ và táihiện lại các thông tin giáo viên đã
cung cấp
Học sinh tự giác chịu tráchnhiệm về kết quả học tập củamình, đợc tham gia tự đánh giá
và đánh giá lẫn nhau về mức độ
đạt các mục tiêu của từng phầntrong chơng trình học tập, chútrọng bổ khuyết những mặt cha
đạt đợc so với mục tiêu trớc khibớc vào một phần mới của chơngtrình
2 Thực hiện dạy học lấy học sinh làm trung tâm, vai trò của giáo viên có bị hạ thấp không?
Trong dạy học lấy học sinh làm trung tâm, giáo viên không chỉ là ngờitruyền thụ những tri thức riêng rẽ Giáo viên giúp cho học sinh thờng xuyên tiếpxúc với những lĩnh vực học tập ngày càng rộng lớn hơn Giáo viên đồng thời làngời hớng dẫn, ngời cố vấn, trọng tài cho học sinh Giáo viên không phải là mộtchuyên gia ngành hẹp mà là một cán bộ trí thức, là ngời học hỏi suốt đời Trong
Trang 8việc thực hiện quá trình dạy học, ngời dạy và ngời học là những ngời bạn cùngnhau tìm tòi khám phá.
Thực hiện dạy học lấy học sinh làm trung tâm không những không hạthấp vai trò của giáo viên mà trái lại đòi hỏi giáo viên phải có trình độ cao hơnnhiều về phẩm chất và năng lực nghề nghiệp Với sự tham gia tích cực của ngờihọc vào quá trình học tập tự lực, với sự đề cao trí sáng tạo ở mọi ngời học thì sẽkhó duy trì mối quan hệ đơn phơng và độc đoán giữa thày và trò Quyền lực củagiáo viên không còn dựa trên sự thụ động của học sinh mà là dựa trên năng lựccủa giáo viên góp phân vào sự phát triển tột đỉnh của học sinh thông qua sựtham gia tích cực của các em Một giáo viên sáng tạo là ngời biết giúp đỡ họcsinh tiến bộ nhanh chóng trên con đờng tự học Giáo viên phải là ngời hớng dẫn,ngời cố vấn hơn là chỉ đóng vai trò công cụ truyền đạt tri thức
3 Dạy học lấy học sinh làm trung tâm là một lý thuyết giáo dục đã lỗi thời hay nó vẫn đang đợc phát triển trong thực tế nhà trờng?
Giáo dục trong nhà trờng là một quá trình có mục đích, có kế hoạch, đợctiến hành dới sự chỉ đạo chặt chẽ của giáo viên Nhng xã hội lập ra nhà trờng trớchết là vì lợi ích học tập của học sinh chứ không phải vì lợi ích hành nghề của giáoviên Nhà trờng tồn tại là vì trẻ em, nhng suy cho cùng đó cũng là lợi ích của xãhội
Trong khi phân tích những điều kiện để giảng dạy các khái niệm có hiệuquả, học sinh phải sử dụng vốn kinh nghiệm liên quan tới khái niệm đang học để
đa ra những ví dụ cụ thể, học sinh phải đợc tham gia tích cực vào việc thảo luậnnhững chi tiết phù hợp hay không phù hợp với nội hàm khái niệm đó Trong khixác định những điều kiện để tiến hành có kết quả phơng pháp học tập khám phá,
điều kiện đầu tiên là giáo viên phải biết vận dụng phơng pháp này phù hợp với lứatuổi, năng lực hứng thú và nhu cầu của học sinh
III Những dấu hiệu đặc trng của các phơng pháp tích cực
1 Dạy học lấy học sinh làm trung tâm.
Trẻ em là đối tợng của giáo dục, của dạy học Nhà trờng tồn tại là vì trẻ
em Vì vậy, trẻ em phải đơc đặt vào vị trí trung tâm của quá trình dạy học, giáodục theo tinh thần “Tất cả vì học sinh thân yêu”
Phơng pháp dạy học tích cực xem học sinh vừa là đối tợng, vừa là chủthể của quá trình giáo dục Trong khi các hoạt động khác thờng hớng vào làmthay đổi đối tợng khách thể thì hoạt động học tập làm cho chính chủ thể hoạt
Trang 9động thay đổi Bằng hoạt động học tập, mỗi học sinh tự hình thành và pháttriển nhân cách của mình, không ai có thể làm thay mình đợc.
Trong những năm gần đây, phơng pháp tích cực (PPTC) đợc phát triển vớinhiều hình thức mới Mục đích giáo dục đặt ra không chỉ là dạy học vấn mà còn
là đào tạo, từ đó xuất hiện phơng pháp giáo dục theo mục tiêu, với chơng trình
đ-ợc thiết kế mềm dẻo theo khả năng của từng ngời học, với sự nhấn mạnh đào tạo
về mặt phơng pháp đợc coi nh một mục đích dạy học Học sinh đợc trang bị hệthống những khả năng và công cụ trí tuệ cho phép giải quyết thành công nhữngvấn đề, hoàn thành những mục tiêu đề ra Nhằm đào tạo năng lực thích nghi, tựchủ, giáo dục ý chí hành động, ý thức trách nhiệm tự giác Trong đánh giá, đốichiếu hậu trắc nghiệm với tiền trắc nghiệm, quan tâm cả hai mặt những điểm đạt
đợc và những điểm cha đạt đợc để đảm bảo cho mỗi học sinh đạt kết quả theomục tiêu trớc khi bớc vào một giai đoạn đào tạo mới
PPTC có 3 tiêu chuẩn chủ yếu: hoạt động, tự do, tự giáo dục Để có đợckiến thức mới, học sinh phải đợc hoạt động, đợc quan sát, thao tác trên các đối t-ợng, nhất là học sinh tiểu học Học sinh tự do phát huy sáng kiến, đợc lựa chọncon đờng đi tới kiến thức Hoạt động giáo dục phải hớng tới phat huy tính chủ
động, tăng cờng tính tự chủ, sự phát triển và hoàn thiên nhaan cách học sinh.Không nên hiểu lầm là PPTC coi trọng hoạt động chân tay, coi nhẹ hoạt động trí
óc, vì phng pháp này luôn luôn đòi hỏi học sinh huy động kiến thức và kinhnghiệm đã tích luỹ, yêu cầu suy nghĩ để điều chỉnh hành động, đòi hỏi phải dựkiến mục đích, phạm vi, kết quả hành động
PPTC yêu cầu tinh giản phần trình bày của giáo viên, tăng cờng hoạt độngtích cực của học sinh, chuẩn bị cho học sinh dần dần làm chủ quá trình học tậpcủa mình
Tuy nhiên, không phải mọi loại kiến thức đều có thể do học sinh tự chiếmlĩnh bằng hoạt động tích cực, dù có đủ phơng tịên học tập PPTC đòi hỏi nhiềuthời gian, không thể vận dụng ở mọi lúc mọi nơi Cũng không phải mọi học sinh
đều sẵn sàng tự giác tự nguyện, trong giáo dục đôi khi phải bắt buộc Trong PPTC
có lúc học sinh giỏi bị thiệt thòi vì phải chờ đợi những bạn chậm hoàn thành côngviệc
Việc áp dụng PPTC đòi hỏi một số điều kiện, trong đó quan trọng nhất làngời giáo viên PPTC không hề giảm nhẹ vai trò của giáo viên Trái lại, nó đòi hỏi
ở giáo viên trình độ lành nghề, óc sáng tạo, tính độc đáo để đóng vai trò ngời khởi
Trang 10xớng, động viên, xúc tác, trợ giúp, hớng dẫn, cố vấn Vì vậy, PPTC còn đợc tênbằng nhiều thuật ngữ khác nhau, mỗi thuật ngữ nhấn mạnh một khía cạnh nào đótrong vai trò giáo viên, trong quan hệ giáo viên - học sinh Theo yêu cầu nói trên,giáo viên phải đợc đào tạo tỉ mỉ chu đáo để thích ứng với nhiệm vụ đa dạng, vừa
có tri thức liên môn sâu rộng, vừa có trình độ s phạm lành nghề, biết ứng xử tinh
tế, biết sử dụng thành thạo các phơng tiện dạy học hiện đại, có thể định hớng sựphát triển của học sinh nhng cũng đảm bảo sự tự do của học sinh trong hoạt độnghọc tập
PPTC yêu cầu có đủ các phơng tiện thiết bị học tập cần thiết để học sinhthao tác trực tiếp Hình thức tổ chức lớp học phải thay đổi linh hoạt Không khíyên lặng, trật tự của lớp học truyền thống sẽ đợc thay thế bằng những tiếng thìthầm trao đổi, bằng những tranh luận sôi nổi, bằng những hoạt động cuốn hút củacác nhóm tìm tòi nghiên cứu
2 Dạy học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của học sinh.
Trong PPTC, ngời học- đối tợng của hoạt động “dạy”, đồng thời là chủthể của hoạt động “học”- đợc cuốn hút vào các hoạt động học tập do giáo viên
tổ chức và chỉ đạo, thông qua đó tự lực khám phá những điều mình cha rõ chứkhông phải thụ động tiếp thu những kiến thức đã đợc giáo viên sắp đặt Đợc
đặt vào những tình huống của đời sống thực tế, ngời học trực tiếp quan sát,thảo luận, làm thí nghiệm, giải quyết vấn đề đặt ra theo cách suy nghĩ củamình, từ đó vừa nắm bắt đợc kiến thức mới, vừa nắm bắt đợc phơng pháp “làmra” kiến thức, kĩ năng đó, không dập theo những khuôn mẫu sẵn có, đợc bộc lộ
và phát huy tiềm năng sáng tạo
Dạy học theo cách này thì giáo viên không chỉ đơn giản truyền đạt kiếnthức mà còn hớng dẫn hành động Chơng trình dạy học phải giúp cho từng họcsinh biết hành động và tích cực tham gia các chơng trình hành động của cộng
Trong xã hội hiện đại đang phát triển nhanh - với sự bùng nổ thông tin,khoa học, kĩ thuật và công nghệ phát triển nh vũ bão thì việc dạy học không
Trang 11thể chỉ giới hạn ở dạy kiến thức mà phải chuyển mạnh sang dạy phơng pháphọc tức là không thể nhồi nhét vào đầu óc trẻ khối lợng kiến thức ngày càngnhiều Phải quan tâm dạy cho trẻ phơng pháp học ngay từ bậc tiểu học và lênbậc học cao hơn càng phải đợc chú trọng.
Đã từ lâu, các nhà khoa học đã nhận thức đợc ý nghĩa của việc dạy
ph-ơng pháp học tập Ngời thày giáo tồi truyền đạt chân lí, ngời thày giáo giỏi dạycách tìm ra chân lí Giáo viên không chỉ truyền thụ tri thức sẵn có mà cần tổchức cho học sinh tự mình tìm ra kiến thức mới, giúp học sinh không chỉ nắm
đợc kiến thức mà còn nắm đợc phơng pháp đi tới kiến thức đó
Trong phơng pháp học thì cốt lõi là phơng pháp tự học Một yếu tố quan trọng bảo đảm thành công trong học tập và nghiên cứu khoa học là khả năng phát hiện và giải quyết những vấn đề gặp phải.
Nếu rèn luyện cho ngời học có đợc phơng pháp, kĩ năng, thói quen, ýchí tự học, biết ứng dụng những điều đã học vào những tình huống mới, biếtphát hiện và tự lực giải quyết những vấn đề đã đặt ra sẽ tạo cho họ lòng hamhọc, khơi dậy tiềm năng vốn có trong mỗi ngời Làm đợc nh vậy, kết quả họctập sẽ đợc nhân lên gấp bội, học sinh sẽ có thể tiếp tục tự học khi vào đời, dễdàng thích ứng với cuộc sống trong xã hội Vì những lẽ đó, ngày nay trong quátrình dạy học, ngời ta nhấn mạnh mặt hoạt động học trong quá trình dạy học,
nỗ lực tạo ra sự chuyển biến từ học tập thụ động sang tự học chủ động Đặt vấn
đề phát triển tự học ngay trong trờng phổ thông, không chỉ tự học ở nhà mà tựhọc ngay cả trong tiết học có sự hớng dẫn của giáo viên
4 Tăng cờng học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác.
Phơng pháp dạy học tích cực đòi hỏi sự cố gắng trí tuệ và nghị lực caocủa mỗi học sinh Năng lực và ý chí của học sinh trong một lớp không thể
đồng nhất, vì vậy có sự phân hoá về cờng độ và tiến độ hoàn thành các nhiệm
vụ học tập, nhất là khi bài học đợc thiết kế thành một chuỗi những kế hoạchcông tác độc lập, mỗi kế hoạch công tác độc lập dẫn tới hình thành một kiếnthức mới
áp dụng phơng pháp dạy học tích cực ở trình độ càng cao thì sự phânhoá này càng lớn Việc sử dụng các phơng tiện công nghiệ thông tin trong nhàtrờng sẽ đáp ứng yêu cầu cá thể hoá hoạt động học tập theo nhu cầu và khảnăng của mỗi học sinh
Trang 12Tuy nhiên, trong học tập không phải mọi tri thức, kĩ năng, thái độ đều cóthể đợc hình thành bằng con đờng hoạt động độc lập thuần tuý cá nhân Lớp học
là môi trờng giao tiếp thầy- trò, trò- trò, tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa cáccá nhân trên con đờng chiếm lĩnh nội dung học tập
Thông qua thảo luận, tranh luận trong tập thể nhóm/lớp, các ý kiến, quanniệm của mỗi cá nhân đợc bộc lộ, khẳng định hay bác bỏ và qua đó, ngời họcnâng mình lên một trình độ mới Bài học vận dụng đợc vốn hiểu biết và kinhnghiệm của mỗi học sinh và của cả lớp chứ không phải chỉ dựa trên vốn hiểubiết và kinh nghiệm của thày giáo
Trong nhà trờng, phơng pháp học tập hợp tác đợc tổ chức ở cấp nhóm, tổ,lớp hoặc trờng Đợc sử dụng phổ biến trong dạy học là hoạt động hợp tác trongnhóm nhỏ 4-6 ngời Học tập hợp tác làm tăng hiệu quả học tập, nhất là lúc phảigiải quyết những vấn đề gay cấn, lúc xuất hiện thực sự nhu cầu phối hợp giữacác cá nhân để hoàn thành nhiệm vụ chung Khi hoạt động theo nhóm nhỏ sẽkhông có hiện tợng ỷ lại; tính năng lực của mỗi thnàh viên đợc bộc lộ, uốn nắn,phát triển tình bạn, ý thức tổ chức, tinh thần tơng trợ
Hoạt động trong nhóm sẽ giúp từng thành viên quen dần với sự phâncông hợp tác, nhất là lúc phải giải quyết vấn đề phức tạp và lúc này cần thiếtphải xuất hiện nhu cầu hợp tác để hoàn thành công việc ở đây, giáo viên đóngvai trò ngời hớng dẫn, động viên, đánh giá các năng lực tiềm ẩn ở học sinh,kiểm tra đánh giá kết quả Cái chính là trong hoạt động nhóm tính cách, nănglực cá nhân đợc bộc lộ, uốn nắn, khẳng định, phát triển tình bạn, ý thức tổ chức
kỷ luật, tơng trợ lẫn nhau, ý thức cộng đồng
Việc vận dụng phơng pháp dạy học hợp tác gặp một số khó khăn nhgiáo viên thiếu kinh nghiệm, sinh hoạt nhà trờng theo chơng trình chặt chẽ,thời gian biểu nghiêm ngặt mà hoạt động heo nhóm lại đòi hỏi linh hoạt về nộidung, tổ chức và thời gian Phơng pháp dạy học hợp tác phải dựa trên cơ sở tựnguyện, không phải mọi học sinh đều sẵn sàng hởng ứng với phơng pháp này
Thoạt nhìn, tởng nh dạy học hợp tác mâu thuẫn với dạy học cá thể vàhạn chế tính tích cực của mỗi cá nhân Thực ra trong phơng pháp dạy học hợptác, mục tiêu hoạt động là chung nhng mỗi cá nhân lại có nhiệm vụ riêng, cáchoạt động của từng cá nhân đợc tổ chức phối hợp để đạt mục tiêu chung Ph-
ơng pháp dạy học hợp tác làm cho học sinh quen dần với đời sống xã hội,
Trang 13trong đó mỗi ngời sống và làm việc trong sự phân công hợp tác với tập thểcộng đồng.
* Chìa khoá dẫn tới học tập hợp tác thành công.
a/ Mối quan hệ học tập giữa các học sinh là rất quan trọng Điều này
khác với mối quan hệ dạy học vốn chỉ là mối quan hệ một chiều Giao tiếptrong quan hệ học tập bắt đầu với câu hỏi do học sinh không hiểu bài đặt ra:
“Mình có thể giải bài này nh thế nào?” Trong mối quan hệ học tập nếu không
có câu hỏi của học sinh không hiểu bài, thì các em học sinh hiểu bài sẽ khôngbao giờ chủ động dạy cho các em đó học Tuy nhiên, một khi đợc yêu cầu giúp
đỡ là các em thực lòng đáp ứng ngay lời yêu cầu đó “Sự quan tâm điềm tĩnh”này tạo nên mối quan hệ học tập Mối quan hệ này xây dựng và thúc đẩy họctập hợp tác
b/ Về việc chia nhóm, ta nên chia thành nhóm 4 học sinh có cả nam lẫn
nữ thì tốt hơn Việc gộp cả nam lẫn nữ là cần thiết nhằm làm cho học tập hợptác sinh động hơn Cơ cấu 4 thành viên trong một nhóm là tối u hơn cả vì nhvậy các em trong nhóm sẽ cùng lắng nghe nhau, cùng nhau bàn bạc và học tậplẫn nhau Nếu số thành viên trong nhóm nhiều hơn 5, thì lập tức một vài em
trong số đó sẽ chỉ là những “quan sát viên” Và ngợc lại, nếu số học sinh trong
nhóm chỉ dới 3, thì các em khó có thể trao đổi đợc nhiều ý kiến khác nhau
c/ Về thời điểm bắt đầu, có 2 cơ hội để bắt đầu Cơ hội thứ nhất giúp
việc học tập của cá nhân học sinh có tính chất hợp tác, trong khi cơ hội thứ hainhằm vơn cao và tạo những bớc nhảy trong học tập Trong khi tầm quan trọng
to lớn của học tập hợp tác nằm trong cơ hội thứ hai, thì cơ hội thứ nhất cũngcần đợc tích cực tận dụng Học tập cá nhân thờng đợc tiến hành dới hình thứcmỗi học sinh một mình xoay sở với các bài tập đợc giao Trong trờng hợp này,
em nào hiểu bài sẽ hoàn thành bài tập của mình rất nhanh, trong khi các emkhông hiểu bài thì ngồi cắn bút và không làm đợc gì Kết quả là chẳng có emnào học tập thực sự cả Cho nên ngay cả việc học tập cá nhân cũng phải nânglên thành học tập theo nhóm Tuy nhiên, toàn bộ ý nghĩa của hoạt động nhóm
là “học tập hợp tác” để vơn cao và tạo bớc nhảy
d/ Về thời điểm kết thúc, nên kết thúc học nhóm ngay trớc khi học sinh
không thể tập trung vào việc học tập Mặc dù giáo viên dự trù các hoạt độngtheo nhóm trong 5 phút, nhng nếu các em thích học thì nên dành hẳn 10 phútcho các hoạt động đó Ngợc lại, dự trù 10 phút cho các hoạt động nhóm, nhng
Trang 14nếu thấy các em không tập trung vào học tập thì ta có thể dừng lại sau 5 phút.Quyết định kịp thời này của giáo viên là một bí quyết thành công của “học tậphợp tác”.
E ngại lớn nhất của chúng ta khi áp dụng học tập hợp tác là các bài học
sẽ bị chậm chơng trình Việc triển khai học tập hợp tác có thể giảm hiệu quảcác bài học, nhng ta cần nhìn nhận vấn đề ở chỗ: liệu nó có ảnh hởng tiêu cựctới hiệu quả của học tập không? Hiệu quả của lối học truyền thống theo kiểuthuyết trình là rất thấp, cách dạy này bỏ qua những học sinh không hiểu bài.Hơn nữa, nó làm giảm ham muốn của những học sinh mong muốn tìm kiếm sựtiến bộ hơn nữa trong học tập Nếu vấn đề ở đây không phải là tốc độ xử lý nộidung sách giáo khoa mà là hiệu quả của các kinh nghiệm học tập của mỗi họcsinh, thì lối học truyền thống rất không hiệu quả, trong khi học tập hợp tác sẽmang lại hiệu quả hơn nhiều Trách nhiệm của chúng ta không nằm trong việc
xử lý sách giáo khoa Trách nhiệm của ngời giáo viên với t cách là ngời cóchuyên môn về giáo dục là thực hiện việc học tập của mỗi học sinh Khi đó, ta
đặt trọng tâm vào hiệu quả của kinh nghiệm học tập của mỗi học sinh chứkhông đặt vào tốc độ xử lý nội dung sách giáo khoa
Những giáo viên áp dụng thành công học tập hợp tác cũng không hề bịchậm chơng trình dạy học so với những giáo viên khác Có hai lý do dẫn đếnvấn đề này Lý do thứ nhất là việc phân phối các chủ đề chặt chẽ, chia bài họcthành từng phần, giải quyết nhanh phần này, dành đủ thời gian cho phần kia
Lý do thứ hai là đa ra nhiệm vụ ở mức cao hơn cho học tập hợp tác Bằng cách
đa ra yêu cầu cao hơn này, học tập hợp tác có thể là cơ sở để cung cấp các kinhnghiệm cho học sinh, kết hợp đợc các vấn đề cơ bản với các vấn đề khó khănthử thách hơn
Cần lu ý rằng khi vận dụng phơng pháp dạy học lấy học sinh làm trungtâm chớ nên máy móc và hình thức, giáo viên phải biết lựa chọn mức độ, hìnhthức thích hợp với từng ngành học, bậc học, môn học, phù hợp với phơng tiệnthiết bị dạy học và điều kiện học tập của học sinh
5 Kết hợp đánh giá của thày với tự đánh giá của trò.
Trong dạy học, việc đánh giá học sinh không chỉ nhằm mục đích nhận
định thực trạng và đề ra giải pháp điều chỉnh hoạt động học của trò mà còn
đồng thời tạo điều kiên nhận định thực trạng và định hớng điều chỉnh hoạt
động dạy của thày
Trang 15Trớc đây, quan niệm về đánh giá còn phiến diện: học sinh là đối tợng
đ-ợc đánh giá, giáo viên giữ độc quyền đánh giá Trong phơng pháp dạy học tíchcực, theo hớng coi trọng vai trò chủ động của ngời học, coi việc rèn luyện ph-
ơng pháp tự học để chuẩn bị cho học sinh năng lực tự học liên tục suốt đời nhmột mục tiêu giáo dục thì giáo viên phải hớng dẫn học sinh phát triển kĩ năng
tự đánh giá để tự điều chỉnh cách học Liên quan đến vấn đề này, giáo viên cầntạo điều kiện thuận lợi để học sinh đợc tham gia đánh giá lẫn nhau Tự đánhgiá đúng và điều chỉnh hoạt động kịp thời là một năng lực rất cần cho sự thànhcông trong cuộc sống mà nhà trờng phải trang bị cho học sinh
Theo hớng phát triển các PPTC để đào tạo những con ngời năng động,sớm thích nghi với đời sống xã hội thì việc kiểm tra đánh giá không thể chỉdừng lại ở yêu cầu tái hiện các kiến thức, lặp lại các kĩ năng đã học mà phảikhuyến khích óc sáng tạo, phát hiện sự chuyển biến thái độ và xu hớng hành vicủa học sinh trớc những vấn đề của đời sống gia đình và cộng đồng, rèn luyệnkhả năng phát hiện và giải quyết các vấn đề trong những tình huống thực tế.Nếu khâu kiểm tra đánh giá không chuyển biến về nội dung, hình thức thì khó
hi vọng có sự chuyển biến mạnh mẽ trong dạy và học
Với sự hỗ trợ của các phơng tiện kĩ thuật, kiểm tra đánh giá sẽ khôngcòn là một công việc nặng nhọc đối với giáo viên mà giáo viên sẽ có nhiềuthông tin kịp thời để điều chỉnh cách dạy và chỉ đạo cách học, có điều kiện đểtăng nhịp độ kiểm tra, giúp học sinh thờng xuyên tự kiểm tra
Với lí thuyết giáo dục theo mục tiêu, ngời ta thiết kế mục tiêu học tậptừng chơng, từng bài cụ thể để có thể căn cứ vào đó mà đánh giá việc thựchiện Khâu đánh giá đợc tính toán ngay từ khi xác định mục tiêu.Trong đánhgiá cũng nh tự đánh giá, ngời ta không chỉ chú ý đến những mặt đã đạt đợc màcả những mặt cha đạt đợc để bổ khuyết trớc khi bớc vào học một phần mới
Từ dạy và học thụ động sang dạy và học tích cực, giáo viên không còn
đóng vai trò đơn thuần là ngời truyền đạt kiến thức, giáo viên trở thành ngờithiết kế, tổ chức, hớng dẫn các hoạt động độc lập hoặc theo nhóm nhỏ để họcsinh tự lực chiếm lĩnh nội dung học tập, chủ động đạt các mục tiêu kiến thức,
kĩ năng, thái độ theo yêu cầu của chơng trình Trên lớp, học sinh hoạt động làchính, giáo viên có vẻ nhàn nhã hơn nhng trớc đó, khi sạon giáo án, giáo viên
đã phải đầu t công sức, thời gian rất nhiều so với kiểu dạy và học thụ động mới
có thể thực hiện bài lên lớp với vai trò là ngời gợi mở, xúc tác, động viên, cố