Để thực hiện được nhiệm vụ đó, đáp ứng yêu cầu phục vụ nhân dân, xã hội ngày càng tốt hơn trong bối cảnh mới, việc xây dựng và nâng cao văn hóa công vụ trong các cơ quan hành chính nhà n
Trang 1H ỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUY ỄN CHIẾN
VĂN HÓA CÔNG VỤ CỦA VIÊN CHỨC TRUNG TÂM VĂN HÓA - THỂ THAO VÀ TRUYỀN THÔNG HUY ỆN TUY ĐỨC, TỈNH ĐẮK NÔNG
LU ẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
ĐẮK LẮK - NĂM 2020
Trang 2H ỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUY ỄN CHIẾN
VĂN HÓA CÔNG VỤ CỦA VIÊN CHỨC TRUNG TÂM VĂN HÓA - THỂ THAO VÀ TRUYỀN THÔNG
HUY ỆN TUY ĐỨC, TỈNH ĐẮK NÔNG
LU ẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
Chuyên ngành: Quản lý công
Mã số: 8 34 04 03 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS TRỊNH THANH HÀ
ĐẮK LẮK - NĂM 2020
Trang 3của riêng tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Trịnh Thanh Hà
Các nội dung nghiên cứu, số liệu và kết quả nghiên cứu trong Luận văn này là trung thực, chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào trước đây Các tài liệu trích dẫn, số liệu minh họa trong Luận văn là trung
thực có nguồn gốc và xuất xứ rõ ràng
Đắk Lắk, ngày 23 tháng 02 năm 2021
Trang 4Phân viện Học viện Hành chính Quốc gia khu vực Tây Nguyên, các quý thầy,
cô giáo đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu
Tôi xin gửi lời cảm ơn và biết ơn sâu sắc tới TS Trịnh Thanh Hà đã
trực tiếp hướng dẫn, dành nhiều thời gian và tận tình chỉ bảo trong quá trình nghiên cứu và giúp tôi hoàn thành Luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn và bày tỏ lòng biết ơn đến lãnh đạo, các đồng nghiệp trong Trung tâm Văn hóa - Thể thao và Truyền thông huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông đã hỗ trợ cho tôi rất nhiều trong quá trình nghiên cứu và
thực hiện đề tài luận văn thạc sĩ này
Tuy đã có nhiều cố gắng trong việc đầu tư thời gian và công sức nghiên
cứu hoàn thành luận văn, nhưng do hạn chế về chuyên môn, kiến thức, nên
chắc chắn không thể tránh khỏi những khiếm khuyết, thiết sót Kính mong
nhận được sự góp ý của các thầy, cô giáo, của đồng nghiệp và các bạn học viên, để Luận văn hoàn thiện hơn
Xin trân trọng cảm ơn!
Đắk Lắk, ngày 23 tháng 02 năm 2021
Trang 51.3 Các yếu tố tác động đến văn hóa công vụ ở Việt Nam hiện nay 27
Chương 2: THỰC TRẠNG VĂN HÓA CÔNG VỤ CỦA VIÊN
2.1 Khái quát về Trung tâm Văn hóa - Thể thao và Truyền thông
2.2 Thực trạng văn hóa công vụ tại Trung tâm Văn hóa - Thể thao và
Chương 3: GIẢI PHÁP THỰC HIỆN VĂN HÓA CÔNG VỤ CỦA
3.1 Phương hướng thực hiện văn hóa công vụ của viên chức Trung tâm Văn hóa -Thể thao và Truyền thông huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk
3.2 Một số giải pháp cụ thể để thực hiện văn hóa công vụ của viên
Trang 6CBCC Cán bộ công chức
Trang 7STT Bảng Trang
1 Bảng 2.1 Kết quả điều tra về mối quan hệ giữa
2
B ảng 2.2 Kết quả điều tra về mối quan hệ đồng
3
B ảng 2.3 Ý kiến của công dân và đối tác về thái
độ của công chức khi thi hành công vụ (theo phiếu
Trang 9M Ở ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, vấn đề công vụ, văn hóa công vụ, đạo đức công vụ đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Nhiều công trình khoa học đã công bố, nhiều cuộc hội thảo liên quan đến các vấn đề trên đã được tổ chức Không ít các văn bản của Đảng, của Nhà nước liên quan đến các chủ đề trên đã được ban hành và đi vào cuộc sống Đại hội đại biểu toàn
hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, trong đó có việc đẩy mạnh
thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước theo hướng xây dựng nền hành chính dân chủ, hiện đại, chuyên nghiệp, năng động, minh
bạch, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả Để thực hiện được nhiệm vụ đó, đáp ứng yêu cầu phục vụ nhân dân, xã hội ngày càng tốt hơn trong bối cảnh mới,
việc xây dựng và nâng cao văn hóa công vụ trong các cơ quan hành chính nhà nước được xác định là một trong những nội dung quan trọng hàng đầu Văn hóa công vụ được hiểu là một hệ thống những giá trị về đạo đức, trách nhiệm,
kỷ luật, truyền thống, phong cách, biểu trưng, ngôn ngữ… hình thành và chi
phối cách ứng xử và giao tiếp trong quá trình xây dựng và phát triển nền công
vụ, có khả năng lưu truyền và có tác động tới tâm lý, hành vi của người thực thi công vụ Đó chính là các hoạt động hằng ngày, các cách làm, thói quen,
nếp nghĩ được lặp đi lặp lại trong thực thi quyền lực công của cán bộ, công
chức, viên chức Văn hóa công vụ của cán bộ, công chức, viên chức được hình thành và phát triển phải là một quá trình lâu dài, liên tục và thống nhất, bao gồm các ảnh hưởng khách quan và tác động chủ quan của toàn xã hội Trong những tác động xã hội ảnh hưởng đến việc rèn luyện, giáo dục văn hóa công vụ có những tác động của nhà trường, của các đoàn thể, của gia đình,
của các đồng nghiệp, các nhóm bạn, của các cơ quan văn hoá giáo dục ngoài
Trang 10nhà trường, của các cơ quan thông tin đại chúng,… qua đó góp phần điều
chỉnh hành vi của cán bộ, công chức, viên chức cho phù hợp với yêu cầu của
xã hội
xuyên, mang tính lâu dài của các cấp, các ngành từ Trung ương tới địa phương góp phần xây dựng Chính phủ kiến tạo, hành động và mang lại những
lợi ích thiết thực cho người dân, tạo nền tảng để đẩy nhanh quá trình phát triển, hội nhập của đất nước trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0
hiện nay Tuy nhiên, bên cạnh những điều kiện thuận lợi, việc xây dựng VHCV cũng đang đối diện với nhiều khó khăn, thách thức, nhất là sự thiếu
nhất quán trong nhận thức, hành động của không ít cán bộ, công chức trong
hành chính chuyên nghiệp, trách nhiệm, minh bạch, hiệu quả, vì nhân dân
phục vụ Kế thừa, phát huy các giá trị văn hoá tốt đẹp của dân tộc, đồng thời đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế Nâng cao đạo đức công vụ của cán bộ, công chức, đạo đức nghề nghiệp của viên chức; tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính; phòng, chống tham nhũng Đề cao trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức trong thực hiện văn hoá công vụ Trung tâm Văn hóa -
Thể thao và Truyền thông (TT VHTT & TT) huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông
là đơn vị sự nghiệp thuộc Ủy ban nhân dân huyện Tuy Đức, thực hiện chức năng là cơ quan phát triển sự nghiệp; tổ chức các hoạt động tuyên truyền, phổ
biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước,
thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội của địa phương Hướng dẫn về chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ làm công tác thông tin cấp
xã Đáp ứng nhu cầu tiếp nhận thông tin, nâng cao dân trí, nhu cầu sáng của nhân dân trên địa bàn Chính vì vậy việc thực hiện văn hóa công vụ của viên
chức TT VHTT & TT huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông ngày càng có ý nghĩa
Trang 11quan trọng và cấp thiết Thực hiện văn hóa công vụ tại TT VHTT & TT huyện Tuy Đức, tỉnh Đăk Nông đã tạo được sự chuyển biến rõ rệt về nhận
thức và hành động thực tiễn của viên chức Bên cạnh những kết quả đạt được
vẫn còn tồn tại những mặt hạn chế như: vai trò của văn hóa công vụ chưa thực
sự được đề cao; thiếu ý thức trách nhiệm đối với công việc được giao, một số viên chức, người lao động vi phạm các quy định về giờ giấc làm việc, ý thức
tổ chức kỷ luật; sử dụng chưa hiệu quả thời giờ làm việc; làm việc qua loa, đại khái, kém hiệu quả; chưa nghiêm nghiêm chỉnh chấp hành nội quy, quy
chế của cơ quan, tổ chức; chưa chủ động phối hợp trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ, trang phục đến công sở chưa được coi trọng, hút thuốc lá không đúng nơi quy định, Những hạn chế trên cần sớm được khắc phục để thực
hiện tốt văn hóa công vụ, góp phần thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước giao phó
Từ những vấn đề nêu trên, cũng như với mong muốn góp phần để văn hóa công vụ tại đơn vị tôi đang công tác được hoàn thiện hơn trong thời gian
tới, tôi xin mạnh dạn lựa chọn đề tài “Văn hóa công vụ của viên chức Trung tâm Văn hóa - Thể thao và Truyền thông huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông” làm
luận văn tốt nghiệp cao học chuyên ngành Quản lý công
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Luận văn
Văn hóa công vụ là một đề tài nghiên cứu có tầm quan trọng rất lớn trong việc góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức trong công cuộc cải cách nền hành chính quốc gia Do đó, ở những phạm vi nghiên
cứu khác nhau, các cách tiếp cận khác nhau đều ít nhiều có đề cập trực tiếp đến nội dung này, hoặc gián tiếp đề cập thông qua các nghiên cứu về giao
tiếp, văn hóa giao tiếp hay giao tiếp - ứng xử trong hoạt động công vụ Cụ
thể:
Trang 12Ở góc độ khoa học hành chính công, trong luận án tiến sĩ với tên đề tài
“Xây dựng văn hóa ứng xử công vụ của công chức cơ quan hành chính nhà nước Việt Nam hiện nay”, tác giả Trịnh Thanh Hà đã hệ thống hóa những nội dung lý luận về văn hóa ứng xử công vụ của công chức trong các cơ quan hành chính nhà nước, xây dựng các giải pháp hình thành và phát triển văn hóa ứng xử công vụ của công chức cơ quan hành chính nhà nước Việt Nam hiện nay
Trong luận án tiến sỹ một nghiên cứu với đề tài: “Văn hóa công vụ ở
TS Huỳnh Văn Thới cho biết: Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn cho thấy cần
phải có nghiên cứu toàn diện hơn về văn hóa công vụ ở Việt Nam, nhận diện sát thực nội dung, đặc điểm của văn hóa công vụ ở Việt Nam, xác định rõ vai trò của văn hóa công vụ trong cách tiếp cận nhiều chiều cạnh, chỉ ra những nhân tố tác động đến văn hóa công vụ, nêu bật những giá trị văn hóa công vụ tích cực, những yếu tố không phù hợp, để xuất những giải pháp nhằm phát triển, hoàn thiện văn hóa công vụ, xây dựng nền công vụ “chuyên nghiệp, trách nhiệm, năng động, minh bạch, hiệu quả
Cuốn sách Xây dựng môi trường văn hóa cơ sở; do Văn Đức Thanh chủ biên, Nxb Chính trị Quốc gia 2001 Nội dung cuốn sách đã khẳng định quan điểm của Đảng ta về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc “vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy, phát triển kinh tế - xã hội”, trong đó việc xây dựng VHCV tại các cơ quan đơn vị hành chính là điều rất cần thiết
Nội Nội dung cuốn sách đã đề cập đến những vấn đề về cuộc vận động toàn
Trang 13dân đoàn kết trong phong trào xây dựng đời sống văn hóa tại khu dân cư Văn hóa được nhìn theo nghĩa rộng, văn hóa nằm trong mối quan hệ đa chiều với chính trị, pháp luật, kinh tế, môi trường và thiết chế văn hóa thể hiện quan điểm của Đảng, văn hóa vừa là nền tảng tinh thần của xã hội vừa là mục tiêu,
vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế và xã hội
gồm 7 chương, trong đó chương 4 bàn về đạo đức thực thi công vụ của công
chức Các tác giả trong cuốn giáo trình này quan niệm: Đạo đức công vụ trước hết được hình thành từ đạo đức cá nhân của công chức; đạo đức công vụ được hình thành từ khía cạnh đạo đức xã hội của công chức; đạo đức công vụ
là đạo đức nghề nghiệp đặc biệt - công vụ của công chức; đạo đức thực thi công vụ là sự hài hòa của các giá trị Có thể coi đây là cuốn giáo trình đầu tiên
viết về đạo đức công vụ ở nước ta trong thời gian qua, là một tài liệu tham
khảo bổ ích cho những ai quan tâm đến đạo đức công vụ
về việc ban hành kế hoạch tổ chức thực hiện phong trào thi đua “Cán bộ, công
chức, viên chức thi đua thực hiện văn hóa công sở” giai đoạn 2019 - 2025,
nhằm nâng cao đạo đức công vụ, nói không với tiêu cực, nâng cao tinh thần trách nhiệm, năng lực công tác để gắn bó với nhân dân hơn, phục vụ nhân dân
tốt hơn Qua đó, khẳng định quyết tâm của Chính phủ trong việc thực hiện tốt
chức năng quản lý nhà nước, nâng cao chất lượng phục vụ nhân dân, đẩy lùi tiêu cực, nhũng nhiễu, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong các cơ quan hành chính nhà nước ngày càng hoàn thiện về phẩm chất, có tác phong chuyên nghiệp, hiện đại, đáp ứng yêu cầu và nhiệm vụ thời kỳ mới
Luật cán bộ, công chức (2008), Luật viên chức (2010) đã đề cập đến đạo đức, văn hóa giao tiếp của cán bộ, công chức, viên chức trong thực thi
Trang 14công vụ Nhằm nâng cao văn hóa công vụ, góp phần hình thành phong cách ứng xử, lề lối làm việc chuẩn mực của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; đảm bảo tính chuyên nghiệp, trách nhiệm, năng động, minh bạch, hiệu quả trong hoạt động thực thi nhiệm vụ, công vụ; đáp ứng yêu cầu phục vụ Nhân dân, xã hội, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1487/QĐ-TTg ngày 27/12/2018 về phê duyệt Đề án văn hóa công vụ
đức công vụ và phòng, chống tham nhũng; Trách nhiệm công vụ và kỷ luật,
kỷ cương hành chính; Giao tiếp công vụ; Nghi thức hành chính và lễ tân công
vụ Có thể coi đây là tài liệu tham khảo bổ ích cho những ai quan tâm đến văn hóa công vụ Đây cũng được coi là tài liệu có liên quan trực tiếp đến đề tài mà chúng tôi lựa chọn
Trong những phạm vi nghiên cứu nhất định, các nghiên cứu trên đều cơ
bản đạt được các mục đích, nhiệm vụ đặt ra Đây là những tư liệu tham khảo quý báu cho các nghiên cứu về văn hóa công vụ của cán bộ, công chức, viên
chức nói chung, viên chức làm việc tại Trung tâm Văn hóa, Thể thao và Truyền thông huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông nói riêng Các nghiên cứu trên
vừa có những nội dung đề cập cụ thể đến văn hóa ứng xử, đồng thời vừa có
những nội dung bao quát với phạm vi rộng hơn hoặc có liên quan văn hóa trong hoạt động thực thi công vụ Các công trình nghiên cứu hiện có chưa đề
cập đến văn hóa công vụ của viên chức một Trung tâm mang tính chất đặc thù như Trung tâm Văn hóa, Thể thao và Truyền thông cấp huyện Trên cơ sở của các nghiên cứu trước đây và các quy định của pháp luật hiện hành, chúng tôi cho rằng việc lựa chọn nghiên cứu đề tài này sẽ góp phần làm phong phú và sâu sắc thêm những luận chứng khoa học cũng như cơ sở thực tiễn cho việc
thực hiện văn hóa công vụ mà nhu cầu khách quan xã hội đang đặt ra
Trang 153 M ục đích và nhiệm vụ của Luận văn
3.1 M ục đích
Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện văn hóa công vụ của viên chức TT VHTT & TT huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông đáp ứng yêu cầu công cuộc cải cách hành chính ở nước ta hiện nay
3.2 Nhi ệm vụ
Để đạt được mục đích trên, luận văn thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Làm rõ cơ sở lý luận và pháp lý về văn hóa công vụ
- Đánh giá thực trạng việc thực hiện văn hóa công vụ của viên chức TT VHTT & TT huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông Trên cơ sở đó, đánh giá những
kết quả đạt được, phát hiện những tồn tại trong việc thực hiện văn hóa công
vụ của viên chức và phân tích nguyên nhân của những tồn tại này để đưa ra
giải pháp khắc phục
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao việc thực hiện văn hóa công vụ
của viên chức TT VHTT & TT huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là việc thực hiện văn hóa công vụ của viên chức
TT VHTT & TT huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Tại TT VHTT & TT huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông
- Về thời gian: Từ năm 2019 đến năm 2020
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của Luận văn
Trang 165.1 Ph ương pháp luận
Đề tài dựa trên phương pháp luận là chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ
nghĩa duy vật lịch sử và cách tiếp cận hệ thống
5.2 Phương pháp nghiên cứu
pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp đánh giá, phương pháp so sánh, phương pháp quan sát trực tiếp…
Đề tài chủ yếu sử dụng các phương pháp phân tích, phương pháp điều tra khảo sát bằng phiếu; phương pháp quan sát để thu thập thông tin đa
dạng, phong phú và mang tính khách quan về đối tượng nghiên cứu Sau khi thu thập thông tin, chúng tôi tiến hành xử lý, phân tích thông tin để làm sáng
rõ mục đích và nhiệm vụ của đề tài
- Phần đánh giá thực trạng văn hóa công vụ của viên chức TT VHTT &
TT huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông, tác giả thực hiện các phương pháp nghiên
cứu phân tích, quan sát kết hợp với điều tra khảo sát Thông tin thu thập được qua cuộc điều tra khảo sát được lập bảng để phân tích nhằm phản ánh khía
cạnh khác nhau về văn hóa công vụ của viên chức TT VHTT & TT huyện
Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông
- Phương pháp tổng hợp: Trên cơ sở kết quả phân tích, đánh giá, rút ra
những kết luận khoa học cần thiết cho đề tài
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm rõ cơ sở lý luận về việc
thực hiện văn hóa công vụ
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Trang 17Kết quả nghiên cứu có thể làm tài liệu tham khảo cho một số cán bộ, công chức, viên chức và những người quan tâm; Đề xuất một số giải pháp
nhằm thực hiện văn hóa công vụ của viên chức TT VHTT & TT huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông Luận văn là tài liệu tham khảo cho các Trung tâm khác trên địa bàn tỉnh Đắk Nông và trên cả nước
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo, danh mục bảng biểu, sơ đồ, mẫu phiếu khảo sát, nội dung của Luận văn gồm
03 chương:
Chương 1: Cơ sở khoa học về văn hóa công vụ
Chương 2: Thực trạng văn hóa công vụ của viên chức Trung tâm Văn hóa Thể thao và Truyền thông huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông
Chương 3: Giải pháp thực hiện văn hóa công vụ của viên chức Trung tâm Văn hóa Thể thao và Truyền thông huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông
Trang 18Chương 1:
CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ VĂN HÓA CÔNG VỤ 1.1 Những khái niệm liên quan đến đề tài luận văn
1.1.1 Khái niệm về văn hóa
- Văn hóa, hiểu theo tư tưởng của Hồ Chí Minh: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn
ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật,
những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử
dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là sự
tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của
sự sinh tồn” Như vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thấy văn hoá là cơ chế tổng
hợp để hình thành và phát triển con người xã hội Và chính Người với tầm nhìn xa đã thực sự coi trọng và khẳng định vai trò to lớn của văn hoá đối với
sự nghiệp cách mạng, sự phát triển của con người và xã hội [26,tr 458]
- Trong “Tuyên bố về những chính sách văn hoá” thông qua tại Hội nghị quốc tế do Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hoá Liên hợp quốc (UNESCO) tổ chức tại Mehico năm 1982, văn hoá được định nghĩa như sau:
“Trong ý nghĩa rộng nhất, văn hoá hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt, tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của
một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội Văn hoá bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người,
những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng Văn hoá đem
lại cho con người khả năng suy xét về bản thân Chính văn hoá làm cho chúng
ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lý tính, có óc phê phán và
dấn thân một cách đạo lý Chính nhờ văn hoá mà chúng ta xét đoán được
Trang 19những giá trị và thực thi những sự lựa chọn Chính nhờ văn hoá mà con người
tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình là một phương án chưa hoàn thành đặt ta để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt
những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình vượt trội lên bản thân” [34 tr5-6]
- Nói một cách ngắn gọn hơn: “Văn hoá phản ánh và thể hiện một cách
tổng quát sống động mọi mặt của cuộc sống con người đã diễn ra trong quá
khứ và cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao nhiêu thế kỷ, nó đã
cấu thành nên một hệ thống các giá trị, truyền thống thẩm mỹ và lối sống mà
dựa trên đó từng dân tộc từng khẳng định bản sắc riêng của mình” [17, tr.29]
- Hiện nay Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hoá Liên hợp quốc (UNESCO) đang nhìn nhận văn hoá với một ý nghĩa rộng rãi hơn, coi văn hoá như một phức thể - tổng thể các đặc trưng, diện mạo về tinh thần, vật chất, tri
thức, tình cảm…khắc hoạ nên bản sắc của một cộng đồng gia đình, xóm làng,
đưa ra một khái niệm về văn hoá vừa mang tính khái quát, vừa mang tính đặc thù : “Văn hoá bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục
tập quán, lối sống và lao động” [42,tr.798]
- Từ điển Triết học đưa ra định nghĩa: “Văn hoá gồm toàn bộ những giá
trị vật chất và tinh thần do con người tạo ra trong quá trình thực tiễn xã hội –
lịch sử và tiêu biểu cho trình độ đạt được trong lịch sử phát triển xã hội…Văn hoá là một hiện tượng lịch sử, phát triển phụ thuộc vào sự thay thế các hình thái kinh tế - xã hội” [41, tr.1329 -1330]
Cũng đã có một số nhà nghiên cứu đưa ra các cách hiểu khác nhau về khái niệm văn hoá, có thể kể đến như:
Trang 20- Từ điển tiếng việt do Hoàng Phê chủ biên, giải thích từ “Văn hoá” với
5 góc độ: Tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong lịch sử Nói một cách tổng quát là những hoạt động của con người nhằm thoả mãn nhu cầu đời sống và tinh thần Nói khái quát về tri thức, trình độ cao trong sinh hoạt xã hội là biểu hiện cao về văn minh Trong trình
độ chuyên môn khái niệm văn hoá dùng để chỉ nền văn hoá của một thời kỳ
lịch sử được xác định trên cơ sở một tổng thể di vật lưu lại được có những đặc điểm giống nhau [28,tr 358]
- Trong Xã hội học văn hoá, tác giả Đoàn Văn Chúc cho rằng: “Văn hoá - vô sở bất tại: Văn hoá - không nơi nào không có! Điều này cho thấy tất
cả những sáng tạo của con người trên nền của thế giới tự nhiên là văn hoá; nơi nào có con người nơi đó có văn hoá” [16, tr.46]
khoa học tại Việt Nam Một số học giả tập trung nghiên cứu về văn hoá tiếp
tục đưa ra các quan niệm của mình về văn hoá Trên cơ sở phân tích các định nghĩa về văn hoá, Trần Ngọc Thêm đã đưa ra định nghĩa: “Văn hoá là một hệ
thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích
luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [39,tr 27] Định nghĩa này đã nêu
bật bốn đặc trưng quan trọng của văn hoá là: tính hệ thống, tính giá trị, tính
Trang 21tạo nên con người, và duy trì sự bền vững và trật tự xã hội Văn hoá được tái
tạo và phát triển trong quá trình hành động và tương tác xã hội của con người Văn hoá là trình độ phát triển của con người và của xã hội được biểu hiện trong các kiểu và hình thức tổ chức đời sống và hành động của con người cũng như trong giá trị vật chất và tinh thần mà do con người tạo ra và được con người thừa nhận, bao gồm trong đó là Chân - Thiện - Mỹ
Tóm lại, văn hoá là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh
th ần do con người sáng tạo và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong s ự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội Văn hoá
là hoạt động nhằm phát huy những năng lực bản chất của con người, vươn
t ới cái chân, cái thiện và cái mỹ, nhằm tạo ra những giá trị, những chuẩn
m ực xã hội Văn hoá đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân và
ho ạt động có hướng đích nhằm đạt tới một giá trị nào đó trong xã hội Những giá tr ị, niềm tin này được xem xét trong hoạt động công vụ của đội ngũ cán
b ộ, công chức, viên chức
1.1.2 Khái ni ệm về công vụ
Công vụ là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước - pháp lý, do các
cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền đảm nhiệm theo quy định của pháp
luật nhằm thực hiện các nhiệm vụ, chức năng của nhà nước, phụng sự Tổ
quốc, phục vụ nhân dân Hiểu một cách đơn giản hơn, công vụ là thực hành nhiệm vụ công phục vụ nhà nước, phục vụ nhân dân, là một loại hoạt động mang tính quyền lực được thực thi bởi đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nhà nước hoặc những người khác khi được nhà nước trao quyền, nhân dân ủy thác quyền lực nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước
Hoạt động công vụ là hoạt động do đội ngũ cán bộ, công chức, viên
chức thực thi, sử dụng ngân sách nhà nước để tiến hành các chức năng và
Trang 22nhiệm vụ của Nhà nước trong việc quản lý toàn diện các mặt của đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội của một quốc gia, vì mục đích phục vụ nhân dân
Công vụ mang tính tổ chức và tuân thủ những quy chế bắt buộc, theo
trật tự, có tính thứ bậc chất chẽ, chính quy và liên tục, được bảo đảm bằng quyền lực nhà nước Những nguyên tắc của chế độ công vụ: công vụ lấy lợi ích nhân dân làm mục tiêu hoạt động cán bộ, công chức thực hiện công vụ
chịu sự giám sát của nhân dân, bị thay thế, bãi miễn khi không đủ năng lực và
có hành vi vi phạm pháp luật; mọi công dân đều bình đẳng trong việc đảm nhiệm công vụ; quyền, nghĩa vụ của cán bộ, công chức được quy định công khai trong văn bản pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành
1.1.3 Khái ni ệm về viên chức
Theo Luật Cán bộ, công chức, viên chức sửa đổi năm 2019 và chính
thức có hiệu lực từ ngày 01/7/2020 thì viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo
chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật Và cũng theo Luật Cán bộ, công chức, viên chức sửa đổi năm 2019 thì lãnh đạo đơn vị sự nghiệp công lập cũng là viên chức
Viên chức được hiểu là người làm việc trong tổ chức phi chính phủ, tổ
chức chính trị – xã hội, cơ quan nhà nước, bổ nhiệm vào một ngạch hoặc được giao giữ 1 nhiệm vụ thường xuyên trong đơn vị của tổ chức chính trị, tổ
chức tư nhân, nhà nước được tuyển dụng, được hưởng lương từ ngân sách nhà nước và những nguồn thu từ đơn vị sự nghiệp theo quy định của pháp luật
1.1.4 Khái niệm về văn hóa công vụ
Văn hóa công vụ là tập hợp các giá trị của một nền công vụ, được xã
Trang 23hội thừa nhận và chia sẻ, trở thành niềm tin, đạo đức của cán bộ, công chức,
trở thành nếp sống, thói quen khi thực hành công vụ, góp phần khẳng định truyền thống và bản sắc riêng của nền công vụ Văn hóa công vụ thể hiện mối quan hệ tác động qua lại giữa văn hóa với công vụ, giữa công vụ và văn hóa Văn hóa công vụ nâng tầm hoạt động công vụ của con người và của tổ chức lên trình độ văn hóa, làm cho hoạt động công vụ mang tính tự giác, chủ động
và sáng tạo Như vậy, văn hóa công vụ không phải là bản thân công vụ, bản thân văn hóa, hay là sự tập hợp giản đơn hai lĩnh vực này, mà đó là công vụ bao hàm tính văn hóa từ bản chất bên trong của nó [48, tr 3]
Văn hóa công vụ là văn hóa của một tổ chức xã hội đặc thù có vai trò đặc biệt quan trọng gắn với việc thực thi quyền lực của nhà nước trong quản
lý các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội Tổ chức này tập hợp đội ngũ lao động là cán bộ, công chức nhà nước, được nhà nước tuyển dụng, sử dụng
và trả lương, đảm bảo các chính sách xã hội khác nhằm tạo điều kiện cho họ hoàn thành các nhiệm vụ do nhân dân giao phó Văn hóa công vụ tập hợp
những giá trị và chuẩn mực chung, được mọi thành viên trong tổ chức nhà nước chia sẻ, thực hiện để tạo nên sự thống nhất và đồng thuận trong hoạt động của cộng đồng, tạo thành khuôn mẫu, có tính kỷ luật và thống nhất, lặp
đi lặp lại thành truyền thống, bản sắc riêng của tổ chức Văn hóa công vụ không biệt lập, khép kín mà có quan hệ tương tác với các tiểu văn hóa khác trong xã hội, có ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đối với xã hội Nội hàm khái niệm văn hóa công vụ bao gồm các yếu tố cơ bản: Thứ nhất, văn hóa công vụ là hệ thống biểu tượng, chuẩn mực, giá trị, niềm tin hình thành trong
nhận thức, tạo nên tầm nhìn Thứ hai, văn hóa công vụ tác động đến hành vi
và lề lối làm việc, cách sống của người thực thi công vụ theo chuẩn mực nhất định Thứ ba, văn hóa công vụ không chỉ tác động đến yếu tố cá nhân mà còn tác động đến môi trường tổ chức một cách sinh động, phong phú Thứ tư, văn
Trang 24hóa công vụ có khả năng lưu truyền, tạo môi trường hợp tác, đồng thuận Thứ năm, văn hóa công vụ mang bản sắc văn hóa truyền thống dân tộc, cốt cách dân tộc [48,tr4] Bản chất của văn hóa trong thực thi công vụ là thể hiện
những chuẩn mực của con người trong các mối quan hệ liên quan đến hoạt động công vụ Mục tiêu của hoạt động công vụ là phục vụ nhân dân Công
chức, viên chức là nguồn lực cơ bản của nền hành chính nhà nước, của bộ máy nhà nước và hệ thống chính trị, cũng là lực lượng chủ yếu thực hiện hoạt động công vụ của Nhà nước ta Do đó, trong quá trình phục vụ nhân dân, cán
bộ, công chức, viên chức phải bảo đảm thực hiện các quy tắc ứng xử văn hóa mang tính chuẩn mực
Văn hóa công vụ là văn hóa của nền công vụ của một quốc gia, dân tộc,
bởi vậy nó có đặc trưng độc đáo để phân biệt nền văn hóa công vụ của quốc gia này khác với nền văn hóa công vụ của quốc gia khác Nền văn hóa công
văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” Để thực thực hiện được mục tiêu đó, nền văn hóa nói chung và văn hóa công vụ nói riêng phải là một nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc, phải là một nền văn hóa năng động, tích cực;
là hệ giá trị, niềm tin, chuẩn mực để định hướng cho mỗi cá nhân, tổ chức và
cả hệ thống bộ máy hành chính hoạt động đoàn kết một lòng nhất trí, cùng hướng tới mục tiêu chung của quốc gia và lợi ích chung của dân tộc Giá trị văn hóa công vụ có vai trò rất lớn trong việc tác động đến mục tiêu, hiệu quả chung của bộ máy hành chính nhà nước, của quốc gia ởi vì, mục tiêu chiến lược của quốc gia là do Nhà nước và cơ quan quyền lực nhà nước đặt ra để định hướng cho cá nhân, cán bộ, công chức, tổ chức xã hội, hệ thống hành chính nhà nước thực hiện Do đó, nếu văn hóa công vụ nhà nước bao gồm
những giá trị, chuẩn mực đúng đắn, phù hợp xu thế phát triển của quốc gia
Trang 25như: tôn trọng pháp luật, tận tụy phục tùng nhân dân, không hách dịch, cửa quyền, tham nhũng…; những giá trị về năng lực chuyên môn và tinh thần trách nhiệm được đề cao thì mục tiêu nhà nước đưa ra sẽ đạt hiệu quả cao, theo đúng tinh thần “vì dân” Khi văn hóa công vụ là yếu tố góp phần tác động đến mục tiêu và hiệu quả chung của quốc gia là khi nó đã thực hiện vai trò to lớn của mình trong việc góp phần khẳng định quy mô và vị thế của văn hóa Việt Nam
Văn hóa công vụ là văn hóa của nền công vụ của một quốc gia, dân tộc,
bởi vậy nó có đặc trưng độc đáo để phân biệt nền văn hóa công vụ của quốc gia này khác với nền văn hóa công vụ của quốc gia khác Nền văn hóa công
văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” Để thực thực hiện được mục tiêu đó, nền văn hóa nói chung và văn hóa công vụ nói riêng phải là một nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc, phải là một nền văn hóa năng động, tích cực;
là hệ giá trị, niềm tin, chuẩn mực để định hướng cho mỗi cá nhân, tổ chức và
cả hệ thống bộ máy hành chính hoạt động đoàn kết một lòng nhất trí, cùng hướng tới mục tiêu chung của quốc gia và lợi ích chung của dân tộc Giá trị văn hóa công vụ có vai trò rất lớn trong việc tác động đến mục tiêu, hiệu quả chung của bộ máy hành chính nhà nước, của quốc gia ởi vì, mục tiêu chiến lược của quốc gia là do Nhà nước và cơ quan quyền lực nhà nước đặt ra để định hướng cho cá nhân, cán bộ, công chức, tổ chức xã hội, hệ thống hành chính nhà nước thực hiện Do đó, nếu văn hóa công vụ nhà nước bao gồm
những giá trị, chuẩn mực đúng đắn, phù hợp xu thế phát triển của quốc gia như: tôn trọng pháp luật, tận tụy phục tùng nhân dân, không hách dịch, cửa quyền, tham nhũng…; những giá trị về năng lực chuyên môn và tinh thần trách nhiệm được đề cao thì mục tiêu nhà nước đưa ra sẽ đạt hiệu quả cao,
Trang 26theo đúng tinh thần “vì dân” Khi văn hóa công vụ là yếu tố góp phần tác động đến mục tiêu và hiệu quả chung của quốc gia là khi nó đã thực hiện vai trò to lớn của mình trong việc góp phần khẳng định quy mô và vị thế của văn hóa Việt Nam [48,tr 5-8]
Từ những phân tích trên, có thể đi đến định nghĩa: Văn hóa công vụ là
hệ thống biểu tượng, chuẩn mực, giá trị, niềm tin hình thành trong nhận thức,
tạo nên tầm nhìn, tác động đến hành vi và lề lối làm việc, cách sống của người
thực thi công vụ, của môi trường tổ chức, có khả năng lưu truyền và ảnh hưởng tới chất lượng công vụ [48, tr 9]
1.1.5 Vai trò c ủa văn hóa công vụ đối với hiệu quả hoạt động của tổ
ch ức
Văn hóa công vụ được xem như là một tài sản, một yếu tố đầu vào, một quá trình và đầu ra của tổ chức, giúp các thành viên và tổ chức đạt được mục tiêu hoạt động, giúp tổ chức cản phá được sự công phá từ bên ngoài, tiếp thu được những điều tốt đẹp Văn hóa bao giờ cũng gắn liền với sự phát triển, là chìa khóa của sự phát triển và tiến bộ xã hội Nói cách khác, văn hóa công vụ
có vai trò quan trọng đối với quá trình và mức độ theo đuổi mục tiêu hoạt động và phát triển của tổ chức Suy cho cùng, nỗ lực phát triển văn hóa công
vụ cũng là nhằm phát triển một cách tiếp cận hoặc một loại công cụ để đạt được chất lượng hoạt động, liên tục cải tiến và phát triển tổ chức
Văn hóa công vụ là điều kiện phát triển tinh thần và nhân cách cho con người Khả năng gây ảnh hưởng, để người khác chấp nhận giá trị của mình là
một nghệ thuật Nhờ có văn hóa con người có thể hưởng thụ những giá trị vật
chất và tinh thần như ý thức, trách nhiệm, nghĩa vụ, lòng tự trọng, … Góp
phần tạo ra tinh thần tự quản, tính tự giác của cán bộ, công chức nhằm đảm
bảo cho hoạt động của công sở nghiêm minh, hiệu quả Tạo ra tinh thần đoàn
Trang 27kết, tương trợ và tin cậy lẫn nhau, tạo ra bầu không khí tập thể cởi mở tạo điều kiện cho cán bộ, công chức trong tổ chức làm việc có hiệu quả cao, góp
phần giúp công sở hoạt động mạnh Tính tự giác trong hoạt động của cán bộ, công chức trong việc tuân theo quy chế, điều lệ sẽ giúp công sở phát triển, sẽ đưa tổ chức này phát triển vượt hơn lên so với tổ chức khác; Từ đó phát triển tinh thần và nhân cách của mỗi cán bộ, công chức, viên chức góp phần vào sự phát triển, cải cách nền hành chính công
Văn hóa công vụ tạo điều kiện cho các bên tham gia vào quan hệ hành chính ở tổ chức thực hiện quyền lợi và nghĩa vụ của mình văn hóa công vụ
thể hiện mối quan hệ giữa nhà nước và nhân dân thông qua quá trình giao tiếp hành chính góp phần hình thành nên những chuẩn mực, giá trị văn hóa mà cả hai bên cùng tham gia vào Mối quan hệ ứng xử giữa người dân với cán bộ, công chức, viên chức và giữa các thành viên trong tổ chức với nhau phải được cân bằng bằng cán cân của hệ thống giá trị văn hóa Văn hóa công vụ giúp cho cán bộ, công chức, viên chức và người dân biết phương hướng, cách thức
giải quyết công việc, giúp họ hiểu rõ những công việc cần làm, phải làm; đặc
biệt giúp họ thực hiện quyền và nghĩa vụ một cách hiểu biết, tự nguyện Qua
đó người cán bộ, công chức, viên chức thực hiện việc trao đổi quyền và nghĩa
vụ của các bên tham gia quan hệ ở tổ chức một cách tốt đẹp hơn
Văn hóa công vụ đem lại giá trị toàn diện cho con người Giá trị là cái
tồn tại, tác động mạnh mẽ đến hoạt động của tổ chức Giá trị của văn hóa công vụ cũng gắn bó với các quan hệ trong tổ chức, đó là: Giá trị thiết lập một
bầu không khí tin cậy trong tổ chức; Sự tự nguyện phấn đấu, cống hiến cho công việc; Được chia sẻ các giá trị con người cảm thấy yên tâm và an toàn hơn; iết được giá trị trong văn hóa ứng xử thì cán bộ, công chức, viên chức tránh được hành vi quan liêu, cửa quyền, hách dịch trong giao tiếp hành chính
với người dân; Các giá trị làm đơn giản hóa các thủ tục hành chính, các quy
Trang 28định nhưng vẫn đảm bảo đúng chính sách của nhà nước, của pháp luật làm cho hoạt động của tổ chức thuận lợi hơn
Văn hóa công vụ ảnh hưởng sâu sắc tới sự phát triển của tổ chức Bất
kỳ một cơ cấu tổ chức, trình tự vận hành, quá trình quyết sách cũng như hành động, thái độ, giá trị… của đội ngũ cán bộ, công chức đều trực tiếp hoặc gián
tiếp bị văn hóa công vụ tác động Dưới ảnh hưởng khác nhau của văn hóa, tinh thần làm việc của cán bộ, công chức trong tổ chức đều không giống nhau Đặc biệt là không khí làm việc trong cơ quan, tổ chức Nếu không khí làm
việc thân thiện sẽ khiến cán bộ, công chức, viên chức có một tinh thần thoải mái, dễ chịu, hiệu quả công việc sẽ cao hơn Ngược lại, không khí làm việc
ngột ngạt sẽ khiến cán bộ, công chức, viên chức khó hòa nhập và thậm chí là chán nản, không có hứng thú làm việc Chính vì thế, nền văn hóa cũng tạo nên không khí làm việc và từ đó ảnh hưởng tới hiệu quả của tổ chức;
Văn hóa công vụ vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển con người
Việc bảo vệ và phát huy giá trị văn hóa công vụ không chỉ là nhiệm vụ của
mỗi cơ quan, tổ chức mà còn là nhiệm vụ của mỗi cán bộ, công chức, viên
chức đối với công việc của mình ở các vị trí, cương vị khác nhau trong thực thi công vụ và cung cấp dịch vụ công
Trong hoạt động của tổ chức, quan hệ ứng xử và môi trường chính trị - hành chính mang đậm màu sắc văn hóa nhân bản (cái chân), nhân ái (cái thiện) và nhân văn (cái mỹ) là sự kết nối những giá trị truyền thống đến hiện đại Con người không ngừng học tập, sáng tạo để tiếp thu những tri thức mới
của nhân loại - đó là những yếu tố cấu thành văn hóa công vụ, đồng thời
khẳng định vai trò của văn hóa trong sự phát triển của mỗi cơ quan, tổ chức
hiện nay
Trang 29Thực tế đã chứng minh không thể coi nhẹ nhân tố con người trong sự phát triển của các cơ quan, tổ chức Nói đến con người chính là nói đến văn hóa, vì toàn bộ những giá trị văn hóa làm nên những phẩm chất, năng lực và tinh thần của con người Vận dụng các yếu tố văn hóa trong việc thúc đẩy mọi
hoạt động của tổ chức như xây dựng hệ thống thi đua - khen thưởng công
bằng, minh bạch, tạo ra bầu không khí làm việc phát huy tối đa sự sáng tạo,
cống hiến của cán bộ, công chức, viên chức, tạo động lực làm việc hăng say
… sẽ kích thích, loại bỏ được sức ỳ trong công việc
Trong một chừng mực nhất định, văn hóa công vụ phản ánh những giá
trị xã hội liên quan tới quá trình điều hành của tổ chức Mối quan hệ của văn hóa công vụ và văn hóa truyền thống sẽ tạo điều kiện cho tổ chức xây dựng các chuẩn mực điều hành theo yêu cầu của xã hội, không cục bộ, không đối
lập nhu cầu của cuộc sống cộng đồng nhằm giúp công sở có thái độ cầu thị, đoàn kết, khiêm tốn, góp phần bỏ thái độ hách dịch, cục bộ, vô tổ chức Văn hóa công vụ cũng có sự kế thừa và tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa văn hóa từ bên trong ra bên ngoài tổ chức, từ quá khứ đến tương lai giúp cơ quan
tạo nên những chuẩn mực, phá tính cục bộ, sự đối lập có tính bản thể của các thành viên Từ đó hướng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đến một giá trị chung, tôn trọng những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực văn hóa của tổ chức
Đó chính là làm cho cán bộ, công chức, viên chức hoàn thiện mình;
Thắng lợi của mỗi cơ quan, tổ chức không chỉ là mục tiêu kinh tế, chính
trị hay xã hội mà trước hết và hơn hết đó là văn hóa công vụ
Tóm lại, văn hóa công vụ với vai trò cơ bản vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển của tổ chức Vì vậy, việc bảo vệ và phát huy giá trị văn hoá công vụ trong tổ chức không những là nhiệm vụ của nhà nước mà còn là
Trang 30nhiệm vụ của mỗi cán bộ, công chức, viên chức trong công việc của mình, ở các vị trí, cương vị khác nhau trong quá trình thực thi công vụ
1.2 Nội dung văn hóa công vụ
1.2.1 Chuẩn mực giao tiếp, ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức
Giao tiếp, ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức chính là các hoạt động hằng ngày, các cách làm, thói quen, nếp nghĩ được lặp đi lặp lại trong thực thi quyền lực công của cán bộ, công chức, viên chức Vì thế, ý thức công
vụ được coi là cơ sở quan trọng để hình thành phong cách ứng xử, lề lối làm việc chuẩn mực của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức hiện nay Chúng ta
có thể thấy rằng, mọi thành công hay thất bại của công sở phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó chủ yếu nhất là yếu tố con người và hành vi ứng xử văn hóa Thời đại thông tin bùng nổ, chỉ cần một hành vi thiếu văn hóa, ứng xử thiếu chuẩn mực của cán bộ, công chức có thể nhanh chóng lan truyền, ảnh hưởng lớn tới uy tín và chất lượng quản lý của một cơ quan, tổ chức Văn hóa ứng xử của cán bộ, công chức một cơ quan, đơn vị có tính kế thừa và tiếp thu sáng tạo, có chọn lọc qua các giai đoạn phát triển và không ngừng được bổ sung hoàn thiện, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức văn minh, chuyên nghiệp ởi vì cán bộ công chức, viên chức là những người được Nhà nước tuyển chọn, bổ nhiệm khi đạt được tiêu chuẩn về trình độ lẫn đạo đức, được giao phó những vị trí, những công vụ để duy trì, vận hành và thúc đẩy phát triển của xã hội Chính vì vậy cũng đòi hỏi những đội ngũ này có một sự ứng xử chuẩn mực cao hơn rất nhiều so với những người bình thường Ngoài ứng xử của một công dân bình thường thì những cán bộ, công chức còn chịu
sự điều chỉnh của những văn bản quy phạm pháp luật như: Luật Cán bộ, công chức, Luật Viên chức Khi hoạt động trong một cơ quan thì còn phải tuân theo nội quy, quy định của cơ quan
Trang 31Chuẩn mực giao tiếp, ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức theo Quyết định số 1847/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 27/12/2018 về việc phê duyệt đề án Văn hóa công vụ nêu rõ:
Trong giao tiếp với người dân, cán bộ, công chức, viên chức phải tôn trọng, lắng nghe, tận tình hướng dẫn về quy trình xử lý công việc và giải thích cặn kẽ những thắc mắc của người dân Thực hiện “4 xin, 4 luôn”: xin chào, xin lỗi, xin cảm ơn, xin phép; luôn mỉm cười, luôn nhẹ nhàng, luôn lắng nghe, luôn giúp đỡ
Đối với đồng nghiệp, cán bộ, công chức, viên chức phải có tinh thần hợp tác, tương trợ trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ; không bè phái gây mất đoàn kết nội bộ của cơ quan, tổ chức
Đối với lãnh đạo cấp trên, cán bộ, công chức, viên chức phải tuân thủ thứ bậc hành chính, phục tùng sự chỉ đạo, điều hành, phân công công việc của cấp trên; không trốn tránh, thoái thác nhiệm vụ; không nịnh bợ lấy lòng vì động cơ không trong sáng
Cán bộ, công chức, viên chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý không được duy ý chí, áp đặt, bảo thủ; phải tôn trọng, lắng nghe ý kiến của cấp dưới; gương mẫu trong giao tiếp, ứng xử
1.2.2 Tinh thần, thái độ làm việc của cán bộ, công chức, viên chức
- Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh đến tầm quan trọng của cán bộ
và công tác cán bộ, coi đó là nền móng của mọi thành công: “Cán bộ là gốc
của mọi công việc” Thực hiện tư tưởng đó của Người, trong những năm qua Đảng và Nhà nước ta đã ban hành và tổ chức triển khai thực hiện nhiều văn
bản quy định về cán bộ, công chức, trong đó có các quy định về nâng cao trách nhiêm thực thi công vụ của cán bộ, công chức Xây dựng đội ngũ cán
bộ, công chức chuyên nghiệp, hiện đại, có phẩm chất đạo đức, có kiến thức và
kỹ năng nghiệp vụ, có tinh thần trách nhiệm phục vụ nhân dân luôn là một
Trang 32trong những ưu tiên hàng đầu trong cải cách nền hành chính nhà nước, đổi
mới chế độ công vụ, công chức ở Việt Nam [49, tr 1]
- Tài liệu bồi dưỡng Văn hóa công vụ do TS Đặng Xuân Hoan - Giám đốc học viện Hành chính Quốc gia chủ biên cũng đã nêu rõ: Cán bộ, công
chức, viên chức phải trung thành với Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam; bảo vệ danh dự Tổ quốc và lợi ích quốc gia; tôn trọng và tận tụy
phục vụ Nhân dân Khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ, cán bộ, công chức, viên
chức phải ý thức rõ về chức trách, bổn phận của bản thân, bao gồm:
+ Phải sẵn sàng nhận và nỗ lực hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được phân công; không kén chọn vị trí công tác, chọn việc dễ, bỏ việc khó Tâm huyết,
tận tụy, gương mẫu làm tròn chức trách, nhiệm vụ được giao; không vướng vào “tư duy nhiệm kỳ”
+ Phải có ý thức tổ chức kỷ luật; sử dụng có hiệu quả thời giờ làm việc; tránh hiện tượng trung bình chủ nghĩa, làm việc qua loa, đại khái, kém hiệu
quả; nghiêm chỉnh chấp hành nội quy, quy chế của cơ quan, tổ chức; chủ động phối hợp trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ
+ Không được gây khó khăn, phiền hà, vòi vĩnh, kéo dài thời gian xử
lý công việc của cơ quan, tổ chức và người dân; không thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm trước những khó khăn, bức xúc của người dân
+ Cán bộ, công chức, viên chức lãnh đạo phải công tâm, khách quan trong sử dụng, đánh giá cán bộ thuộc quyền quản lý; không lợi dụng vị trí công tác để bổ nhiệm người thân quen; chủ động xin thôi giữ chức vụ khi
nhận thấy bản thân còn hạn chế về năng lực và uy tín
1.2.3 Chuẩn mực về đạo đức, lối sống của cán bộ, công chức, viên chức
Trang 33Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra nhiều tiêu chí về người cán
bộ, về rèn luyện đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, như cán bộ là “công
bộc” của nhân dân; đức là “gốc”, đức quyết định thành công của người cán
bộ, giúp người cán bộ vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, hy sinh để hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao cho Đức của người cán bộ, công chức, viên chức là đạo đức cách mạng, thể hiện ở phẩm
chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống; ở lòng trung thành vô hạn đối với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân và với chế độ xã hội chủ nghĩa; ở trình độ giác ngộ lý tưởng xã hội chủ nghĩa, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh để thực hiện
mục tiêu, lý tưởng cao đẹp là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội Đức của người cán bộ, công chức, viên chức còn được thể hiện ở sự trong sáng, trung
thực, không cơ hội, thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư; biết hy sinh lợi ích của cá nhân cho lợi ích của Tổ quốc, của dân tộc, của nhân dân;
có lối sống trong sạch, lành mạnh, gần gũi với quần chúng, gương mẫu, gắn
bó với nhân dân, luôn khiêm tốn, giản dị, cầu thị; luôn có tinh thần đoàn kết, thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau
Cùng với sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là sự ra đời của hệ thống pháp luật Với
bản chất nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân, những giá trị đạo đức nghề nghiệp hướng tới xây dựng một nền công vụ phục vụ Nhân dân
đã từng bước được hình thành và phát triển trên nền tảng tư tưởng đạo đức và pháp luật của nhà nước dân chủ nhân dân Trong hệ thống pháp luật của Nhà nước ta đã xuất hiện và ngày càng được bổ sung đầy đủ hơn, hoàn thiện hơn
hệ thống các quy phạm pháp luật về công vụ, công chức, viên chức Nhiều nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức của xã hội mới đã từng bước được thể chế hóa thành những quy phạm pháp luật cho chuẩn mực hành vi của cán bộ, công chức, viên chức trong quá trình thi hành công vụ, đáp ứng ngày càng tốt
Trang 34hơn nhu cầu xây dựng một nền công vụ gắn với nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân [50,tr 1]
Cán bộ, công chức, viên chức phải không ngừng học tập, tu dưỡng, rèn luyện về đạo đức, lối sống Thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; trung thực, giản dị, thẳng thắn, chân thành; không có biểu hiện cơ hội, sống ích kỷ, ganh ghét, đố kỵ Cán bộ, công chức, viên chức không được đánh bạc,
sa vào các tệ nạn xã hội; không được sử dụng đồ uống có cồn trong thời gian làm việc và giờ nghỉ trưa; hút thuốc lá đúng nơi quy định; phải tuân thủ kỷ
luật phát ngôn, không sử dụng mạng xã hội để khai thác, tuyên truyền các thông tin chưa được kiểm chứng, phiến diện, một chiều ảnh hưởng đến hoạt động công vụ Cán bộ, công chức, viên chức phải tuân thủ chuẩn mực đạo đức gia đình và xã hội, thuần phong mỹ tục, truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân
tộc; không mê tín dị đoan và có những hành vi phản cảm khi tham gia lễ
hội [48, tr 27]
1.2.4 Về trang phục của cán bộ, công chức, viên chức
Luật Cán bộ, công chức hiện hành không đề cập đến cách ăn mặc của công chức Tuy nhiên, nội dung này được quy định trong Quy chế văn hóa công sở tại cơ quan hành chính Nhà nước do Thủ tướng phê duyệt tại Quyết định 129/2007/QĐ-TTg Theo đó, khi thực hiện nhiệm vụ, cán bộ, công chức, viên chức phải ăn mặc gọn gàng, lịch sự Nếu có trang phục riêng phải thực hiện theo quy định của pháp luật Ngoài ra, cán bộ, công chức còn có lễ phục (trang phục chính sử dụng trong những buổi lễ, cuộc họp trọng thể, các cuộc tiếp khách nước ngoài) Cụ thể, lễ phục của nam giới là bộ comple, áo sơ mi, caravat và với nữ giới là áo dài truyền thống và bộ comple nữ…Ngoài nguyên tắc chung nêu trên, mỗi ngành, địa phương lại có quy định riêng về việc công chức phải ăn mặc thế nào khi đi làm, tùy thuộc vào nhiệm vụ cụ thể từng công
Trang 35chức Như với công chức làm nhiệm vụ tiếp công dân thường xuyên tại Trụ
sở tiếp công dân, phải mặc áo sơ mi màu trắng, quần xanh đen, đi giày da màu đen, dép quai hậu đối với nam; nữ giới phải mặc sơ mi trắng, váy juýp dáng ôm, đi giày da màu đen
Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1487/QĐ-TTg ngày 27/12/2018 về phê duyệt Đề án văn hóa công vụ nêu rõ: Về trang phục, khi thực hiện nhiệm vụ, cán bộ, công chức, viên chức phải ăn mặc gọn gàng, lịch
sự, đi giày hoặc dép có quai hậu Trang phục phải phù hợp với tính chất công việc, đặc thù trang phục của ngành và thuần phong, mỹ tục của dân tộc Đối với những ngành có trang phục riêng thì phải thực hiện theo quy định của ngành
1.3 Các yếu tố tác động đến văn hóa công vụ ở Việt Nam hiện nay
1.3.1 Điều kiện kinh tế - xã hội
Điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước tác động đến mọi lĩnh vực, trong đó có nền VHCV Điều này được thể hiện ở nhiều khía cạnh như việc xây dựng chủ trương, chính sách, chuẩn mực của nền VHCV; việc đầu tư nguồn lực xây dựng cơ quan, công sở văn minh, hiện đại, trang bị phương
tiện, điều kiện làm việc; việc trả lương, tạo điều kiện đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ C CCVC…
Đất nước ta từ khi đổi mới (năm 1986) đến nay, điều kiện kinh tế - xã
hội có sự phát triển ổn định, liên tục, đạt nhiều thành tựu quan trọng Đó là cơ
sở để có thêm điều kiện dành nhiều nguồn lực hơn cho việc xây dựng VHCV
Nhờ vậy, nền hành chính, công vụ ở Việt Nam theo định hướng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng đã đạt nhiều kết quả quan trọng Thể chế này ngày càng
thể hiện tính dân chủ, tiến bộ; chính quyền ngày càng liêm chính, công khai,
Trang 36minh bạch, đáp ứng được yêu cầu, nguyện vọng của nhân dân Mối quan hệ
giữa khu vực tư và khu vực công ngày càng gần gũi hơn cả trong nhận thức
và hành động Công dân được trao nhiều quyền hơn thông qua các hình thức
ủy quyền, phân quyền, nhiều nhiệm vụ hơn và cũng có nhiều sự tự do hơn khi
họ áp dụng những nguyên tắc, hệ thống các quy tắc linh hoạt hơn Sự cầm quyền ngày càng khoa học, dân chủ, bằng Hiến pháp, pháp luật Cơ sở vật
chất, trang thiết bị ở công sở ngày càng đầy đủ, ngăn nắp, khoa học đã hỗ trợ đắc lực cho CBCCVC, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động, góp phần hoàn thành công vụ được giao…
Tuy nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước dù phát triển nhanh nhưng vẫn chưa thực sự đáp ứng tốt yêu cầu Điều đó được thể hiện khá rõ ở chính sách tiền lương cho đội ngũ C CCVC vẫn còn thấp Vì lương chưa đáp ứng tốt nhu cầu của cuộc sống nên họ vẫn chưa thật sự chuyên tâm, vẫn còn tình trạng “chân trong, chân ngoài”, dẫn đến một số hiện tượng vòi vĩnh, tham nhũng, hối lộ… Thể chế VHCV chưa được hoàn thiện: “Năng lực xây dựng
và thực thi pháp luật, cơ chế chính sách chưa cao, một số văn bản pháp luật ban hành còn chậm, chưa phù hợp với thực tiễn; nhiều chính sách còn chồng chéo, chậm khắc phục…Cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước còn cồng kềnh;
chức năng, nhiệm vụ nhiều cơ quan, đơn vị vẫn còn chồng chéo và chưa đủ cụ
thể, chưa rõ thẩm quyền trách nhiệm cá nhân, nhất là người đứng đầu” Cơ quan, công sở ở cấp cơ sở (cấp xã) còn nhiều khó khăn, thiếu thốn về trang thiết bị, phương tiện làm việc, nhất là ở các địa phương có kinh tế chậm phát triển…
1.3.2 Truyền thống dân tộc
Truyền thống dân tộc là những phong tục, tập quán, tư tưởng, lối sống,
lối nghĩ, hành vi… đã được cộng đồng thừa nhận và duy trì, được trao truyền
Trang 37từ thế hệ này sang thế hệ khác Chính vì vậy, truyền thống luôn tác động và
hiện diện trong cuộc sống hiện tại, dù bản thân chúng ta có ý thức về điều đó hay không Truyền thống theo cách gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh đó chính là
“cái cũ” Đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức (C CCVC) cũng là một nhóm người cụ thể trong xã hội, cũng chịu ảnh hưởng từ thuyền thống quốc gia, dân
tộc Vì vậy, truyền thống cũng tác động đến văn hóa công vụ theo cả hai chiều tích cực và tiêu cực Bởi “cái cũ” thì có “cái tốt”, “cái xấu”, “cái không xấu nhưng phiền phức” như ác Hồ đã nêu rõ Tác động của truyền thống dân tộc đến văn hóa công vụ ở Việt Nam hiện nay được thể hiện ở cả mặt tích cực và tiêu cực
V ề tác động tích cực:
Trước hết, chúng ta cần phải hiểu rằng, nền văn hóa truyền thống của
Việt Nam vốn không phân biệt rạch ròi từng lĩnh vực trong quản lý xã hội, đất nước Vì vậy, giữa pháp luật và đạo đức có mối quan hệ ràng buộc, tác động qua lại, bổ sung và chuyển hóa cho nhau Các triều đại phong kiến ở Việt Nam vẫn có hệ thống luật pháp với việc ban hành các bộ luật, điều đó có thể
hiện tư tưởng “pháp trị” Song về cơ bản, các triều đại ấy vẫn trú trọng và phát huy các quy chuẩn đạo đức để quản lý xã hội, vì vậy, tư tưởng “đức trị” được thể hiện rất rõ Nền tảng đạo đức phong kiến như “trung quân, ái quốc”,
“tôn sư trọng đạo”, “hiếu kính với cha”, nhân, nghĩa, lễ, trí, tín… là những cơ
sở quan trọng để quản lý xã hội
Văn hóa truyền thống Việt Nam có nhiều giá trị đặc trưng, tiêu biểu của
cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp qua hàng ngàn năm lịch sử
Nổi bật nhất đó là lòng yêu nước nồng nàn, hoàn cảnh lịch sử Việt Nam đã hun đúc, tôi rèn người Việt tinh thần quyết tâm giữ nước và xây dựng nước
một cách cao độ Lòng tự cường dân tộc đó đã tiếp cho nhân dân sức mạnh để
Trang 38đưa đất nước hòa nhập với xu thế phát triển chung và khẳng định vị thế của
Việt Nam
Th ứ đến, tinh thần tập thể, tính cộng đồng cao Tập quán sinh sống
trong các làng, xã giúp mọi người gần gũi, gắn bó và đoàn kết với nhau Trong quản lý xã hội xưa thì không chỉ “phép vua”, mà “lệ làng”, “hương ước”, “luật tục”… cũng rất quan trọng Điều đó khiến cho hành vi vi phạm pháp luật khi bị pháp luật trừng phạt không chỉ mang tính răn đe với từng cá nhân người phạm tội, mà họ còn phải chịu “búa rìu” dư luận xã hội từ gia đình, từ dòng họ, từ cộng đồng (có khi còn đáng sợ hơn cả án tử hình) Vì
trách nhiệm gìn giữ uy tín, danh dự cho bản thân, gia đình, dòng họ trước
cộng đồng Bên cạnh đó, văn hóa Việt Nam còn có sự ảnh hưởng đậm nét của Nho giáo và Phật giáo, mà hai tôn giáo trên có những quy phạm đạo đức giúp cho xã hội ổn định hơn, ít tranh chấp, giảm xung đột… Vì vậy, việc quản lý
xã hội cũng dễ dàng hơn Các tư tưởng, nhiệm vụ, bổn phận được phát huy đúng cũng giúp người dân nói chung, đội ngũ C CCVC nói riêng có ý thức
hơn về trách nhiệm của mình với gia đình, xã hội và đất nước
Một điểm hết sức quan trọng khác là tình thương yêu con người, đó là giá trị đạo đức đặc trưng đáng tự hào của dân tộc ta Đây là cơ sở rất quan
trọng khiến cho đội ngũ C CCVC phải có cái tâm vì dân Tinh thần “thương người như thể thương thân” làm cho đại đa số người Việt Nam luôn coi trọng
chữ tình trong quan hệ ứng xử, bởi “vì tình vì nghĩa ai vì đĩa xôi đầy”, “người
sống hơn đống vàng” Và cao hơn đó là “Nhiễu điều phủ lấy giá gương/Người
“minh quan” ở Việt Nam có tư tưởng trọng dân, biết ơn dân, chăm lo cho dân Điều này được Chủ tịch Hồ Chí Minh khái quát rất rõ, rằng tư tưởng “thương nước, thương dân” phải là những giá trị đạo đức cơ bản của những người lãnh
Trang 39đạo đất nước, của đội ngũ C CCVC nói chung Những tư tưởng của Hồ Chủ
tịch vẫn còn nguyên giá trị trong xây dựng VHCV hiện nay
- V ề tác động tiêu cực: Dù truyền thống dân tộc có nhiều giá trị tích cực
nhưng bên cạnh đó cũng có những tác động tiêu cực trong xây dựng VHCV
của đội ngũ C CCVC hiện nay Cụ thể như:
+ Trong xã hội phong kiến Việt Nam, quan lại, chức sắc thay mặt vua
quản lý, điều hành công việc ở các tổng, huyện, xã, làng Vì vậy, một bộ phận
lợi dụng các đặc quyền, quyền lực để hạch sách, vòi vĩnh, áp bức nhân dân
nhằm nhận đồ “biếu xén”, “trục lợi”… Đây là thói hư, tật xấu trong xã hội phong kiến có tác động đến vấn nạn vòi vĩnh, tham ô, hối lộ, cửa quyền, hách
+ Trong tuyển chọn, bố trí quan lại, chức sắc thời xưa, thì yếu tố thân quen hay gia đình trị thể hiện khá rõ Ở cấp cao nhất, vua là “cha truyền con
nối” Ở trong làng, xã, tổng thì những dòng họ có người làm quan hay có thế
lực thì dòng họ đó thường được cất nhắc, kế nhiệm bằng sự thân quen hay
tiền bạc Tâm lý “một người làm quan cả họ được nhờ”, mua quan bán tước
đó hiện nay chưa hẳn đã hết Những thói quen đó đến nay vẫn hiện hữu ở một
bộ phận không nhỏ C CCVC như tính gia trưởng, tôn ti, cất nhắc người thân,
óc bè phái, cục bộ địa phương…
+ Người Việt xưa quan niệm pháp luật là hình phạt của Nhà nước để cai trị xã hội Nhưng nếu quan lại có vi phạm các quy định, kỷ cương thì được
giảm nhẹ so với dân thường Vậy nên nhân dân đã đúc kết rằng người dân mà
kiện quan lại thì như “con kiến mà kiện củ khoai” Người dân xưa nếu có bị quan lại chèn ép, áp bức, bị thiệt thòi thì đành “ngậm bồ hòn làm ngọt”, “một
sự nhịn bằng chín sự lành” Tâm lý “nhất đáo tụng đình”, sợ đến nơi pháp đình, “kiện sẽ gặp họa” trở nên khá phổ biến Mặc dù xã hội hiện nay đã thay
Trang 40đổi nhưng những thói quen cũ đó vẫn bám rễ trong cách nghĩ, cách làm trong
bộ phận không nhỏ CBCCVC Thời xưa, làng - xã là đơn vị trung tâm, tương đối ổn định, có phong tục, tập quán riêng: “Trống làng nào làng đó đánh/Thánh làng nào làng đó thờ” Điều đó tạo nên tính tự trị, mỗi làng có
luật lệ riêng thường gọi là hương ước Lâu dần thành quen, từ đó hình thành nên thói quen trọng lệ làng hơn pháp luật: “Phép vua thua lệ làng” ên cạnh
đó, người Việt vốn đề cao lối sống trọng nghĩa tình, dẫn đến thái độ cảm tính, xem trọng tình cảm, xem nhẹ cái lý, thiếu tôn trọng các nguyên tắc
1.3.3 Bối cảnh hội nhập quốc tế
Hiện nay, Việt Nam đang trong quá trình mở cửa hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi song cũng không ít thách thức
đi kèm Về những tác động tích cực, chúng ta thấy rõ là đời sống vật chất và tinh thần của mọi tầng lớp dân cư trong xã hội được nâng lên Ý thức về con người cá nhân, về tự do và dân chủ được nâng lên Hoạt động của nền công
vụ Việt Nam trên cơ sở đó cũng có tính dân chủ hơn, công khai và minh bạch hơn Trong thời gian vừa qua, nền hành chính Việt Nam liên tục nỗ lực cải cách nhằm đáp ứng bối cảnh hội nhập quốc tế, đáp ứng tốt hơn nhu cầu phong phú và đa dạng của các tầng lớp dân cư Mọi công dân trong xã hội có cơ hội tham gia, hiểu biết hơn về hoạt động quản lý nhà nước, thậm chí có điều kiện
để giám sát, có môi trường để thể hiện ý kiến cá nhân… Điều đó đã và đang tác động ngày càng tốt trong xây dựng VHCV, đến hành vi ứng xử của đội ngũ C CCVC
Tuy nhiên, ở chiều ngược lại, dưới tác động của quá trình mở cửa hội
nhập quốc tế và mặt trái của cơ chế thị trường đã dẫn đến những tác động tiêu
cực Đó là việc không ít người đề cao lối sống thực dụng, đặt mục tiêu lợi nhuận kinh tế lên trên hết, tuyệt đối hóa sức mạnh của đồng tiền, sùng bái vật