Vai trò của trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng từ thực tiễn tỉnh Cao Bằng.Vai trò của trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng từ thực tiễn tỉnh Cao Bằng.Vai trò của trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng từ thực tiễn tỉnh Cao Bằng.Vai trò của trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng từ thực tiễn tỉnh Cao Bằng.Vai trò của trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng từ thực tiễn tỉnh Cao Bằng.
Trang 1VIỆN HÀN LÂMKHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NÔNG THỊ THU TRANG
VAI TRÒ CỦA TRỢ GIÚP PHÁP LÝ TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG TỪ THỰC TIỄN
TỈNH CAO BẰNG
Ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 8.38.01.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS HỒ QUANG HUY
Hà Nội, 2020
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, được thực hiệndưới sự hướng dẫn của TS Hồ Quang Huy Các số liệu cũng như những kếtluận nghiên cứu được trình bày trong luận văn này là hoàn toàn trung thực
Tôi hoàn toàn xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan trên
Học viên
Nông Thị Thu Trang
Trang 3DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
TGPL: Trợ giúp pháp lý
TGVPL: Trợ giúp viên pháp lý HĐPHLN: Hội đồng phối hợp liên ngành
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRỢ GIÚP PHÁP LÝ VÀ TRỢ GIÚP PHÁP LÝ TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG 9
1.1. Một số vấn đề lý luận về trợ giúp pháp lý 9
1.2. Một số vấn đề lý luận về trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng 18
1.3. Quy định hiện hành về trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng 33
1.4. Vai trò của trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng 40
1.5. Kinh nghiệm quốc tế về trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng và những bài học kinh nghiệm 43
Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TRỢ GIÚP PHÁP LÝ TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG TẠI TỈNH CAO BẰNG 49
2.1. Khái quát đặc điểm của công tác trợ giúp pháp lý tại tỉnh Cao Bằng 49
2.2. Vai trò của trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng tại tỉnh Cao Bằng 54 2.3. Một số tồn tại, hạn chế của công tác trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng tỉnh Cao Bằng và nguyên nhân 61
Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP NÂNG CAO VÀ PHÁT HUY VAI TRÒ TRỢ GIÚP PHÁP LÝ TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG TẠI TỈNH CAO BẰNG 66
3.1. Phương hướng 66
3.2. Giải pháp 68
KẾT LUẬN 75
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
Trang 5MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày 20/6/2017, tại kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa XIV, Luật Trợ giúppháp lý (viết tắt là TGPL) năm 2017 đã được thông qua với tỷ lệ 100% đạibiểu Quốc hội có mặt tán thành Luật TGPL năm 2017 đã bám sát các chủtrương, đường lối của Đảng, chính sách của nhà nước về xóa đói, giảm nghèo,đền ơn đáp nghĩa và quan điểm về quyền con người, quyền công dân trongHiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 nhằm bảođảm quyền con người, quyền công dân trong giai đoạn phát triển mới, đápứng yêu cầu cải cách tư pháp, cải cách hành chính, xây dựng Nhà nước phápquyền xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế Luật TGPL năm 2017 đã khắcphục cơ bản những bất cập, hạn chế của hoạt động TGPL trong thời gian qua,cũng như nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về TGPL, tinh gọn tổchức thực hiện TGPL của Nhà nước, chú trọng tính bền vững của công tácTGPL theo hướng lấy người được TGPL làm trung tâm, kiểm soát chặt chẽchất lượng dịch vụ TGPL, đề cao hiệu quả sử dụng ngân sách và khuyếnkhích sự đóng góp, hỗ trợ tài chính của xã hội cho hoạt động TGPL, tạo cơ sởpháp lý cho công tác TGPL phát triển bền vững, thể hiện đúng bản chất củaTGPL là bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người dân, đưa hoạt động TGPLvào nhiệm vụ trọng tâm là thực hiện vụ việc TGPL, đặc biệt là các vụ việctham gia tố tụng Trong khi đó, qua nhiều năm thực hiện cải cách tư pháp,chất lượng hoạt động điều tra, truy tố và xét xử đã từng bước đáp ứng đượcyêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp Nghị quyết 49-NQ/TW của BộChính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 cũng tiếp tục khẳngđịnh một trong những nhiệm vụ cụ thể của cải cách tư pháp là “ xác định rõhơn vị trí, quyền hạn, trách nhiệm của người tiến hành tố tụng và người tham
5
Trang 6gia tố tụng theo hướng bảo đảm tính công khai, dân chủ, nghiêm minh; nângcao chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa xét xử, coi đây là khâu đột phá củahoạt động tư pháp” [12] Các quan điểm chỉ đạo quan trọng này cho thấy, việcnâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa là hoạt động có tính cấp thiết vàmang tính quyết định đối với việc đổi mới hoạt động tư pháp Và đó cũngchính là điều kiện để trợ giúp viên pháp lý (viết tắt là TGVPL) và luật sư kýhợp đồng thực hiện TGPL có điều kiện tham gia tố tụng được thuận lợi hơn,hiệu quả hơn, đồng thời các quyền bào chữa, bảo vệ của bị cáo, đương sựđược đảm bảo hơn trên thực tế Từ đó vai trò của TGPL trong hoạt động tốtụng ngày càng được coi trọng, vị trí của TGVPL và luật sư ký hợp đồng cộngtác thực hiện TGPL được nâng cao, tham gia ngày càng sâu hơn vào các lĩnhvực tố tụng.
Tuy nhiên, tại tỉnh Cao Bằng, chất lượng thực hiện TGPL trong hoạtđộng tố tụng vẫn còn một số hạn chế, cụ thể là: nhận thức về TGPL nói chung
và TGPL trong hoạt động tố tụng nói riêng của một bộ phận cán bộ làm côngtác tiến hành tố tụng còn hạn chế; Số lượng vụ việc tham gia tố tụng còn rấtthấp so với số lượng án phải giải quyết của các cơ quan tiến hành tố tụng vàchỉ tập trung vào các vụ án hình sự mà chưa chú trọng đến các vụ án dân sự,hành chính; Công tác phối hợp thực hiện TGPL giữa Trung tâm và các cơquan tiến hành tố tụng đôi khi chưa chặt chẽ, việc cung cấp các bản sao bản
án, quyết định tố tụng chưa kịp thời, đặc biệt là cung cấp các bản án phúcthẩm; Chất lượng vụ việc TGPL chưa được nâng cao, việc quản lý, đánh giáchất lượng vụ việc đôi khi chưa bảo đảm thực chất; Nhận thức của một sốlãnh đạo cơ quan tiến hành tố chưa đồng đều, toàn diện; Sự phản hồi về chấtlượng tham gia TGPL của đội ngũ TGVPL và Luật sư tham gia TGPL chưađược thường xuyên, chất lượng tham gia tố tụng chưa đồng đều Chính vì
Trang 7vậy, công tác TGPL trong hoạt động tố tụng tại địa bàn tỉnh vẫn chưa phát huyđược toàn diện, đầy đủ ý nghĩa, vai trò và hiệu quả trên thực tế.
Xuất phát từ lý luận và thực tiễn hoạt động tại địa phương, tác giả đã
lựa chọn đề tài: “Vai trò của trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng từ
thực tiễn tỉnh Cao Bằng” làm đề tài luận văn tốt nghiệp.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
- Đề tài "Mô hình tổ chức và hoạt động TGPL, phương hướngthực hiện trong điều kiện hiện nay" (Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ), doViện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp chủ trì thực hiện, Chủ nhiệm Đề tài: TS
Tạ Thị Minh Lý Đề tài đã tập trung nghiên cứu về cơ sở lý luận, mục đích, ýnghĩa của hoạt động TGPL; thực trạng tổ chức và hoạt động TGPL, từ đó
đề xuất các phương hướng hoàn thiện tổ chức và hoạt động này trongthời gian tới
- Luận án tiến sĩ "Điều chỉnh pháp luật về trợ giúp pháp lý ở Việt Namtrong điều kiện đổi mới" của Tạ Thị Minh Lý, năm 2008 Luận án tập trungnghiên cứu cơ sở lý luận, pháp lý của điều chỉnh pháp luật và điều chỉnh phápluật về TGPL; thực trạng điều chỉnh pháp luật về TGPL vàphương hướng hoàn thiện việc điều chỉnh pháp luật về TGPL trong điềukiện đổi mới
- Luận văn thạc sĩ: “Các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động trợgiúp pháp lý” của tác giả Nguyễn Bích Ngọc, năm 2012 Luận văn tập trungnghiên cứu đánh giá thực trạng và hiệu quả tổ chức và hoạt động TGPL ở ViệtNam trong thời gian qua, phát hiện những hạn chế, khó khăn, vướng mắc, bấtcập và nguyên nhân để có giải pháp hoàn thiện
- Luận văn thạc sĩ: “Hoạt động TGPL của Luật sư ở Việt Nam hiệnnay” của Trần Thị Việt Hà, năm 2015 tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận, pháp
lý, thực trạng pháp luật và hoạt động TGPL của Luật sư Việt Nam Đưa
Trang 8ra một số yêu cầu và giải pháp nhằm nâng cao vai trò của Luật sư trong hoạt động TGPL ở Việt Nam.
- Luận văn thạc sĩ: “Người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi chođương sự là TGVPL trong tố tụng hình sự” của Nguyễn Thu Phương, năm
2015 tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận, pháp lý, thực trạng thực hiện TGPLtrong vai trò người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi cho đương sự củaTGVPL, đưa ra những giải pháp nâng cao hiêu quả hoạt động bào chữa, bảo
vệ quyền lợi cho đương sự trong tố tụng hình sự của TGVPL
- Các bài viết, bài nghiên cứu về trợ giúp pháp lý: Vai trò của TGPLtrong đảm bảo thực hiện quyền con người trong hoạt động tố tụng – Phan ThịBích Thủy trong trang thông tin điện tử của Sở Tư pháp Quảng Bình; Vai tròcủa TGVPL trong hoạt động tố tụng – Thanh Trịnh; Vai trò của TGVPL trong
tố tụng dân sự - Thanh Hà; Vai trò của TGVPL trong tố tụng dân sự - Thanh
Hà mục nghiên cứu, trao đổi – Trang thông tin điện tử của Cục Trợ giúp pháplý; Vai trò của TGVPL với tư cách người bào chữa tại phiên tòa hình sự -Nguyễn Thị Nga, Trang thông tin điện tử Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu; Vai tròcủa TGVPL và luật sư cộng tác viên trong hoạt động tố tụng trên địa bàn tỉnhQuảng Nam – Lê Hằng Vân - Trang thông tin điện tử Sở Tư pháp tỉnh Quảng
Nam; Vai trò của TGPL trong hoạt động tố tụng - Ngọc Hải-Phan Thủy (báo
Quảng Bình)
Nội dung các bài viết, bài nghiên cứu trên đã đưa ra những cơ sở lýluận về vai trò của TGVPL trong việc tham gia tố tụng, từ đó chỉ ra những ưuđiểm, hạn chế và đề xuất một số giải pháp để nâng cao vai trò, chất lượng,hiệu quả công tác của TGVPL trong giải quyết vụ án tố tụng nói riêng và hoạtđộng tham gia tố tụng nói chung Đặc biệt trong danh mục bài viết đã nêu ra
có bài viết của tác giả Ngọc Hải - Phan Thủy đăng trên báo Quảng Bình vớitiêu đề "Vai trò của trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng", bài viết cũng đã
Trang 9nêu bật được một số vai trò cùng với một số giải pháp nâng cao hiệu quả côngtác trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng, tuy nhiên, đánh giá một cáchkhách quan, chưa có bài viết cũng như luận văn có nội dung nghiên cứu mộtcách toàn diện về vai trò của hoạt động TGPL về cả vai trò hoạt động củangười thực hiện cũng như tổ chức thực hiện TGPL trong hoạt động tố tụng,đặc biệt là tại địa bàn miền núi, điều kiện kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn,nguồn lực dành cho công tác này vẫn còn hạn chế Với ý nghĩa đó, việcnghiên cứu đề tài “Vai trò của trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng từthực tiễn tỉnh Cao Bằng” là cần thiết, có ý nghĩa về cả mặt lý luận và thực tiễn
để từ đó góp phần tìm ra những định hướng, cũng như giải pháp nâng cao vaitrò của TGPL trong hoạt động tố tụng một cách toàn diện trong thời gian tới
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận của pháp luật về thực hiệnTGPL trong hoạt động tố tụng và thực tiễn thực hiện tại tỉnh Cao Bằng, luận vănđưa ra những giải pháp nhằm tháo gỡ những vướng mắc, khó khăn nhằm thựchiện tốt hơn nữa vai trò của TGPL trong hoạt động tố tụng tại tỉnh Cao Bằng
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích đã nêu ra ở trên, luận văn có những nhiệm vụ sau:Thứ nhất, nghiên cứu và làm rõ những vấn đề lý luận về TGPL, địa vị,vai trò, nhiệm vụ của tổ chức thực hiện TGPL và người thực hiện TGPL tronghoạt động tố tụng
Thứ hai, phân tích những quy định pháp luật tố tụng và pháp luật cóliên quan về vai trò của TGPL trong các hoạt động tố tụng cụ thể
Thứ ba, làm rõ thực trạng thực hiện quy định pháp luật cũng như hoạtđộng thực tiễn về vai trò của TGPL trong hoạt động tố tụng tại địa bàn tỉnhCao Bằng Chỉ ra những két quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân
Trang 10Thứ tư, đề xuất phương hướng, các giải pháp nâng cao và phát huy vaitrò của TGPL trong hoạt động tố tụng tại tỉnh Cao Bằng trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận, pháp lý và thựctrạng vai trò của TGPL trong hoạt động tố tụng từ thực tiễn tỉnh Cao Bằng
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận,pháp lý về TGPL bao gồm nghiên cứu về vai trò của tổ chức thực hiện TGPL,người thực hiện TGPL, việc thực hiện TGPL trong các lĩnh vực tốt tụng cụ thểtrong hoạt động tố tụng
Về thời gian: Nguồn số liệu giai đoạn từ năm 2018 – 2019 (từ khi LuậtTrợ giúp pháp lý năm 2017 có hiệu lực thi hành ngày 01/01/2018 đến ngày31/12/2019)
Về không gian: Luận văn nghiên cứu vai trò của TGPL trong hoạt động
tố tụng từ thực tiễn tại địa bàn tỉnh Cao Bằng
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩaMác – Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng và Nhà nước
về thực hiện chính sách bảo vệ quyền con người, quyền công dân
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn thực hiện dựa trên việc sử dụng các các phương pháp thuthập, xử lý số liệu, thống kê, phân tích, so sánh, tổng hợp và phân tích thôngtin … để giải quyết những vấn đề đã đặt ra Cụ thể:
Tại chương 1 trình bày những vấn đề lý luận về trợ giúp pháp lý và trợgiúp pháp lý trong hoạt động tố tụng, tác giả sử dụng phương pháp thu thập,
Trang 11phân tích, tổng hợp để đưa ra những luận điểm, căn cứ và lập luận đối với cácvấn đề trong nội dung đề tài.
Tại chương 2, để có thể đánh giá một cách khách quan, chính xác thựctrạng công tác trợ giúp pháp lý tại địa bàn tỉnh Cao Bằng, tác giả đã sử dụngcác phương pháp thu thập, xử lý số liệu, thống kê, phân tích, so sánh, tổnghợp kết quả số liệu các vụ việc trong thực tế của Trung tâm TGPL
Tại chương 3, để có thể đưa ra phương hướng, giải pháp thiết thực, đạthiệu quả cao, trên cơ sở kết quả nghiên cứu, tác giả chủ yếu đã sử dụngphương pháp phân tích, tổng hợp và phân tích thông tin
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Luận văn là công trình nghiên cứu có hệ thống ở cấp độ một luận vănthạc sĩ đầu tiên ở tỉnh Cao Bằng về vai trò của TGPL trong hoạt động tố tụng.Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, luận văn góp phần hệ thốnghóa lý luận về vai trò của TGPL trong hoạt động tố tụng, đánh giá thực trạng
về vai trò của TGPL trong hoạt động tố tụng tại tỉnh Cao Bằng từ đó đưa ranhững giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao và phát huy vai trò của TGPL tronghoạt động tố tụng tại địa bàn tỉnh Cao Bằng trong thời gian tới
Bên cạnh đó, luận văn sẽ là một tài liệu tham khảo cần thiết không chỉcho các nhà lập pháp, nhà nghiên cứu, các cán bộ giảng dạy pháp luật, cáchọc viên cao học khác mà còn là tài liệu phục vụ cho đội ngũ những ngườithực hiện trợ giúp pháp lý trong quá trình triển khai thực hiện nhiệm vụ củamình trong thực tế
7. Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, nội dung luận văn được kết cấu thành 3chương Cụ thể:
Chương 1 Vấn đề lý luận về TGPL và TGPL trong hoạt động tố tụng.
Trang 12Chương 2 Thực tiễn thực hiện vai trò của TGPL trong hoạt động tố
tụng tại tỉnh Cao Bằng
Chương 3 Phương hướng, giải pháp nâng cao vai trò của TGPL trong
hoạt động tố tụng tại tỉnh Cao Bằng
Trang 13Chương 1 VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRỢ GIÚP PHÁP LÝ VÀ TRỢ GIÚP PHÁP LÝ TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG
1.1. Vấn đề lý luận về trợ giúp pháp lý
1.1.1. Khái niệm trợ giúp pháp lý
Theo Từ điển Anh - Việt của tác giả Lê Khả Kế, Nxb Khoa học xã hội,
1997 thì “Legal aid” được dịch là “Trợ cấp pháp lý” Ngoài ra, trong một số tài liệu khác dịch "Legal aid" là “hỗ trợ pháp luật”, “hỗ trợ pháp lý” hoặc
“hỗ trợ tư pháp” Như vậy, có rất nhiều cách dịch khác nhau về thuật ngữ này Xuất phát từ bản chất và hình thức hoạt động “Legal aid” trên thế giới và thực tiễn hoạt động này ở Việt Nam trong thời gian qua, thuật ngữ “Legal aid” được dịch là“trợ giúp pháp lý” đang được sử dụng chính thức trong các văn
bản pháp luật và nhiều tài liệu chính thống khác ở nước ta hiện nay
Trợ giúp pháp lý là một loại hoạt động phúc lợi xã hội được khởi nguồn
từ nước Anh và đã có một lịch sử hơn 500 năm Ngay từ thế kỷ 15, pháp luậtAnh quốc đã quy định: “cần dành cho người nghèo khổ sự giúp đỡ để họ đượchưởng quyền lợi mà pháp luật ban cho Năm 1495, vua Henry VII trong mộtnghị án đã có quy định cụ thể hơn về vấn đề này: "chính nghĩa" cần đượcdành chung cho người nghèo và những người thực hiện quyền tự do họ đượchưởng - điều đó không có gì thay thế được
Tuy nhiên, trước thế kỷ 20, TGPL mới manh nha tại các nước vì khi đónhà nước tư bản phát triển rất mạnh, phúc lợi xã hội kém, TGPL mới chỉ dừnglại ở ý tưởng của một số nhà chính trị tiến bộ, chứ chưa triển khai có tổ chức
Ở một số nước châu Âu theo hệ thống luật án lệ như ở Anh, thì xuất phát từyêu cầu phải có luật sư bảo vệ và quyền được xét xử công bằng, xuất phát từcông lý đòi hỏi nhằm tránh những vụ án oan nên ban đầu là các luật sư vớinghĩa vụ bảo đảm công lý đã giúp các bên trên cơ sở tự nguyện, thiện nguyện
Trang 14Theo quy tắc và hướng dẫn của Liên hợp quốc về tiếp cận TGPLtrong hệ thống tư pháp hình sự thì thuật ngữ TGPL bao gồm hoạt động tưvấn pháp luật, giúp đỡ và đại diện cho người bị giam giữ, người bị bắt hoặc
tù nhân, người bị tình nghi hoặc bị buộc tội hoặc phạm tội hình sự và chonạn nhân, nhân chứng trong quá trình tư pháp hình sự miễn phí cho nhữngngười có điều kiện kinh tế khó khăn hoặc theo yêu cầu của công lý Hơnnữa, TGPL cũng bao hàm cả khái niệm giáo dục pháp luật, tiếp cận thông tinpháp lý và cung cấp các dịch vụ khác cung cấp cho mọi người, tuy nhiênkhông phải thực hiện độc lập mà thông qua cơ chế giải quyết tranh chấp vàquá trình tư pháp phục hồi
Ở nước ta, TGPL ra đời khá muộn so với lịch sử nền tư pháp Việt Nam.Hoạt động này được nghiên cứu từ năm 1995 và ra đời vào những năm cuốicủa thế kỷ XX (1997) trên nền tảng những thành tựu phát triển của nhữngnăm đầu đổi mới, sự kiểm nghiệm thành công của những định hướng đúngđắn được vạch ra trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độlên chủ nghĩa xã hội và sự phát triển của dịch vụ pháp lý Cùng với việc xâydựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nướcpháp quyền của dân, do dân và vì dân; nhu cầu giúp đỡ pháp luật của nhândân ngày một tăng đã trở thành động lực quan trọng mang tính quyết địnhthúc đẩy sự ra đời và phát triển của hoạt động TGPL
Ngày 06/9/1997, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số734/TTg về việc thành lập hệ thống tổ chức TGPL cho người nghèo, đốitượng chính sách, thành lập Cục TGPL thuộc Bộ Tư pháp Theo đó, CụcTGPL được thành lập thuộc Bộ Tư pháp, vừa có chức năng giúp Bộ trưởng
Bộ Tư pháp quản lý nhà nước về TGPL, vừa trực tiếp thực hiện TGPL trongtrường hợp cần thiết Ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Trung tâmTGPL trực thuộc Sở Tư pháp được thành lập để tham mưu cho Ủy ban nhân
Trang 15dân tỉnh quản lý và thực hiện hoạt động TGPL tại địa phương Và cũng chínhtrong Quyết định này, thuật ngữ TGPL được sử dụng chính thức tuy nhiên,phải đến khi Luật TGPL năm 2006 ban hành thì khái niệm TGPL mới được đềcập một cách chính thức (tại Điều 3).
Trên cơ sở nghiên cứu những kinh nghiệm xây dựng tổ chức và hoạtđộng TGPL của các nước trên thế giới đã có từ hàng trăm năm nay và thựctiễn hoạt động TGPL ở Việt Nam trong thời gian qua, chúng ta có thể đưa raquan niệm chung về TGPL một cách đầy đủ, thể hiện những đặc trưng cơ bảncủa nó Theo quan niệm chung hiện nay thì TGPL được hiểu là việc cung cấpdịch vụ pháp lý miễn phí của Nhà nước và xã hội bằng các hình thức tư vấnpháp luật, tham gia tố tụng, đại diện ngoài tố tụng, hoà giải cho ngườinghèo, người có công với cách mạng và các đối tượng khác theo quy định củapháp luật nhằm bảo đảm cho mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật vàthực hiện công bằng xã hội
Theo Điều 2 Luật trợ giúp pháp lý năm 2017 thì TGPL được hiểu làviệc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người được TGPL trong vụ việcTGPL theo quy định của Luật này, góp phần bảo đảm quyền con người, quyềncông dân trong tiếp cận công lý và bình đẳng trước pháp luật [10] Với tínhchất toàn diện và đầy đủ như vậy, luận văn sử dụng định nghĩa này là địnhnghĩa xuyên suốt trong toàn bộ nội dung của luận văn
Việc thành lập tổ chức TGPL miễn phí cho người nghèo, người có côngvới cách mạng và các đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt khác ở Việt Nam xuấtphát từ chủ trương xoá đói, giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa, đảm bảo côngbằng xã hội của Đảng và Nhà nước, thể hiện bản chất của Nhà nước ta là Nhànước pháp quyền của dân, do dân và vì dân Tổ chức TGPL của Nhà nước rađời đã tạo cơ chế cần thiết để người nghèo và người có công với cách mạng
có được điều kiện và hoàn cảnh tương tự như người khác trong tiếp cận với
Trang 16các dịch vụ pháp lý, củng cố lòng tin của quần chúng nhân dân vào pháp luật
và góp phần thực hiện công bằng xã hội
1.1.2. Đặc điểm của hoạt động trợ giúp pháp lý
- Là một loại hình dịch vụ công đặc biệt:
+ Với tư cách là một trong những chức năng xã hội của nhà nước vàtrách nhiệm của nhà nước, trong hoạt động TGPL, người thực hiện TGPLhoàn toàn không được nhận bất kỳ khoản thù lao, lợi ích vật chất nào từ ngườiđược TGPL, mà hoạt động này chỉ hướng đến mục tiêu xóa đói giảm nghèo
về mặt pháp luật, nâng cao nhận thức pháp luật và bảo vệ quyền và lợi íchhợp pháp cho đối tượng được TGPL
+ Người thực hiện TGPL: Bao gồm những người đáp ứng đủ điều kiện,tiêu chuẩn riêng, theo quy định tại Điều 17 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017,người thực hiện TGPL gồm có:
"- Trợ giúp viên pháp lý;
- Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý theo hợp đồng với Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước; luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý theo phân công của
tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý;
- Tư vấn viên pháp luật có 02 năm kinh nghiệm tư vấn pháp luật trở lên làm việc tại tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý;
- Cộng tác viên trợ giúp pháp lý." [10]
Nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ TGPL và phát triển công tác nàytheo hướng chuyên nghiệp hóa, Luật TGPL năm 2017 đã chuẩn hóa, nângcao tiêu chuẩn đội ngũ Trợ giúp viên pháp lý như luật sư tham gia thựchiện TGPL
- Là hoạt động có tính chính trị, có tính pháp lý và có tính kinh tế
+ Tính chính trị:
Trang 17Trong hoạt động TGPL, Nhà nước giữ vai trò nòng cốt, thể hiện địnhhướng chính trị, chính sách xã hội của Nhà nước ta TGPL vừa là biện pháptăng cường pháp chế, vừa góp phần thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa thôngqua bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho các đối tượng này, đảm bảo công bằng
xã hội, quyền bình đẳng khi tiếp cận pháp luật của các đối tượng
+ Tính pháp lý:
Thể hiện qua việc quy định từ cơ cấu tổ chức đến hoạt động của tổchức, từ đối tượng được TGPL đến người thực hiện TGPL, đặc biệt là việcquy định trình tự thủ tục phải tuân thủ và đảm bảo thực hiện khi thực hiệnTGPL cho các đối tượng
+ Tính kinh tế:
Hoạt động TGPL không thu phí đối với đối tượng được TGPL, cácTrung tâm TGPL thuộc Sở Tư pháp là đơn vị sự nghiệp không có thu của Nhànước, tuy nhiên giá trị kinh tế của hoạt động lại thể hiện ở việc Nhà nướcthông qua việc cung ứng tài chính cho hoạt động TGPL, qua đó sẽ góp phầngiữ ổn định xã hội, tránh được những chi phí dành cho việc khiếu kiện kéodài, từ đó tạo tâm lý ổn định cho người dân an tâm lao động, sản xuất tạo racủa cải, là tiền đề để tạo ra giá trị kinh tế vô cùng to lớn
- Là dịch vụ công được xã hội hóa:
Thể hiện ở việc Nhà nước đã tạo ra cơ chế để các cá nhân, tổ chức khi
có đủ điều kiện theo quy định pháp luật có thể tham gia thực hiện TGPLthông qua việc cho phép các tổ chức được đăng ký tham gia TGPL tự nguyệnbằng chính nguồn lực của cá nhân, tổ chức đó hoặc thông qua việc ký hợpđồng với các tổ chức này để đáp ứng cầu TGPL bằng nguồn lực được chi trả
từ ngân sách nhà nước
- Đối tượng được trợ giúp pháp lý:
Trang 18Theo quy định tại Điều 7 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017, thì đối tượng được TGPL bao gồm:
"- Người có công với cách mạng.
- Người thuộc hộ nghèo.
- Trẻ em.
- Người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.
- Người bị buộc tội từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi.
- Người bị buộc tội thuộc hộ cận nghèo.
- Người thuộc một trong các trường hợp sau đây có khó khăn về tài chính:
+ Cha đẻ, mẹ đẻ, vợ, chồng, con của liệt sĩ và người có công nuôi
dưỡng khi liệt sĩ còn nhỏ;
+ Người nhiễm chất độc da cam;
+ Người cao tuổi,
+ Người nhiễm HIV "[10].
Trên cơ sở kế thừa quy định về đối tượng được TGPL theo Luật TGPLnăm 2006, Luật TGPL năm 2017 đã mở rộng diện người được TGPL (từ 06diện người lên 14 diện người) để phù hợp với các chính sách đặc thù và điềukiện kinh tế - xã hội của Việt Nam Hai đối tượng được kế thừa hoàn toàn từquy định của Luật TGPL năm 2006 là người thuộc hộ nghèo và người cócông với cách mạng; hai đối tượng được kế thừa và mở rộng là trẻ em không
Trang 19nơi nương tựa thành tất cả trẻ em, người dân tộc thiểu số "thường trú" thành
"cư trú" tại các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn (cư trú sẽrộng hơn thường trú vì cư trú bao gồm thường trú và tạm trú)
Bên cạnh đó, Luật TGPL năm 2017 đã bổ sung hai nhóm người làngười bị buộc tội từ đủ 16 tuổi đến 18 tuổi (hiện nay đang thuộc trường hợp
cơ quan tiến hành tố tụng phải chỉ định người bào chữa theo quy định của Bộluật Tố tụng Hình sự) và người bị buộc tội thuộc hộ cận nghèo để bảo đảmchính sách hình sự đối với đối tượng này Ngoài ra, Luật TGPL năm 2017cũng có quy định mới trong việc áp dụng điều kiện có khó khăn về tài chínhđối với 08 nhóm người cụ thể để tạo điều kiện cho những người thực sự cónhu cầu nhưng không có khả năng tài chính để thuê dịch vụ pháp lý và cácđối tượng khác để phù hợp với những văn bản luật khác là Luật Người caotuổi năm 2010, Luật Người khuyết tật 2010, Luật Phòng chống mua bánngười năm 2011
1.1.3. Nguyên tắc của hoạt động trợ giúp pháp lý
Nguyên tắc nghề nghiệp là những chuẩn mực, những yêu cầu thuộc vềbản chất của một loại hình nghề nghiệp buộc các chủ thể khi tham gia vào quátrình hành nghề đều phải tuân theo, phải thực hiện đúng
TGPL có thể coi là một ngành nghề đặc biệt với những chuẩn mực, yêucầu nhất định nhằm đảm bảo quyền bình đẳng trong việc tiếp cận dịch vụpháp lý, bảo vệ các quyền, lợi ích hợp của đối tượng được TGPL, nâng caohiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật, phòng ngừa, hạnchế vi phạm pháp luật Những chuẩn mực về hành vi, phẩm chất, đạo đức,tinh thần trách nhiệm, bản lĩnh nghề nghiệp và những yêu cầu đối với tổ chứcthực hiện TGPL, người thực hiện TGPL phải tuân theo được gọi là quy tắcnghề nghiệp TGPL
Trang 20Nguyên tắc hoạt động TGPL được quy định tại Điều 3 Luật TGPL năm
2017 bao gồm các quy định:
- Tuân thủ pháp luật và quy tắc nghề nghiệp TGPL [10]
Ngày 8/12/2008, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ban hành Quyết định số09/2008/QĐ-BTP về việc ban hành quy tắc nghề nghiệp trợ giúp pháp lý.Theo đó, các tổ chức thực hiện TGPL và người thực hiện TGPL phải có tráchnhiệm tuân thủ nghiêm túc 12 quy tắc nghề nghiệp TGPL Đó là
+ Giữ gìn và không ngừng nâng cao uy tín nghề nghiệp;
+ Trung thực, khách quan;
+ Tuân thủ và tôn trọng pháp luật;
+ Bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của người được trợ giúp pháp lý;
+ Bảo đảm bí mật thông tin về vụ việc TGPL;
+ Tác phong, thái độ và hành vi ứng xử đúng mực;
+ Không phân biệt đối xử;
+ Tôn trọng, hợp tác và giúp đỡ đồng nghiệp;
+ Tôn trọng, phối hợp với các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong việc làm rõ sự thật khách quan của vụ án.
+ Cộng tác, phối hợp chặt chẽ với cơ quan thông tin đại chúng;
+ Cộng tác, hỗ trợ chính quyền cơ sở;
+ Phối hợp, cộng tác với các cơ quan, tổ chức, cá nhân;[18]
- Kịp thời, độc lập, tôn trọng sự thật khách quan: Đây là nguyên tắc quan trọng, thể hiện đặc trưng của nghề TGPL với tư cách là nghề luật, gắn với thực thi pháp và áp dụng pháp luật [10].
Người thực hiện TGPL phải luôn trung thực, tôn trọng sự thật kháchquan để tìm ra bản chất khách quan của sự việc, tránh những sai sót không
Trang 21đáng có, phải có trách nhiệm thu thập đầy đủ, toàn diện các thông tin cần thiết
về vụ việc TGPL và các tài liệu có liên quan
Tổ chức thực hiện TGPL có trách nhiệm sử dụng các biện pháp cầnthiết để hỗ trợ người thực hiện TGPL trong việc thu thập đầy đủ các thông tin.tài liệu liên quan; không can thiệp trái pháp luật vào quá trình thực hiện vụviệc của người thực hiện TGPL hoặc có hành vi khác làm ảnh hưởng đến tínhkhách quan của vụ việc
Việc thực hiện TGPL phải kịp thời, đảm bảo bảo vệ quyền và lợi íchhợp pháp cho đối tượng, tuân thủ một cách nghiêm túc quy định về trình tự,thủ tục thực hiện TGPL
- Bảo vệ tốt nhất quyền, lợi ích hợp pháp của người được TGPL: Đây cũng chính là một trong những nguyên tắc của hoạt động TGPL, giữ vai trò quyết định, chi phối tất cả hoạt động TGPL [10]:
Nguyên tắc này đòi hỏi người thực hiện TGPL và tổ chức thực hiệnTGPL phải luôn tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của người được TGPL,đặt lợi ích của người được TGPL làm mục đích hoạt động của mình; phải sửdụng mọi biện pháp để hướng đến bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp,tôn trọng các quyền của người được TGPL; bảo đảm thời gian, tiến độ chấtlượng vụ việc TGPL
- Không thu tiền, lợi ích vật chất hoặc lợi ích khác từ người được TGPL [10]:
Đây là một trong những nguyên tắc đặc trưng của hoạt động TGPL Đốitượng được TGPL là những đối tượng đặc thù, bao gồm người nghèo, ngườidân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khókhăn, đối tượng chính sách là những người yếu thế trong xã hội, họ không
có khả năng tài chính Với vai trò là một chính sách xã hội, Nhà nước đã quyđịnh nguyên tắc không thu phí, lợi ích vật chất, lợi ích khác từ người
Trang 22được TGPL để thực hiện chức năng xã hội của mình Quy định này nhằm làm
rõ hơn việc miễn phí hoàn toàn trong hoạt động TGPL đối với đối tượng đượcTGPL, kể cả lợi ích vật chất và lợi ích phi vật chất
1.1.4. Nội dung trợ giúp pháp lý
Theo quy định tại Điều 27 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017, thì Trợgiúp pháp lý được thực hiện trong tất cả các lĩnh vực trừ lĩnh vực kinh doanhthương mại với các hình thức TGPL bao gồm: tham gia tố tụng; tư vấn phápluật và đại diện ngoài tố tụng
Theo quy định tại Điều 26 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 thì phạm vithực hiện TGPL bao gồm:
Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước thực hiện trợ giúp pháp lý thuộc
một trong các trường hợp sau đây: người được trợ giúp pháp lý đang cư trú
tại địa phương; vụ việc trợ giúp pháp lý xảy ra tại địa phương; vụ việc trợ giúp pháp lý do cơ quan có thẩm quyền về trợ giúp pháp lý ở Trung ương yêu cầu [10].
Tổ chức ký hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý thực hiện trợ giúp pháp lý trong phạm vi hợp đồng [10].
Tổ chức đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý thực hiện trợ giúp pháp lý trong phạm vi đăng ký [10].
1.2. Vấn đề lý luận về trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng
1.2.1. Khái niệm trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng
Trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng là hoạt động của Trợ giúp viênpháp lý (viết tắt là TGVPL) hoặc luật sư thực hiện TGPL cho các đối tượngthuộc diện được trợ giúp pháp lý bằng việc tham gia tố tụng với tư cách làngười bào chữa hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người đượcTGPL theo quy định của Luật TGPL và pháp luật về tố tụng
Trang 231.2.2. Đặc điểm của trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng
Về người thực hiện TGPL trong hoạt động tố tụng, đối với việc thựchiện TGPL trong hoạt động tố tụng, người thực hiện phải đảm bảo thỏa mãnđiều kiện là Trợ giúp viên pháp lý hoặc Luật sư ký hợp đồng tham gia thựchiện trợ giúp pháp lý Cụ thể Luật TGPL năm 2017 đã chuẩn hóa, nâng caotiêu chuẩn đội ngũ Trợ giúp viên pháp lý như luật sư, bổ sung tiêu chuẩnphải trải qua tập sự nghề (trợ giúp pháp lý hoặc luật sư) tại khoản 3 Điều 19của Luật Việc tập sự TGPL tương tự như tập sự luật sư với tư cách là mộtdịch vụ pháp lý tương đương, điều này rất cần thiết để chuyên viên pháp lý
có thời gian vận dụng kiến thức, giúp họ hoàn thiện những kỹ năng, đặc biệt
là kỹ năng tham gia tố tụng để tự tin cung cấp dịch vụ pháp lý khi được bổnhiệm Trợ giúp viên pháp lý Đồng thời, Luật cũng tiếp tục ghi nhận sựtham gia của đội ngũ luật sư, tư vấn viên pháp luật có kinh nghiệm đanghoạt động có hiệu quả, đồng thời chọn lọc những người có kiến thức phápluật, kinh nghiệm thực tiễn và bảo đảm về mặt thời gian tham gia TGPL đểlàm cộng tác viên TGPL một cách thực chất, hiệu quả Đối với Tư vấn viênpháp luật hoặc Cộng tác viên TGPL chỉ được thực hiện TGPL với hình thức là
tư vấn pháp luật hoặc đại diện ngoài tố tụng Việc quy định như vậy nhằmđảm bảo năng lực người thực hiện TGPL để từ đó, có thể bào chữa, bảo vệmột cách tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của người được TGPL trong các
vụ việc tố tụng
Về người được trợ giúp pháp lý, bên cạnh việc thỏa mãn là đối tượngthuộc một trong các diện quy định tại Điều 7 Luật TGPL năm 2017, đốitượng trong hoạt động tố tụng còn là đương sự trong các vụ án dân sự, hànhchính, là người bị buộc tội, bị can, bị cáo hoặc người bị hại trong các vụ ánhình sự Tóm lại, đối tượng của TGPL trong hoạt động tố tụng là những đốitượng thuộc diện được TGPL theo quy định của Luật TGPL và có tư cách
Trang 24pháp lý được các cơ quan tiến hành tố tụng công nhận trong việc quá trìnhgiải quyết vụ án của các cơ quan tiến hành tố tụng.
Ngày 20/6/2017, Quốc hội khóa XIV đã thông qua Luật TGPL năm
2017, theo đó, việc tham gia tố tụng của người thực hiện TGPL là TGVPLhoặc luật sư thực hiện TGPL tham gia tố tụng là việc tham gia tố tụng với tưcách là người bào chữa hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chongười được TGPL theo quy định của Luật TGPL và pháp luật về tố tụng
Như vậy, về cơ bản, hoạt động tham gia tố tụng của TGVPL gần giốngnhư của luật sư, tuy nhiên, có một số điểm khác nhau cơ bản sau:
Thứ nhất, luật sư thực hiện hoạt động tố tụng cho nhiều đối tượng,
trong khi đó, đối tượng của TGVPL thu hẹp chỉ những người thuộc diện đượcTGPL theo pháp luật TGPL mới được hưởng dịch vụ pháp lý này
Thứ hai, luật sư thực hiện hoạt động tố tụng ở tất cả các lĩnh vực, còn
TGVPL thực hiện hoạt động tố tụng ở các lĩnh vực, trừ lĩnh vực kinh doanh,thương mại
Thứ ba, hoạt động tham gia tố tụng của luật sư là hoạt động có thu phí,
còn hoạt động tham gia tố tụng của TGVPL là hoạt động miễn phí
Việc thực hiện TGPL trong hoạt động tụng được đảm bảo thực hiệntheo trình tự, thủ tục (Điều 31 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017):
"Khi người được trợ giúp pháp lý yêu cầu cử người thực hiện trợ giúp pháp lý tham gia tố tụng, trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày thụ lý vụ việc, tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý có trách nhiệm cử người thực hiện trợ giúp pháp lý.
Trường hợp người được trợ giúp pháp lý là người bị bắt, người bị tạm giữ yêu cầu cử người thực hiện trợ giúp pháp lý, trong thời hạn 12 giờ kể từ thời điểm thụ lý, tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý có trách nhiệm cử người thực hiện trợ giúp pháp lý.
Trang 25Trong thời hạn 12 giờ kể từ thời điểm nhận được yêu cầu trợ giúp pháp
lý của người bị bắt, người bị tạm giữ hoặc trong thời hạn 24 giờ kể từ thời điểm nhận được yêu cầu trợ giúp pháp lý cảu bị can, bị cáo, người bị hại là người được trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật về tố tụng, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm thông báo cho Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tại địa phương Ngay sau khi nhân được thông báo của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, Trung tâm TGPL nhà nước có trách nhiệm thụ lý theo quy định và cử người thực hiện trợ giúp pháp lý tham gia tố tụng.
Việc cử người tham gia tố tụng phải được lập thành văn bản và gửi cho người được trợ giúp pháp lý, cơ quan tiến hành tố tụng có liên quan."[10]
Luật trợ giúp pháp lý năm 2017 cũng có nhiều quy định mới về trợ giúppháp lý trong tư pháp hình sự: đối tượng trợ giúp pháp lý được mở rộng hơn(từ 06 nhóm đối tượng lên thành 14 nhóm); trách nhiệm của cơ quan, người
có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong việc thông báo cho Trung tâm trợ giúppháp lý nhà nước tại địa phương khi người được trợ giúp pháp lý có yêu cầutrong thời hạn Luật định (khoản 3 Điều 31); Cơ quan tiến hành tố tụng cótrách nhiệm phối hợp, tạo điều kiện cho người được TGPL được hưởng quyềntrợ giúp pháp lý, tạo điều kiện cho người thực hiện trợ giúp pháp lý tham gia
tố tụng (Điều 41)
Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 là văn bản luật quan trọng, đặc biệtlần đầu tiên quy định trợ giúp viên pháp lý tham gia tố tụng hình sự với tư
cách là người bào chữa (điểm d Khoản 2 Điều 72); cơ quan, người có thẩm
quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm giải thích cho người thuộc diện TGPL
về quyền được TGPL; nếu họ đề nghị được TGPL thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thông báo cho Trung tâm TGPL nhà nước hoặc yêu cầu Trung tâm TGPL nhà nước cử người bào chữa nếu họ thuộc trường hợp
Trang 26chỉ định bào chữa (Điều 71)[4] Đồng thời, Luật thi hành tạm giữ, tạm giam
cũng đã quy định quyền và nghĩa vụ của người bị tạm giữ, người bị tạm giam:
"được hướng dẫn, giải thích và bảo đảm thực hiện quyền tự bào chữa, nhờ
người bào chữa, TGPL" (điểm đ khoản 1 Điều 9)[11].
Ngày 01/6/2015, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số749/QĐ-TTg phê duyệt Đề án đổi mới công tác trợ giúp pháp lý giai đoạn
2015 - 2025, Đề án ra đời tạo cơ sở pháp lý cho việc nâng cao chất lượngcông tác trợ giúp pháp lý trong thời gian tới, một trong những nội dung trọngtâm đổi mới được nêu trong Đề án đó chính là đổi mới trọng tâm hoạt độngTGPL, chú trọng thực hiện nhiệm vụ chính là cung cấp vụ việc TGPL, đặcbiệt là những vụ việc trong lĩnh vực tham gia tố tụng Có thể nói đây là nộidung mang tính định hướng cho hoạt động TGPL và cũng khẳng định vị trí,vai trò của hình thức tham gia tố tụng trong hoạt động TGPL trong giai đoạnhiện nay
1.2.3. Nguyên tắc trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng
Thực hiện TGPL trong hoạt động tố tụng được thực hiện thông qua quátrình người thực hiện TGPL phối hợp với người tiến hành tố tụng, vì vậy nóluôn được đặt trong mối quan hệ giữa người thực hiện TGPL - đối tượngđược TGPL - Cơ quan tiến hành tố tụng Vì vậy, bên cạnh việc đảm bảo tất cảcác nguyên tắc của hoạt động TGPL, TGPL trong hoạt động tố tụng cần phảichú trọng cả những nguyên tắc đối với cả đội ngũ người tiến hành tố tụng đóchính là đảm bảo những nguyên tắc trong tố tụng hình sự, tố tụng dân sự và tốtụng hành chính
1.2.4. Nội dung trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng
Trợ giúp viên pháp lý, luật sư thực hiện TGPL tham gia tố tụng với tưcách là người bào chữa hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chongười được TGPL theo quy định của Luật TGPL và pháp luật về tố tụng, do
Trang 27đó hoạt động này chủ yếu thực hiện trong lĩnh vực tố tụng hình sự, tố tụngdân sự và tố tụng hành chính.
Là một trong những hình thức chính của hoạt động TGPL, khác vớihình thức tư vấn pháp luật chủ yếu thực hiện TGPL trong hoạt động tố tụng làmột hình thức thực hiện mà nội dung tập trung chủ yếu vào nội dung tố tụngvới mối quan hệ với các cơ quan tiến hành tố tụng Vì vậy, hoạt động nàykhông chỉ chịu sự điều chỉnh của các văn bản về TGPL mà còn chịu sự điềuchỉnh của các văn bản pháp luật quy định về tố tụng, cụ thể ở đây là Bộ luật
Tố tụng hình sự, Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính và các vănbản quy phạm pháp luật khác có liên quan, đảm bảo tuân thủ một cách đầy đủ,nghiêm chỉnh theo trình tự thủ tục riêng, từ việc giải thích quyền được TGPLđến việc thông tin, thông báo về TGPL và tiếp nhận, thụ lý và thực hiện TGPLtheo quy định của các văn bản tố tụng đó quy định
Thực hiện TGPL trong hoạt động tố tụng không chỉ là hoạt động riêngcủa người thực hiện TGPL, mà còn là kết quả của sự phối hợp của Trung tâmTGPL với các cơ quan tiến hành tố tụng, là hoạt động của người thực hiệnTGPL trong mối quan hệ công tác với những người tiến hành tố tụng
1.2.5. Mối quan hệ giữa trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng với quyền con người, quyền công dân
Để tăng cường bảo vệ quyền con người, các quốc gia đều quan tâm đếnviệc xây dựng Nhà nước pháp quyền cùng với việc đặt tổ chức và hoạt độngcủa công quyền trong khuân khổ Hiến pháp và pháp luật Bên cạnh đó, quyềncon người cũng gắn liền với các trào lưu tiến bộ xã hội của nhân loại đểkhông ngừng mở rộng và nâng cao các giá trị của dân chủ, xác lập vị thế, vaitrò quan trọng của các cá thể - con người, chủ thể của mọi hành vi xã hội.Pháp luật trở thành một trong các công cụ quan trọng của Nhà nước phápquyền điều chỉnh xã hội để bảo vệ quyền con người ở mỗi quốc gia Trong đó,
Trang 28pháp luật với công chúng, nhất là những bộ phận dân nghèo, người yếu thế,
dễ bị tổn thương trong xã hội là một vấn đề mà các chế độ chính trị khác nhau
ở tất cả các nước đều quan tâm nghiên cứu và giải quyết theo cách riêng củamình sao cho hiệu quả, phù hợp với truyền thống pháp luật, điều kiện kinh tế
- xã hội Cộng đồng quốc tế cũng đã đi đến sự thống nhất trong nhận thứcchung về bảo vệ quyền con người thông qua các điều ước quốc tế Trong đó,TGPL vừa được khẳng định như một quyền độc lập của con người vừa làcông cụ để bảo vệ quyền công dân khác Điều này thể hiện rất rõ trong nhữngnội dung của Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền (được thông qua và tuyên bốtheo Nghị quyết số 217A (III) ngày 10/12/1948 của Đại hội đồng Liên hợpquốc) và Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (Thông qua và đểngỏ cho các nước ký kết, phê chuẩn và gia nhập theo Nghị quyết của Đại hộiđồng Liên hợp quốc số 2200 (XXI) ngày 16/12/1966)
Để ghi nhân những nội dung cơ bản của nhân quyền và yêu cầu cácquốc gia thành viên có nghĩa vụ tôn trọng và bảo đảm nhân quyền, Tuyên
ngôn thế giới về nhân quyền long trọng tuyên bố: "Mọi người đều bình đẳng
trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ bình đẳng không kỳ thị" [25] Là
một loại hình dịch vụ pháp lý có miễn phí, giảm phí, TGPL ra đời, tồn tại vàphát triển cùng với nghề luật sư và gắn liền với yêu cầu của một xã hộithượng tôn pháp luật, suy tôn pháp quyền Hiện tại, một số quốc gia đã quyđịnh quyền được TGPL của công dân trong Hiến pháp và các đạo luật cụ thể,đồng thời có cơ chế về nguồn lực để bảo đảm thực thi trong thực tiễn cuộcsống Tại Hiến pháp Áo (Khoản 3 Điều 24) khẳng định: "các quy phạm cóliên quan của Hiến pháp bảo đảm cho người nghèo trước sự quản lý của hoạtđộng tư pháp có quyền yêu cầu và tiến hành biện hộ cho bản thân", theo đó,TGPL là quyền mà mọi công dân đều được hưởng, bao gồm cả người nghèo.Bản tuyên bố mang tính Hiến pháp của nước Pháp đã khẳng định rõ: "khi
Trang 29công dân gặp những vấn đề về pháp luật, có quyền hưởng sự trợ giúp và yêucầu Chính phủ TGPL cho họ" hoặc "công dân được hưởng quyền bảo đảmpháp luật xã hội, Chính phủ có nghĩa vụ bảo đảm pháp luật cho công dân".
Ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước rất quan tâm bảo vệ quyền con người,quyền công dân, đặc biệt là nhóm công dân yếu thế ngay từ đầu lập nước vớichế định "tư pháp bảo trợ" năm 1946 Chỉ 02 tháng sau Cách mạng tháng Támnăm 1945, nhằm bảo đảm có Luật sư thực hiện bào chữa cho bị can, bị cáotrước các phiên xét xử tại Tòa án của chế độ dân chủ nhân dân, Chủ tịch HồChí Minh đã ký Sắc lệnh số 10/SL ngày 10/10/1945 về việc duy trì tổ chứcluật sư cũ Hiến pháp năm 1946 (Điều 67) quy định: “Người bị cáo đượcquyền tự bào chữa lấy hoặc mượn luật sư” Ngay sau đó, Chủ tịch Hồ ChíMinh đã ký Sắc lệnh số 13/SL ngày 24/01/1946, trong đó có quy định về chế
độ "Tư pháp bảo trợ", theo đó “nếu bị can không có ai bênh vực, ông Chánh
án sẽ cử một Luật sư hoặc một bào chữa viên để bào chữa” Tiếp nối tinh thần
đó, các bản Hiến pháp của nước ta, mà trực tiếp là tại Điều 50, 51 Hiến pháp
năm 1992 đã quy định: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các
quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và pháp luật” [8] và "Nhà nước bảo đảm các quyền của công dân”[8] Đặc biệt
khi công dân bị truy cứu trách nhiệm có quyền sử dụng dịch vụ pháp lý theo
Điều 132, Hiến pháp năm 1992 thì “Quyền bào chữa của bị cáo được bảo
đảm, Bị cáo có thể tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cho mình Tổ chức luật sư được thành lập để giúp bị cáo và các đương sự khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình và góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa”[8].
Như vậy, quyền con người đã được công nhận chính thức, thành Hiếnđịnh ở Việt Nam, để từ đây được thể chế thành các quyền của công dân trong
Trang 30các luật chuyên ngành và được Nhà nước bảo đảm thực hiện thông qua hoạtđộng của bộ máy Nhà nước và các lực lượng toàn xã hội Theo đó, cơ chế bảođảm quyền con người là tổng thể các chính sách và biện pháp mà Nhà nước
và xã hội thực hiện để các quyền con người trong mọi điều kiện, hoàn cảnhđều được thực thi trên thực tế phù hợp với các điều kiện chính trị, kinh tế, xãhội của đất nước Đồng thời, các cơ quan bảo vệ pháp luật có chức năng bảo
vệ các quyền cụ thể của công dân thông qua hoạt động điều tra, truy tố, xét
xử, xử lý các hành vi vi phạm quyền công dân
Trợ giúp pháp lý được hình thành từ năm 1997 để góp phần bảo vệquyền con người, tiếp tục theo tư tưởng "tư pháp bảo trợ" trên cơ sở chỉ đạotại nhiều văn kiện của Đảng, trong đó có Chỉ thị số 12-CT/TƯ ngày12/7/1992 của Ban bí thư Trung ương Đảng khóa VII về "Vấn đề quyền conngười và quan điểm, chủ trương của Đảng ta" Nghị quyết Trung ương 3khóa VIII và chủ trương của Ban bí thư Trung ương Đảng tại Thông báo số485/CV-VPTW ngày 31/5/1995 của Văn phòng Trung ương Đảng nêu rõ:
"cần nghiên cứu lập hệ thống dịch vụ tư vấn pháp luật không lấy tiền đểhướng dẫn nhân dân sống và làm việc theo pháp luật" và khẳng định cần "tổchức hình thức tư vấn pháp luật cho các cơ quan, tổ chức và nhân dân, tạođiều kiện cho người nghèo được hưởng dịch vụ tư vấn pháp luật miễn phí " để họ không bị thiệt thòi do điền kiện kinh tế, văn hóa, địa lý mang lại.Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 về Chiến lược xây dựng và hoànthiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm2020; Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 về Chiến lược cải cách tưpháp đến năm 2020 đề ra chủ trương "đẩy mạnh công tác TGPL cho ngườinghèo và đối tượng chính sách theo hướng xã hội hóa" hoặc "từng bước xãhội hóa các hoạt động bổ trợ tư pháp"
Trang 31Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo (ngày21/5/2002), Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo giai đoạn 2006 -
2010 (Quyết định số 20/2007/QĐ-TTg ngày 05/02/2007 của Thủ tướng Chínhphủ), Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùngđồng bào dân tộc và miền núi giai đoạn 2006 - 2010 (Quyết định số07/2006/QĐ-TTg ngày 10/01/2006 của Thủ tướng Chính phủ) đã khẳng địnhTGPL là một chính sách góp phần xóa đói, giảm nghèo và xác định yêu cầu:
"Hoàn thiện khuân khổ pháp luật, tăng cường TGPL và khả năng tiếp cậnpháp lý cho người nghèo Mở rộng mạng lưới trợ giúp pháp luật để ngườinghèo ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa có thể tiếp cận với các dịch vụ trợ giúppháp luật"
Gần đây, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số52/2010/QĐ-TTg ngày 18/8/2010 về chính sách hỗ trợ pháp lý nhằm nângcao nhận thức, hiểu biết pháp luật cho người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu sốtại các huyện nghèo giai đoạn 2011 - 2020 theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-
CP của Chính phủ nhằm hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với cáchuyện nghèo
Có thể nói, bảo vệ quyền con người của nhóm công dân yếu thế là bảnchất chủ chủ trương xóa đói, giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa, chính sách dântộc và dân vận của Đảng và Nhà nước đã được thể chế hóa trong nhiều vănbản pháp luật nói chung và trong các văn bản pháp luật về TGPL nói riêng,bảo đảm khuân khổ pháp lý cho TGPL hoạt động hiệu quả, khẳng định vai tròcủa pháp luật trong bảo đảm quyền con người, góp phần ổn định trật tự xãhội, yên lòng dân, thúc đẩy sự pháp triển chung của đất nước
Trợ giúp pháp lý là công cụ bảo vệ quyền con người cho nhóm côngdân đặc biệt
Trang 32Luật trợ giúp pháp lý năm 2017 tại Điều 7 đã quy định người đượcTGPL là nhóm người được hưởng ưu đãi của nhà nước do có công lao to lớnđóng góp cho đất nước trong sự nghiệp giành độc lập của dân tộc hoặc nhómyếu thế, bị rào cản kinh tế, ngôn ngữ hoặc thể chất trong việc tự bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp khi có vướng mắc, tranh chấp pháp luật
Ngoài ra đối tượng được TGPL còn được xác định trong các Điều ướcquốc tế mà Việt Nam là thành viên Bên cạnh đó, TGPL còn thực hiện chocác đối tượng theo các chương trình, dự án hợp tác quốc tế về TGPL trongphạm vi thời gian và địa bàn do chương trình, dự án đó quy định
Ở Việt Nam, TGPL đang ngày càng khẳng định được vị trí trong đờisống xã hội như một biện pháp pháp luật do Nhà nước tổ chức thực hiện đểgóp phần bảo vệ quyền công dân và được điều chỉnh bằng một đạo luật Với
tư cách vừa là quyền, vừa là công cụ để bảo vệ các quyền cụ thể khác củacông dân trong từng lĩnh vực xã hội nhất định, TGPL nằm trong phạm trùhoạt động chung của tiến bộ và phát triển nhân loại
TGPL ra đời đã bổ sung thêm cho công dân nghèo một loại dịch vụmiễn phí để họ sử dụng pháp luật làm công cụ bảo vệ quyền côn dân khi bị viphạm hoặc đe dọa bị vi phạm Đồng thời, TGPL bổ sung cho thị trường dịch
vụ pháp lý một địa chỉ làm tăng tính cạnh tranh để nâng cao chất lượng dịch
vụ pháp lý nói chung Qua dịch vụ này, người dân được nâng cao hiểu biếtpháp luật, khuyến nghị có ý thức tôn trọng pháp luật; tăng khả năng ứng xửtích cực với pháp luật, giúp bảo vệ được các quyền và lợi ích hợp pháp của cánhân, tổ chức và xã hội
Do gắn liền với quyền được bảo vệ của con người, hoạt động TGPL cótác động mạnh mẽ đến quá trình xây dựng và tổ chức thực hiện pháp luật vềquyền con người Thực hiện tốt chính sách TGPL trong thực tế là một trongnhững bộ phận quan trọng của cơ chế bảo đảm xác định đúng đắn về quyền
Trang 33con người và thực hiện các quyền con người TGPL chính là một biện pháp
mà Nhà nước sử dụng như công cụ để bảo đảm bình đẳng trong tiếp cậnquyền con người, quyền công dân
1.2.6. Trách nhiệm phối hợp thực hiện trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng
Trợ giúp pháp lý là chính sách của Đảng và Nhà nước, để thực hiệnđồng bộ và có hiệu quả chính sách này cần có sự phối hợp tham gia của rấtnhiều cơ quan, đơn vị, đặc biệt là các cơ quan tiến hành tố tụng
Luật Trợ giúp pháp lý (Khoản 2 Điều 27) đã quy định: "tham gia tố
tụng là một hình thức TGPL do Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm TGPL nhà nước và Luật sư thực hiện"[10] Để hướng dẫn chi tiết thi hành vấn đề
TGPL trong hoạt động tố tụng, Luật TGPL (Điều 52) quy định: "Chính phủ,
Tòa án nhân dân tối cao trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật này"[10] Luật TGPL đã quy định
một số vấn đề về hoạt động tham gia tố tụng, như: Nội dung tham gia, việccấp giấy chứng nhận tham gia tố tụng và hiệu lực của giấy chứng nhận; thẩmquyền, thời hạn cử người tham gia tố tụng để các ngành có căn cứ hướng dẫnthi hành Ngày 29/6/2018, liên ngành Tư pháp - Công an - Quốc phòng - Tàichính - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Tòa án nhân dân tối cao ban hànhThông tư số 10/2018/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC-VKSNDTC-TANDTC quyđịnh về phối hợp thực hiện TGPL trong hoạt động tố tụng Như vậy, các quyđịnh pháp luật TGPL hiện hành đã xác định cụ thể nhiệm vụ và trách nhiệmcủa các cơ quan tiến hành tố tụng, Trại tạm giam, Nhà tạm giữ, các Trung tâm
và Chi nhánh của Trung tâm liên quan đến công tác phối hợp TGPL tronghoạt động tố tụng Đây là một bước tiến lớn nâng cao nhận thức và ý thứctrách nhiệm của các cơ quan thông qua việc xác lập cơ chế chịu trách nhiệm
và cơ chế phối hợp trong việc cử người có đủ tiêu chuẩn tham gia tố tụng;
Trang 34thẩm quyền, thời hạn, trình tự thủ tục đăng ký người bào chữa, người bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự là đối tượng được TGPL; nội dungphối hợp giữa Trung tâm, Chi nhánh của Trung tâm với các cơ quan tiến hành
tố tụng Cơ chế phối hợp thường xuyên được thiết lập thông qua Hội đồngphối hợp liên ngành (viết tắt là HĐPHLN) về TGPL trong hoạt động tố tụng ởTrung ương và ở từng địa phương Việc Hội đồng chỉ đạo thống nhất công tácphối hợp thực hiện TGPL trong hoạt động tố tụng đã tạo điều kiện cho ngành
tư pháp, các cơ quan tiến hành tố tụng và các ngành có liên quan cùng tháo gỡ
và triển khai thực hiện tốt chính sách TGPL của Đảng và Nhà nước
Các quy định pháp luật về phối hợp TGPL trong hoạt động tố tụng đãtạo cơ sở pháp lý và các yếu tố thực tiễn thuận lợi cho các TGVPL, đội ngũLuật sư tham gia tố tụng tại các giai đoạn tố tụng, bảo đảm tính thống nhất,đồng bộ, công khai, minh bạch của quá trình tố tụng, các điều kiện và nguyêntắc làm việc, góp phần bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo
là người nghèo và đối tượng chính sách
Trách nhiệm của Trung tâm Trợ giúp pháp lý và các Chi nhánh của Trung tâm:
Có trách nhiệm cung cấp cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng,
cơ sở giam giữ và trại giam một số văn bản liên quan đến thực hiện TGPLnhư: Bảng thông tin về TGPL, Tờ thông tin về TGPL, Đơn yêu cầu TGPL;đặc biệt là Bản thông tin về người được TGPL, Biên bản giải thích về quyềnđược TGPL miễn phí để cung cấp cho đương sự, Sổ theo dõi vụ việc TGPLtheo mẫu để các cơ quan có thẩm quyền tố tụng, cơ sở giam giữ, trại giamtheo dõi việc TGPL; Có trách nhiệm cung cấp cho cơ sở giam giữ băng ghi
âm, đĩa ghi âm, USB hoặc phương tiện khác có chứa nội dung thông tin vềTGPL dạng âm thanh;
Trang 35Khi nhận được thông báo, thông tin của cơ quan có thẩm quyền tiếnhành tố tụng thì Trung tâm, Chi nhánh của Trung tâm có trách nhiệm kiểm tradiện người có yêu cầu TGPL, bảo đảm người được TGPL đúng đối tượng; cửTrợ giúp viên pháp lý, Luật sư ký hợp đồng thực hiện TGPL có đủ tiêu chuẩntham gia tố tụng; nghiệm thu hồ sơ vụ việc TGPL và chi trả bồi dưỡng; giảiquyết các khiếu nại theo quy định; phối hợp với Cơ quan điều tra, Viện kiểmsát, Tòa án, người tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá việc thực hiện TGPLcủa Trợ giúp viên pháp lý, Luật sư tham gia tố tụng trong việc bảo đảm tuânthủ đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật về TGPL và quy định của phápluật tố tụng.
Trợ giúp viên pháp lý và Luật sư ký hợp đồng tham gia thực hiện TGPL
có trách nhiệm thực hiện các quyền và nghĩa vụ của người thực hiện TGPLkhi tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật tố tụng và pháp luật vềTGPL
Trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng
Trách nhiệm truyền thông về TGPL: các cơ quan tiến hành tố tụng, cơ
sở giam giữ thực hiện việc niêm yết bảng thông tin về TGPL, đặt hộp tinTGPL tại trụ sở của các cơ quan, niêm yết tờ thông tin về TGPL trong buồngtạm giữ, buồng tạm giam, tại nơi làm thủ tục tiếp nhận người bị tam giữ,người bị tạm giam, tại nơi làm thủ tục tiếp nhận người bị tạm giữ, người bịtạm giam, phòng thăm gặp, phòng làm việc của người vào chữa và nơi sinhhoạt chung của người bị tạm giữ, người bị tạm giam; phát miễn phí tờ gấppháp luật, đơn yêu cầu TGPL Đồng thời, Trung tâm còn có trách nhiệm phốihợp thực hiện các hoạt động truyền thông và hướng dẫn về TGPL tại các đơn
vị trong ngành
Trách nhiệm giải thích, thông báo, thông tin về TGPL: ngay tại thời
bắt, tạm giữ, lấy lời khai, hỏi cung bị can, lấy lời khai của người bị hại, lấy
Trang 36lời khai đương sự, đương sự nộp đơn trực tiếp tại Tòa án hoặc tại thời điểmgửi thông báo thụ lý vụ án, gửi thông báo nhận đơn yêu cầu thì cơ quan,người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm chuyển cho họđọc Bản thông tin về người được TGPL theo mẫu số 01 ban hành kèm theoThông tư để người được TGPL đọc và ký xác nhận Trường hợp họ không tựđọc được thì cơ quan,người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệmthông báo cho họ biết
Nếu họ tự nhận mình là người được trợ giúp pháp lý thì phải giải thích
rõ cho họ về quyền được TGPL miễn phí Trong tố tụng hình sự, người có
thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm hướng dẫn cụ thể nội dung vàđiền thông tin vào Biên bản giải thích về quyền được TGPL miễn phí; trong tốtụng dân sự và tố tụng hành chính thì phải giải thích quyền được TGPL
Trong tố tụng hình sự:
Trường hợp đương sự tự nhận mình là người được TGPL và có yêu cầuTGPL thì người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm thông báobằng văn bản (theo mẫu) cho Trung tâm và phải ghi vào biên bản tố tụng, lưu
hồ sơ vụ án Đối với người bị bắt, bị tạm giữ thì ngoài việc thông báo bằngvăn bản thì người tiến hành tố tụng phải thông báo ngay bằng điện thoại cho
Trung tâm.
Trường hợp đương sự tự nhận mình là người được TGPL và chưa cóyêu cầu TGPL thì thông tin (theo mẫu) cho Trung tâm, Chi nhánh biết đểthực hiện việc kiểm tra diện người được TGPL, của người TGPL hoặc thôngtin lại
Chỉ định người bào chữa cho người bị buộc tội thuộc diện được TGPLtheo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015: nếu người bị buộc tội, ngườiđại diện hoặc người thân thích của họ không mời người bào chữa thì đề nghịTrung tâm, chi nhánh của ngay người thực hiện TGPL bào chữa cho họ
Trang 37Trong tố tụng dân sự, tố tụng hành chính: Việc thông báo, thông tinđược thực hiện như thông báo, thông tin trong tố tụng hình sự, tuy nhiên việcthông báo không phải ghi vào biên bản tố tụng.
Trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức thực hiện TGPL, người thực hiện TGPL trong các hoạt động tham gia tố tụng Cụ thể: đăng ký
bào chữa, đăng ký người bảo về quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự;thông báo trước về thời gian, địa điểm tiến hành hoạt động điều tra, lịch xét
xử cho tổ chức thực hiện TGPL và người thực hiện TGPL; tạo điều kiện thuậnlợi cho người thực hiện TGPL gặp gỡ, tiếp xúc với người bị tạm giữ, người bịtạm giam; người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải thông báo trước thờigian, địa điểm hỏi cung, lấy lời khai cho người thực hiện TGPL; thông báolịch xét xử bằng văn bản trực tiếp hoặc qua dịch vụ bưu chính dưới hình thứcbảo đảm cho tổ chức thực hiện TGPL và người thực hiện TGPL ít nhất 10ngày trước ngày xét xử (07 ngày nếu xét xử rút gọn); ghi rõ trong bản án,quyết định thông tin về người thực hiện TGPL và ý kiến, quan điểm bào chữahoặc bảo vệ của họ; xác nhận về thời gian hoặc công việc của người thực hiệnTGPL khi làm việc với các cơ quan
1.3. Quy định hiện hành về trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng
1.3.1. Trợ giúp pháp lý trong tố tụng Hình sự
Trong tố tụng hình sự, TGPL bao gồm các hoạt động tư vấn pháp lý, hỗtrợ và đại diện cho người bị tạm giam, bị bắt hoặc bị tù giam, bị tình nghi hay
bị cáo buộc, hoặc bị buộc tội và cho các nạn nhân, nhân chứng trong quá trình
tố tụng hình sự, được cung cấp miễn phí cho những người không có đủ điềukiện hoặc khi lợi ích công lý đòi hỏi như vậy Theo quy định của Bộ luật Tốtụng hình sự năm 2015 thì TGVPL là một trong những chủ thể tham gia tốtụng hình sự bắt đầu ngay từ giai đoạn giải quyết nguồn tin về tội phạm đếnkhi kết thúc việc xét xử với tư cách là Người bào chữa; Người bảo vệ quyền
Trang 38và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, bị hại,đương sự Hoạt động của TGVPL trong tố tụng hình sự mang tính đặc thù bởiđây là chủ thể đại diện để thực thi trách nhiệm cung cấp dịch vụ pháp lý miễnphí của Nhà nước đối với nhóm đối tượng yếu thế trong xã hội.
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã có những quy định cụ thể về thựchiện trợ giúp trong hoạt động tố tụng:
- Bổ sung tư cách của TGVPL trong tham gia tố tụng:
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 ghi nhận người bào chữa bao gồmLuật sư; người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; bàochữa viên nhân dân Trong bối cảnh ra đời sau, Luật TGPL năm 2006 đã ghinhận chức danh TGVPL là người đại diện hợp pháp để bào chữa cho ngườiđược TGPL là người bị tạm giữ, bị can, bị cáo hoặc để bảo vệ quyền lợi củangười được TGPL là người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến
vụ án hình sự Thực tiễn quá trình triển khai các hoạt động nghiệp vụ tố tụngtrong những năm qua, đội ngũ TGVPL gặp không ít khó khăn xuất phát từviệc tư cách TGVPL chưa được ghi nhận tại văn bản tố tụng cao nhất là Bộluật Tố tụng hình sự Trợ giúp viên pháp lý tham gia tố tụng với tư cách làngười đại diện hợp pháp, do đó khi thực hiện các hoạt động tố tụng, TGVPLthực hiện theo quyền và nghĩa vụ của người đại diện hợp pháp, do đó có hạnchế hơn so với quyền và nghĩa vụ của người bào chữa, dẫn đến quá trình tácnghiệp chưa được bảo đảm Thậm chí, ở một số nơi, cơ quan tiến hành tố tụng
từ chối TGVPL tham gia tố tụng để bào chữa, bảo vệ quyền lợi cho ngườiđược TGPL Do đó, để khắc phục được những hạn chế đó, Bộ luật Tố tụnghình sự năm 2015 đã ghi nhận TGVPL với tư cách là người bào chữa tạo ra
sự thống nhất trong quá trình thực hiện về hoạt động trợ giúp pháp lý trong tốtụng hình sự, cụ thể:
Trang 39Tại Điều 72, Điều 83, Điều 84 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy địnhngười bào chữa; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác,người bị kiến nghị khởi tố; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại,đương sự có thể là:
"+ Luật sư.
+ Người đại diện.
+ Bào chữa viên nhân dân.
+ Trợ giúp viên pháp lý trong trường hợp người bị buộc tội thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý" [4].
- Bổ sung trách nhiệm cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thông báo, giải thích quyền được trợ giúp pháp lý
Mặc dù các biện pháp thông tin, truyền thông về TGPL đã được thựchiện tích cực trong thời gian qua, nhưng do nhận thức và hiểu biết của ngườidân còn hạn chế, nhất là người nghèo, người dân tộc thiểu số tại vùng sâu,vùng xa, miền núi là những người có hoàn cảnh đặc biệt hoặc có trình độ dântrí thấp, không biết chữ nên họ chưa hiểu, chưa nhận thức được về quyềnđược TGPL của mình hoặc không biết nơi liên hệ hoặc chưa được giải thíchhoặc được giải thích nhưng chưa đầy đủ, thấu đáo về quyền được trợ giúppháp lý và chưa sử dụng quyền được TGPL của mình Vì vậy, nhằm bảo đảmcho những người tham gia tố tụng biết quyền và nghĩa vụ của mình, Bộ luật
Tố tụng hình sự đã quy định cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng
có trách nhiệm thông báo, giải thích và bảo đảm thực hiện quyền và nghĩa vụ
của người tham gia tố tụng (Điều 71), cụ thể tại khoản 1 quy định: "cơ quan,
người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm thông báo, giải thích
và bảo đảm thực hiện quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng "[4].
Trường hợp người bị buộc tội, người bị hại thuộc diện được TGPL theo quyđịnh của Luật TGPL thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có
Trang 40trách nhiệm giải thích cho họ quyền được TGPL; nếu họ đề nghị được TGPLthì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thông báo cho Trung tâm
TGPL nhà nước và được bảo đảm thực hiện bằng với việc quy định: “Việc
thông báo, giải thích phải được ghi vào biên bản”[4].
- Bổ sung cơ chế bảo đảm quyền được trợ giúp pháp lý trong trường hợp chỉ định người bào chữa (khoản 2 Điều 76)
Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự đã quy định chỉ định người bào chữa
cho những đối tượng sau:
“1 Trong những trường hợp sau đây nếu người bị buộc tội, người đại diện hoặc người thân thích của họ không mời người bào chữa thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải chỉ định người bào chữa cho họ:
a) Bị can, bị cáo về tội mà Bộ luật hình sự quy định mức cao nhất của khung hình phạt là 20 năm tù, tù chung thân, tử hình;
b) Người bị buộc tội có nhược điểm về thể chất mà không thể tự bào chữa; người có nhược điểm về tâm thần hoặc là người chưa thành niên”[4].
Đồng thời, đã bổ sung cơ chế bảo đảm quyền được TGPL trong các
trường hợp trên, cụ thể tại Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định: “Cơ
quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải yêu cầu hoặc đề nghị các tổ chức sau đây cử người bào chữa cho các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này:
a) Đoàn luật sư phân công tổ chức hành nghề luật sư cử người bào chữa;
b) Trung tâm trợ giúp pháp lý cử Trợ giúp viên pháp lý, luật sư để bào chữa cho người thuộc diện được trợ giúp pháp lý;
c) Đề nghị Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận cử bào chữa viên để bào chữa cho thành viên của tổ chức mình
"[4].