1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Ảnh hưởng của giáo dục sớm trước tuổi đi học đến kết quả học tập của học sinh tiểu học trên địa bàn hà nội

140 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ảnh Hưởng Của Giáo Dục Sớm Trước Tuổi Đi Học Đến Kết Quả Học Tập Của Học Sinh Tiểu Học Trên Địa Bàn Hà Nội
Tác giả Đỗ Thị Xuyến
Người hướng dẫn TS. Tăng Thị Thùy
Trường học Đại Học Quốc Gia Hà Nội - Trường Đại Học Giáo Dục
Chuyên ngành Đo Lường Và Đánh Giá Trong Giáo Dục
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 140
Dung lượng 1,45 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính vì vậy tìm hiểu sự ảnh hưởng của GDS trước tuổi đi học đến KQHT của học sinh tiểu học sẽ giúp chúng ta khẳng định vai trò của GDS và trả lời được các thắc mắc của nhiều cha mẹ về v

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

ĐỖ THỊ XUYẾN

ẢNH HƯỞNG CỦA GIÁO DỤC SỚM TRƯỚC TUỔI ĐI HỌC ĐẾN KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH TIỂU HỌC

TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐO LƯỜNG VÀ ĐÁNH GIÁ TRONG GIÁO DỤC

CHUYÊN NGÀNH: ĐO LƯỜNG VÀ ĐÁNH GIÁ TRONG GIÁO DỤC

Mã số: 8140115.01 Người hướng dẫn khoa học: TS Tăng Thị Thùy

HÀ NỘI – 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn của tôi với tiêu đề “Ảnh hưởng của giáo dục sớm trước tuổi đi học đến kết quả học tập của học sinh tiểu học trên địa bàn Hà Nội” là kết quả nghiên cứu của chính bản thân tôi thực hiện

Các số liệu cũng như kết quả nghiên cứu trình bày trong luận văn này chưa từng được công bố ở các nghiên cứu khác

Tôi xin chịu mọi trách nhiệm về nghiên cứu của mình

Hà Nội, ngày tháng năm 2021

Tác giả

Đỗ Thị Xuyến

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thiện luận văn này, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến TS Tăng Thị Thùy - người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo của Bộ môn Đo lường và Đánh giá trong giáo dục đã truyền dạy những kiến thức quý báu, hữu ích về chuyên ngành cũng như cung cấp cách thức để tiến hành một nghiên cứu khoa học

Tôi xin trân trọng cảm ơn đến Ban Giám hiệu, lãnh đạo và cán bộ trường THPT Chương Mỹ B đã tạo điều kiện, động viên và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn này

Tôi cũng xin cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè và các anh chị học viên cùng khóa đã động viên tôi trong quá trình nghiên cứu luận văn

Vì luận văn được hoàn thành trong thời gian ngắn nên không thể tránh khỏi những sai sót Kính mong quý Thầy (Cô), các nhà khoa học, các bạn học viên và những người quan tâm đóng góp ý kiến để tôi có thể làm tốt hơn những nghiên cứu tiếp theo về lĩnh vực này trong thời gian tới

Xin trân trọng cảm ơn!

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC BẢNG vii

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 7

1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu 7

1.1.1 Giáo dục mầm non ảnh hưởng đến kết quả học tập của học sinh tiểu học 7

1.1.2 Giáo dục sớm của cha mẹ ảnh hưởng đến kết quả học tập của học sinh ở bậc tiểu học 16

1.2 Cơ sở lý luận 18

1.2.1 Giáo dục sớm 18

1.2.2 Vai trò của cha mẹ đối với hoạt động giáo dục sớm cho con trẻ 22

1.2.3 Kết quả học tập 26

Tiểu kết chương 1 38

Chương 2 PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 39

2.1 Phương pháp nghiên cứu định lượng 39

2.2 Mẫu nghiên cứu 39

2.1.1.Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu 39

2.1.2 Điểm trung bình của các nhân tố 42

2.3 Phương pháp thu thập số liệu 43

2.4 Quá trình xây dựng bảng hỏi 43

2.4.1 Xây dựng công cụ đánh giá 43

2.4.2 Khảo sát thử nghiệm 48

2.4.3 Đánh giá công cụ 49

2.4.4 Điều chỉnh bộ công cụ 55

2.5 Phân tích nhân tố khám phá EFA (Exploratory Factor Analysis) 55

2.5.1 Phân tích nhân tố đối với bảng hỏi học sinh 56

2.5.2 Phân tích nhân tố đối với Mức độ thường xuyên về việc dạy con 62

2.6 Phân tích dữ liệu 69

Tiểu kết chương 2 70

Trang 6

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 71

3.1 Ảnh hưởng của hoạt động giáo dục trẻ ở độ tuổi mầm non của cha mẹ đến kết quả học tập của con ở bậc tiểu học 71 3.1.1 Đánh giá mức độ ảnh hưởng của việc bố mẹ dạy con ở độ tuổi mầm non đến hành vi xã hội của con 71 3.1.2 Đánh giá mức độ ảnh hưởng của việc bố mẹ dạy con ở độ tuổi mầm non đến kiến thức xã hội của con 73 3.1.3 Đánh giá mức độ ảnh hưởng của việc bố mẹ dạy con ở độ tuổi mầm non đến

kỹ năng ngôn ngữ của con 75 3.1.4 Đánh giá mức độ ảnh hưởng của việc bố mẹ dạy con ở độ tuổi mầm non đến kiến thức toán học của con 77 3.1.5 Đánh giá mức độ ảnh hưởng của việc bố mẹ dạy con ở độ tuổi mầm non đến hành vi đạo đức của con 79 3.1.6 Kết luận 80 3.2 So sánh sự khác biệt về kiến thức, hành vi đạo đức và hành vi xã hội ở bậc tiểu học giữa những trẻ được giáo dục sớm và không được giáo dục sớm 81 3.3 Đánh giá ảnh hưởng của mức độ thường xuyên biểu hiện của con ở độ tuổi mầm non đến kết quả học tập của con ở bậc tiểu học 83 3.3.1 Đánh giá ảnh hưởng của mức độ thường xuyên biểu hiện của con ở độ tuổi mầm non đến hành vi xã hội của con ở bậc tiểu học 83 3.3.2 Đánh giá ảnh hưởng của mức độ thường xuyên biểu hiện của con ở độ tuổi mầm non đến kiến thức xã hội của con ở bậc tiểu học 85 3.3.3 Đánh giá ảnh hưởng của mức độ thường xuyên biểu hiện của con ở độ tuổi mầm non đến kỹ năng ngôn ngữ của con ở bậc tiểu học 87 3.3.4 Đánh giá ảnh hưởng của mức độ thường xuyên biểu hiện của con ở độ tuổi mầm non đến kiến thức toán học của con ở bậc tiểu học 90 3.3.5 Đánh giá ảnh hưởng của mức độ thường xuyên biểu hiện của con ở độ tuổi mầm non đến hành vi đạo đức của con ở bậc tiểu học 92 3.3.6 Kết luận 94

Trang 7

3.4 Đánh giá mối tương quan giữa việc bố mẹ dạy con ở độ tuổi mầm non và mức

độ thường xuyên biểu hiện của con ở bậc mầm non 94

Tiểu kết chương 3 96

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 97

TÀI LIỆU THAM KHẢO 99

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Mẫu nghiên cứu 39

Bảng 2.2 Bảng mã hóa các biến quan sát giai đoạn thử nghiệm đối với bảng hỏi HS 46 Bảng 2.3 Bảng mã hóa các biến quan sát giai đoạn thử nghiệm đối với bảng hỏi phụ huynh HS 47

Bảng 2.4 Độ tin cậy bảng hỏi HS chưa chỉnh sửa 50

Bảng 2.5 Kết quả phân tích hệ số Cronbach’s Alpha của từng yếu tố 51

Bảng 2.6 Kết quả phân tích hệ số Cronbach’s Alpha của từng yếu tố 53

Bảng 2.7 Các biến quan sát độc lập được sử dụng trong phân tích nhân tố 57

Bảng 2.8 Kết quả kiểm định KMO và Bartlett đối với biến độc lập 59

Bảng 2.9 Tổng phương sai trích của các yếu tố 60

Bảng 2.10 Ma trận xoay nhân tố 61

Bảng 2.11 Các biến quan sát phụ thuộc được sử dụng trong phân tích nhân tố 62

Bảng 2.12 Kiểm định KMO và Barlett’s đối với biến phụ thuộc 63

Bảng 2.13 Tổng phương sai trích đối với biến phụ thuộc 64

Bảng 2.14 Ma trận xoay nhân tố 65

Bảng 2.15 Các biến quan sát phụ thuộc được sử dụng trong phân tích nhân tố 66

Bảng 2.16 Kiểm định KMO và Barlett’s đối với biến phụ thuộc 67

Bảng 2.17 Tổng phương sai trích đối với biến phụ thuộc 68

Bảng 2.18 Ma trận xoay nhân tố 69

Bảng 3.1 Bảng thống kê mô tả mẫu nghiên cứu 42

Bảng 3.2 Thống kê mô tả KQHT của HS 42

Bảng 3.3 Thống kê mô tả việc bố mẹ dạy con ở độ tuổi mầm non 43

Bảng 3.4 Thống kê mô tả mức độ thường xuyên biểu hiện của con ở độ tuổi mầm non 43

Bảng 3.5 Tương quan giữa HSXH và việc bố mẹ dạy con ở độ tuổi mầm non 71

Bảng 3.6 Bảng tóm tắt mô hình 72

Bảng 3.7 Bảng ANOVA 72

Bảng 3.8 Bảng hệ số hồi quy 72 Bảng 3.9 Tương quan giữa HSKTXH và việc bố mẹ dạy con ở độ tuổi mầm non 73

Trang 10

Bảng 3.10 Bảng tóm tắt mô hình 74

Bảng 3.11 Bảng ANOVA 74

Bảng 3.12 Bảng hệ số hồi quy 74

Bảng 3.13 Tương quan giữa HSKTNN và việc bố mẹ dạy con ở độ tuổi mầm non 75

Bảng 3.14 Bảng tóm tắt mô hình 76

Bảng 3.15 Bảng ANOVA 76

Bảng 3.16 Bảng hệ số hồi quy 76

Bảng 3.17 Tương quan giữa HSKTTH và việc bố mẹ dạy con ở độ tuổi mầm non 77 Bảng 3.18 Bảng tóm tắt mô hình 77

Bảng 3.19 Bảng ANOVA 78

Bảng 3.20 Bảng hệ số hồi quy 78

Bảng 3.21 Tương quan giữa HSDD và việc bố mẹ dạy con ở độ tuổi mầm non 79

Bảng 3.22 Bảng tóm tắt mô hình 79

Bảng 3.23 Bảng ANOVA 80

Bảng 3.24 Bảng hệ số hồi quy 80

Bảng 3.25 Bảng tổng hợp ảnh hưởng của nội dung dạy con ở độ tuổi mầm non của cha mẹ đến kết quả học tập của con ở bậc tiểu học 80

Bảng 3.26 Thống kê mô tả 81

Bảng 3.27.Kết quả kiểm định 82

Bảng 3.28 Tương quan giữa HSXH và mức độ thường xuyên biểu hiện 83

của con ở độ tuổi mầm non 83

Bảng 3.29 Bảng tóm tắt mô hình 84

Bảng 3.30 Bảng ANOVA 84

Bảng 3.31 Bảng hệ số hồi quy 85

Bảng 3.32 Tương quan giữa HSKTXH và mức độ thường xuyên biểu hiện 86

của con ở độ tuổi mầm non 86

Bảng 3.33 Bảng tóm tắt mô hình 86

Bảng 3.34 Bảng ANOVA 86

Bảng 3.35 Bảng hệ số hồi quy 87

Bảng 3.36 Tương quan giữa HSKTNN và mức độ thường xuyên biểu hiện 88

của con ở độ tuổi mầm non 88

Trang 11

Bảng 3.37 Bảng tóm tắt mô hình 88

Bảng 3.38 Bảng ANOVA 89

Bảng 3.39 Bảng hệ số hồi quy 89

Bảng 3.40 Tương quan giữa HSKTTH và mức độ thường xuyên biểu hiện 90

của con ở độ tuổi mầm non 90

Bảng 3.41 Bảng tóm tắt mô hình 91

Bảng 3.42 Bảng ANOVA 91

Bảng 3.43 Bảng hệ số hồi quy 91

Bảng 3.44 Tương quan giữa HSDD và mức độ thường xuyên biểu hiện 92

của con ở độ tuổi mầm non 92

Bảng 3.45 Bảng tóm tắt mô hình 93

Bảng 3.46 Bảng ANOVA 93

Bảng 3.47 Bảng hệ số hồi quy 93

Bảng 3.48 Bảng tổng hợp ảnh hưởng của mức độ thường xuyên biểu hiện của con ở độ tuổi mầm non đến kết quả học tập của con ở bậc tiểu học 94

Bảng 3.49 Mối tương quan giữa việc bố mẹ dạy con ở độ tuổi mầm non và mức độ thường xuyên biểu hiện của con ở bậc mầm non 94

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Giáo dục trẻ lứa tuổi mầm non là giai đoạn giáo dục đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam Mục tiêu của giáo dục trẻ giai đoạn mầm non là “giúp trẻ phát triển thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1, hình thành ở trẻ em những chức năng tâm sinh lý, năng lực và phẩm chất mang tính nền tảng, những kỹ năng sống cần thiết phù hợp với lứa tuổi, khơi dậy và phát triển tối đa những khả năng tiềm ẩn, đặt nền tảng cho việc học ở các cấp học tiếp theo và cho việc học tập suốt đời” (Bộ GD&ĐT, 2013)

Giáo dục sớm (GDS) là “giáo dục chất lượng cao” ngay từ khi trẻ còn nhỏ (Phùng Đức Toàn, 2011) Một trong những tâm nguyện của cha mẹ là “con cái trở thành người có ích cho đất nước” việc GDS chú trọng “nâng cao sự tu dưỡng của các bậc phụ huynh, đồng thời phối hợp chặt chẽ với nhà trường” (Phùng Đức Toàn, 2011)

Bản chất của GDS là “mang đến cho trẻ một cuộc sống đầy thú vị, được kích thích và rèn luyện phù hợp từ đó nâng cao tố chất của con người” (Phùng Đức Toàn, 2011)

Giáo dục sớm bằng việc “tạo ra các kích thích tri giác cho trẻ” (Shichida Makato, 2014), nếu dạy trẻ từ giai đoạn 0 tuổi thì những “tố chất và tài năng sẽ được phát huy rõ rệt”, điều quan trọng nhất khi bắt đầu dạy cho trẻ chính là “phát triển năng lực ngôn ngữ” (Shichida Makato, 2014)

Giáo dục sớm là một “quá trình tự nhiên diễn ra tự phát bởi cá thể người, đạt được bằng việc trải nghiệm với môi trường”, GDS chú trọng tới việc “tôn trọng và giúp đỡ công cuộc kiến thiết tinh thần” của trẻ GDS “đóng vai trò là một công cụ trợ giúp cho quá trình phát triển tâm lý của con người, chứ không phải việc bắt con người phải ghi nhớ những ý tưởng và sự kiện” (Maria Montessori, 2014)

Giáo dục sớm “bắt đầu từ lúc 0 tuổi, hãy bắt đầu bồi dưỡng những tố chất toàn diện để trẻ có thể tiếp tục phát triển” (Lưu Vệ Hoa, Trương Hân Vũ, 2008),

Trang 13

“việc bồi dưỡng tố chất tổng hợp tốt nhất nên được bắt đầu ngay từ lúc 0 tuổi”, sự GDS này “không phải sẽ có tác dụng lâu dài về sau này Nếu các phương pháp giáo dục, bồi dưỡng trẻ không phù hợp ở các giai đoạn sau này thì sự phát triển trí tuệ đã

có trước đây rất có thế sẽ bị mai một” (Lưu Vệ Hoa, Trương Hân Vũ, 2008)

Giáo dục mầm non nói chung và GDS nói riêng có vai trò rất quan trọng đến

sự phát triển của trẻ em, nhiều nghiên cứu cho thấy GDMN có chất lượng sẽ có tác động toàn diện và lâu dài đến sự phát triển sau này của mỗi con người Việc mỗi cá nhân có nền tảng GDMN tốt là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển sau này cả về khả năng nhận thức, hành vi đạo đức và hành vi xã hội của trẻ Đã có nhiều nghiên cứu cụ thể chỉ ra được ảnh hưởng của GDMN nói chung và GDS nói riêng ảnh hưởng đến khả năng nhận thức, kỹ năng xã hội và hành vi đạo đức của trẻ ở bậc học tiểu học và cả ảnh hưởng xa hơn nữa Chính vì vậy, đề tài này tập trung nghiên cứu chỉ ra ảnh hưởng của GDS đến KQHT của học sinh tiểu học trên địa bàn Hà Nội

Mặt khác để hiểu đúng về GDS và GDS đúng cách cũng đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm GDS không nên bị “bệnh thành tích”, không nên “đánh cắp tuổi thơ” của trẻ, cũng không phải là cuộc chạy đua “tạo ra những đứa trẻ hoàn hảo” GDS “rất đơn giản, bạn chỉ cần dành thời gian chơi đùa trò chuyện với con về những gì xáy ra trong thế giới của con” (Kathy Hirsh và cộng sự, 2012)

GDS “kích thích sự phát triển của đại não”, “kích thích một cách đầy đủ các giác quan của trẻ” (Karl Witte, 2014)

Hoạt động GDS, có thể được thực hiện ở các môi trường giáo dục mầm non,

và cũng có thể được thực hiện bởi chính cha mẹ của trẻ Dù thực hiện ở môi trường nào thì cũng đều có tác động tích cựu tới sự phát triển của trẻ Việc trải qua bất kì chương trình GDS nào (trước khi bắt đầu 5 tuổi) đều có hiệu quả và tác động tích cực (Alissa Goodman, Babara Sianesi, 2005) Các chương trình giáo dục sớm có chất lượng cao cho trẻ em có tác động lâu dài trong năm lĩnh vực: (1) Giảm số trẻ

em được giao cho các lớp học giáo dục đặc biệt, (2) giảm số trẻ em bị ở lại lớp, (3) (4) tăng chỉ số IQ lên đến 13 tuổi, và (5) ảnh hưởng đến các khía cạnh định hướng thành công của trẻ

Sự tham gia của cha mẹ vào các hoạt động GDS đã ảnh hưởng tới việc phát triển ngôn ngữ và kỹ năng đọc của trẻ em (Lindsay A Koch, 2018)

Trang 14

Như vậy, có nhiều khái niệm khác nhau về GDS, có nhiều nghiên cứu về GDS, trong đề tài này tác giả sử dụng khái niệm GDS là quá trình giáo dục có mục đích, có ý thức tác động đến trẻ từ bào thai đến 6 tuổi, nhằm bồi dưỡng, phát triển các tố chất tổng hợp cho trẻ

Nhân tố GDS của gia đình, nhân tố nhận thức của cha mẹ, giáo dục tại các cơ

sở GDMN khác nhau là những nhân tố dẫn tới sự khác biệt về chất lượng GDS,

do vậy cũng ảnh hưởng tới KQHT của học sinh ở bậc tiểu học

Trong đó, môi trường giáo dục gia đình luôn là môi trường giáo dục đầu tiên

và có tầm quan trọng nhất quyết định việc hình thành nhân cách của con người

trong suốt cuộc đời (Lê Phạm Phương Lan, 2017) Nuôi dạy trẻ em thật tốt là một

quá trình kiến tạo nguồn lực phát triển cho tương lai Trong quá trình nuôi dạy trẻ, giáo dục gia đình giữ một vai trò cực kỳ quan trọng, tạo nền tảng cho trẻ bước vào cuộc sống một cách vững chắc

GDS “cần được nhận thức và tiến hành sớm nhất, chủ động nhất khi một cá thể được chào đời”, giáo dục con từ sớm “cần bắt đầu ngay khi người mẹ mang thai”, dạy trẻ sớm, “không phải là tiến hành những lớp học cưỡng bức”, con đường và hành trình dạy sớm cho con trẻ “tốt nhất chỉ nên là những hoạt động đơn giản mà ân cần chỉ bảo, thú vị và kiên nhẫn từng ngày không nôn nóng” (Hồ Thị Hải Âu, 2015)

Qua các nghiên cứu trên, cho thấy sự quan tâm của các nhà giáo dục nói chung, của cha mẹ nói riêng đối với GDS diễn ra ở cả các quốc gia phát triển trên thế giới cũng như ở nước ta Sự quan tâm này biểu hiện cả ở việc đưa ra những quan điểm, những ý kiến về GDS đến việc lựa chọn nội dung, hình thức dạy, phương pháp GDS cho con trẻ

Nghiên cứu cũng đã chỉ ra GDS có tầm ảnh hưởng rất lớn đối với việc hình thành nhân cách, trí tuệ, đạo đức của mỗi con người, việc mỗi cá nhân trẻ có nền tảng GDS tốt là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển sau này cả về kiến thức, hành

vi xã hội, và hành vi đạo đức Chính vì vậy tìm hiểu sự ảnh hưởng của GDS trước tuổi đi học đến KQHT của học sinh tiểu học sẽ giúp chúng ta khẳng định vai trò của GDS và trả lời được các thắc mắc của nhiều cha mẹ về việc cho con cái được học sớm, được tham gia các chương trình giáo dục đặc biệt trước tuổi đi học có làm tăng

Trang 15

KQHT của con ở các bậc học tiếp theo hay không Do đó, tác giả chọn đề tải “Ảnh hưởng của giáo dục sớm trước tuổi đi học đến kết quả học tập của học sinh tiểu học trên địa bàn Hà Nội” để làm rõ hơn về ảnh hưởng của GDS, mà trực tiếp là sự

tham gia của cha mẹ vào hoạt động GDS ảnh hưởng thế nào đến KQHT của trẻ ở

bậc tiểu học

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu này nhằm tìm hiểu những ảnh hưởng của hoạt động GDS của cha mẹ đến KQHT của HS ở bậc tiểu học, được thể hiện qua ba khía cạnh: kiến thức, hành vi đạo đức, hành vi xã hội

3 Câu hỏi nghiên cứu

Hoạt động giáo dục trẻ ở độ tuổi mầm non của cha mẹ có ảnh hưởng đến KQHT (biểu hiện về kiến thức, hành vi đạo đức, hành vi xã hộ) của trẻ ở bậc tiểu học hay không?

Có sự khác biệt về kiến thức, hành vi đạo đức, hành vi xã hội ở bậc tiểu học giữa những trẻ được GDS và không được GDS từ phía cha mẹ hay không?

Mức độ thường xuyên biểu hiện KQHT của trẻ ở bậc mầm non có mối quan

hệ như thế nào với KQHT của trẻ ở bậc tiểu học?

4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Trẻ được GDS từ cha mẹ về kiến thức, hành vi đạo

đức, hành vi xã hội

- Khách thể nghiên cứu: Phụ huynh HS tiểu học và HS tiểu học (lớp 4) ở một

số trường tiểu học trên địa bàn thành phố Hà Nội

5 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Nghiên cứu này sẽ chỉ ra được ảnh hưởng của việc cha mẹ giáo dục trẻ ở độ tuổi mầm non ảnh hưởng đến KQHT về kiến thức, hành vi đạo đức và hành vi xã hội của trẻ khi học tiểu học Đề tài hệ thống các khái niệm về GDS và các ảnh hưởng của nó đến trẻ và KQHT ở bậc tiểu học Kết quả nghiên cứu này có thể là cơ

sở để các bậc cha mẹ quyết định can thiệp vào quá trình giáo dục trẻ ở độ tuổi mầm non Đây còn là tài liệu tham khảo cho các nhà quản lý liên quan đến để có chính sách phát triển mối quan hệ giữa nhà trường với cha mẹ (phụ huynh HS) trong việc giáo dục trẻ

Trang 16

6 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi không gian khảo sát: HS lớp 4 của 06 trường Tiểu học trên địa bàn

thành phố Hà Nội, bao gồm: Trường Liên cấp Xanh Tuệ Đức, trường Tiểu học Chúc Sơn A, trường Tiểu học Lê Hồng Phong, trường Tiểu học Nguyễn Du, trường Tiểu học Phú La và trường Tiểu học Xuân Mai A Đối tượng khảo sát trong đề tài này là PHHS và HS lớp 4 vì, đối với HS ở độ tuổi này các em có khả năng đọc hiểu

và trả lời các câu hỏi trong bảng hỏi một cách chính xác hơn so với các đối tượng khác Bên cạnh đó, đối với phụ huynh HS việc họ phải nhớ lại, hồi tưởng lại về hoạt động GDS cho con và mức độ thường xuyên biểu hiện của con trước khi vào tiểu

học sẽ hợp lí hơn và dễ dàng hơn so với các lứa tuổi khác

- Phạm vi nội dung nghiên cứu: GDMN nói chung và GDS nói riêng ảnh

hưởng sâu sắc và toàn diện tới mỗi cá nhân Trong đó, nghiên cứu này chỉ đánh giá

sự ảnh hưởng ở 3 mặt là kiến thức, hành vi xã hội và hành vi đạo đức của trẻ Tuy vậy, đây là 3 nhân tố quan trọng nhất xem xét và đánh giá tương đối đầy đủ

7 Các thuật ngữ được sử dụng trong luận văn

- Giáo dục mầm non: là cấp học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, đặt nền móng cho sự phát triển về thể chất, nhận thức, tình cảm xã hội và thẩm mỹ cho trẻ em, gồm hai hình thức là nhà trẻ và mẫu giáo

- Giáo dục sớm (GDS) là quá trình giáo dục có mục đích, có ý thức tác động đến trẻ từ bào thai đến 6 tuổi, nhằm bồi dưỡng, phát triển các tố chất tổng hợp cho trẻ

- Kết quả học tập: trong nghiên cứa này được hiểu là những biểu hiện của trẻ ở trường tiểu học trong cả 3 lĩnh vực: kiến thức (các môn Toán, Tiếng Việt, Khoa học

xã hội), hành vi đạo đức, hành vi xã hội

- Kiến thức: hay còn gọi là tri thức gồm những thông tin, dữ kiện, sự mô tả cùng kỹ năng có được qua các trải nghiệm và học tập các môn văn hoá của học sinh,

gồm các câu hỏi về kiến thức từng học sinh các môn Toán, Tiếng Việt, Khoa học xã hội được đánh giá bởi nhà nghiên cứu, dựa trên chuẩn kiến thức của cấp học

- Hành vi đạo đức: Đây là hệ thống quy tắc điều chỉnh sự tương tác xã hội và quan hệ của từng HS trong lớp học và căn cứ trên các chuẩn mực của xã hội, trẻ sẽ phát triển thái độ đúng đắn

Trang 17

- Hành vi xã hội: bao gồm việc thể hiện các kỹ năng xã hội và hành vi có thể chấp nhận được giữa các nhóm bạn trong lớp học hoặc trong các trò chơi ngoài trời

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, kết cấu luận văn gồm 3

chương:

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý luận

Chương 2: Phương pháp và tổ chức nghiên cứu

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Trang 18

Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu

1.1.1 Giáo dục mầm non ảnh hưởng đến kết quả học tập của học sinh tiểu học

Giáo dục là một trong những yếu tố quan trọng giúp phát triển con người.nói chung và trẻ em nói riêng Quyền cơ bản của mỗi đứa trẻ là được học hỏi và phát triển toàn bộ tài năng thông qua việc tiếp cận bình đẳng về giáo dục và giáo dục có chất lượng bất kể tuổi tác, giới tính, nguồn gốc sắc tộc và xã hội GDMN cung cấp nền tảng giáo dục trong giai đoạn trẻ 0 đến 6 tuổi Việc giáo dục trẻ ở lứa tuổi mầm non có thể được thực hiện tại các cơ sở GDMN, hoặc trẻ được giáo dục tại gia đình, chính thức hoặc không chính thức, trước khi vào trường tiểu học (Nakopia, 2011)

Hơn nữa, GDMN là chìa khóa cho sự phát triển của trẻ và sự phát triển của một quốc gia Do đó, thời thơ ấu là một giai đoạn quan trọng cho sự phát triển của mỗi con người, hình thành nền tảng vững chắc cho việc học tập trong tương lai của trẻ Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng tiềm năng của một người được phát triển khi bốn tuổi và các can thiệp ở trẻ từ sớm có thể có tác động lâu dài đối với năng lực trí tuệ, tính cách và hành vi xã hội Các chương trình hội thảo mà nội dung trọng tâm

là về trẻ em đã chỉ ra rằng những năm đầu của trẻ rất quan trọng cho sự phát triển tâm thần và tâm lý xã hội của trẻ (OECD, 2000)

Giáo dục nên bắt đầu từ sớm, các chuyên gia đưa ra nhận định rằng việc GDMN với chất lượng tốt vẫn là một công cụ thực sự hiệu quả cho sự phát triển suốt đời của trẻ Tương tự, giáo dục là một công cụ không thể thiếu trong xây dựng

và phát triển mỗi quốc gia, là một quá trình đào tạo có hệ thống được thiết kế để truyền tải kiến thức và kỹ năng, để khơi dậy tiềm năng và khả năng giúp cho cá nhân có thể đóng góp hiệu quả cho sự phát triển của xã hội và quốc gia Nó bao gồm tất cả sự phát triển toàn diện của một cá nhân về mặt thể chất, xã hội, đạo đức, trí tuệ, và tinh thần (Osakwe, 2009) Vì thế, giáo dục là quyền của mỗi đứa trẻ và không ai được tước đi quyền được giáo dục vì bất cứ lý do gì Hội nghị thượng đỉnh thế giới với nội dung thảo luận về tình trạng giáo dục trẻ em toàn cầu đã đưa đến

Trang 19

những quyết định thống nhất bao gồm việc mở rộng chăm sóc và giáo dục trẻ thơ trong chương trình Giáo dục toàn cầu cho tất cả trẻ em (Ajayi, 2008)

Điều đáng lưu ý là cần thúc đẩy giáo dục về đạo đức và kỹ năng xã hội cho trẻ mầm non hơn là giáo dục kiến thức, nhưng ngược lại là có nhiều trường hợp chương trình GDMN lại quá chú trọng vào việc giáo dục kiến thức nhiều hơn, (Mitchell,1980) GDMN có vai trò quan trọng, đặt nền móng đầu tiên cho sự phát triển thể chất, trí tuệ, tình cảm, thẩm mỹ của trẻ em Có nhiều nghiên cứu về giáo dục giai đoạn đầu đời của trẻ và sự ảnh hưởng của giáo dục đầu đời đến sự phát triển của trẻ ở thời điểm hiện tại và ảnh hưởng lâu dài ở những giai đoạn sau Trẻ

em có các mạch thần kinh không được kích thích trước khi học mẫu giáo sẽ không bao giờ có được những gì chúng có thể có được, bởi vì sau 3 tuổi, tính mềm dẻo dễ uốn và sự nhạy cảm của não bộ giảm đi, khi đó hiệu quả của giáo dục sẽ không được như mong muốn (Simmons & Sheehan, 1997)

Theo Hiệp hội Giáo dục Quốc gia về trẻ em (NAEYC, 2010), kinh nghiệm học tập thu được trong những năm đầu để lại ấn tượng lâu dài và sâu sắc đến trẻ, việc giáo dục trẻ ở giai đoạn này thường là trách nhiệm chung của gia đình và trường học Mefor (2010) tương tự nói rằng quá trình học hỏi của một đứa trẻ không những chịu ảnh hưởng bởi việc dạy dỗ của cha mẹ ở nhà mà còn chịu ảnh hưởng bởi các giáo viên dạy cho trẻ ở trường Việc giáo dục trẻ tại nhà cũng chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố, như quan điểm của cha mẹ đối với GDMN, kinh tế của gia đình… nhiều gia đình còn phó mặc việc chăm sóc dạy dỗ con cho người giúp việc vốn ít hiểu biết về tâm lý trẻ em Điều này thường gây ra ảnh hưởng không tốt và thậm chí gây tổn thương cho trẻ về mặt tâm lý, nhiều nghiên cứu cho thấy những trẻ chịu sự tổn thương về tâm lý, giáo dục giai đoạn đầu đời sẽ có những hành vi không đúng mực ở những giai đoạn sau như bỏ học hoặc có hành vi hung hăng như bắt nạt, la hét hoặc trường hợp xấu nhất là nghiện ma túy hoặc lạm dụng ma túy được thể hiện do sự giáo dục không tốt trong những năm đầu đời (Peisner & Feinberg, 2004)

Lứa tuổi mầm non thường đề cập đến sáu năm đầu tiên của trẻ Đó là giai đoạn trước khi trẻ bắt đầu học toàn thời gian ở bậc tiểu học, dành cho trẻ em từ 0

Trang 20

đến 6 tuổi GDMN đề cập đến giáo dục bao gồm nhà trẻ và mẫu giáo, trong khi giáo dục tiểu học là giáo dục cho trẻ từ 6 - 10 tuổi trở lên

Nhiều quan điểm đã cho thấy việc đầu tư vào giai đoạn mầm non là đầu tư có hiệu quả nhất, vì chi phí bỏ ra thấp mà thu được hiệu quả cao Đầu tư vào phát triển tuổi thơ là đầu tư với chi phí thấp và có hiệu quả cao nhất Những can thiệp ngay từ sớm cho trẻ em sẽ giúp các em đạt được nhiều thành công khi các em đến tuổi đi học tiểu học và giúp cải thiện sức khỏe cũng như giúp các em phát triển toàn diện Khi trưởng thành, các em sẽ có cơ hội có việc làm tốt hơn, có thu nhập cao hơn, sức khỏe tốt hơn và lệ thuộc ít hơn vào phúc lợi xã hội (Youssouf Abdel Jelil, 2017)

Tuy nhiên, thực tế là GDMN vẫn còn nhiều bất cập, vì ở nhiều nơi, nhiều vùng đặc biệt là những vùng khó khăn thì trẻ em cũng chưa được tiếp cận với chương trình GDMN, đặc biệt là những chương trình GDMN có chất lượng, sự khó khăn về kinh tế, đói nghèo, nhận thức của cha mẹ… khiến cho một số trẻ em không

có cơ hội để tham gia chương trình GDMN; ở cả gia đình và các cơ sở GDMN

Nếu mỗi trẻ có thể được hưởng lợi từ việc giáo dục sớm một cách tốt nhất

do cha mẹ hoặc chuyên gia cung cấp ở nhà hoặc trong môi trường trường học tương ứng, rất có thể nó sẽ có ảnh hưởng đến thành tích học tập, kỹ năng xã hội và hành vi đạo đức của trẻ Tuy nhiên, ngày nay các bậc cha mẹ đều phải đi làm có thể là làm toàn thời gian hoặc bán thời gian Đối với trẻ em có cha hoặc mẹ dành toàn thời gian cho con ở giai đoạn 0 đến 6 tuổi, được yêu thương chăm sóc và giáo dục một cách đầy đủ, giáo dục thời thơ ấu có thể là cơ hội tốt nhất cho những đứa trẻ này phát triển những kỹ năng xã hội quan trọng

Tỷ lệ trẻ em từ 3 đến 6 tuổi được chăm sóc và giáo dục tại các cơ sở giáo dục cao hơn so với trẻ sơ sinh và trẻ mới biết đi Với việc trẻ được tham gia vào GDMN tại các cơ sở giáo dục giúp cả cha mẹ và các chuyên gia giáo dục hiểu được ảnh hưởng của GDMN đến sự phát triển nhận thức, kỹ năng xã hội và tinh thần của trẻ, (Feisner & Feinberg, 2004)

Các nhà tâm lý học như Sigmund Freud và Erik Ericson đã cho rằng những trải nghiệm trong thời thơ ấu của trẻ có ý nghĩa rất lớn cho cuộc sống về sau của các

cá nhân Các hoạt động nuôi dưỡng chăm sóc, giáo dục trẻ thời thơ ấu ảnh hưởng

Trang 21

đến việc hình thành các giá trị, và niềm tin của các cá nhân ngay cả trong cuộc sống sau này Nội dung của kiến thức mà đứa trẻ tiếp xúc ở giai đoạn đầu của cuộc sống

là nền tảng cho giáo dục và đời sống sau này

Anderson (2002) cho rằng GDMN sẽ giúp trẻ phát triển kỹ năng giao tiếp cao, phát triển thể chất và kỹ năng xã hội Miedel và Reynolds (1999) trẻ em được giáo dục tốt ở gia đình trong thời thơ ấu, giúp trẻ thành công khi bước vào trường tiểu học và thậm chí trong cuộc sống sau này

Piaget (1956) đã nói về những ảnh hưởng khác nhau của môi trường GDMN đến sự phát triển ý thức, tâm lý của trẻ tạo điều kiện cho trẻ học tập tốt hơn ở giai đoạn sau Ông cho rằng môi trường GDMN sẽ khuyến khích việc học tập và sự phát triển khả năng nhận thức của trẻ, là chìa khóa để trẻ đạt thành tích học tập tốt ở giai đoạn sau này Do đó cần phải đặc biệt chú ý đến giai đoạn “nhạy cảm” của trẻ, việc GDMN tạo cho trẻ một môi trường thích hợp ngay từ đầu sẽ phát triển tối đa tiềm năng và kỹ năng của trẻ

Do không được chuẩn bị cho việc học đọc, viết nên kết quả là kĩ năng đọc của đa số trẻ bị trì trệ (Trần Nguyễn Nguyên Hân, 2016)

Giáo dục mầm non có ảnh hưởng lâu dài tới trẻ, trong đó giáo dục các môn năng khiếu nghệ thuật cũng có một vai trò đáng kể Giáo dục mỹ thuật có tác dụng

to lớn trong việc phát triển toàn diện, hình thành nhân cách cho trẻ mầm non, đồng thời giúp trẻ phát triển chức năng tâm lý để hình thành ở trẻ tình yêu đối với con người, yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống (Nguyễn Thị Thu Trang, 2017)

Dạy kỹ năng sống cho trẻ mầm non gồm: Kỹ năng chăm sóc vệ sinh cá nhân,

Kỹ năng nhận thức về bản thân Qua nghiên cứu 2 nhóm trẻ, nhóm thực nghiệm được dạy các Kỹ năng sống cơ bản và nhóm đối chứng không được dạy các kỹ năng sống Như vậy, xét về điểm trung bình, nhóm Thực nghiệm cao hơn nhóm Đối chứng đến 1.40, và cao hơn hẳn ở một mức độ; xét về số liệu thống kê cũng cho ta thấy, có sự khác biệt ý nghĩa của nhóm Đối chứng so với nhóm Thực nghiệm ở cả hai kỹ năng Chăm sóc vệ sinh cá nhân và Nhận thức về bản thân (về mặt nhận thức

và thực hiện; mức ý nghĩa nhỏ hơn 0.05) Vì vậy, có thể khẳng định được rằng, các biện pháp thử nghiệm tác động rèn luyện kỹ năng sống cho trẻ 5-6 tuổi là có hiệu quả (Cao Văn Quang, 2012)

Trang 22

Việc xem xét các tài liệu liên quan đến nghiên cứu cho thấy GDMN có ảnh hưởng đáng kể đến sự phát triển thể chất, tinh thần, nhận thức, xã hội và sự phát triển cảm xúc của trẻ, bao gồm cả việc phát triển kỹ năng xã hội và trình độ học vấn Khái niệm GDMN được xem như là giáo dục diễn ra trước khi trẻ chính thức bước vào tiểu học

Tóm lại, đã có nhiều nghiên cứu chỉ ra ảnh hưởng của GDMN đến sự phát triển mọi mặt của trẻ Các nghiên cứu trên thế giới cũng chỉ ra sự khác biệt của những trẻ tham gia vào GDMN và những trẻ không tham gia GDMN

Sử dụng dữ liệu từ các nghiên cứu theo chiều dọc của trẻ em, Susanna et

al (2005) xem xét ảnh hưởng của GDMN đến sự phát triển nhận thức và xã hội của trẻ Để xác định mức độ ảnh hưởng, các tác giả sử dụng phương pháp bình phương nhỏ nhất (OLS), biến công cụ (IV) và kết hợp ước tính Những phát hiện chính đó là: các trung tâm mầm non giúp nâng cao khả năng đọc và tăng điểm toán, nhưng có tác động tiêu cực đối với các biện pháp hành vi xã hội

Tương tự, Magnuson (2004), sử dụng dữ liệu trên toàn quốc theo chiều dọc của trẻ em Hoa Kỳ tham gia trường mầm non năm học 1998 - 1999 và hoàn thành lớp một năm 2000, phân tích xem liệu việc đi học mẫu giáo có làm tăng sự sẵn sàng

đi học ở trường mẫu giáo và liệu có bất kỳ tác động nào kéo dài không Những phát hiện từ biến công cụ ước tính và kết hợp hồi quy chỉ ra rằng việc đi học mẫu giáo làm tăng kỹ năng toán và đọc tại vào mẫu giáo, nhưng cũng liên quan đến sự gia tăng hành vi các vấn đề Hơn nữa, trong khi nhận thức phần lớn mất dần vào đầu lớp một, những tác động tiêu cực đến hành vi trong lớp học thì không Trong thực

tế, lớn nhất và hầu hết các lợi ích học tập lâu dài đã được tìm thấy ở trẻ em có hoàn cảnh khó khăn

Reynold et al (2000) nghiên cứu tác động của trường mầm non công lập từ năm 1983 đến năm 1985 đối với kết quả phát triển của trẻ Các nghiên cứu bao gồm

1150 trẻ nhỏ sống trong nghèo đói Các trung tâm cung cấp dịch vụ cho trẻ em trong độ tuổi từ 3 đến 9 tuổi, đảm bảo sự chuyển tiếp ổn định từ trường mầm non đến trường tiểu học sớm Những đứa trẻ được ghi danh cho các khoảng thời gian khác nhau, cho phép các nhà nghiên cứu kiểm tra các tác động dài hạn của các mức

Trang 23

độ tham gia khác nhau bắt đầu ở các độ tuổi khác nhau Nhóm so sánh 380 trẻ em là chọn ngẫu nhiên từ các trường trong các khu phố nghèo Chương trình mầm non diễn

ra trong nửa ngày và lớp tiểu học là cả ngày Chương trình bao gồm một tập hợp các hoạt động thúc đẩy khả năng toán cơ bản, ngôn ngữ và kỹ năng đọc và khuyến khích phát triển kỹ năng tâm lý và xã hội Nghiên cứu đã theo dõi những người tham gia đến 21 tuổi Kết quả của nghiên cứu chứng minh rằng những đứa trẻ tham gia chương trình này điểm đọc và toán cao hơn hơn những người không tham gia

Goodman et al (2005) đánh giá tác động của GDMN đối với nhận thức và trình độ học vấn đối với trẻ em nước Anh Kết quả cho thấy GDMN mang lại hiệu suất cải thiện điểm ở các bài kiểm tra nhận thức cho trẻ 7 tuổi và vẫn còn có ý nghĩa cho đến 16 tuổi Dựa trên mẫu của 8.500 trẻ em với thông tin bổ sung được hợp nhất từ một điều tra dân số của tất cả các tổ chức GDMN

Cleveland và Krashinsky (1998) cũng đánh giá hiệu quả của GDMN đối với

sự phát triển nhận thức và hành vi ở độ tuổi 5 và 10 của một số loại chương trình mầm non thông thường khác nhau Dựa trên phân tích phương sai kiểm soát nhân tố kinh tế xã hội và yếu tố gia đình, họ thấy rằng GDMN nói chung giúp tăng cường nhận thức cho trẻ ở lứa tuổi 5 và 10 Về vấn đề hành vi, việc đi học mẫu giáo không

có ảnh hưởng đối với trẻ 5 tuổi nhưng sẽ tăng một số loại vấn đề hành vi ở tuổi 10, trong rối loạn hành vi đặc biệt, mặc dù các hiệp hội sau đó là tương đối yếu Nghiên cứu cũng tìm thấy bằng chứng yếu cho lợi ích của giáo dục mẫu giáo lớn hơn một chút đối với trẻ em có hoàn cảnh khó khăn về mặt xã hội, mặc dù sự khác biệt này

là nhỏ so với lợi ích chung của trường mầm non cho tất cả trẻ em

Tại Vương quốc Anh, Sammons et al (2003) đã thực hiện một nghiên cứu quy mô lớn theo dõi trẻ em (2 tuổi trở lên) đi học mầm non Vào trường, họ có kết quả nhận thức tốt hơn (đọc, số và ngôn ngữ) và kỹ năng xã hội, hành vi vượt trội so với các bạn cùng lứa tuổi không đi học mầm non; đi học mẫu giáo lâu hơn dẫn đến tăng nhận thức cao hơn khi vào trường; và lợi ích nhận thức của việc đi học mầm non lớn hơn đối với trẻ em có hoàn cảnh khó khăn

Nghiên cứu của Jacinta, R.M và Rotich, K.S (2015) tập trung vào tác động của GDMN đến việc học của HS trong các trường tiểu học ở Kenya Mục tiêu của

Trang 24

nghiên cứu là 616 giáo viên tại 32 trường tiểu học công lập ở Phân khu Starehe của quận Nairobi Mẫu bao gồm 210 giáo viên được lựa chọn ngẫu nhiên từ các trường tiểu học Dữ liệu được thu thập bằng cách sử dụng bảng hỏi Kết quả cho thấy những HS đã trải qua GDMN đã có thể có được các kỹ năng đếm cơ bản, toán học

và nói HS chưa tham gia GDMN có vấn đề với việc nắm bắt kỹ năng đếm và kỹ năng ngôn ngữ đơn giản Chúng không thể tương tác tốt với các HS khác Các phát hiện cũng cho thấy rằng những HS đã tham gia các lớp học GDMN có thể tương tác với các giáo viên tốt hơn so với những người không tham dự GDMN Nghiên cứu khuyến nghị các bậc cha mẹ nên nhạy cảm về sự cần thiết phải đưa con đến trung tâm GDMN trước khi đưa họ đến các trường tiểu học chính thức

Tassew Woldehanna and Liyousew Gebremedhin (2012) sử dụng dữ liệu từ cuộc khảo sát dọc của Young Lives ở Ethiopia, xem xét ảnh hưởng của việc đi học mẫu giáo đến sự phát triển nhận thức của trẻ em thành thị ở lứa tuổi của 5 và 8 (được đo bằng Bài kiểm tra lĩnh hội từ vựng (PPVT) và Bài kiểm tra nhận thức Đánh giá phát triển - Kiểm tra định lượng (CDA-Q) Tác giả đã chứng minh phân tích sử dụng các phương pháp thực nghiệm khác nhau bao gồm bình phương nhỏ nhất và công cụ phương pháp ước lượng thay đổi Kết quả của chúng tôi cho thấy rằng đi học mẫu giáo có một thống kê tác động tích cực đáng kể đến sự phát triển nhận thức của trẻ em ở độ tuổi cả 5 và 8 năm, với tác động lớn hơn ở tuổi sau Hơn nữa, đi học mẫu giáo cũng có một ảnh hưởng tích cực và có ý nghĩa thống kê đến việc tuyển sinh và tiến bộ của trường tiểu học qua các lớp

Chương trình GDMN thúc đẩy học tập những kỹ năng quan trọng trong giáo dục trẻ em sau này (Cascio, 2004) Những lợi ích từ các can thiệp giáo dục sớm chuyên sâu chất lượng cao tạo điều kiện cho sự phát triển nhận thức mà trong sự gia tăng lâu dài trong thành tích học tập của trẻ em trong trường học sau này (Barnett, 1995; Karoly, 1998; Currie, 2001) Phần lớn các bằng chứng cho thấy rằng sớm giáo dục thời thơ ấu trong năm thứ ba và thứ tư của cuộc đời nâng cao KQHT tại thời điểm nhập học, nhưng những ảnh hưởng đó giảm dần trong năm đầu tiên hoặc hai năm học (Barnett, 1995; Gilliam & Zigler, 2001) Chúng được đánh giá quan

Trang 25

trọng hơn các kỹ năng cụ thể như đặt tên các chữ cái trong bảng chữ cái hoặc đếm

số (Entwisle & Dauber, 1993)

Theo Smith (2003), các chương trình GDMN chuyên sâu, chất lượng cao có tác động tích cực đến phát triển nhận thức, thành tích học tập và hoàn thành Trẻ nhỏ học giỏi nhất thông qua việc tham gia vào các tương tác tự phát và đối ứng, các hoạt động có ý nghĩa và quan tâm các mối quan hệ Do đó, GDMN nên được lên kế hoạch cẩn thận, được bố trí nhân viên lành nghề và được đào tạo người và liên quan đến các nhóm nhỏ với tỷ lệ nhân viên - trẻ em thuận lợi nếu điều đó là tích cực

Tham gia các chương trình ECE kích thích, ấm áp và đáp ứng hỗ trợ trẻ em hứng thú và niềm vui trong học tập và khuyến khích sự tham gia liên tục vào việc học các hoạt động chuẩn bị cho giáo dục tương lai ở trường tiểu học

GDMN nhằm mục đích nâng cao thành tựu giáo dục và phát triển năng lực phù hợp với lứa tuổi mới và cũng cho phép tiếp cận sớm với kiến thức và kỹ năng cải thiện hiệu suất trong những năm đầu tiên của giáo dục tiểu học Duflo (2001) cho thấy rằng học tại trường mầm non có ảnh hưởng tích cực đến lần thứ ba tiếp theo điểm kiểm tra môn tiếng Tây Ban Nha và Toán chuẩn hóa (Berlinski & Galiani, 2006; Gregory, 2004) ước tính rằng một năm GDMN tăng kiểm tra trung bình lớp ba điểm 8% trung bình hoặc 23% độ lệch chuẩn của phân phối điểm kiểm tra Ông còn phát hiện ra rằng việc tham gia hoạt động GDMN ảnh hưởng tích cực đến HS các kỹ năng hành vi như sự chú ý, nỗ lực, tham gia lớp học và kỷ luật

Một nghiên cứu theo chiều dọc thời thơ ấu, Magnuson, Ruhm và Waldfogel (2005) đã phát hiện ra GDMN đó có liên quan đến kỹ năng đọc và toán cao hơn khi vào tiểu học, nhưng những mối tương quan đó đã biến mất vào cuối năm lớp một Hơn nữa, kỹ năng hành vi được ghi nhận là quan trọng như kỹ năng nhận thức đối với thành công trong tương lai (Blau & Currie, 2004)

Những phát hiện trong các nghiên cứu (Sammons et al., 2004; Blau & Currie, 2004) cho thấy rằng trẻ em từ các nhóm dân cư khác nhau được hưởng lợi từ các chương trình giáo dục trước khi vào trường, nhưng đặc biệt, trẻ em có nguy cơ sống trong nghèo đói cao có xu hướng hưởng lợi từ kinh nghiệm ở trường mầm non

Trang 26

Các hoạt động GDMN những năm đầu đời rất quan trọng cho việc tiếp thu các khái niệm, kỹ năng và thái độ đặt ra nền tảng cho việc học tập suốt đời (Cunha et al 2006; Carneiro và Heckman 2003) thời thơ ấu là thời gian phát triển trí não của trẻ,

sự tiến bộ với tốc độ lớn hơn bất kỳ giai đoạn nào khác trong cuộc sống như nhiều cấu trúc và tuyến sinh hóa của não là được phát triển trong hai năm đầu đời (Bruner 1999; Halfon et al, 2001) Heckman (2007) nói rằng sự hình thành kỹ năng dễ dàng hơn ở giai đoạn đầu vì kỹ năng phát triển cùng với phát triển tế bào thần kinh não Các tài liệu về vốn nhân lực, do đó, đặt rất nhiều nhấn mạnh vào tầm quan trọng của GDMN (Heckman và Klenow 1997; Cunha et al 2006)

Một số tác giả đã phát triển một mô hình hình thành kỹ năng cho phép họ đánh giá chính sách giáo dục và đào tạo trong vòng đời của một người (Heckman 2000; Carneiro và Heckman 2003; Cunha et al 2006) Cái nhìn sâu sắc quan trọng của mô hình này là sự hình thành các kỹ năng là một quá trình vòng đời thể hiện cả năng suất bản thân và bổ sung, trong đó giáo dục đạt được ở một giai đoạn là đầu vào của quá trình học tập ở giai đoạn tiếp theo, ngụ ý rằng các kỹ năng là tự củng

cố Tương tự, năng suất đầu tư ở một giai đoạn giáo dục được chuyển thành các kỹ năng có giá trị là tích cực bị ảnh hưởng bởi mức độ kỹ năng mà một người đã đạt được trong các giai đoạn trước đó, ngụ ý rằng các kỹ năng được tạo ra ở một giai đoạn sẽ nâng cao năng suất đầu tư vào lần sau các giai đoạn Cùng nhau, các tính năng tự năng suất và bổ sung này tạo ra một kỹ năng hệ số nhân theo đó đầu tư vào giáo dục ở một giai đoạn không chỉ trực tiếp nâng cao các kỹ năng đạt được ở giai đoạn đó, nhưng cũng gián tiếp tăng năng suất giáo dục đầu tư ở giai đoạn tiếp theo

sẽ được chuyển thành các kỹ năng tiếp theo (Carneiro và Heckman, 2003; Cunha et

al 2006; Woessmann 2006)

Gregory (2004) lập luận rằng những năm GDMN là quan trọng nhất đối với việc dạy trẻ cách yêu thích học tập Ngoài ra, trẻ cũng học cách giao tiếp với những người khác, làm thế nào để bày tỏ cảm xúc của họ và làm thế nào để phát triển giáo dục sáng tạo của họ khả năng Thành công ở trường mầm non tạo nền tảng cho trẻ sau này học tập và sự phát triển cảm xúc Blau và Currie (2004) và Heckman (2006) cho rằng việc tham dự trường mầm non tăng điểm trung bình, tham gia lớp học, kỹ

Trang 27

năng hành vi, xã hội hóa và tự chủ trong các trường tiểu học Hơn nữa, kỹ năng hành vi cũng quan trọng như như kỹ năng nhận thức để thành công trong tương lai

trong cuộc sống

Mục đích của GDMN là cung cấp một loạt dịch vụ giáo dục và xã hội cho trẻ

em Chương trình GDMN được thiết kế để nâng cao phúc lợi chung và tăng cường

sẵn sàng đi học, để những đứa trẻ này có thể đạt được nói chung, toàn bộ lợi ích của trải nghiệm học đường của họ và thành công hơn trong cuộc sống (Barnett, 1995) Do đó, phần lớn trẻ em được cung cấp các kinh nghiệm chăm sóc và giáo dục từ những người lớn khác ngoài cha mẹ trong những năm quan trọng để phát triển trí não và học tập (Cục điều tra dân số Hoa Kỳ, 2003) Thực tế, có một số lo ngại rằng tách biệt tuổi tiền tiểu học trẻ em từ mẹ của chúng trong khi chúng đang

làm việc có thể có ảnh hưởng bất lợi đến sự phát triển trẻ (Clive & Belfield, 2004) 1.1.2 Giáo dục sớm của cha mẹ ảnh hưởng đến kết quả học tập của học sinh ở bậc tiểu học

Trong một nghiên cứu về vai trò của cha mẹ đối với hoạt động GDS cho trẻ mầm non có ảnh hưởng đến KQHT của trẻ ở bậc tiểu học, nghiên cứu đã cho thấy mối tương quan giữa sự tham gia của phụ huynh đối với GDS giúp trẻ có sự phát triển về kỹ năng ngôn ngữ và đọc viết ở trẻ nhỏ (Britto, 2011) Cha mẹ tham gia vào GDS đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển về cả kết quả học tập và không học tập (ví dụ như đi học, hạnh kiểm, và kỹ năng hoạt động điều hành) ở trẻ em lứa tuổi mẫu giáo Sự tham gia của cha mẹ đối với GDS tiếp tục ảnh hưởng tích cực đến thành tích học tập tốt của trẻ khi đến trường tiểu học, trung học cơ sở và thậm chí trung học phổ thông (Sanders & Sheldon, 2009) Sự tham gia của cha mẹ đối với GDS là rất quan trọng đối với sự phát triển hành vi xã hội và tình cảm của trẻ, về việc trẻ có những hành vi phù hợp trong trường học (Sanders & Sheldon, 2009) Cha mẹ có một vai trò quan trọng như vậy đối với sự phát triển ban đầu của trẻ, sự tham gia của họ có tác động lớn cả trong và ngoài trường học Vì sự tham gia của phụ huynh có liên quan đến các vấn đề vủa trẻ ở trường, trẻ em có nhiều khả năng tuân theo các quy tắc của trường hơn và có một sự trải nghiệm thành công ở trường với sự tham gia nhiều hơn của phụ huynh Nhiều nhà nghiên cứu (Reynolds, 1989),

Trang 28

Supplee, Shaw, Hailstones, & Hartman, 2004) cũng cho thấy mối tương quan tích cực giữa sự tham gia của cha mẹ và hoạt động xã hội Cùng với đó, trải nghiệm học tập tại nhà của trẻ ảnh hưởng đến sự phát triển kỹ năng đọc viết sớm (Melhuish & Phan, 2008)

Dựa trên nghiên cứu theo chiều dọc của Dự án Trẻ em có Năng lực, Wylie et

al (2003) phân tích ảnh hưởng của kinh nghiệm GDS về nhận thức, xã hội, giao tiếp, và năng lực giải quyết vấn đề Nghiên cứu cũng xem xét ảnh hưởng của gia đình, hoạt động gia đình, và tham gia vào trường học trên các mặt tương tự Vì vậy,

kể từ năm 1993, các nhà nghiên cứu đã thu thập dữ liệu phát triển trên 500 trẻ em và trẻ em được đánh giá khi chúng 12 và 14 tuổi Kết quả từ nghiên cứu chỉ ra rằng tuổi bắt đầu của GDS là có ý nghĩa trong việc ảnh hưởng đến kỹ năng nhận thức Trẻ được tham gia học tập GDS trước 2 tuổi đạt điểm số cao hơn trong toán học, sự tò mò và đọc hiểu Ngoài ra, trình độ học vấn của cha mẹ và thu nhập gia đình ảnh hưởng đến khả năng đọc viết và điểm số toán học của trẻ em Một nghiên cứu ở Nepal (2001) cũng chỉ ra rằng trẻ được tham gia các hoạt động GDS khiến cho tỷ lệ bỏ học và lưu ban giảm xuống ít hơn hơn một phần năm so với trước đây

Một nghiên cứu để điều tra xem sự tham gia của phụ huynh đối với GDS ảnh hưởng thế nào đến kết quả học tập và thành công của học sinh ở trường Mầm non Nghiên cứu này bao gồm 26 trẻ em mẫu giáo và cha mẹ của chúng Nhà nghiên cứu

đã sử dụng một chương trình dựa trên đo lường, AIMSweb và IGDI’s (Các chỉ số

về Tăng trưởng và Phát triển Cá nhân cho Trẻ sơ sinh và Trẻ mới biết đi), một biện pháp đánh giá được sử dụng để theo dõi và đánh giá sự phát triển khả năng đọc viết sớm ở trường mầm non của trẻ Một phiên bản sửa đổi của Bảng câu hỏi dự án có

sự tham gia của phụ huynh (PIPQ) cũng được sử dụng để xác định xem có mối tương quan tích cực giữa sự tham gia của phụ huynh và thành tích của học sinh hay không Kết quả của nghiên cứu chỉ ra rằng có sự tương quan thống kê với việc xây dựng vai trò của phụ huynh, nhưng thành tích của học sinh đó không tương quan thống kê với bất kỳ thang điểm nào từ phụ huynh khảo sát sự tham gia Vì kết quả dựa trên tự báo cáo và bao gồm cỡ mẫu tương đối nhỏ, kết quả của nghiên cứu có thể không phù hợp với phần lớn các nghiên cứu đã xuất bản liên quan đến sự tham

Trang 29

gia của phụ huynh và thành tích của học sinh, do tính chất chủ quan của nó Hoặc,

có lẽ đối với một số sinh viên, có thể là các yếu tố khác có ảnh hưởng hơn sự tham gia của phụ huynh (Kimberly McDowell, Ashlie Jack, 2018)

Sự tham gia của phụ huynh thường được coi là một con đường mà thông qua

đó nâng cao thành tích học tập của những trẻ có học lực kém (Berger, 1991) Do đó,

sự tham gia của phụ huynh được khuyến khích bởi giáo viên, nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc trẻ em, các nhà hoạch định chính sách, và các nhà nghiên cứu (Parent

Involvement and Children's Academic and Social Development in Elementary

tự đọc Kinh thánh Điều này có nghĩa là việc dạy trẻ biết đọc sớm ở độ tuổi mầm non sẽ là một lợi thế rất lớn cho xã hội

Dựa trên ý tưởng này, người tiếp theo cống hiến cho những khởi đầu của GDS

là John Amos Comenius (1592 - 1670), ông tin tưởng sâu sắc rằng việc học của trẻ là dựa trên khám phá giác quan Comenius viết quyển truyện tranh đầu tiên để giúp trẻ biết đọc Sau đó, John Locke (1632 - 1704), người sáng tác ra cụm từ nổi tiếng “blank slate”, hay còn gọi là tấm bảng trắng để mặc định rằng tấm bảng ấy chính là điểm khởi đầu của trẻ và môi trường sẽ lấp đầy “tấm bảng” ấy của trẻ ra sao

Người có tầm ảnh hưởng lớn là Friedrich Froebel (1782 - 1852), tin rằng trẻ học thông qua chơi Ông đã thiết kế ra một chương trình đào tạo giảng dạy mà ở đó, ông nhấn mạnh tầm quan trọng của việc quan sát và phát triển các chương trình cũng như các hoạt động dựa trên mức độ kỹ năng và sẵn sàng của trẻ Froebel bắt đầu xây dựng nền tảng mầm non và thành lập trường mầm non đầu tiên

Phát triển xa hơn từ khái niệm này, Maria Montessori (1870 - 1952) đã xem trẻ là một nguồn kiến thức và xem người dạy như một kỹ sư xã hội Coi giáo dục

Trang 30

như một phương cách để đẩy mạnh ý nghĩa cuộc sống của trẻ, môi trường học cũng quan trọng như chính việc học, bà đã xác định rằng tri giác của trẻ nên được giáo dục trước rồi mới đến trí tuệ

Jean Piaget (1896 - 1980) đã thành lập ra một học thuyết về việc học mà ở đó việc phát triển của trẻ được chia ra thành các giai đoạn (vận động giác quan, tiền hoạt động, hoạt động cụ thể -sensory motor, preoperational, concrete operation) Piaget đặt ra lý thuyết rằng trẻ học thông qua các tương tác tích cực và trực tiếp với môi trường xung quanh

Lev Vygotsky (1896 - 1934) lại đề cao vị trí văn hóa - xã hội đối với sự phát triển của trẻ Ông cho rằng tác động qua lại của xã hội là phương tiện cho sự phát triển nhận thức, ngôn ngữ và xã hội của trẻ Vygotsky tin rằng trẻ học thông qua việc tạo bước đệm gợi ý cho kỹ năng của trẻ; nghĩa là giáo viên, hoặc cha mẹ, hoặc bạn đồng lứa có kiến thức vượt trội hơn có thể giúp một đứa trẻ hoàn thành nhiệm

vụ của mình trong tầm khả năng của chúng, hoặc thậm chí là cao hơn khả năng vốn

có của đứa trẻ đó, hay còn gọi là vùng phát triển gần nhất (ZPD) Vygotsky nhấn mạnh sự cộng tác và thực hiện trong một nhóm có các độ tuổi khác nhau sẽ hỗ trợ rất nhiều cho việc thu nhận kiến thức/kỹ năng của trẻ

John Dewey (1859 - 1952) tin tưởng sâu sắc rằng việc học nên bắt nguồn từ

sự thích thú của trẻ, là tiền đề cho phương pháp tiếp cận với dự án Người dạy có nhiệm vụ kích thích trẻ đam mê khám phá và đặt câu hỏi Dewey coi lớp học là nơi nuôi dưỡng những hiểu biết về xã hội và do đó, lớp học nên được hoạt động một cách dân chủ

Rudolf Steiner (1861 - 1925), người xây dựng lên triết lý giáo dục và các trường học Waldorf, thì tập trung vào phát triển trẻ như các cá thể tự do và đạo đức với trình độ năng lực xã hội cao Steiner chia ra thành ba quá trình phát triển của trẻ:

Từ mầm non đến 6 tuổi (giáo dục trải nghiệm), từ 6 - 14 tuổi (giáo dục phổ thông),

và trên 14 tuổi (giáo dục trung học)

Erik Erikson (1902 - 1994) các quá trình phát triển tâm lý của trẻ mà cha mẹ

và người dạy đóng vai trò nòng cốt trong việc nuôi dưỡng sự thành công của trẻ ở từng quá trình để có một kết quả tích cực Erikson nhấn mạnh rằng quy định về sự phát triển cảm xúc xã hội là một yếu tố chủ chốt của chương trình học mầm non

Trang 31

Loris Malaguzzi (1920 - 1994), người sáng lập ra phương pháp Reggio Emilia, có cơ sở trông trẻ đầu tiên mở ở thị trấn Reggio Emilia, là một minh chứng cho niềm yêu thích và học tập của trẻ nhỏ mà rất nhiều các nhà giáo dục học đã áp dụng phương pháp này vào trong chương trình học của họ sau này

David Weikart (1931 - 2003), người sáng lập ra phương pháp HighScope, đã đúc rút từ lý thuyết của Piaget, Dewey và Vygotsky, đã tập trung vào sự trưởng thành trí óc của trẻ Bước ngoặt mà khiến cho HighScope có giá trị là dự án tiền tiểu học Perry năm 1962 Một nghiên cứu lâm sàng đối chứng ngẫu nhiên của 123 trẻ có trình

độ kỹ năng tương đương nhau tham gia nghiên cứu, được chia thành hai nhóm, một nhóm được hoạt động theo phương pháp HighScope, còn nhóm còn lại thì theo phương pháp truyền thống Các kết quả chỉ ra rằng có sự gia tăng về thành công trong học tập, sự đi lên trên con đường học vấn và mức lương cao hơn cho nhóm này

Nhìn chung, tất cả các nhà lý luận GDS đều muốn đạt được một mục tiêu chung là nhìn thấy trẻ phát triển thành công khi học tiểu học Mỗi cấu trúc chương trình giảng dạy sẽ có một cách khác nhau để đạt được mục tiêu đó

Giáo dục tuổi ấu thơ hay giáo dục cho trẻ nhỏ là khái niệm chỉ việc giáo dục trong những năm tháng đầu của cuộc đời, từ khi sinh ra đến khi 8 tuổi, một

trong những giai đoạn nhạy cảm nhất trong cuộc đời con người (Wikipedia, 2017)

Giáo dục sớm hay giáo dục từ sớm là phương pháp giáo dục được bố mẹ áp dụng cho con ngay từ khi mới chào đời, mục đích của phương pháp này không phải

là để biến những đứa trẻ trở thành thiên tài hay thần đồng Mục đích là để các bậc cha mẹ hiểu được tầm quan trọng của việc nuôi dạy con từ sớm, từ đó biết cách nuôi dạy con để phát huy tối đa những khả năng và tố chất mà con cái của mình có, giúp con cái mình có nền tảng vững chắc về sức khỏe, trí tuệ, và nhân cách và sau này trở thành những người có ích cho xã hội

Giáo dục sớm là “quá trình giáo dục kích thích chức năng của não bộ”, nhằm mục đích “khai thác tiềm năng lớn của não bộ”, là “quá trình bồi dưỡng nên nền tảng tính cách của mỗi con người”, GDS “cần phải được bắt đầu từ quá trình thai giáo” (Phùng Đức Toàn, 2011)

Khái niệm “Giáo dục sớm” rất dễ bị hiểu nhầm thành giảng dạy, truyền đạt kiến thức hay giải đáp thắc mắc của trẻ và phương pháp GDS cũng rất dễ bị thực

Trang 32

hành sai thành ép hay tạo áp lực cho trẻ Hiện nay, GDS cũng hay bị đánh đồng thành dạy trẻ biết đọc sớm hay làm toán sớm trong khi bản chất chúng hoàn toàn không phải là mục tiêu mà chỉ là hệ quả của việc GDS Bởi vì bản chất của GDS không phải

là giáo dục theo cấp, giáo dục nghĩa vụ, giáo dục kiến thức, mà là phát triển tối đa tiềm năng của con người trong giai đoạn ban đầu bằng phương pháp giáo dục tự nhiên học mà chơi, chơi mà học một cách khoa học

Mục tiêu hàng đầu của giáo dục hiện đại không còn gói gọn đơn thuần ở việc dạy trẻ những kiến thức sẵn có, mà chính là dạy trẻ kỹ năng tự học suốt đời Trẻ có

kỹ năng tự học suốt đời sẽ dễ dàng thích nghi, phát triển một cách tích cực và nổi trội trong cuộc sống sau này Kỹ năng tự học suốt đời thể hiện ở sự đam mê học tập,

tò mò, và có óc phân tích

Giáo dục sớm chính là giáo dục nhằm bồi dưỡng tố chất qua đó giúp trẻ có

sự phát triển nổi trội về cả về phẩm chất trí tuệ và phẩm chất phi trí tuệ (tính cách, ý chí, nhân cách, sáng tạo, dễ dàng thích nghi, thói quen sinh hoạt, có kỹ năng tự học suốt đời thể hiện ở sự đam mê học tập, tò mò, và có óc phán đoán phân tích…) Giáo dục sớm bắt đầu từ giáo dục gia đình trong thời kỳ sớm vô cùng quan trọng,

nó giúp trẻ phát triển tối đa tiềm năng trí tuệ, bồi dưỡng nhân cách cao đẹp, khai mở tri thức cho trẻ ngay từ khi mới lọt lòng mẹ, tạo nền móng vững chắc cho sự phát triển lâu dài trong suốt cuộc đời

Giáo dục sớm là một bước đột phá của khoa học giáo dục mới, hiện đại, tập trung trong giai đoạn vàng từ 0 (thai nhi) đến 6 tuổi - thời kỳ phát triển nhanh nhất của não bộ, nhằm cung cấp những kích thích, trải nghiệm để sản sinh ra nhiều kết nối thần kinh trên bộ não trẻ, giúp trẻ đạt được những tiềm năng tối đa Nếu bỏ qua

cơ hội chỉ đến một lần trong đời của trẻ thì tiềm năng não bộ của trẻ sẽ giảm dần theo quy luật "Sử dụng nó hoặc đánh mất nó - Use it or lose it "!

Từ các khái niệm về GDS trên, tác giả lựa chọn khái niệm GDS cho nghiên cứu này: Giáo dục sớm là quá trình giáo dục có mục đích, có ý thức tác động đến trẻ

từ bào thai đến 6 tuổi, nhằm bồi dưỡng, phát triển các tố chất tổng hợp cho trẻ Trong nghiên cứu này, GDS không được hiểu là việc dạy trẻ trước kiến thức, mà được hiểu là quá trình bồi dưỡng tố chất tổng hợp cho trẻ

Trang 33

Nội dung GDS là một chuỗi các hoạt động kích thích, tác động đến các giác quan của trẻ trẻ từ 0 đến 6 tuổi, cần phải tạo một “môi trường chất lượng cao”, cho trẻ, quá trình GDS là quá trình phát triển các tố chất tổng hợp cho trẻ, bao gồm cả việc phát trển các năng lực ngôn ngữ, năng lực tính toán, năng lực giao tiếp cho trẻ Quá trình này cần đảm bảo tuân theo tâm sinh lí lứa tuổi của trẻ và phù hợp với nhận thức của trẻ

1.2.2 Vai trò của cha mẹ đối với hoạt động giáo dục sớm cho con trẻ

Nhiều nhà tâm lý học, giáo dục học Xô viết nổi tiếng như: Côvaliov A.G (1994), Kruchesky V.A (1981), Daparogiet A.V (2000), Ganperin P.Ia (1978), Levitov A.D (1971), Leonchiep A.N (1989), Platônôp K.K (1976) trong các công trình của mình đã khẳng định nền tảng của nhân cách một con người đều bắt đầu từ gốc rễ gia đình Trong quá trình xã hội hóa cá nhân, sự giáo dục của gia đình đóng vai trò cơ bản và quyết định Gia đình là môi trường xã hội hóa quan trọng bậc nhất của cá nhân, là môi trường chính yếu hình thành nên nhân cách của cá nhân Tại gia đình, trẻ được nuôi dưỡng, chăm sóc và được dạy bảo những điều đầu tiên, sơ đẳng

để sống làm người Ở tuổi ấu thơ, gia đình là cả thế giới, bố mẹ là những tấm gương của trẻ Đó là nơi mỗi cá nhân nhận được các ảnh hưởng từ di truyền, môi trường sống và định hướng giáo dục để phát triển nhân cách Các tác giả đều nhấn mạnh,

để việc giáo dục ở gia đình có hiệu quả thì gia đình phải phối hợp với nhà trường và cộng đồng để có sự thống nhất trong giáo dục

Macrenco A C (1978), trong cuốn “Nói chuyện về giáo dục gia đình” đã chỉ

rõ tầm quan trọng của cha mẹ trong việc làm gương để con cái noi theo Ông nhấn mạnh về sự đồng nhất quan điểm giáo dục của cha với mẹ, của mọi người trong gia đình và sự đồng nhất quan điểm đối với phương pháp giáo dục gia đình và nhà trường Macrencô A C đặc biệt quan tâm đến việc giáo dục trẻ vị thành niên phải được bắt đầu ngay từ tuổi mầm non Ông cho rằng, nếu tuổi trẻ không được gia đình giáo dục ngay từ đầu thì công việc cải tạo sẽ tốn hơn rất nhiều công sức không chỉ của gia đình, mà của cả xã hội

Leonchiep A.N (1989) trong cuốn “Hoạt động, ý thức, nhân cách” đã khẳng định các yếu tố ảnh hưởng đến nhân cách con người trong đó yếu tố về mặt sinh học

Trang 34

di truyền được coi là cơ sở và yếu tố môi trường gia đình ảnh hưởng lớn đến sự phát triển mỗi cá nhân Ông nhấn mạnh hoạt động của mỗi cá nhân sẽ trở nên tích cực và hiệu quả hơn khi cá nhân được môi trường giáo dục gia đình và nhà trường cộng tác đồng nhất

Hujala, Turja, Gaspar, Veisson, & Waniganayake (2009) có nghiên cứu

“Nhận thức của giáo viên mầm non về mối quan hệ gia đình - nhà trường tại 5 nước Châu Âu; Pirchio, Tritrini, Taeschner, & Passiatore (2013) có công trình

“Vai trò của mối quan hệ giữa phụ huynh và nhà giáo dục cho hành vi và hạnh phúc của trẻ em”

Pena, Silva, Claro, Gamarra, & Parra (2008) trong nghiên cứu “Giao tiếp với cha mẹ và gia đình La tinh” mặc dù nghiên cứu liên quan tới HS Châu Mỹ Latinh, tuy nhiên kết quả thu được của tác giả Pena và các cộng sự cũng cho thấy một số điểm tương đồng trong việc chỉ ra các chiến lược thành công nhằm tăng cường sự tham gia của phụ huynh HS vào quá trình chăm sóc, giáo dục con trẻ Cần thiết lập môi trường giáo dục ấm áp, quan tâm và đầy khích lệ Cung cấp các hình thức liên lạc cá nhân và trực tiếp thông qua điện thoại hoặc gặp mặt nhằm giúp đỡ và hỗ trợ phụ huynh HS cùng tham gia các hoạt động

Một nghiên cứu của University, T.P.S (2017) có tên “Hoạt động tham gia của phụ huynh cải thiện kết quả đầu ra cho trẻ mầm non” đã phân tích điều quan trọng nhất đó là việc hiểu rõ được thời lượng tham gia của bố mẹ và hình thức tham gia như thế nào là phù hợp do mức độ thường xuyên của sự liên hệ có mối quan hệ chặt chẽ tới chất lượng phối hợp giữa gia đình, nhà trường và cộng đồng trên cả thực tế lẫn trong nhận thức của giáo viên

Xukhomlinxki V.A (1981) trong cuốn “Giáo dục con người chân chính như thế nào” cho rằng giáo dục gia đình có ảnh hưởng to lớn đến đạo đức con trẻ Trong giáo dục đạo đức, việc hình thành tình cảm tinh tế như ân cần, chu đáo, lòng vị tha giữ một vai trò to lớn Ông đề cao môi trường xã hội tác động đến quá trình sống của đứa trẻ và chỉ ra vai trò của cộng đồng xã hội đối với quá trình giáo dục Sau này, Crupxkaia N.K, Macarenco A.X cũng nghiên cứu về giáo dục gia đình Từ đó,

họ đã đưa ra những lời khuyên cho các bậc cha mẹ trong việc giáo dục trẻ em qua

Trang 35

các tác phẩm nổi tiếng: “Về giáo dục gia đình” (Crupxkaia N.K), “Sách dành cho các bậc cha mẹ” (Macarenco A.X)

Pê-sec-ni-cô-va I.A (1980) trong tác phẩm “Dạy con yêu lao động” đã nhấn mạnh muốn con cái của chúng ta phát triển khỏe mạnh và có phẩm chất vui tươi, yêu đời để có thể lớn lên cống hiến được nhiều cho xã hội, thì lúc còn nhỏ phải được giáo dục về lao động (lao động học tập, lao động trong gia đình và lao động xã hội ) bởi phẩm chất đạo đức hình thành ở trẻ em, trước hết là trong quá trình lao động Ông chỉ ra các lao động vừa sức của trẻ ở gia đình, nhà trường và tham gia lao động cho cộng đồng

Daparogiet A.V (2000) trong cuốn “Những cơ sở giáo dục học mẫu giáo” đã chỉ rõ vai trò của sự phối hợp giữa giáo dục gia đình, nhà trường và xã hội đối với

sự phát triển các mặt đạo đức, trí tuệ, tình cảm, thể chất của trẻ Tác giả đã phân tích

rõ sự ảnh hưởng đến từng mặt của nhân cách trẻ

Guerra, M., & Luciano, E (2010) trong nghiên cứu “Chia sẻ trách nhiệm trong giáo dục: Mối quan hệ giữa giáo viên và phụ huynh trong dịch vụ và nhà trường dành cho trẻ từ 0 - 6 tuổi” đã khẳng định gia đình là môi trường giáo dục đầu tiên của trẻ và liên tục có những tác động, ảnh hưởng đến việc học tập và phát triển của trẻ trong giai đoạn đến trường cũng như sau này Trong khi đó, nhà trường có trách nhiệm quan trọng trong việc giúp đỡ, nuôi dưỡng và dạy dỗ thế hệ trẻ Nhà trường huy động gia đình và xã hội tham gia giáo dục trẻ Việc này đòi hỏi phải có

sự tin tưởng từ phía gia đình đối với nhà trường nhằm mang lại những nền tảng giáo dục căn bản và cần thiết nhất cho tương lai của bé Ngược lại, nhà trường cũng cần nhận ra vai trò quan trọng của gia đình đối với việc chăm sóc, giáo dục trẻ Điều này cho thấy tầm quan trọng của sự phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong việc chăm sóc, giáo dục trẻ Các bằng chứng đều cho thấy mối quan hệ giữa gia đình và nhà trường tốt sẽ làm tăng hiệu quả giáo dục cũng như tạo ra sự trao đổi, hiểu biết lẫn nhau nhiều hơn giữa những người chăm sóc trẻ

Pirchio et al., (2013) trong nghiên cứu “Vai trò của mối quan hệ giữa phụ huynh và nhà giáo dục cho hành vi và hạnh phúc của trẻ em” đã khẳng định khi bố

Trang 36

mẹ có thể mang đến sự chăm sóc, nuôi dưỡng và những hỗ trợ mang tính chiến lược cho việc học tập, họ có thể thúc đẩy sự phát triển trí não của trẻ theo những cách có thể nâng cao năng lực học tập cho trẻ, xây dựng sự tập trung, trí nhớ, kỹ năng giải quyết vấn đề ở những năm đầu đời

Theo Vưgotsky L.X (1997), phần lớn những điều quan trọng trẻ học được diễn ra thông qua tương tác xã hội với người hướng dẫn Đứa trẻ cố gắng hiểu được những hành động hoặc lời chỉ dẫn do người hướng dẫn đưa ra Người hướng dẫn thường là cha mẹ hoặc thầy cô Vưgotsky L.X đề xuất rằng ngôn ngữ cá nhân là sản phẩm của môi trường xã hội mà cá nhân sinh sống Do vậy, gia đình cần tạo ra môi trường kích thích phát triển trí tuệ và ngôn ngữ cho trẻ Ngoài ra, Vưgotsky còn đưa ra lý thuyết về “vùng phát triển gần” (zone of proximal development) Trong

đó, ông đã cho rằng hầu hết mỗi đứa trẻ đều có “vùng tiềm năng” Nếu được hỗ trợ của nhà giáo dục, của người lớn xung quanh hay bạn chơi lớn hơn và dưới sự hoạt động nỗ lực, trải nghiệm tích cực của chính bản thân trẻ thì tiềm năng đó sẽ được bộc lộ thành hiện thực Như vậy, nhà giáo dục ông hướng tới đó là gia đình, nhà trường và cộng đồng xung quanh

Albright, M.I., Weissberg, R.P., & Dusenbury, L.A (2011) trong “Chiến lược phối hợp gia đình - nhà trường nhằm nâng cao kỹ năng xã hội, cảm xúc và học thuật cho trẻ đã chỉ ra rằng nâng cao kiến thức, kỹ năng về xã hội và cảm xúc của cha mẹ và giáo viên góp phần tạo nên mô hình hiệu quả trong việc phát triển kỹ năng và kiến thức tương ứng ở trẻ Khi cha mẹ và giáo viên cùng sử dụng những chiến thuật tương tự nhau trong chăm sóc và giáo dục trẻ, việc chuyển tiếp giữa các hoạt động ở nhà cũng như ở trường sẽ trở nên dễ dàng hơn, tạo nên tính nhất quán, đồng bộ và liên tục, qua đó phát triển được các nhóm kỹ năng cho trẻ

Trong các công trình “Giáo dục trong gia đình Mác” của Petrecnhicova (1977), “Giáo dục các con trong gia đình” của Ambacdian (1977); “Nói chuyện về giáo dục gia đình” của A.Macarenco (1978) khẳng định việc giáo dục con cái trong gia đình phải được bắt đầu ngay từ thời thơ ấu Nếu công tác giáo dục gia đình không được thực hiện sớm, việc “cải tạo” sẽ tốn rất nhiều công sức không chỉ của gia đình, mà cả xã hội phải quan tâm

Trang 37

“Khoa học giáo dục con em trong gia đình” của Ủy ban Thiếu niên nhi đồng Trung ương (1979) giới thiệu một số quan điểm về giáo dục xã hội chủ nghĩa, nhấn mạnh vai trò, đặc điểm của giáo dục gia đình, cung cấp những cơ sở lí luận, những nội dung và yêu cầu của giáo dục gia đình đối với thế hệ trẻ

“Dạy con nên người” của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (1991) cung cấp cho các bậc cha mẹ những hiểu biết cần thiết về gia đình, về trách nhiệm làm cha, làm mẹ trong việc giáo dục con cái nên người, trên những mặt cơ bản của nội dung giáo dục: Đức, trí, thể, mỹ và lao động, mà các thế hệ làm cha mẹ luôn hướng tới

Công trình “Gia đình và vấn đề giáo dục gia đình” của Trung tâm nghiên cứu khoa học về gia đình và phụ nữ (1994) nghiên cứu về gia đình Việt Nam và việc thực hiện các chức năng của gia đình, một số vấn đề chủ yếu trong nghiên cứu gia đình Việt Nam Những vấn đề lý luận, phương pháp luận của việc thực hiện các chức năng của gia đình Việt Nam hiện nay, những vấn đề kiến nghị về chính sách đối với vai trò của giáo dục gia đình trong sự hình thành và phát triển nhân cách con người Việt Nam

“Vai trò của gia đình trong việc xây dựng nhân cách con người Việt Nam” (1996) do tác giả Lê Thi làm chủ biên đề cập đến vai trò của gia đình trong bối cảnh cuộc cách mạng khoa học và công nghệ trong những năm cuối thế kỷ XX đang đem đến những tiến bộ vượt bậc cho cuộc sống của cá nhân, gia đình, xã hội cả về vật chất và tinh thần Tác giả khẳng định, sự phát triển ổn định của xã hội không thể tách rời sự phát triển của con người và vai trò của gia đình trong việc bồi dưỡng,

đào tạo nguồn nhân lực, xây dựng nhân cách con người

Trang 38

Kiến thức hay còn gọi là tri thức gồm những thông tin, dữ kiện, sự mô tả cùng

kỹ năng có được qua các trải nghiệm và học tập các môn văn hoá của học sinh, gồm các câu hỏi về kiến thức từng học sinh các môn Toán, Tiếng Việt, Khoa học xã hội được đánh giá bởi nhà nghiên cứu, dựa trên chuẩn kiến thức của bậc học

Giáo dục sớm không phải là việc dạy trẻ trước kiến thức, tuy nhiên trong nội dung GDS là quá trình bồi dưỡng tố chất tổng hợp cho trẻ, cũng bao hàm cả việc phát triển các năng lực cho trẻ như: năng lực ngôn ngữ, năng lực Toán học, năng lực khoa học cho nên, trong quá trình GDS cho trẻ cũng bao gồm cả việc dạy trẻ học đọc, dạy trẻ làm toán, dạy trẻ thu nhận tri thức bách khoa, quá trình này có thể được tiến hành tự nhiên và phải đảm bảo với tâm sinh lí lứa tuổi của trẻ, cần tôn trọng “nhịp điệu tự nhiên” của mỗi trẻ, (Maria Montessori, 2014) Quá trình dạy kiến thức về ngôn ngữ có thể “dạy trẻ bằng những danh từ vốn có”, “người mẹ hãy làm hết khả năng để dùng danh từ vốn có nói chuyện với con” (Kato Kumiko, tr 24)

Trí thông minh của trẻ gồm có 3 chân là: khả năng làm toán, khả năng ngôn ngữ, và khả năng thu nhận tri thức bách khoa (Glenn Doman, 2011)

Giáo dục sớm có tác động tích cực tới thành tích học tập của trẻ Việc dạy trẻ

kỹ năng đọc sớm giúp phát triển khả năng chú ý, khả năng quan sát, bồi dưỡng trí nhớ, phát triển khả năng tư duy và tưởng tượng, bồi dưỡng khả năng và thói quen tự học (Phùng Đức Toàn, 2012)

Trẻ nhỏ có thể học đọc một cách dễ dàng và trẻ càng nhỏ thì việc học đọc lại càng dễ dàng hơn Việc dạy trẻ đọc sớm tác động tích cực và lâu dài tới sự phát triển của trẻ (Glenn Doman và Janet Doman, 2011)

Do không được chuẩn bị cho việc học đọc, viết nên kết quả là kĩ năng đọc của

đa số trẻ bị trì trệ (Trần Nguyễn Nguyên Hân, 2016)

Giáo dục mầm non có ảnh hưởng lâu dài tới trẻ, trong đó giáo dục các môn năng khiếu nghệ thuật cũng có một vai trò đáng kể Giáo dục mỹ thuật có tác dụng

to lớn trong việc phát triển toàn diện, hình thành nhân cách cho trẻ mầm non, đồng thời giúp trẻ phát triển chức năng tâm lý để hình thành ở trẻ tình yêu đối với con người, yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống (Nguyễn Thị Thu Trang, 2017)

Campbell và cộng sự (2002) cũng xem xét hiệu quả của Dự án Abecedarian,

đó là một trung tâm thí nghiệm khoa học về hành vi nhận thức và không nhận thức

Trang 39

của trẻ em Bắt đầu từ những năm 1970, cuộc nghiên cứu đã theo dõi 111 trẻ em ở những gia đình da màu có thu nhập thấp tại Bắc Carolina Trước khi được 6 tháng tuổi, một nửa số em bé này bắt đầu tham gia vào chương trình chăm sóc đặc biệt được thiết kế để áp dụng phương pháp GDS Gương được treo trong cũi để các bé

có thể tự nhìn thấy bản thân Các bé cũng được cho tiếp xúc và chơi với một loạt vật thể xoay tròn Khi lớn hơn một chút, các bé sẽ được thử thách với các trò chơi như ghép đôi hình ảnh, màu sắc Cùng với việc chăm sóc, giáo dục mỗi ngày 8 tiếng, 5 ngày 1 tuần, 2 lần mỗi ngày, các bé sẽ được dùng những bữa ăn đầy đủ dinh dưỡng Các bé cũng luôn được quan tâm chăm sóc y tế ngay tại chỗ Nhóm các bé còn lại được xem là nhóm kiểm soát Các bé không phải tham gia vào chương trình đặc biệt mỗi ngày nhưng vẫn được cung cấp các loại thực phẩm chức năng nhiều dinh dưỡng, các dịch vụ xã hội và vẫn được chăm sóc y tế như nhóm trước Kết quả nghiên cứu cho thấy: những bé đã tham gia vào chương trình chăm sóc đặc biệt có điểm số tốt hơn trong bài kiểm tra trí tuệ so với những bé không tham gia Chúng cũng cho thấy khả năng đọc và làm toán tốt hơn trong những năm đi học và rất có khả năng sẽ học đến cao đẳng và có được việc làm tốt

1.2.3.2 Hành vi đạo đức

Hành vi đạo đức là những hành động mà mỗi người phải tuân theo hệ thống các

quy tắc xử sự, các chuẩn mực đạo đức mà xã hội đề ra

Tuy nhiên, hành vi đạo đức là mối quan tâm của mọi bậc cha mẹ, dạy trẻ phân biệt đúng sai và cư xử phù hợp Hành vi đạo đức cũng có thể được coi là một vấn đề phức tạp tồn tại từ khi nền văn minh nhân loại bắt đầu là một chủ đề thảo luận giữa hầu hết các nhà tâm lý học, nhà thần học và nhà lý luận văn hóa nổi tiếng như Jean Piaget, người đã khám phá cách trẻ em phát triển lý luận đạo đức Ông từ chối những ý tưởng mà trẻ em học hỏi và nội tâm hóa các quy tắc và đạo đức của xã hội bằng cách đưa ra quy tắc và buộc phải tuân thủ chúng (Miller, 1993)

Nhiều nhà nghiên cứu như Beresford Miller (1992), đã tập trung vào cách hành vi của trẻ em được hình thành từ những quan sát của chúng về các mô hình vai trò trong thế giới xung quanh Những vai trò này - người mẫu bao gồm các đồng nghiệp, nhân vật trong truyền thông và những người khác ngoài cha mẹ của họ

Trang 40

Trên thực tế, các nhà nghiên cứu thường chứng minh rằng những hành vi tích cực

và tiêu cực của người khác có thể được bắt chước bởi trẻ em Có bằng chứng cho thấy hành vi xã hội của trẻ em (ví dụ: mua sắm, giúp đỡ và chăm sóc) có thể được tăng lên bằng cách quan sát các mô hình thể hiện chính những hành vi đó

Theo cách tương tự, nhìn thấy người khác hành xử theo cách chống đối xã hội có khả năng khuyến khích các hành vi tiêu cực Chẳng hạn, trong một loạt thí nghiệm nổi tiếng vào thập niên 1960, Albert Bandura đã chứng minh rằng những đứa trẻ quan sát thấy một người lớn cư xử thô bạo với một con búp bê đồ chơi và chúng bắt đầu bắt chước hành vi bạo lực mà chúng quan sát trước đó Mối liên kết này giữa những gì bạn thấy xung quanh bạn và những gì bạn tự làm, củng cố nhiều mối quan tâm của mọi người về bạo lực trên truyền hình, mặc dù đây vẫn là một chủ đề gây tranh cãi trong cả cuộc tranh luận công khai và học thuật (Miller, 1992)

Nếu trẻ em học các kiểu hành vi đạo đức từ người khác, có hợp lý không khi cho rằng cách chúng nghĩ về các tình huống đạo đức cũng bị ảnh hưởng bởi các yếu

tố xã hội Một số bằng chứng được tìm thấy trong các nghiên cứu đa văn hóa về lý luận của trẻ em về những tình huống khó xử về đạo đức Ví dụ, hãy tưởng tượng rằng một người đàn ông sắp bắt một chuyến tàu để đến đám cưới của người bạn thân nhất của anh ta Nhưng trong nhà ga xe lửa, ví và vé tàu của anh đã bị đánh cắp Anh ta sau đó nhìn thấy cơ hội để đánh cắp một vé từ người khác Anh ta có nên ăn cắp vé để đến đám cưới của bạn mình không? Một nghiên cứu của Joan Muller và David Beroff (1992), cho thấy rằng khi phải đối mặt với những tình huống khó xử này, người Ấn Độ và người Mỹ (8, 12 và 21 tuổi) có sự khác nhau về lựa chọn của họ Trung bình 84% người Ấn Độ đã chọn đáp ứng các nghĩa vụ xã hội của họ (ví dụ: phục vụ như một người đàn ông tốt nhất trong đám cưới) ngay cả khi điều đó có nghĩa là phá vỡ một nguyên tắc công lý (ví dụ: bằng cách ăn cắp) Nhưng chỉ có 39% người Mỹ có xu hướng giải quyết các vấn đề nan giải theo cách này Loại bằng chứng này cho thấy rằng niềm tin của trẻ em về đạo đức ít nhất được định hình một phần bởi các hệ thống giá trị của xã hội nơi chúng được nuôi dưỡng Đạo đức đó được hình thành bởi hệ thống giá trị của xã hội và cá nhân

Mặc dù có bằng chứng này, ý thức đạo đức của trẻ em phát triển bằng cách quan sát người khác và nội tâm hóa các giá trị và chuẩn mực mà chúng nhận thấy

Ngày đăng: 08/04/2021, 16:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ambacdian (1977). Giáo dục các con trong gia đình. Nhà xuất bản Kim Đồng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục các con trong gia đình
Tác giả: Ambacdian
Nhà XB: Nhà xuất bản Kim Đồng
Năm: 1977
2. Hồ Thị Hải Âu (2015). Mẹ Việt dạy con bước cùng toàn cầu. NXB Lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mẹ Việt dạy con bước cùng toàn cầu
Tác giả: Hồ Thị Hải Âu
Nhà XB: NXB Lao động
Năm: 2015
3. A.Macarenco (1978). Nói chuyện về giáo dục gia đình. Nhà xuất bản Kim Đồng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nói chuyện về giáo dục gia đình
Tác giả: A.Macarenco
Nhà XB: Nhà xuất bản Kim Đồng
Năm: 1978
4. Côvaliov A.G. (1994). Tâm lí học cá nhân. NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lí học cá nhân
Tác giả: Côvaliov A.G
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1994
5. Daparogiet A.V. (2000). Những cơ sở giáo dục học Mẫu giáo. Trường đại học sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những cơ sở giáo dục học Mẫu giáo
Tác giả: Daparogiet A.V
Năm: 2000
6. Ganperin P.Ia (1978). Quá trình hình thành trí tuệ. Tâm lí học Xô viết, NXB 30 Tiến bộ, Matxcơva (tr 351-396) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quá trình hình thành trí tuệ
Tác giả: Ganperin P.Ia
Nhà XB: NXB 30 Tiến bộ
Năm: 1978
7. Glenn Doman và Janet Doman (2011). Dạy trẻ biết đọc sớm. NXB lao động 8. Glenn Doman và Janet Doman (2011). Dạy trẻ Thế giới xung quanh. NXB lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy trẻ biết đọc sớm". NXB lao động 8. Glenn Doman và Janet Doman (2011)
Tác giả: Glenn Doman và Janet Doman (2011). Dạy trẻ biết đọc sớm. NXB lao động 8. Glenn Doman và Janet Doman
Nhà XB: NXB lao động 8. Glenn Doman và Janet Doman (2011). "Dạy trẻ Thế giới xung quanh. NXB lao động
Năm: 2011
9. Lê Hải, Chung Dĩnh Thanh, Nguyễn Thị Hoàng Hợp, Trần Thị Bích Tuyền (2014). Thực trạng giảng dạy Aerobic cho trẻ 5 - 6 tuổi tại một số trường mầm non trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. Tạp chí Khoa học Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng giảng dạy Aerobic cho trẻ 5 - 6 tuổi tại một số trường mầm non trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Lê Hải, Chung Dĩnh Thanh, Nguyễn Thị Hoàng Hợp, Trần Thị Bích Tuyền
Năm: 2014
10. Trần Nguyễn Nguyên Hân (2015). Tổ chức hoạt động dạy toán nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề của trẻ mầm non. Tạp chí Khoa học Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức hoạt động dạy toán nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề của trẻ mầm non
Tác giả: Trần Nguyễn Nguyên Hân
Năm: 2015
11. Trần Nguyễn Nguyên Hân (2016). Làm quen chữ viết cho trẻ mầm non – quan điểm khoa học và thực tiễn ở trường mầm non. Tạp chí Khoa học Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làm quen chữ viết cho trẻ mầm non – quan điểm khoa học và thực tiễn ở trường mầm non
Tác giả: Trần Nguyễn Nguyên Hân
Năm: 2016
12. Lưu Vệ Hoa, Trương Hân Vũ (2008). Em phải đến Harvard học kinh tế. NXB Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Em phải đến Harvard học kinh tế
Tác giả: Lưu Vệ Hoa, Trương Hân Vũ
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 2008
14. Kathy Hirsh và cộng sự (2012). Để con bạn giỏi như Einstein. NXB Tổng hợp TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Để con bạn giỏi như Einstein
Tác giả: Kathy Hirsh và cộng sự
Nhà XB: NXB Tổng hợp TPHCM
Năm: 2012
15. Kruchesky V.A. (1981). Những cơ sở của tâm lí học sư phạm. NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những cơ sở của tâm lí học sư phạm
Tác giả: Kruchesky V.A
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1981
16. Levitov A. D. (1971). Tâm lý học trẻ em và tâm lý học sư phạm. NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học trẻ em và tâm lý học sư phạm
Tác giả: Levitov A. D
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1971
17. Leonchiep A.N. (1989). Hoạt động, Ý thức, Nhân cách. NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động, Ý thức, Nhân cách
Tác giả: Leonchiep A.N
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1989
18. Macrencô A.C. (1978). Nói chuyện về giáo dục gia đình. NXB Kim Đồng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nói chuyện về giáo dục gia đình
Tác giả: Macrencô A.C
Nhà XB: NXB Kim Đồng
Năm: 1978
20. Pê-sec-ni-cô-va I.A (1980). Dạy con yêu lao động. NhXB Phụ nữ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy con yêu lao động
Tác giả: Pê-sec-ni-cô-va I.A
Năm: 1980
21. Petrecnhicova (1977). Giáo dục trong gia đình Mác. NXB Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục trong gia đình Mác
Tác giả: Petrecnhicova
Nhà XB: NXB Thanh niên
Năm: 1977
3. Barnett, S. (1995). Long-Term Effects of Early Childhood Programs on Cognitive and School Outcomes. The Future of Children, 25-50.http://dx.doi.org/10.2307/1602366 Link
12. Duflo, E. (2001). Schooling and Labor Market Consequences of School Construction in Indonesia: Evidence from an Unusual Policy Experiment. American Economic Review, 91, 795-813. http://dx.doi.org/10.1257/aer.91.4.795 Link

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w