Chương 1: tập trung vào các vấn đề tổng quan, khái quát của nội dung nghiên cứu, bao gồm kết quả của các công trình nghiên cứu liên quan đã được thực hiện trên thế giới và tại Việt Nam;
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA CÁC KHOA HỌC LIÊN NGÀNH
PHAN THỊ NHUNG
NGHIÊN CỨU VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ TRONG
HOẠT ĐỘNG ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TẠI
XÃ THƯỢNG BẰNG LA, HUYỆN VĂN CHẤN, TỈNH YÊN BÁI
LUẬN VĂN THẠC SĨ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Hà Nội - 2020
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA CÁC KHOA HỌC LIÊN NGÀNH
PHAN THỊ NHUNG
NGHIÊN CỨU VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ TRONG
HOẠT ĐỘNG ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TẠI
XÃ THƯỢNG BẰNG LA, HUYỆN VĂN CHẤN, TỈNH YÊN BÁI
LUẬN VĂN THẠC SĨ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Chuyên ngành: BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Mã số: 8900201.01QTD
Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Thị Tuyết
HÀ NỘI – 2020
Trang 3Tôi xin gửi lời tri ân đến các thầy cô và cán bộ Khoa Các khoa học liên ngành, Đại học Quốc Gia Hà Nội đã giảng dạy và truyền đạt các kiến thức về chuyên ngành học Biến đổi khí hậu, giúp tôi có thêm động lực để theo đuổi chuyên ngành mà tôi yêu thích, đồng thời tạo điều kiện giúp tôi hoàn thành chương trình học và thực hiện luận văn sau 2 năm theo học tại trường
Tôi cũng vô cùng biết ơn sự hỗ trợ nhiệt tình của Ông Hoàng Xuân Dương, Phó chủ tịch UBND xã Thượng Bằng La, Ông Hà Bảo Chung, cán bộ xã cùng các cán bộ và người dân xã Thượng Bằng La, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái đã tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thu thập thông tin, thực hiện khảo sát tại vùng nghiên cứu
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đối với gia đình, người thân, bạn bè và đồng nghiệp vì những hỗ trợ tinh thần quý báu, giúp tôi có thêm động lực để hoàn thành luận văn đúng thời hạn
Tôi xin chân thành cảm ơn./
Tác giả
Phan Thị Nhung
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đề tài “Nghiên cứu vai trò của phụ nữ trong hoạt động ứng phó với biến đổi khí hậu tại xã Thượng Bằng La, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái” là do chính tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS Trần Thị Tuyết Các
thông tin, số liệu tham khảo trong tài liệu có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đầy
đủ, chính xác và đảm bảo quy định Các số liệu khảo sát tại vùng nghiên cứu là trung thực
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính xác thực của luận văn
Tác giả
Phan Thị Nhung
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN ii
MỤC LỤC iii
CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC HÌNH vii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 7
1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu 7
1.2 Cơ sở lý luận về vấn đề giới và biến đổi khí hậu 14
1.2.1 Khái niệm 14
1.2.2 Chính sách về giới và biến đổi khí hậu 25
1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của phụ nữ trong hoạt động ứng phó với biến đổi khí hậu 33
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀKHU VỰC NGHIÊN CỨU 38 2.1 Phương pháp nghiên cứu 38
2.1.1 Phương pháp luận 38
2.1.2 Phương pháp nghiên cứu 38
2.2 Đặc điểm chung về khu vực nghiên cứu 44
2.2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội 44
2.2.2 Biểu hiện và xu hướng của biến đổi khí hậu 51
2.2.3 Tác động của biến đổi khí hậu 53
2.2.4 Kế hoạch phòng chống thiên tai và hoạt động ứng phó với biến đổi khí hậu 59 CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ TRONG HOẠT ĐỘNG ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TẠI XÃ THƯỢNG BẰNG LA, HUYỆN VĂN CHẤN, TỈNH YÊN BÁI 62
3.1 Nhận thức của phụ nữ về biến đổi khí hậu 62
3.1.1 Kiến thức về thiên tai 62
3.1.2 Kiến thức về thời tiết và biến đổi khí hậu 63
3.2 Vai trò của phụ nữ trong thích ứng với biến đổi khí hậu thông qua hoạt động sản xuất nông nghiệp 66
3.2.1 Phân công lao động theo giới trong hoạt động sản xuất nông nghiệp 66
Trang 63.2.2 Sự tham gia của phụ nữ trong thích ứng với biến đổi khí hậu thông qua hoạt
động sản xuất nông nghiệp 69
3.3 Vai trò của phụ nữ trong hoạt động quản lý rủi ro thiên tai 71
3.3.1 Sự tham gia của phụ nữ trong hoạt động quản lý rủi ro thiên tai ở cấp hộ gia đình 71
3.3.2 Sự tham gia của phụ nữ trong hoạt động quản lý rủi ro thiên tai ở cấp cộng đồng 76
3.4 Quyền và sự tham gia quá trình ra quyết định của phụ nữ ở cấp hộ gia đình và cộng đồng 78
3.4.1 Quyền ra quyết định của phụ nữ ở cấp hộ gia đình 78
3.4.2 Sự tham gia của phụ nữ trong quá trình ra quyết định ở cấp cộng đồng 80
3.5 Đề xuất các giải pháp thúc đẩy vai trò của phụ nữ trong hoạt động thích ứng với biến đổi khí hậu 82
3.5.1 Quan điểm đề xuất giải pháp thúc đẩy vai trò của phụ nữ trong hoạt động thích ứng với biến đổi khí hậu 82
3.5.2 Giải pháp thúc đẩy vai trò của phụ nữ 84
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT NGHIÊN CỨU TRONG TƯƠNG LAI 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
PHỤ LỤC 96
Trang 7ECOSOC : Hội đồng Kinh tế và Xã hội của Liên hiệp quốc (United
Nations Economic and Social Council) IPCC : Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi Khí hậu
(Intergovernmental Panel on Climate Change) LHPN : Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam
LHQ : Liên hiệp quốc (United Nations)
Organization) PCLB : Phòng chống lụt bão
PCTT : Phòng chống thiên tai
QLRRTT : Quản lý rủi ro thiên tai
RRTT : Rủi ro thiên tai
SXKD : Sản xuất kinh doanh
TCTK : Tổng cục thống kê
TĐBKVN : Từ điển Bách khoa Việt Nam
TNMT : Tài nguyên và Môi trường
TƯBĐKH : Thích ứng với biến đổi khí hậu
UNDP : Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc (United Nations
Development Program) VSMT : Vệ sinh môi trường
WHO : Tổ chức Y tế Thế giới (World Health Organization)
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Thông tin và đặc điểm đối tượng phỏng vấn 42
Bảng 2.2 Tình hình dân số xã Thượng Bằng La năm 2019 48
Bảng 2.3 Xu hướng thiên tai do BĐKH tại xã Thượng Bằng La 52
Bảng 2.4 Đánh giá RRTT tại xã Thượng Bằng La 55
Bảng 3.1 Mức độ tham gia của phụ nữ và nam giới trong hoạt động SXNN 68
Bảng 3.2 Quyền quyết định trong các công việc gia đình 错误!未定义书签。
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Sơ đồ tổ chức của hệ thống phòng chống thiên tai tại Việt Nam 19
Hình 2.1 Vị trí địa lý xã Thượng Bằng La 45
Hình 2.2 Sơ đồ hành chính xã Thượng Bằng La 46
Hình 2.3 Sơ họa bản đồ RRTT tại xã Thượng Bằng La 59
Hình 3.1 Nhận thức về thiên tai tại xã Thượng Bằng La 62 Hình 3.2 Mức độ nhận thức của người dân về sự thời tiết và thiên tai 63
Hình 3.3 Kênh thông tin của người dân về BĐKH 64
Hình 3.4 Nhận thức về biểu hiện của BĐKH 65
Hình 3.5 Nhận thức về tác động của BĐKH 66
Hình 3.6 Sự phân chia công công việc của phụ nữ và nam giới trong hoạt động sản xuất nông nghiệp 68
Hình 3.7 Sử dụng thông tin thời tiết trong hoạt động SXNN 70
Hình 3.8 Hoạt động thích ứng với BĐKH trong SXNN 71
Hình 3.9 Thói quen dự trữ lương thực khi xảy ra thiên tai 72
Hình 3.10 Sự tham gia hoạt động ứng phó với thiên tai 73
Hình 3.11 Sự tham gia công việc chăm sóc gia đình của nam và nữ 73
Hình 3.12 Sự tham gia công việc chăm sóc gia đình của phụ nữ và nam giới trước và khi xảy ra thiên tai 74
Hình 3.13 Thời gian làm thêm mỗi ngày trước, trong và sau khi xảy ra thiên tai 75
Hình 3.14 Sự tham gia hoạt động hỗ trợ cộng đồng trong phòng chống RRTT 78 Hình 3.15 Quyền quyết định mua bán sản phẩm nông nghiệp错 误 ! 未 定 义 书 签。 Hình 3.16 Quyền quyết định thay đổi mùa vụ………85
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài nghiên cứu
Biến đổi khí hậu (BĐKH) là sự biến đổi trạng thái của khí hậu so với trung
bình và/hoặc sự dao động của khí hậu duy trì trong một khoảng thời gian dài, thường là vài thập kỷ hoặc dài hơn, trong đó: sự gia tăng nhiệt độ trung bình toàn cầu và mực nước biển dâng thường được coi là hai biểu hiện chính của BĐKH với nguyên nhân có thể từ yếu tố tự nhiên hoặc do tác động của con người (IPCC, 2007)
Việt Nam là một trong những quốc gia dễ bị tổn thương nhất bởi tác động của thiên tai và BĐKH Ước tính trung bình mỗi năm, Việt Nam phải hứng chịu từ
6 đến 7 cơn bão cùng nhiều hiện tượng cực đoan khác, như: hạn hán, lũ lụt,…gây thiệt hại nghiêm trọng cho nền kinh tế và dân sinh Theo Tổng cục Thống kê (TCTK), chỉ tính riêng năm 2018, Việt Nam đã có 218 người chết và mất tích; 1.967 số nhà cửa bị sập đổ và cuốn trôi; diện tích lúa và hoa màu bị thiệt hại là 260.328 ha; tổng giá trị thiệt hại lên đến 15.766 tỷ đồng (TCTK, 2019) BĐKH đã
và đang tác động đến tất cả các lĩnh vực, cộng đồng khác nhau ở các khía cạnh kinh
tế, xã hội và môi trường; trong đó, khu vực dễ bị tổn thương nhất là vùng châu thổ, dải ven biển và vùng núi Đối với miền núi phía Bắc – khu vực có nhiều yếu tố tạo
ra tình trạng dễ bị tổn thương với nguồn lực ứng phó hạn chế, thường xuyên chịu ảnh hưởng từ thiên tai và những thay đổi về thời tiết, tác động của BĐKH sẽ làm gia tăng tính phức tạp và trầm trọng hơn các áp lực thông qua sự thay đổi quan hệ giữa hệ thống tự nhiên và hệ thống xã hội
Chính vì vậy, để giảm thiểu các tác động tiêu cực của BĐKH đến các hoạt động phát triển, Việt Nam đã ban hành các chính sách, chương trình mang tính toàn diện, làm cơ sở ứng phó với BĐKH, như: Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH, Kế hoạch hành động quốc gia về BĐKH, Luật phòng chống thiên tai,… Cùng với đó là các công trình nghiên cứu có liên quan cũng được triển khai Các kết quả nghiên cứu cho rằng: nhóm dễ bị tổn thương nhất trước các tác động của BĐKH là người nghèo, người già, phụ nữ và trẻ em, đặc biệt là ở khu vực nông thôn – nơi hạn chế về nguồn lực và năng lực ứng phó với BĐKH Khi thiên tai xảy
Trang 11ra, phụ nữ thường dễ bị tổn thương hơn so với nam giới do khác biệt về mặt thể chất, hay quan điểm của xã hội về vai trò và trách nhiệm khác nhau của phụ nữ và nam giới trong gia đình, cộng đồng và xã hội Phụ nữ là đối tượng bị ảnh hưởng trực tiếp nhất bởi những tác động của thiên tai và các hiện tượng thời tiết cực đoan vốn được xem là những biểu hiện của BĐKH Trong khi đó, thực tế cho thấy, phụ
nữ giữ vai trò quan trọng ở cấp hộ gia đình và cộng đồng trong hoạt động ứng phó với thiên tai Phụ nữ là người đầu tiên chuẩn bị cho cả gia đình ứng phó với thiên tai, đồng thời cũng là người đầu tiên đưa cuộc sống của gia đình và cộng đồng trở lại ổn định sau khi xảy ra thiên tai; phụ nữ là người chuẩn bị lương thực, thực phẩm cho gia đình trước mỗi trận bão, lũ lụt, hạn hán; là người chăm sóc người già và trẻ
em khi đi tránh trú bão và là hậu phương vững chắc cho nam giới đi ứng cứu khi thiên tai xảy ra Hiện nay, khi ngày càng có nhiều nam giới di cư đi làm ăn xa, phụ
nữ là lực lượng duy nhất ở lại ứng phó với thiên tai và những tác động của BĐKH
Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng: vấn đề giới đang ngày càng được ghi nhận
là một yếu tố mang tính quyết định và là nhiệm vụ trọng tâm nhằm ứng phó với BĐKH Do đó, yêu cầu đặt ra là cần phải có những nghiên cứu mang tính tổng hợp,
cụ thể về giới, nhất là phụ nữ nhằm đề xuất các giải pháp ứng phó hiệu quả, phù hợp với từng bối cảnh và đối tượng; là cơ sở phát huy tính nội lực, sáng tạo, sao cho vừa đảm bảo đạt được các mục tiêu chung về ứng phó với BĐKH vừa đảm bảo phù hợp với trình độ, kinh nghiệm của người dân bản địa
Theo Hội Liên Hiệp Phụ nữ Việt Nam (Hội LHPN Việt Nam), phụ nữ chiếm hơn một nửa dân số, vừa là đối tượng chịu ảnh hưởng trực tiếp của thiên tai, vừa là lực lượng có đóng góp lớn cho hoạt động phòng chống thiên tai và thích ứng với BĐKH (PCTT/TƯ BĐKH) (Hội LHPN Việt Nam, 2013) Tuy nhiên, những nghiên cứu về sự tham gia và vai trò của phụ nữ trong hoạt động QLRRTT và thích ứng với BĐKH vẫn còn hạn chế Đây được coi là một khoảng trống về chính sách và thực tiễn triển khai Nhiều chuyên gia cũng khẳng định, hoạt động vì bình đẳng giới của các cơ quan và tổ chức về BĐKH còn yếu và thiếu, dẫn đến kết quả thực hiện BĐG chưa thực sự mang lại hiệu quả tích cực Nhiều kết quả nghiên cứu về giới hợp lý, có tính khả thi nhưng chưa được sử dụng vào việc lập chính sách, là một trong những nguyên nhân làm cản trở việc thực hiện BĐG thực chất ở Việt Nam (Lê Thị Quý, 2013)
Trang 12Góp phần có cái nhìn tổng quát về các vấn đề nêu trên nhằm hỗ trợ và đề xuất các giải pháp nâng cao vai trò của phụ nữ trong các hoạt động ứng phó với BĐKH, nhất là phụ nữ vùng sâu, vùng xa – nơi khó khăn trong tiếp cận các nguồn
lực, học viên đã lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu vai trò của phụ nữ trong hoạt động ứng phó với biến đổi khí hậu tại xã Thượng Bằng La, huyện Văn Chấn, tỉnh Yến Bái” làm luận văn thạc sỹ chuyên ngành Biến đổi khí hậu thuộc Khoa Các khoa học liên ngành, Đại học Quốc Gia Hà Nội Việc lựa chọn xã Thượng Bằng La làm địa bàn nghiên cứu xuất phát từ điều kiện tự nhiên và dân cư của Thượng Bằng La,
cụ thể: (i) làmột xã thuộc khu vực miền núi phía Bắc với hoạt động sinh kế của người dân chủ yếu là sản xuất nông nghiệp và phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên; (ii)
là nơi đang phải chịu những tác động của các thiên tai liên quan đến BĐKH; (iii) có nhiều khó khăn trong tiếp cận các nguồn lực ứng phó với BĐKH; và (iv) người dân vẫn còn nhiều hạn chế trong nhận thức và định kiến về giới (với tỷ lệ người dân tộc thiểu số chiếm đa số) Đây là những điều kiện đảm bảo đáp ứng được yêu cầu về phạm vi và mục tiêu của nghiên cứu
2 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu các vấn đề về lý luận, đề tài hướng đến mục tiêu (i) phân tích thực trạng vai trò của phụ nữ trong hoạt động ứng phó với BĐKH tại xã Thượng Bằng La, huyện Văn Chấn, tỉnh Yến Bái; từ đó (ii) đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy vai trò của phụ nữ trong hoạt động ứng phó với BĐKH nói chung và tại vùng nghiên cứu nói riêng
3 Những đóng góp của đề tài
Đề tài tập trung nghiên cứu, phân tích vai trò của phụ nữ trong hoạt động ứng phó với BĐKH xét trên phương diện đảm bảo sinh kế từ hoạt động sản xuất nông nghiệp (SXNN) và sự tham gia của phụ nữ trong công tác QLRRTT Do vậy, những đóng góp chủ yếu của nghiên cứu được nêu cụ thể như sau:
- Một là, đề tài phân tích và đánh giá được những tác động của BĐKH đối với phụ nữ với vai trò là lực lượng lao động chính trong hoạt động SXNN và với tư cách là người chăm sóc gia đình trước, trong và sau khi xảy ra thiên tai
- Hai là, đề tài đưa ra được những bằng chứng cho thấy sự tham gia hiệu quả
và có giá trị của phụ nữ trong hoạt động QLRRTT và ứng phó với BĐKH ở gia đình và cộng đồng
Trang 13- Ba là, phạm vi nghiên cứu được thực hiện tại một địa điểm cụ thể thuộc tỉnh Yên Bái Do vậy, kết quả nghiên cứu cung cấp các cơ sở dữ liệu đáng tin cậy, mang tính khách quan cho xã Thượng Bằng La, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái trong triển khai các chương trình chính sách, nhất là lồng ghép giới trong các kế hoạch ứng phó với BĐKH tại địa phương, từ đó thúc đẩy BĐG thông qua can thiệp đến tác động của BĐKH Đây cũng là tài liệu hỗ trợ cho các tổ chức xã hội dân sự như Hội LHPN trong việc thiết kế và xây dựng các chương trình, dự án liên quan đến vấn đề bất BĐG trong các can thiệp về ứng phó với BĐKH, trao quyền cho phụ nữ
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu vai trò của phụ nữ trong hoạt động
ứng phó với BĐKH tại xã Thượng Bằng La, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái
Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi không gian: Đề tài nghiên cứu trên địa bàn xã Thượng Bằng La, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái
+ Phía Nam giáp xã Mường Cơi, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La;
+ Phía Đông giáp xã Minh An, huyện Văn Chấn;
+ Phía Tây giáp xã Cát Thịnh, huyện Văn Chấn
- Phạm vi thời gian: nội dung nghiên cứu được thực hiện trong khoảng thời gian từ năm 2015-2019, tập trung vào các tác động và biểu hiện của BĐKH tại Thượng Bằng La Hoạt động khảo sát thực hiện từtháng 4 đến tháng 5/2020
- Phạm vi nội dung: Đề tài nghiên cứu tập trung chủ yếu vào vai trò của phụ
nữ trong hoạt động ứng phó với BĐKH, cụ thể là trong hoạt động SXNN và QLRRTT
5 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
5.1 Câu hỏi nghiên cứu
- Phụ nữ đóng vai trò như thế nào trong hoạt động SXNN và với tư cách là người chăm sóc gia đình?
- Các tác động của BĐKH đã ảnh hưởng đến phụ nữ như thế nào thông qua hoạt động SXNN và hoạt động chăm sóc gia đình?
- Phụ nữ đã và đang ứng phó như thế nào với các tác động của BĐKH ở địa phương? Sự tham gia của phụ nữ trong các hoạt động QLRRTT và ứng phó với
Trang 14BĐKH ở địa phương diễn ra như thế nào?
5.2 Giả thuyết nghiên cứu
Nghiên cứu đặt ra các giả thuyết liên quan đến ba câu hỏi nghiên cứu chính như sau:
- Phụ nữ là nhân lực chính trong hoạt động SXNN, do vậy có vai trò quan trọng trong việc thực hiện các hoạt động ứng phó với BĐKH trong hoạt động SXNN tại địa phương
- BĐKH có khả năng làm tăng khối lượng công việc và thời gian làm việc của phụ nữ Dưới tác động của BĐKH, phụ nữ thường gặp nhiều khó khăn hơn so với nam giới vì họ được mong đợi đảm nhiệm công việc nội trợ và các hoạt động tái sản xuất khác trong gia đình
- Trong quá trình ứng phó và đưa ra các quyết định ứng phó với BĐKH, sự tham gia của phụ nữ với vai trò quyết định ở cộng đồng còn hạn chế Người phụ nữ
ít có tiếng nói và quyền ra quyết định, ngay cả khi họ đóng vai trò tích cực trong các hoạt động ứng phó với BĐKH Đây là một trong những nguyên nhân làm trầm trọng thêm vấn đề bất BĐG trong bối cảnh BĐKH
6 Kết cấu luận văn
Cấu trúc của luận văn gồm 05 phần chính sau:
Phần mở đầu nêu lý do lựa chọn đề tài “Nghiên cứu về vai trò của phụ nữ trong hoạt động ứng phó với biến đổi khí hậu tại xã Thượng Bằng La, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái” làm nội dung nghiên cứu, mục tiêu và đóng góp của đề tài, đối
tượng và phạm vi nghiên cứu, các vấn đề nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu Cấu trúc của luận văn và tóm tắt các nội dung chính của đề tài cũng được nêu trong phần mở đầu của luận văn
Chương 1: tập trung vào các vấn đề tổng quan, khái quát của nội dung
nghiên cứu, bao gồm kết quả của các công trình nghiên cứu liên quan đã được thực hiện trên thế giới và tại Việt Nam; cơ sở lý luận về vai trò của phụ nữ trong hoạt động ứng phó với BĐKH Nội dung của Chương 1 giúp cung cấp thông tin tổng quan về mặt cơ sở lý luận và thực tiễn nhằm định hướng cho hoạt động nghiên cứu,
là nguồn thông tin tham khảo quan trọng về phương pháp và nội dung nghiên cứu Kết quả từ các công trình nghiên cứu vừa là sự kế thừa cho đề tài, đồng thời giúp
Trang 15tránh trùng lặp trong quá trình thực hiện nghiên cứu
Chương 2: luận giải về cách thức thực hiện nghiên cứu, bao gồm: phương
pháp thu thập, phân tích, tổng hợp tài liệu sơ cấp và thứ cấp, phương pháp khảo sát
và điều tra bảng hỏi,… nhằm đạt được mục tiêu nghiên cứu Các đặc điểm chung
về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội; biểu hiện và tác động của BĐKH; kế hoạch ứng phó với BĐKH của xã Thượng Bằng La cũng sẽ được phân tích và đánh giá
Chương 3: Kết quả nghiên cứu về vai trò của phụ nữ trong hoạt động ứng
phó với BĐKH tại xã Thượng Bằng La, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái Chương 3 tập trung đánh giá về vai trò của phụ nữ tại xã Thượng Bằng La trong hoạt động ứng phó với BĐKH, cụ thể là hoạt động thích ứng với BĐKH trong SXNN và QLRRTT Vai trò của phụ nữ sẽ được xem xét thông qua đánh giá nhận thức của phụ nữ về các vấn đề liên quan đến BĐKH; sự phân công lao động theo giới; và sự tham gia của phụ nữ xã Thượng Bằng La trong hoạt động SXNN và QLRRTT ở cấp hộ gia đình và cấp cộng đồng
Kết luận và đề xuất nghiên cứu trong tương lai tóm tắt các kết quả nghiên
cứu và xem xét nghiên cứu có đạt được mục tiêu đưa ra hay không, các vấn đề nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu đã được luận giải đầy đủ chưa, giả thuyết nghiên cứu có đáp ứng không Từ kết quả nghiên cứu tại Chương 3, các kết luận và nhận định ngắn gọn sẽ được đưa ra trong phần này của luận văn Đồng thời, những hạn chế và tồn tại mà luận văn chưa giải quyết được cũng sẽ được nêu ra, nhằm đề xuất cho những nghiên cứu tiếp theo trong tương lai
Trang 16CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu
Giới nói chung và phụ nữ nói riêng trong mối tương quan với BĐKH là một vấn đề được nhiều nước, tổ chức quan tâm, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, khi
sự hiện hữu của BĐKH ngày càng phức tạp, khó dự đoán, đòi hỏi phải huy động mọi nguồn lực xã hội trên cơ sở bình đẳng về vai trò, năng lực tiếp cận các giải pháp ứng phó Để có cái nhìn khách quan về vấn đề giới, phụ nữ và BĐKH, nhiều diễn đàn, hội thảo, công trình nghiên cứu đã được thực hiện, tập trung vào các nội dung chủ yếu sau:
- Đánh giá những ảnh hưởng và tác động của BĐKH đối với phụ nữ vốn được xem như là nhóm đối tượng dễ bị tổn thương;
- Mối quan hệ giữa giới và BĐKH, xem xét vấn đề BĐG trong hoạch định chính sách liên quan đến BĐKH;
- Vai trò của phụ nữ trong hoạt động thích ứng với BĐKH
Kết quả nghiên cứu đều khẳng định phụ nữ là đối tượng dễ bị tổn thương trước những tác động của BĐKH song lại giữ vai trò quan trọng trong công tác ứng phó với BĐKH Một số công trình nghiên cứu điển hình, như:
1.1.1 Các công trì nh nghiên cứu ngoài nước
Phần lớn các công trình nghiên cứu trên thế giới tập trung đánh giá và xem xét mối quan hệ giữa giới và BĐKH Các công trình nghiên cứu trên thế giới cho thấy có sự khác biệt về giới trong những rủi ro về sức khỏe gây ra bởi BĐKH và trong việc thực hiện các biện pháp về giảm thiểu và thích ứng với BĐKH Đây là khẳng định tại Công trình nghiên cứu “Gender, Climate Change and Health” (Giới,
Biến đổi khí hậu và Sức khỏe) của Tổ chức Y tế Thế giới năm 2014 Nghiên cứu đã
đưa ra những bằng chứng cho thấy “những tác động của BĐKH có sự khác nhau về giới Trên phạm vi toàn cầu, các thảm họa thiên tai như hạn hán, lũ lụt và bão có
xu hướng gây tử vong cho phụ nữ nhiều hơn nam giới” (WHO, 2014, trang 3) Phụ
nữ chính là đối tượng tiếp xúc nhiều hơn và dễ bị tổn thương hơn với BĐKH vì họ thường nghèo hơn, ít được giáo dục hơn và không có cơ hội tham gia vào các quá trình ra quyết định liên quan đến chính trị và cấp hộ gia đình, vốn là những yếu tố
Trang 17có ảnh hưởng đến cuộc sống của họ Các chuẩn mực văn hóa liên quan đến giới đôi khi hạn chế khả năng đưa ra những quyết định kịp thời của phụ nữ trong các tình huống thiên tai khẩn cấp (ví dụ như: có nên chuyển đến nơi trú ẩn an toàn hơn trước khi quá muộn hay không) (UNDP và GGCA, 2012)
Tuy nhiên, phụ nữ lại là người có kiến thức và kỹ năng tốt trong việc đưa ra những định hướng nhằm thích ứng với những thay đổi về điều kiện thời tiết và khíhậu Trong quá trình thực hiện hoạt động tái sản xuất, phụ nữ thường thể hiện kỹ năng và sự hiểu biết về thiên tai Với những kiến thức và kinh nghiệm thông qua việc tham gia vào các hoạt động SXNN, phụ nữ đóng vai trò quan trọng đối với cộng đồng trong việc giảm thiểu những rủi ro thiên tai và đề xuất những giải pháp thích ứng với BĐKH (Carvajal-Escobar, M Quintero-Angel và M Garcia- argas, 2008); đồng thời cũng thể hiện vai trò quan trọng trong việc ứng phó với thiên tai thông qua sự tham gia một cách hiệu quả và có ý nghĩa trong các giai đoạn khác nhau của chu trình quản lý và giảm thiểu rủi ro thiên tai (UNDP, 2012) Nghiên cứu
có tên “Women’s Role in Adapting to Climate Change and Variability” (Vai trò của
phụ nữ trong thích ứng với những thay đổi và biến đổi khí hậu) của Y Escobar, M Quintero-Angel và M Garcia- argas thực hiện năm 2008 cũng nhấn mạnh: thông qua các hoạt động chuyên môn và công việc nội trợ, phụ nữ có kinh nghiệm và kiến thức tốt hơn so với nam giới trong việc nhận biết những hiểm họa môi trường và những thay đổi về thời tiết và khí hậu (Carvajal-Escobar, M Quintero-Angel và M Garcia- argas, 2008)
Carvajal-Có thể thấy, khi xem xét mối tương quan giữa giới và BĐKH, các nghiên cứu trên thế giới đều khẳng định phụ nữ có vai trò quan trọng trong hoạt động thích ứng với BĐKH nhiều hơn so với những gì xã hội ghi nhận (Carvajal-Escobar, M Quintero-Angel và M Garcia- argas, 2008), họ chính là tác nhân tích cực của sự thay đổi (UNDP và GGCA, 2012) Do đó, việc tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong các hoạt động và chương trình, dự án BĐKH cũng như trao quyền cho phụ nữ
là rất quan trọng trong việc giải quyết các tác động tiêu cực của BĐKH Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa rằng vai trò và sự tham gia của nam giới là kém hiệu quả và không có ý nghĩa Nam giới vẫn được coi là một trong những tác nhân chính trong hoạt động ứng phó với BĐKH Vì vậy, việc đảm bảo sự tham gia bình đẳng giữa
Trang 18nam giới và nữ giới trong hoạt động thích ứng với BĐKH, và coi quá trình thích ứng với BĐKH là cơ hội để giải quyết và thay đổi quan niệm truyền thống về mối quan hệ giới trong xã hội là vấn đề cần được quan tâm (Carvajal-Escobar, M Quintero-Angel và M Garcia- argas, 2008) Ngoài ra, việc xem xét và đánh giá mối tương quan giữa ba yếu tố: giới, sức khỏe và BĐKH, từ đó giúp đưa ra căn cứ cho việc triển khai đánh giá về rủi ro sức khỏe và những can thiệp chính sách liên quan đến BĐKH nhằm đảm bảo lợi ích công bằng cho cả nam và nữ cũng là vấn đề cần được chú trọng (WHO, 2014)
Trong số các nghiên cứu về mối quan hệ giữa giới và BĐKH, nghiên cứu
“Overview of linkages of gender and climate change” (Tổng quan về mối liên hệ
giữa giới và biến đổi khí hậu) của Tổ chức UNDP và Global Gender and Climate Alliance (GGCA) thực hiện năm 2012 là một nghiên cứu rất có ý nghĩa cho đề tài Đây là một trong số các tóm tắt chính sách về giới và BĐKH cho các bên liên quan
và các nhà hoạch định chính sách ở Châu Phi do Tổ chức UNDP và GGCA thực hiện Nghiên cứu được thiết kế nhằm hỗ trợ các cán bộ khu vực và quốc gia gồm các chuyên gia và các đối tác đang hoạt động tại Châu Phi trong việc lồng ghép giới vào chính sách và các chương trình biến đổi khí hậu Nội dung nghiên cứu đề cập đến mối quan hệ trực tiếp giữa bình đẳng giới, trao quyền cho phụ nữ và BĐKH thông qua việc khẳng định: (i) BĐKH có thể làm gia tăng nghèo đói và đảo ngược tiến trình đạt được các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ; (ii) BĐKH có sự ảnh hưởng khác nhau đến nam giới và phụ nữ; (iii) trao quyền cho phụ nữ đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với hiệu quả của các dự án và chính sách về biến đổi khíhậu Nghiên cứu cũng đưa ra bốn khuyến nghị hành động về việc tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong việc lập kế hoạch, cung cấp tài chính và thực hiện các ứng phó với khí hậu, bao gồm thích ứng và giảm thiểu rủi ro thiên tai (UNDP và GGCA, 2012)
Những đánh giá và kết luận của các công trình nghiên cứu trên thế giới đã được các tác giả đưa ra dựa trên kết quả từ những nghiên cứu liên quan của các tổ chức quốc tế và chuyên gia trên thế giới Tuy nhiên, ngoài những công trình nghiên cứu đồ sộ, vẫn còn những kết quả nghiên cứu mang tính tổng hợp, chưa được kiểm nghiệm và đánh giá dựa trên khảo sát cho một khu vực cụ thể
Trang 191.1.2 Các công trì nh nghiên cứu trong nước
Hoạt động nghiên cứu về giới và BĐKH cũng như vai trò của phụ nữ trong hoạt động ứng phó với BĐKH tại Việt Nam cũng được các tổ chức, cá nhân trong nước và quốc tế triển khai trong thời gian qua và đạt được những kết quả nhất định Những kết quả nghiên cứu trong nước đã có sự kế thừa và tiếp thu những kết quả nghiên cứu trên thế giới, cụ thể như:
- Nghiên cứu “Rà soát lồng ghép giới trong Chiến lược Quốc gia Phòng chống và Giảm nhẹ Thiên tai đến năm 2020 và Chương trình Mục tiêu Quốc gia Ứng phó Biến đổi Khí hậu tại Việt Nam” của Hội LHPN Việt Nam do Oxfam Hồng
Kông tài trợ năm 2010 Kết quả nghiên cứu cho thấy, khoảng trống lớn hiện nay đặt
ra đối với 2 văn bản nói trên là chưa đề cập đến việc lồng ghép giới và hướng dẫn
cụ thể lồng ghép giới trong các hoạt động cụ thể của công tác QLRRTT/TƯBĐKH; đồng thời thiếu phân công cụ thể cho tổ chức Hội LHPN Việt Nam và các cơ quan hoạt động vì BĐG (Hội LHPN Việt Nam, 2011)
- Nghiên cứu của tổ chức UNDP và Oxfam năm 2011: “Bản tóm lược chí nh sách: Bình đẳng giới trong công tác thích ứng với biến đổi khí hậu và giảm nhẹ rủi
to thiên tai tại Việt Nam” xem xét đến vấn đề BĐG trong công tác giảm nhẹ RRTT
và tăng cường khả năng thích ứng với BĐKH thông qua những đánh giá và phân
tích về vai trò và vị thế của phụ nữ Việt Nam nói chung, khung pháp luật cho vấn
đề BĐG, những thách thức còn tồn tại Nghiên cứu cũng đề cập đến những khía cạnh về khác biệt giới trong bối cảnh BĐKH, gồm: rủi ro trong việc mất thu nhập
và nguồn sản xuất, sự tham gia và phân công lao động của nam giới và nữ giới, trách nhiệm chăm sóc gia đình, khả năng tiếp cận đất đai và dịch vụ, vai trò ra quyết định ở cấp hộ gia đình và cộng đồng Trên cơ sở đó, nghiên cứu đưa ra những khuyến nghị nhằm thúc đẩy vấn đề BĐG trong công tác giảm nhẹ RRTT và tăng cường thích ứng với BĐKH Các nhóm khuyến nghị được đề xuất riêng cho các cơ quan chính phủ; Hội LHPN Việt Nam, Hiệp hội chữ thập đỏ Việt Nam, đoàn thanh niên và các tổ chức đoàn thể khác; Các tổ chức phi chính phủ quốc tế và trong nước; Các cơ quan LHQ và các nhà tài trợ; và khu vực tư nhân Trong đó, các khuyến nghị về việc tăng số lượng thành viên nữ trong Ủy ban Phòng chống lụt bão các cấp lên tối thiểu 30% và đảm bảo họ chủ động ra quyết định trong các Ủy ban này; Yêu
Trang 20cầu thu thập và đối chiếu dữ liệu phân tách giới và thông tin liên quan đến giới từ cấp địa phương về đánh giá thiệt hại và nhu cầu sau thảm họa cần được cung cấp đầy đủ cho các cơ quan cấp quốc gia, đồng thời được phổ biến rộng rãi và có thể truy cập công khai, phục vụ hoạt động giám sát và đánh giá các chính sách và chương trình mới; hay đề xuất các thành viên nữ của Hội LHPNVN và Hội Chữ thập đỏ Việt Nam được tham gia tích cực vào quá trình ra quyết định ở tất cả các cấp của Ủy ban Phòng chống lụt bão và các cơ chế điều phối cho Chiến lược Quốc gia về BĐKH và phòng chống RRTT, cũng như được tham gia vào Ban Phòng chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn (PCTT-TKCN) để thúc đẩy bình đẳng giới trong hoạt động phòng chống RRTT và thích ứng với BĐKH là rất đáng ghi nhận
- Nghiên cứu khảo sát “Nhận thức, thái độ và hành vi Phòng, chống, giảm nhẹ thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu của phụ nữ và nhân dân tại 02 tỉnh Phú Yên và Bình Định” do Trung ương Hội LHPN Việt Nam thực hiện trong khuôn khổ
dự án “Nâng cao năng lực ứng phó của phụ nữ với BĐKH” do UN Women tài trợ năm 2011 cho thấy, hầu hết người dân trong diện khảo sát đều có nhận thức và hiểu biết cơ bản về phòng chống và giảm nhẹ thiên tai như: nơi thường xảy ra thiên tai trên địa bàn, cách thức để đề phòng thiên tai (tìm nơi trú ẩn, chuẩn bị các nhu yếu phẩm cần thiết, giằng chống lại nhà cửa, dạy bơi cho các thành viên trong gia đình ) Tuy nhiên, khi phân tách số liệu về giới thì năng lực ứng phó của phụ nữ
và trẻ em gái luôn thấp hơn so với nam giới Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu cũng khẳng định vai trò to lớn của phụ nữ trong tham gia vào công tác PCTT/TƯBĐKH của địa phương Mặc dù vấn đề giới đã được thể hiện trong Kế hoạch phòng chống thiên tai nhưng các vấn đề giới và nhu cầu giới chưa được thể hiện một cách đầy đủ
ở cả 3 giai đoạn trước, trong và sau thiên tai Hiểu biết và sự tham gia của người dân nói chung và phụ nữ nói riêng về công tác phòng, chống thiên tai cùng với Chính quyền địa phương còn hạn chế Cụ thể như: hầu hết người dân chưa được tiếp cận được với quá trình xây dựng bản đồ phòng chống thiên tai và Kế hoạch phòng, chống thiên tai của địa phương; đối tượng được tiếp cận Kế hoạch này là chủ yếu là cán bộ chủ chốt cấp xã, cán bộ thôn và một số ít người dân
- “Bản tóm lược gợi ý định hướng chính sách bình đẳng giới trong công tác giảm nhẹ rủi ro thảm họa và tăng cường khả năng thích ứng với BĐKH tại Việt
Trang 21Nam” của Liên Hợp Quốc và OXFAM thực hiện năm 2011 chỉ ra rằng: BĐKH và
các tác động của nó không trung lập về giới, các chính sách và hành động liên quan đến BĐKH cũng không trung lập về giới Kết quả nghiên cứu mang tính tổng quan
và có tính tổng hợp từ nhiều kết quả nghiên cứu trước đây, làm cơ sở cho những khuyến nghị chính sách liên quan Theo đó, một số vấn đề đã được khẳng định và nhấn mạnh từ kết quả nghiên cứu như sau:
+ Phụ nữ tại Việt Nam là các tác nhân năng động trong hoạt động PCTT/TƯBĐKH Các vai trò giới đã được xác định, các mối quan tâm và những đóng góp của họ trong gia đình, cộng đồng và nơi làm việc cần được ghi nhận, phản ánh trong các chính sách và hành động có liên quan;
+ Việc nâng cao nhận thức, trau dồi khả năng về vấn đề BĐG và nâng cao vai trò, vị thế của phụ nữ trong công tác PCTT/TƯBĐKH đang trở nên cấp thiết tại Việt Nam;
+ Nhận thức về vấn đề này cần được chuyển thành những cam kết mang tính chính trị và cung cấp nguồn tài chính cho những hành động phù hợp nhằm đảm bảo
tính nhạy cảm giới trong công tác PCTT/TƯBĐKH;
+ Các thủ tục trong công tác hoạch định chính sách và chương trình, vấn đề tài chính, quá trình thực thi và giám sát cần phải tạo điều kiện cho việc lồng ghép các nguyên tắc BĐG và nâng cao vai trò vị thế của phụ nữ trong công tác QLRRTT/TƯBĐKH ở tất cả các cấp Cần thiết phải có một phương pháp tiếp cận
đa bên bao gồm sự tham gia của các chuyên gia về giới, phụ nữ và nam giới, các nhóm yếu thế khác, cũng như các đại diện từ phía Chính phủ, các tổ chức xã hội dân sự, khu vực tư nhân và cộng đồng;
+ Nhiều bài học quí báu từ thực tiễn tại cấp địa phương cần được chia sẻ và chuyển tải tới các cấp địa phương, cấp quốc gia, khu vực và thế giới, những nơi đang phải đối mặt với các vấn đề tương tự
- Công trình nghiên cứu “Tổng quan về biến đổi khí hậu và bình đẳng giới”
(Lê Thị Thương Huyền và Lê Thị Thanh Hương, Tạp chí Y tế công cộng, 9.2013,
số 29) xem xét vấn đề bất BĐG dưới tác động của BĐKH trên các khía cạnh nông nghiệp, an ninh lương thực, đa dạng sinh học và các hệ sinh thái, sức khỏe con người, di cư, xung đột và bạo lực; đồng thời tập trung xem xét vấn đề lồng ghép
Trang 22giới vào các hành động, chính sách BĐKH thông qua đánh giá và nhìn nhận vấn đề BĐG trong việc ra các quyết định liên quan đến BĐKH, vai trò của phụ nữ trong thích ứng và giảm thiểu BĐKH Đây là nghiên cứu mang tính tổng quan, tổng hợp
từ các nghiên cứu trên thế giới nhằm khẳng định phụ nữ là đối tượng dễ bị tổn thương hơn so với nam dưới tác động của BĐKH Nghiên cứu cũng khẳng định: phụ nữ có kiến thức và vai trò quan trọng trong hoạt động thích ứng với BĐKH song tiếng nói của phụ nữ lại chưa thực sự được quan tâm
- Nghiên cứu của Sở Công thương tỉnh An Giang năm 2018 về “Vai trò của phụ nữ trong ứng phó với BĐKH” khẳng định phụ nữ có vai trò quan trọng trong
công tác giảm nhẹ và thích ứng với BĐKH thông qua việc: (1) phụ nữ có thể là một nhà giáo dục để đào tạo con người về cách thích ứng với thay đổi khí hậu; (2) góp phần đảm bảo an ninh lương thực trước những tác động tiêu cực của BĐKH; (3) có đóng góp lớn trong việc giảm phát thải khí nhà kính; và (4) là một hình mẫu tốt cho những thành viên khác trong gia đình và cộng đồng noi theo để thực hiện các hành động giúp làm giảm nhẹ và thích ứng với BĐKH với tư cách là một người mẹ, người phụ nữ và người chăm sóc gia đình Mặc dù không phải là một công trình nghiên cứu hoàn thiện về vai trò của phụ nữ do các kết quả nghiên cứu chủ yếu dựa trên kiến thức tổng hợp, song báo cáo cũng đã thể hiện quan điểm và khẳng định vai trò của phụ nữ trong hoạt động ứng phó với BĐKH, là tài liệu tham khảo cho nghiên cứu thuộc luận văn này
- Nghiên cứu “Ứng phó của phụ nữ trước biến đổi khí hậu: Tổng quan các công trì nh nghiên cứu” (Phan Huyền Dân, Tạp chí Nghiên cứu Gia đình và Giới,
số 5/2019) kết luận rằng: Phụ nữ có xu hướng ứng dụng các biện pháp linh hoạt ở quy mô nhỏ; khi phụ nữ được tự chủ, họ sẽ phát huy khả năng ra quyết định tốt hơn; hiệu quả thích nghi của phụ nữ nông dân sẽ hiệu quả và bền vững hơn khi có sự kết hợp với các chiến lược và can thiệp của nhà nước
Nhận xét chung: Đã có các nghiên cứu về vấn đề giới và BĐKH trên thế
giới và Việt Nam, cũng như nghiên cứu và đánh giá về vai trò của phụ nữ trong hoạt động ứng phó với BĐKH Hầu hết các nghiên cứu đều khẳng định phụ nữ đã
và đang tham gia tích cực và có nhiều đóng góp đáng kể trong hoạt động PCTT/TƯ
Trang 23BĐKH Các nghiên cứu này cũng đề cập tới vấn đề xây dựng và thực hiện các chính sách, pháp luật của Việt Nam về vấn đề PCTT/TƯBĐKH cần đồng bộ với việc lồng ghép giới một cách cụ thể trong quá trình thực hiện của các Bộ, ban, ngành liên quan Tuy nhiên, vấn đề giới và sự đóng góp của phụ nữ trong lĩnh vực này chưa nhận được sự quan tâm thích đáng từ xã hội và các nhà quản lý
Phần lớn các nghiên cứu đều tập trung vào các tác động của BĐKH đối với phụ nữ nhằm khẳng định những tác động của BĐKH không trung lập về giới, từ đó đưa ra những kiến nghị và đề xuất chính sách nhằm đảm bảo yêu cầu có liên quan không trung lập về giới, tạo sự bình đẳng giới trong cộng đồng Đối với cấp hộ gia đình, ở Việt Nam chưa có công trình nghiên cứu đề cập đến vai trò của phụ nữ trong hoạt động ứng phó với BĐKH và QLRRT, nhất là tại địa bàn cụ thể là xã Thượng Bằng La, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái Do đó, đề tài nghiên cứu nêu trên
đã được lựa chọn với khu vực nghiên cứu là xã Thượng Bằng La, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái làm luận văn thạc sĩ nhằm phân tích, đánh giá vai trò và sự đóng góp của phụ nữ trong hoạt động ứng phó với BĐKH thông qua các hoạt động đảm bảo sinh kế cấp hộ gia đình, cụ thể là trong hoạt động SXNN và hoạt động chăm sóc gia đình; hoạt động phòng ngừa, ứng phó và khắc phục hậu quả ở cấp cộng đồng trước, trong và sau khi xảy ra thiên tai
Các kết quả nghiên cứu từ các công trình trong và ngoài nước nêu trên cũng như những nghiên cứu liên quan đến vấn đề giới và BĐKH là nguồn tài liệu tham khảo vô cùng quan trọng và quý giá cho đề tài nghiên cứu về vai trò của phụ nữ trong hoạt động ứng phó với BĐKH mà tác giả thực hiện
1.2 Cơ sở lý luận về vấn đề giới và biến đổi khí hậu
1.2.1 Khái niệm
a) Biến đổi khí hậu
Theo công ước khung của Liên Hiệp Quốc về biến đổi khí hậu (1992), BĐKH là sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm khí quyển, thủy quyển, sinh quyển, thạch quyển do tác động trực tiếp hay gián tiếp của các hoạt động con người làm thay đổi thành phần của khí quyển toàn cầu, bên cạnh sự biến động của khí hậu tự nhiên, đã được quan sát trong một thời kì nhất định Có thể hiểu tóm tắt, BĐKH là biến đổi trạng thái của khí hậu so với trung bình nhiều năm
Trang 24Ủy ban liên chính phủ định nghĩa về BĐKH trong báo cáo lần thứ Tư (AR4) năm 2007 là sự biến đổi trạng thái của khí hậu so với trung bình và hoặc sự dao động của khí hậu duy trì trong một khoảng thời gian dài, thường là vài thập kỷ hoặc dài hơn BĐKH có thể là do các quá trình tự nhiên bên trong (hệ thống khí hậu) hoặc do những tác động từ bên ngoài, hoặc do tác động thường xuyên của con người làm thay đổi thành phần cấu tạo của khí quyển với 6 biểu hiện đặc trưng: Nhiệt độ trung bình toàn cầu tăng lên do sự nóng lên của bầu khí quyển; sự dâng cao mực nước biển do giãn nở vì nhiệt và băng tan; sự thay đổi thành phần và chất lượng khí quyển; sự di chuyển của các đới khí hậu trên các vùng khác nhau của Trái đất; sự thay đổi cường độ hoạt động của quá trình hoàn lưu khí quyển, chu trình tuần hoàn nước trong tự nhiên và các chu trình sinh địa hóa khác, sự thay đổi năng suất sinh học của hệ sinh thái, chất lượng và thành phần của thủy quyển, sinh quyển, địa quyển; trong đó, sự gia tăng nhiệt độ trung bình toàn cầu và mực nước biển dâng được coi là hai biểu hiện chính của BĐKH (IPCC, 2007)
Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN&MT) (2008): “BĐKH là sự biến đổi trạng thái của khí hậu so với trung bình và/hoặc dao động của khí hậu duy trì trong một khoảng thời gian dai, thường là vài thập kỷ, hàng trăm năm hoặc dài hơn BĐKH có thể là do các quá trình tự nhiên bên trong hoặc các tác động bên ngoài, hoặc do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của khí quyển hay trong khai thác sử dụng đất” (Bộ TNMT, 2008, trang 6) Đây được xem là
khái niệm chính thức trong các nghiên cứu hiện nay ở Việt Nam
Bên cạnh đó, một số khái niệm có liên quan đến BĐKH cũng được Bộ TNMT và các cơ quan, tổ chức trong nước và quốc tế đề cập, cụ thể:
- Tác động của BĐKH: BĐKH có tác động tới tất cả các vùng trên thế giới với mức độ khác nhau, tới tất cả các tài nguyên, môi trường và hoạt động kinh tế -
xã hội của con người Phạm vi tác động của BĐKH là toàn diện, tác động tới mọi người, mọi lĩnh vực, mọi khu vực ở hiện tại và tiếp tục trong tương lai Đặc biệt, BĐKH có tác động nghiêm trọng hơn ở các vùng có vĩ độ cao, mức độ tác động lớn hơn ở các nước nhiệt đới, nhất là các nước đang phát triển công nghiệp nhanh ở Châu Á Những người nghèo là đối tượng chịu tác động trước hết và nặng nề nhất
- Ứng phó với BĐKH là các hoạt động của con người nhằm thích ứng và giảm nhẹ các tác nhân gây ra BĐKH Theo đó, khái niệm về thích ứng và giảm nhẹ
Trang 25BĐKH được hiểu như sau:
+ Thích ứng với BĐKH: là sự điều chỉnh hệ thống tự nhiên hoặc con người đối với hoàn cảnh hoặc môi trường thay đổi, nhằm mục đích giảm khả năng bị tổn thương do BĐKH và tận dụng các cơ hội do nó mang lại IPCC đã đưa ra 08 nhóm thích ứng với BĐKH và 288 phương pháp khác nhau, gồm: (1) Chấp nhận tổn thất; (2) Chia sẻ tổn thất; (3) Làm thay đổi nguy cơ; (4) Ngăn ngừa các tác động; (5) Thay đổi cách sử dụng; (6) Thay đổi, chuyển địa điểm; (7) Nghiên cứu khoa học, công nghệ; (8) Giáo dục, thông tin và khuyến khích thay đổi hành vi
+ Giảm nhẹ BĐKH: là sự can thiệp của con người nhằm giảm nguồn phát thải hoặc tăng bể chứa các khí nhà kính Ví dụ, việc sử dụng năng lượng hóa thạch một cách hiệu quả hơn cho các hoạt động công nghiệp hoặc sản xuất điện, chuyển sang sử dụng các nguồn năng lượng tái tạo (năng lượng mặt trời và năng lượng gió) và mở rộng diện tích rừng và các bể chứa khác nhằm giảm nhẹ CO2 trong khí quyển
Trong khuôn khổ nghiên cứu này, hoạt động ứng phó với BĐKH sẽ chỉ xem xét trên khí a cạnh thí ch ứng với BĐKH thông qua việc tập trung phân tích và đánh giá sự đóng góp và/hoặc nhận thức của phụ nữ trong việc thực hiện các biện pháp thí ch ứng với BĐKH trong hoạt động SXNN, phù hợp với loại hì nh sản xuất và những rủi ro thiên tai mà cộng đồng tại địa bàn nghiên cứu đang phải đối mặt
- Hiện tượng thời tiết cực đoan (extreme weather event) là hiện tượng hiếm ở một nơi cụ thể khi xem xét phân bố thống kê của nó Định nghĩa “hiếm” có thể được hiểu theo nhiều cách khác nhau, nhưng hiện tượng thời tiết cực đoan thông thường được hiểu là tần suất xuất hiện của nó nhỏ hơn 10% Theo định nghĩa này, các tính chất của cái gọi là “thời tiết cực đoan” có thể rất khác nhau giữa nơi này và nơi khác
- Hiện tượng khí hậu cực đoan là trung bình của số các hiện tượng thời tiết cực đoan trên một khoảng thời gian nhất định, trung bình tự nó là cực đoan
- Tình trạng dễ bị tổn thương (DBTT) là xu hướng hay khuynh hướng bị ảnh hưởng xấu Khuynh hướng này cấu thành một đặc tính bên trong của các yếu tố ảnh hưởng Trong lĩnh vực RRTT, điều này bao gồm các đặc tính của một người hoặc một nhóm và tình hình của họ ảnh hưởng đến khả năng của họ để dự đoán, đối phó, chống lại và phục hồi đối với các tác động có hại của hiện tượng vật lý (UNDP,
Trang 262015) Theo IPCC, tình trạng DBTT là kết quả của nguồn tài lực xã hội, điều kiện lịch sử, kinh tế, chính trị, văn hóa, thể chế, tài nguyên thiên nhiên và điều kiện môi trường (IPCC, 2007, trang 25)
b) Thiên tai và Quản lý rủi ro thiên tai
Khái niệm về thiên tai, rủi ro thiên tai và quản lý rủi ro thiên tại được các tổ chức quốc tế và trong nước định nghĩa theo nhiều cách khác nhau:
- Thiên tai:
Theo IPCC, thiên tai là các hiểm họa tự nhiên tương tác với các điều kiện DBTT của xã hội, làm thay đổi nghiêm trọng chức năng bình thương của một cộng đồng hay một xã hội, dẫn đến các ảnh hưởng bất lợi rộng khắp đối với con người, vật chất, kinh tế hay môi trường, đòi hỏi phải ứng phó khẩn cấp để đáp ứng các nhu cầu cấp bách của con người và có thể phải cần đến sự hỗ trợ từ bên ngoài để phục hồi (IPCC, 2007, trang 31)
Theo Luật phòng chống thiên tai, 2013, thiên tai là các hiện tượng thời tiết, khí hậu và tự nhiên bất thường gây thiệt hại về người, tài sản, công trình, môi trường, điều kiện sống và các hoạt động kinh tế xã hội, bao gồm: bão, áp thấp nhiệt đới, lốc, sét, mưa lớn, lũ, lũ quét, ngập lụt, sạt lở đất do mưa lũ hoặc dòng chảy, sụt lún đất do mưa lũ hoặc dòng chảy, nước dâng, xâm nhập mặn, nắng nóng, hạn hán, rét hại, mưa đá, sương muối, động đất, sóng thần và các loại thiên tai khác [Điều 3, Khoản 1] Thiên tai khác với hiểm họa vì một hiểm họa xảy ra chưa nhất thiết sẽ dẫn đến thiên tai Tuy nhiên nếu hiểm họa gây nên những ảnh hưởng nghiêm trọng tới cộng đồng và có phạm vi ảnh hưởng rộng, dẫn đến các thiệt hại lớn, gây gián đoạn đến cuộc sống bình thường của cộng đồng thì có thể coi đó là thiên tai
Như vậy, có thể hiểu thiên tai là hiệu ứng của một tai biến tự nhiên có khả năng ảnh hưởng tới môi trường và dẫn tới những thiệt hại về tài chính, môi trường và/hoặc con người
- Quản lý rủi ro thiên tai: là các quá trình xây dựng, thực hiện và đánh giá chiến lược, chính sách và biện pháp để nâng cao sự hiểu biết về RRTT, thúc đẩy giảm nhẹ RRTT và chuyển giao, thực hiện cải tiến liên tục trong phòng chống, ứng phó và phục hồi sau thiên tai, nhằm mục đích tăng cường an ninh cho con người, hạnh phúc, chất lượng cuộc sống và phát triển bền vững (IPCC, 2007, trang 31)
Trang 27Hay QLRRTT có thể là quá trì nh mang tí nh hệ thống nhằm áp dụng các quy định hiện hành, huy động tổ chức, cá nhân và kỹ năng, năng lực tác nghiệp để thực hiện các chiến lược, chính sách và nâng cao năng lực ứng phó nhằm giảm thiểu tác động thiên tai
QLRRTT và thích ứng với BĐKH khác nhau về mức độ mà trọng tâm là các hiện tượng cực đoan, và có xem xét tới phạm vi không gian và thời gian Trước đây, Việt Nam tập trung vào QLRRTT và đặc biệt là các hiện tượng tự nhiên, nhưng hiện nay khía cạnh xã hội cũng như tự nhiên của RRTT đều được xem xét và vì thế, thích ứng với BĐKH là một khía cạnh cốt lõi của chính sách khí hậu (UNDP và Oxfam, trang 33)
QLRRTT có thể được chia thành 2 thành phần, gồm: giảm nhẹ rủi ro thiên tai và quản lý thiên tai
+ Giảm nhẹ rủi ro thiên tai (GNRRTT): vừa là mục tiêu vừa là mục đích chính sách, là các biện pháp chiến lược và công cụ được sử dụng để dự tính RRTT trong tương lai, giảm hiểm họa, mức độ phơi bày trước hiểm họa hoặc mức độ bị tổn thương, và nâng cao khả năng chống chịu GNRRTT bao gồm việc giảm bớt sự tổn thương của người dân, sinh kế, tài sản và đảm bảo quản lý bền vững thích hợp của đất, nước và các thành phần khác của môi trường (IPCC, 2012, trang 34)
+ Quản lý thiên tai (QLTT): được hiểu là quá trình xã hội trong xây dựng, thực hiện và đánh giá chiến lược, chính sách và biện pháp thúc đẩy và nâng cao phòng chống thiên tai, ứng phó và phục hồi hoạt động ở các cấp tổ chức và xã hội khác nhau Quá trình này bao gồm việc triển khai hệ thống cảnh báo sớm, kế hoạch
dự phòng, ứng phó khẩn cấp và phục hồi QLTT giải quyết các rủi ro thiên tai mà quá trình giảm thiểu rủi ro thiên tai không loại bỏ được hoặc ngăn chặn hoàn toàn (UNDP, 2015)
Công tác QLTT luôn được Việt Nam chú trọng với các kế hoạch ứng phó ở nhiều giai đoạn với các cấp độ, lãnh thổ khác nhau trên cơ sở cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về phòng chống thiên tai được xuyên suốt từ trung ương đến địa phương theo phân cấp hành chính Theo đó, nhiệm vụ của Ban chỉ đạo Trung ương về phòng chống thiên tai (BCĐ TWPCTT), của các Bộ và của các cấp tại địa phương được quy định trong các Điều từ 18 đến 22 của Nghị định số 66/2014/NĐ-
Trang 28CP quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành một số điều của Luật PCTT Trong đó, quy định Bộ NN & PTNT là cơ quan thường trực của BCĐ TWPCTT, Trưởng Ban chỉ đạo là Bộ trưởng Bộ NN & PTNT; các Bộ/ngành liên quan theo chức năng nhiệm vụ của mình cũng thành lập BCH PCTT-TKCN, Trưởng ban là Lãnh đạo Bộ/ngành; còn BCH PCTT-TKCN các cấp tại địa phương có trưởng ban là chủ tịch UBND các cấp tương ứng
Thành viên của BCĐ TWPCTT, nhiệm vụ của từng thành viên cũng được phân công và chia thành 3 tiểu ban: thường trực, tiền phương và hậu phương được quy định cụ thể tại các Quyết định số 01 và 02/QĐ-TWPCTT của Trưởng ban chỉ đạo
Hì nh 1.1 Sơ đồ tổ chức của hệ thống phòng chống thiên tai tại Việt Nam
Tương tự, như sơ đồ cơ cấu tổ chức trên, Thượng Bằng La là một đơn vị hành chính cấp xã cũng thành lập BCH PCTT-TKCN, gần đây nhất là theo Quyết định số 42b/QĐ-UBND ngày 10/9/2019 của Chủ tịch UBND xã Thượng Bằng La
về việc kiện toàn Ban Chỉ huy PCTT-TKCN năm 2019
Trách nhiệm PCTT và GNRRTT là sự tổng hợp của mọi nguồn lực, mọi thành phần, mọi tầng lớp trong xã hội cùng chung sức thực hiện Đối với các cơ
Trang 29quan, tổ chức xã hội có vai trò quan trọng trong hệ thống PCTT như: Ủy ban mặt trận tổ quốc Việt Nam, Hội chữ thập đỏ, Hội Liên hiệp phụ nữ, Đoàn Thanh niên, … cũng đã có các hoạt động thiết thực và hiệu quả để hỗ trợ người dân trong
cả 3 giai đoạn PCTT; trong đó, hoạt động phòng ngừa và ứng phó thảm họa được xem là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Hội Phụ nữ cùng với các tổ chức chính trị, các hội viên và người dân tích cực thúc đẩy hoạt động QLRRTT dựa vào cộng đồng và ứng phó với thiên tai, thảm họa đã được Chính phủ và nhân dân đánh giá cao, góp phần thiết thực giảm nhẹ thiệt hại do thiên tai, thảm họa gây ra
Như vậy, các khái niệm về BĐKH, thiên tai và các thuật ngữ có liên quan
đã được các tổ chức quốc tế và cơ quan, ban ngành của Việt Nam bước đầu làm
rõ theo mục tiêu ứng phó với BĐKH, thiên tai phù hợp với yêu cầu lãnh thổ Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, các khái niệm được sử dụng là những khái niệm đã được các cơ quan, ban ngành sử dụng trong các nghiên cứu, ban hành chí nh sách
c) Giới và Phụ nữ
Theo Từ điển tiếng Việt, phụ nữ chỉ người lớn tuổi thuộc nữ giới Nói cách khác, phụ nữ là khái niệm để chỉ một, một nhóm hay tất cả nữ giới đã trưởng thành, hoặc được cho là đã trưởng thành về mặt sinh học và xã hội; nghĩa là có khả năng sinh con Trong khoa học, nữ là thuật ngữ tương phản trung tính với nam (Trung tâm Chính sách và Kỹ thuật phòng chống thiên tai, 2017) Trong khuôn khổ nghiên cứu, thuật ngữ phụ nữ được dùng để chỉ giới nữ nằm trong độ tuổi lao động và kết hôn (đủ 18 tuổi), có khả năng tham gia vào các công việc gia đình và hoạt động sản xuất tạo thu nhập
Ngoài ra, các khái niệm liên quan đến giới được định nghĩa theo Luật bình đẳng giới số 73/2006/QH11 ngày 29 tháng 6 năm 2006, như sau:
- Giới chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong tất cả các mối quan hệ
xã hội [Khoản 1, Điều 5, Luật BĐG]
- Bình đẳng giới (BĐG) là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó [Khoản 3, Điều 5, Luật BĐG]
Trang 30Theo LHQ, BĐG nói đến sự bình đẳng về quyền con người, trách nhiệm và
cơ hội giữa phụ nữ và nam giới, trẻ em trai và trẻ em gái Bình đẳng không có nghĩa là phụ nữ và nam giới sẽ là như nhau mà có nghĩa là quyền con người, trách nhiệm và cơ hội của phụ nữ và nam giới sẽ không phải phụ thuộc vào việc họ là phụ nữ hay nam giới
Như vậy, BĐG bao hàm ý nghĩa bình đẳng về quyền; về cách tiếp cận và kiểm soát nguồn lực; về sự tham gia và quyết định; và về thụ hưởng những thành quả và lợi ích mà mình làm ra BĐG không phải là vấn đề của phụ nữ mà phải là mối quan tâm và sự tham gia của nam giới cũng như phụ nữ trong quá trình thúc đẩy Bình đẳng giữa phụ nữ và nam giới được xem như một vấn đề nhân quyền và
là điều kiện tiên quyết, một chỉ số cho sự phát triển bền vững trong đó đặt con người là trung tâm
- Định kiến giới là nhận thức, thái độ và đánh giá thiên lệch, tiêu cực về đặc
điểm, vị trí, vai trò và năng lực của nam hoặc nữ [Khoản 4, Điều 5, Luật BĐG] Nói cách khác, định kiến giới thể hiện quan điểm và cách nhìn nhận của mọi người
về khả năng hay năng lực của nam giới và nữ giới Ví dụ như, phụ nữ thường được cho rằng có khả năng chăm sóc gia đình tốt hơn, trong khi khả năng lãnh đạo tốt thuộc về nam giới
- Phân biệt đối xử về giới được hiểu trong phạm vi nghiên cứu này là việc hạn
chế, loại trừ, không công nhận hoặc không coi trọng vai trò, vị trí của nam và nữ, gây bất bình đẳng giữa nam và nữ trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình
- Biện pháp thúc đẩy BĐG là biện pháp nhằm bảo đảm BĐG thực chất, do cơ
quan nhà nước có thẩm quyền ban hành trong trường hợp có sự chênh lệch lớn giữa nam và nữ về vị trí, vai trò, điều kiện, cơ hội phát huy năng lực và thụ hưởng thành quả của sự phát triển mà việc áp dụng các quy định như nhau giữa nam và nữ không làm giảm được sự chênh lệch này Biện pháp thúc đẩy BĐG được thực hiện trong một thời gian nhất định và chấm dứt khi mục đích BĐG đã đạt được
- Lồng ghép giới Thời gian gần đây, vấn đề lồng ghép giới luôn nhận được
sự quan tâm của các nhà hoạch định chính sách và các tổ chức xã hội dân sự khi xây dựng các chương trình và kế hoạch nói chung và về BĐKH nói riêng Lồng ghép giới được xem là một trong những công cụ hữu ích để giải quyết các vấn đề
Trang 31dưới góc độ giới ở tất cả cấp độ, các lĩnh vực hay khía cạnh hoạt động khác nhau; xác định những vấn đề giới hay tình trạng bất bình đẳng giữa phụ nữ và nam giới, giữa trẻ em trai và trẻ em gái; làm rõ nguyên nhân gây bất BĐG; từ đó đưa ra các biện pháp can thiệp cụ thể để giải quyết những vấn đề bất BĐG đó một cách hệ thống, nhất quán và xuyên suốt
Theo Hội đồng Kinh tế và Xã hội của Liên Hợp quốc, lồng ghép giới “là một chiến lược nhằm đưa những mối quan tâm và kinh nghiệm của phụ nữ và nam giới vào quá trì nh thiết kế, thực hiện, giám sát và đánh giá các chính sách, chương trình như là một phần không thể thiếu của các chính sách, chương trình đó,… để phụ nữ
và nam giới cùng được thụ hưởng một cách bình đẳng và để tì nh trạng bất bì nh đẳng không còn bị kéo dài dai dẳng Mục đích cuối cùng của lồng ghép giới chính
là bình đẳng giới” (ECOSOC, 1997, trang 3)
Mục đích của lồng ghép giới là làm thay đổi tư duy, thái độ và cách thức hành động của cá nhân và tổ chức trên quan điểm bình đẳng giới; đảm bảo nam, nữ được đối xử bình đẳng; được tạo cơ hội và điều kiện phù hợp để phát triển đầy đủ năng lực của bản thân và đóng góp hiệu quả cho sự phát triển bền vững của gia đình, tổ chức và xã hội Lồng ghép giới vừa là biện pháp, vừa là phương tiện giúp đạt được mục tiêu BĐG
d) Cộng đồng và Sinh kế
- Cộng đồng
Hiện nay, khái niệm “cộng đồng” được sử dụng rất rộng rãi, đặc biệt là trong các nghiên cứu xã hội học Tùy theo cách tiếp cận và khía cạnh nghiên cứu mà có những cách hiểu và định nghĩa khác nhau về “cộng đồng” Song nhìn chung, xét về khía cạnh xã hội học, khái niệm cộng đồng được hiểu trước hết “là những nhóm xã hội của con người có những tương tác với nhau và cùng chia sẻ những cái chung nào đó, có thể là địa bàn cư trú, những giá trị chung, quy tắc ứng xử chung,…tạo nên sự gắn kết xã hội” (Phạm Hồng Tung, 2009)
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: Cộng đồng xã hội là một tập đoàn người rộng lớn có những dấu hiệu, những đặc điểm xã hội chung về thành phần giai cấp,
về nghề nghiệp, về địa điểm sinh tụ và cư trú Cũng có những cộng đồng bao gồm
cả một dòng giống, một sắc tộc, một dân tộc Như vậy, cộng đồng bao gồm một
Trang 32loạt yếu tố xã hội chung mang tính phổ quát, đó là những mặt cộng đồng về kinh tế,
về địa lí, về ngôn ngữ, về văn hóa về tín ngưỡng, về tâm lí về lối sống Những yếu
tố này trong tính tổng thể của nó tạo nên tính ổn định và bền vững của một cộng đồng Khẳng định tính thống nhất của một cộng đồng trên quy mô lớn, cũng đồng thời thừa nhận tính đa dạng và nhiều màu sắc của các cộng đồng quy mô nhỏ (TĐBKVN, 1995)
Từ những cơ sở trên, khái niệm “cộng đồng” trong phạm vi nghiên cứu của
đề tài được hiểu là những người dân sinh sống, lao động và sinh hoạt trên cùng địa bàn cư trú xã Thượng Bằng La, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái
- Hộ gia đình
Theo Luật Dân sự năm 2005, hộ gia đình được hiểu là nơi mà “các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định là chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự thuộc các lĩnh vực này” [Điều 106] Như vậy, căn cứ vào nội dung vừa nêu, ta có thể thấy hộ gia đình có những đặc điểm cơ bản như sau:
- Hộ gia đình phải có từ hai thành viên trở lên;
- Hộ gia đình phải có tài sản chung và thông thường tài sản chung này là tài sản có giá trị lớn và là tư liệu sản xuất của hộ gia đình
Khái niệm “hộ gia đình” thuộc nghiên cứu này được hiểu là một đơn vị xã hội bao gồm một hay một nhóm người ở chung và ăn chung (nhân khẩu) Hộ gia đình không đồng nhất với khái niệm gia đình, những người trong hộ gia đình có thể
có hoặc không có quan hệ huyết thống, nuôi dưỡng hoặc hôn nhân hoặc cả hai Hộ gia đình là một đơn vị xã hội thuộc cộng đồng
- Sinh kế
Các quan niệm về sinh kế xuất hiện từ những năm 1980, đến nay cũng dần được phát triển, hoàn thiện thông qua các công trình nghiên cứu của các tác giả khác nhau Trong đó, phải kể đến quan niệm của Robert Chambers – người tiên phong đề xuất quan niệm, nội dung sinh kế Theo ông, sinh kế bao gồm những khả năng, tài sản (dự trữ, tài nguyên, các đòi hỏi và tiếp cận) cùng các hoạt động cần thiết làm phương tiện kiếm sống của con người Sinh kế được cho là bền vững khi
Trang 33nó đảm bảo được khả năng thích ứng với những thay đổi hoặc có khả năng phục hồi, duy trì và tăng cường các nguồn vốn cho thế hệ hiện tại, đồng thời cung cấp các cơ hội sinh kế bền vững cho thế hệ tương lai (Carney, D., 1999), với nội hàm tiếp cận gồm 03 nhân tố chính: (i) Năng lực chủ động ứng phó với những thay đổi
và có khả năng tiếp cận tới các nguồn lực, cơ hội khác nhau; (ii) Tính công bằng được thúc đẩy thông qua các chính sách ưu tiên cho nhóm yếu thế, dễ bị tổn thương; (iii) Tính bền vững xã hội được tăng cường thông qua giảm các chấn động và áp lực từ bên ngoài, đồng thời cung cấp các mạng lưới an toàn cho nhóm yếu thế, dễ
bị tổn thương
Từ quan niệm, nội hàm trên, một số tổ chức phát triển đã tiếp nhận, điều chỉnh phù hợp với bối cảnh từng dự án khác nhau theo tinh thần đặt con người ở vị trítrung tâm của các giải pháp phát triển, tạo sự cân bằng trong các chiến lược hướng đến mục tiêu phát triển bền vững thông qua thiết kế các chính sách tiếp cận và cải thiện hiệu quả các nguồn vốn; đồng thời, phù hợp với những ưu tiên, tôn chỉ mục đích, trọng tâm của từng tổ chức
Theo Trung tâm phát triển nông thôn miền Trung Việt Nam, sinh kế là tập hợp tất cả các nguồn lực và khả năng mà con người có được, kết hợp những quyết định và hoạt động mà họ thực thi nhằm để kiếm sống cũng như đạt được các mục tiêu và ước nguyện của họ
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, thuật ngữ sinh kế được hiểu là các phương thức kiếm sống của cộng đồng người dân xã Thượng Bằng La, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái, bao gồm các hoạt động tạo thu nhập, trong đó tập trung phân
tí ch hoạt động tạo thu nhập từ SXNN
Hoạt động SXNN nhằm để chỉ hoạt động sinh kế chủ yếu của người dân xã Thượng Bằng La Khái niệm SXNN bao gồm hai tổng hợp ngành: ngành trồng trọt
và chăn nuôi Theo đó, ngành trồng trọt bao gồm sản xuất ngũ cốc, cây công nghiệp, khoai tây, trồng rau, làm vườn, ; Ngành chăn nuôi bao gồm chăn nuôi các loại súc vật lớn có sừng, cừu, lợn, gia cầm Tại Thượng Bằng La, hoạt động trồng trọt phổ biến là trồng cây nông nghiệp ( lúa, chè, dâu tằm, cây ăn quả) và cây lâm nghiệp (gỗ nguyên liệu, quế, măng tre); hoạt động chăn nuôi gồm các hoạt động chăn nuôi gia súc (trâu, bò, lợn, thỏ,…), gia cầm (gà, vịt) và nuôi trồng thủy sản (chủ yếu là
Trang 34các loại cá: Lăng, trắm, chép, nheo, diêu hồng, rô phi đơn tính; ngoài ra có thêm sản phẩm ba ba gai)
1.2.2 Chính sách về giới và biến đổi khí hậu
a) Khung chính sách quốc tế về giới và biến đổi khí hậu
Công ước Liên hợp quốc năm 1978 về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối
xử với phụ nữ hay còn gọi là Công ước CEDAW đánh dấu một mốc quan trọng trong quá trình xây dựng chế độ bình đẳng giới CEDAW là công cụ quốc tế ràng buộc về mặt pháp lý đầu tiên để bảo vệ quyền phụ nữ, góp phần giải quyết toàn diện các quyền cơ bản cho phụ nữ trong chính trị, chăm sóc sức khỏe, giáo dục, kinh tế, việc làm, luật pháp, tài sản, quan hệ hôn nhân và gia đình Tuy nhiên, công ước CEDAW cho rằng: nếu chỉ dừng ở sự thừa nhận mang tính pháp lý là chưa đủ
mà đòi hỏi phải thông qua các hành động cụ thể về giới nếu mục tiêu bình đẳng giới được thực hiện; hay nói cách khác, chỉ khi BĐG được hiện thực hóa trong thực tiễn thì quyền của phụ nữ mới được đảm bảo một cách toàn diện
Tiếp đến, Chương trình nghị sự 21 (Agenda 21) được thông qua tại Hội nghị LHQ về Môi trường và Phát triển năm 1992, tại Rio de Janeiro, trong đó, Chương
24 về “Hành động toàn cầu vì Phụ nữ hướng tới phát triển bền vững” kêu gọi
chính phủ các nước loại bỏ mọi trở ngại ảnh hưởng với việc tham gia đầy đủ của phụ nữ trong phát triển bền vững và đảm bảo đạt được BĐG trong mọi phương diện xã hội
Hai năm sau, Hội nghị Thế giới về Phụ nữ lần thứ tư với chủ đề “Hành động
vì Bình đẳng, Phát triển và Hòa bình” của LHQ diễn ra trong tháng 9 năm 1995 tại
Bắc Kinh, Trung Quốc tiếp tục đưa ra Cương lĩnh hành động Bắc Kinh, theo đó, một lần nữa khẳng định việc trao quyền cho phụ nữ và sự tham gia đầy đủ của họ trên cơ sở bình đẳng trong tất cả các lĩnh vực của xã hội, bao gồm cả việc tham gia vào quá trình ra quyết định và tiếp cận quyền lực, là nền tảng cho thành tựu của bình đẳng, phát triển và hòa bình Việt Nam là một trong số các quốc gia thành viên của LHQ đã cam kết thực hiện Cương lĩnh hành động này
Mặc dù các văn bản của LHQ nêu trên không có tính ràng buộc về pháp lý, song đây được coi là khung chính sách quan trọng, làm căn cứ để các quốc gia xây dựng và triển khai các chương trình và hành động nhằm thúc đẩy vấn đề BĐG
Trang 35trong mọi khía cạnh và lĩnh vực phát triển của quốc gia, bao gồm cả vấn đề môi trường và BĐKH
Trong lĩnh vực BĐKH, vấn đề giới và BĐG chỉ thực sự được xem xét lần đầu tiên tại Hội nghị Liên hợp quốc về BĐKH lần thứ 7 (COP 7) tại Ma-rốc Quyết định số 36/CP.7 tại phiên họp lần thứ 8 diễn ra ngày 09 tháng 11 năm 2001 đã yêu cầu các bên tham gia có các biện pháp cần thiết cho phép phụ nữ tham gia đầy đủ vào tất cả các cấp ra quyết định liên quan đến BĐKH Quyết định này cũng đề cập đến Tuyên bố Bắc Kinh 1995 như là một căn cứ quan trọng trong việc trao quyền
và thúc đẩy sự tham gia của phụ nữ trong lĩnh vực BĐKH
Tại các Hội nghị tiếp theo, vấn đề lồng ghép giới và thúc đẩy sự tham gia của phụ nữ trong quá trình ra các quyết định liên quan đến BĐKH luôn được quan tâm và đưa vào chương trình hoạt động, cụ thể:
- Hội nghị LHQ về BĐKH lần thứ 16 (COP 16) diễn ra vào tháng 10 năm
2010 tại Mexico đã thông qua Hiệp ước Cancun khẳng định: các can thiệp thích ứng với BĐKH cần tuân thủ những nhu cầu của quốc gia, đảm bảo nhạy cảm giới
và sự tham gia cũng như nguyên tắc minh bạch và những can thiệp giảm thiểu các tác động của BĐKH cần phải xem xét các nhóm tổn thương, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em Theo đó, Quyết định 1/COP 16 nhấn mạnh rằng BĐG và sự tham gia của phụ nữ đóng vai trò quan trọng cho các hành động hiệu quả liên quan đến mọi khía cạnh của BĐKH (UNFCC, 2010)
- Hội nghị LHQ về BĐKH lần thứ 18 (COP 18) năm 2012 đánh dấu bước ngoặt trong việc khẳng định vị thế của phụ nữ trong hoạt động BĐKH Quyết định 23/CP.18 vào tháng 12 năm 2012 về thúc đẩy cân bằng giới và cải thiện sự tham gia của phụ nữ trong các đàm phán liên quan đến Công ước Khung của LHQ về BĐKH (UNFCCC) đã yêu cầu tổ chức phiên thảo luận về cân bằng giới trong quy trình UNFCCC, chính sách khí hậu nhạy cảm giới và các hoạt động xây dựng năng lực nhằm thúc đẩy sự tham gia của phụ nữ trong quy trình UNFCCC (Quyết định 23/CP.18, đoạn 10) và yêu cầu các Bên và tổ chức quan sát viên trình nộp báo cáo
về việc lựa chọn và cách để thúc đẩy mục tiêu cân bằng giới tính trong các cơ quan được thành lập theo Công ước và Nghị định thư Kyoto, nhằm cải thiện sự tham gia của phụ nữ và thông báo khí hậu hiệu quả thay đổi chính sách giải quyết nhu cầu
Trang 36của phụ nữ và nam giới (Quyết định 23/CP.18, đoạn 11)(UNFCCC, 2012)
- Tại Hội nghị LHQ về BĐKH lần thứ 20 (COP 20) năm 2014, các bên liên quan, trong đó có chính phủ Việt Nam đã thông qua Chương trình LIMA về giới (tại Quyết định số 18/COP 20) yêu cầu các bên liên quan thúc đẩy nhạy cảm giới trong quá trình xây dựng và thực hiện các chính sách về khí hậu và phải đạt được việc xây dựng các chính sách có nhạy cảm giới về khí hậu trong tất cả các hoạt động liên quan đến Công ước Khung của LHQ về BĐKH (UNFCCC, 2014)
Như vậy, có thể thấy rằng, vấn đề giới và thúc đẩy BĐG qua các can thiệp BĐKH đã được đề cập và hình thành trong khung luật pháp quốc tế về BĐKH Trong bối cảnh các công ước/hiệp ước quốc tế về BĐKH đang được thực hiện tại các quốc gia trên thế giới, các chính sách, hành động và các biện pháp cụ thể nhằm chấm dứt phân biệt đối xử đối với phụ nữ và thúc đẩy BĐG đã mang lại những kết quả nhất định Điều này cho thấy vai trò và sự tham gia của phụ nữ trong các lĩnh vực khác nhau cũng như trong hoạt động ứng phó với BĐKH đang ngày càng được chứng minh hiệu quả Các công ước khung trên đây là cơ sở để các quốc gia thành viên lồng ghép, cụ thể hóa trong các chính sách, thực thi chính sách phù hợp với bối cảnh cụ thể của quốc gia mình
b) Chí nh sách về giới và biến đổi khí hậu tại Việt Nam
Nhằm chủ động ứng phó với các tác động của BĐKH và thực hiện các cam kết quốc tế, Việt Nam đã sớm ban hành khung thể chế và tổ chức triển khai ở nhiều quy mô khác nhau Các văn bản quan trọng có thể kể đến, gồm: Chương trình quốc gia về Quản lý Rủi ro Thiên tai dựa vào Cộng đồng (2009); Chiến lược quốc gia về BĐKH (2011); Kế hoạch Hành động (2012); Chương trình Mục tiêu Quốc gia Ứng phó Biến đổi Khí hậu (2008); Chiến lược Quốc gia Phòng, chống và giảm nhẹ Thiên tai đến năm 2020,vv Trên cơ sở các chính sách mang tính định hướng trên, các cơ quan, ban ngành đã xây dựng kế hoạch hành động triển khai phù hợp với ngành và mục tiêu chung Cùng với đó, Việt Nam có khung pháp lý về BĐG khá hoàn thiện và các quy định về lồng ghép giới trong các chính sách phát triển là cơ
sở tạo động lực thúc đẩy BĐG, đồng thời để giải quyết các vấn đề liên quan đến giới trong thực thi các hoạt động ứng phó với BĐKH, giảm nhẹ thiên tai Một số chính sách quan trọng liên quan đến giới và BĐKH sẽ được tập trung phân tích
Trang 37trong nội dung dưới đây
Vấn đề bình đẳng giới được quy định tại Hiến pháp Việt Nam và được Quốc
hội Việt Nam chính thức luật hóa tại Luật bình đẳng giới số 73/2006/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2006 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2007 Luật bao gồm 6 chương, 44 điều, quy định cụ thể về Mục tiêu bình đẳng giới; Chính sách của Nhà nước; Cơ quan quản lý nhà nước; Các biện pháp bảo đảm bình đẳng giới; Thanh tra, giám sát và xử lý vi phạm pháp luật về bình đẳng giới; Người thực hiện là cơ quan nhà nước, chính quyền; Các tổ chức chính trị, kinh tế, xã hội, nghề nghiệp; Gia đình; Cá nhân; Các tổ chức và cá nhân nước ngoài hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam Mục tiêu của Luật là xoá bỏ phân biệt đối xử về giới và xây dựng BĐG trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình Đặc biệt, Luật
đã đưa ra các “Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới” [Điều 19, Chương 3] Đây là
các biện pháp chịu ảnh hưởng của Điều 4 - “Các biện pháp đặc biệt tạm thời” của Công ước CEDAW để thực hiện BĐG thực chất Các biện pháp thúc đẩy BĐG được thực hiện trong một thời gian nhất định và chấm dứt khi mục đích BĐG đã đạt được Nhà nước cũng chủ trương lồng ghép giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật để việc thực thi BĐG có hiệu quả hơn (Lê Thị Quý, 2013) Bên cạnh đó, Việt Nam cũng được ghi nhận là một trong những nước sớm phê chuẩn Công ước CEDAW (vào năm 1982)
Tiếp đến, Chiến lược Quốc gia về Bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020 (phê duyệt tại Quyết định số 2351/QĐ-TTg ngày 24/12/2010) cũng đưa ra 07 mục tiêu
và các chỉ tiêu cụ thể nhằm đảm bảo BĐG trong các lĩnh vực khác nhau, đồng thời yêu cầu tất cả các bộ, ngành thực hiện lồng ghép các vấn đề bình đẳng giới trong công tác kế hoạch và hoạch định chính sách nhằm thực hiện Chiến lược [Khoản 14, Điều 2] Tuy vậy, hoạt động BĐKH hay công tác QLRRTT không được đề cập cụ thể trong nội dung của Chiến lược
Có thể thấy, mặc dù không nêu rõ các quy định liên quan đến BĐKH hay QLRRTT, hệ thống các chính sách về BĐG của Việt Nam đã góp phần tạo cơ sở pháp lý vững chắc để các cơ quan, ban, ngành và các tổ chức xây dựng, thực hiện các chính sách, chương trình và dự án thuộc các lĩnh vực khác nhau nhằm thúc đẩy BĐG tại Việt Nam, tạo động lực để giải quyết các rào cản về giới trong công tác
Trang 38ứng phó với thiên tai và BĐKH (Đặng Thị Thanh Nhàn, 2018)
Trong 10 năm trở lại đây, khi vấn đề BĐKH ngày càng nhận được sự quan tâm, nhiều chính sách liên quan đến hoạt động ứng phó với BĐKH ở Việt Nam đã được ban hành Tuy nhiên, hầu hết các chính sách của Việt Nam đều ít hoặc không
thể hiện một cách rõ ràng các quy định về lồng ghép giới trong các can thiệp ứng phó với BĐKH, ngay cả khi đây được coi là một trong những thách thức ảnh hưởng
đến sự phát triển bền vững của một quốc gia
Quyết định số 158/2008/QĐ-TTg ngày 02/12/2008 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia ứng phó với Biến đổi khí hậu (CTMTQG ƯPBĐKH) là một trong số ít văn bản về BĐKH có đề cập đến vấn đề giới một cách rõ ràng từ khá sớm Mục tiêu của CTMTQG ƯPBĐKH là đánh giá được mức độ tác động của BĐKH đối với các lĩnh vực, ngành và địa phương trong từng giai đoạn và xây dựng được kế hoạch hành động có tính khả thi để ứng phó hiệu quả với BĐKH giai đoạn ngắn hạn và dài hạn, nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững của đất nước, tận dụng các cơ hội phát triển nền kinh tế theo hướng các - bon thấp và tham gia cùng cộng đồng quốc tế trong nỗ lực giảm nhẹ BĐKH, bảo vệ hệ thống khí hậu trái đất Theo đó, vấn đề giới đã được đề cập chính thức trong tại
Khoản 1, mục I về quan điểm thực hiện CTMTQG ƯPBĐKH với nội dung: “Ứng phó với biến đổi khí hậu được tiến hành trên nguyên tắc phát triển bền vững, bảo
đảm tính hệ thống, tổng hợp, ngành, liên ngành, vùng, liên vùng, bình đẳng giới,
xóa đói, giảm nghèo” Điều này được thể hiện như một quan điểm chỉ đạo xuyên
suốt trong quá trình thực hiện CTMTQG ƯPBĐKH CTMTQG còn nhấn mạnh đến nhu cầu tiến hành đánh giá tính dễ bị tổn thương ở các cấp ngành, vùng và cộng đồng, cũng như xác định người nghèo, phụ nữ và trẻ em trong số những nhóm dễ bị tổn thương nhất trước các tác động của BĐKH Trong phần phụ lục các nhiệm vụ,
dự án thực hiện CTMTQG ƯPBĐKH đề cập đến vai trò của Hội LHPN các cấp, đặc biệt là công tác tuyên truyền và nâng cao nhận thức cộng đồng về BĐKH (Bộ Tài nguyên và Môi trường mời Hội LHPN Việt Nam đồng chủ trì)
Tuy nhiên, trong các văn bản chính sách về ứng phó với BĐKH tại Việt Nam ban hành ở giai đoạn sau như Nghị Quyết số 24-NQ/TW ngày 03 tháng 6 năm 2013 của Quốc Hội về chủ động ứng phó với BĐKH, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo
Trang 39vệ môi trường; Chiến lược Quốc gia về biến đổi khí hậu năm 2011 (phê duyệt tại Quyết định số 2139/QĐ-TTg ngày 05 tháng 12 năm 2011); Quyết định số 1474/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Kế hoạch hành động quốc gia về biến đổi khí hậu giai đoạn 2012 – 2020 hầu như không đề cập đến vấn đề giới hay lồng ghép giới trong hoạt động thích ứng, giảm nhẹ BĐKH Chiến lược Quốc gia về Biến đổi Khí hậu 2011 đã coi BĐG là một mục tiêu cụ thể, bên cạnh các mục tiêu như đảm bảo lương thực, an ninh năng lượng và nước, xóa đói giảm nghèo, an sinh xã hội, y tế, sinh kế và bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên
Trong hoạt động quản lý và phòng chống rủi ro thiên tai, Chính phủ Việt Nam đã xây dựng một hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật, các chương trình, chiến lược nhằm thực hiện công tác QLRRTT/TƯBĐKH, trong đó có một số văn bản đề cập đến vai trò của cộng đồng và vấn đề BĐG, cụ thể như sau:
- Quyết định số 172/2007/QĐ-TTg ngày 16/11/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược Quốc gia Phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai đến năm 2020 Mục tiêu chung của Chiến lược nhằm huy động mọi nguồn lực để thực hiện có hiệu quả công tác phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai từ nay đến năm 2020 nhằm giảm đến mức thấp nhất thiệt hại về người và tài sản, hạn chế sự phá hoại tài nguyên thiên nhiên, môi trường và di sản văn hóa, góp phần quan trọng bảo đảm phát triển bền vững của đất nước, bảo đảm quốc phòng, an ninh
Nội dung Chiến lược đã thể hiện cam kết của Chính phủ trong việc áp dụng lồng ghép Quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng và yêu cầu có sự tham gia của cộng đồng trong việc xây dựng văn bản pháp luật, lập quy hoạch, kế hoạch, quản lý
và theo dõi việc thực hiện các chương trình, dự án tại địa phương [Mục VI], tuy nhiên vấn đề giới và BĐG chưa được đề cập đến trong Chiến lược Trong Chiến
lược, từ “phụ nữ” chỉ được nhắc đến hai lần trong Phụ lục 2 về “Thiên tai và công tác phòng, chống giảm nhẹ thiên tai ở Việt Nam” với ghi nhận rằng phụ nữ (cùng
với nhóm dân cư: người già yếu, người tàn tật và trẻ em) là đối tượng dễ bị tổn thương từ những tác động của thiên tai Mặc dù vậy, công tác phòng chống giảm nhẹ thiên tai cũng đã đề cập đến sự đóng góp của phụ nữ trong việc chủ động tổ
chức quyên góp ủng hộ cho vùng bị thiên tai sớm ổn định cuộc sống [Mục II]
- Luật Phòng, chống thiên tai năm số 33/2013/QH13 ban hành ngày 19 tháng
Trang 406 năm 2013 có đề cập tới tầm quan trọng của nhạy cảm giới trong GNRRTT và QLRRTT Đây là một trong những nỗ lực lớn của các cơ quan soạn thảo Luật nhằm thực hiện mục tiêu của Chiến lược Quốc gia Phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai đến năm 2020 Luật Phòng, Chống Thiên tai 2013 đã khẳng định lại: BĐG là một trong nhưng nguyên tắc cốt lõi trong công tác phòng, chống thiên tai cùng với các giá trị khác như nhân đạo, công bằng minh bạch Khoản 5, Điều 4 của Luật này quy
định: “Phòng, chống thiên tai phải bảo đảm tính nhân đạo, công bằng, minh bạch
và bình đẳng giới” Đồng thời, yêu cầu Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội thực
hiện hướng dẫn lồng ghép giới trong các hoạt động phòng, chống thiên tai [Điều 42, Khoản 14] Điều này đã thể hiện trách nhiệm của Chính phủ trong thực hiện các cam kết quốc tế về lồng ghép giới trong các hoạt động phòng chống thiên tai nhằm dần xoá bỏ định kiến giới đối với phụ nữ và nam giới, giúp công tác QLRRTT mang lại hiệu quả thiết thực hơn cho các đối tượng nam, nữ và các đối tượng dễ bị tổn thương Bên cạnh đó, Luật cũng quy định phụ nữ có thai và phụ nữ đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi là một trong những nhóm đối tượng dễ bị tổn thương cần được quan tâm, hỗ trợ Tuy nhiên, Luật chưa có quy định cụ thể về trách nhiệm, vai trò của các cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức, đoàn thể về việc bảo đảm quyền
và lợi ích hợp pháp, chính đáng cho nhóm đối tượng này cũng như thực hiện lồng ghép giới trong hoạch định các chính sách hỗ trợ nhóm dễ bị tổn thương trong đó
có đối tượng phụ nữ trước, trong và sau thiên tai
- Nghị định số 66/2014/NĐ-CP ngày của Thủ tưởng Chính phủ ngày 04 tháng 07 năm 2014 quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Phòng chống thiên tai là một trong những chính sách quan trọng nhất có tác động đến sự tham gia của phụ nữ trong các hoạt động ứng phó với BĐKH, trong đó khẳng định Hội liên hiệp phụ nữ là một thành viên chính thức trong Ban chỉ đạo phòng chống lụt bão cấp tỉnh [Điều 20, khoản d] Đây là một văn bản pháp lý quan trọng, khẳng định vai trò và sự tham gia của phụ nữ trong hoạt động phòng, chống rủi ro thiên tai và ứng phó với BĐKH, đồng thời thúc đẩy sự tham gia của phụ nữ trong việc xây dựng, thực hiện và giám sát các chính sách ứng phó với BĐKH có trách nhiệm giới ở Việt Nam
Thông qua việc xem xét các chính sách pháp luật liên quan trực tiếp đến