Mặc dù đã có nhiều nỗ lực, nhưng hoạt động quản lý dịch vụ công ích vệ sinh môi trường trên địa bàn quận Hà Đông cũng gặp một số khó khăn, cụthể như: Do ý thức bảo vệ môi trường, tham gi
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
TRẦN MINH HIẾU
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DỊCH VỤ CÔNG ÍCH VỆ SINH MÔI TRƯỜNG
TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN HÀ ĐÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
TRẦN MINH HIẾU
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DỊCH VỤ CÔNG ÍCH VỆ SINH MÔI TRƯỜNG
TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN HÀ ĐÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
Mã số: 8 34 04 03
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS CHU XUÂN KHÁNH
HÀ NỘI - 2021
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Đề tài “Quản lý nhà nước về dịch vụ công ích vệ sinh môi trường trên
địa bàn quận Hà Đông”là luận văn tốt nghiệp thạc sĩ quản lý công của tác giả
tại trường Học viện Hành chính Quốc gia
Tác giả cam đoan đây là công trình của riêng tác giả Các số liệu, kếtquả nêu trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong các côngtrình nghiên cứu khác
Tác giả
Trần Minh Hiếu
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành đến quý thầy, cô giáo củaHọc viện Hành chính Quốc gia đã tạo điều kiện tốt nhất cho tác giả trong thờigian học tập và nghiên cứu tại trường
Tác giả xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến TS Chu Xuân Khánh đã quantâm, giúp đỡ tận tình, hướng dẫn và tạo điều kiện giúp tôi hoàn thành luận văn.Đồng thời, tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến UBND quận HàĐông, Ban Quản lý dự án đầu tư và xây dựng, Công ty cổ phần Môi trường đôthị Hà Đông, Công ty cổ phần Minh Quân và các cơ quan liên quan đã tạo điềukiện, giúp đỡ tôi trong thời gian nghiên cứu, thu thập số liệu cần thiết để tôi cóthể hoàn thành luận văn của mình
Cuối cùng, tôi xin cảm ơnlãnh đạo cơ quan, bạn bè, đồng nghiệp đãquan tâm, tạo điều kiện cho tác giả trong quá trình nghiên cứu và hoàn thiệnluận văn
Xin chân thành cảm ơn./
Tác giả
Trần Minh Hiếu
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn 3
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn 7
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn 8
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 8
7 Kết cấu của luận văn 9
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀDỊCH VỤ CÔNG ÍCH VỆ SINH MÔI TRƯỜNG 10
1.1 Một số khái niệm cơ bản 10
1.1.1 Dịch vụ công ích 10
1.1.2 Dịch vụ công ích vệ sinh môi trường 12
1.2 Quản lý nhà nước về dịch vụ công ích vệ sinh môi trường 14
1.2.1 Khái niệm 14
1.2.2.Sự cần thiết quản lý nhà nước về dịch vụ công ích vệ sinh môi trường 15
1.2.3 Nội dung quản lý nhà nước về dịch vụ công ích vệ sinh môi trường 17
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về dịch vụ công ích vệ sinh môi trường 23
1.3.1 Yếu tố chính sách, pháp luật 23
1.3.2 Yếu tố kinh tế - xã hội 24
1.3.3 Ý thức hợp tác của người dân 25
1.3.4 Xã hội hóa dịch vụ công ích vệ sinh môi trường 26
1.4 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về dịch vụ công ích vệ sinh môi trường của một số địa phương và bài học cho quận Hà Đông 26
Trang 61.4.2 Thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa 27
1.4.3 Thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình 28
1.4.4 Bài học kinh nghiệm cho quận Hà Đông 29
TIểU KếT CHƯƠNG 1 30
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DỊCH VỤ CÔNG ÍCHVỆ SINH MÔI TRƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN HÀ ĐÔNG,THÀNH PHỐ HÀ NỘI 31
2.1 Giới thiệu chung về quận Hà Đông 31
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 31
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 32
2.1.3 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của quận Hà Đông tác động tới hoạt động đến hoạt động quản lý nhà nước về dịch vụ công ích vệ sinh môi trường 35
2.2 Thực trạng hoạt động dịch vụ công ích vệ sinh môi trường trên địa bàn quận Hà Đông 37
2.2.1 Phân loại, thu gom và vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn quận Hà Đông 38
2.2.2 Hoạt động duy trì vệ sinh khác 40
2.3 Phân tích thực trạng hoạt động quản lý nhà nước về dịch vụ công ích vệ sinh môi trường trên địa bàn quận Hà Đông 42
2.3.1 Xây dựng kế hoạch, chính sách về cung cấp dịch vụ công ích vệ sinh môi trường 42
2.3.2 Tổ chức bộ máy quản lý theo phân cấp trong dịch vụ công ích vệ sinh môi trường 44
2.3.3 Phát huy vai trò làm chủ của người dân trong sử dụng dịch vụ công ích vệ sinh môi trường 49
2.3.4 Công tác thanh toán và thu giá dịch vụ công ích vệ sinh môi trường 50
2.3.5 Kiểm tra, giám sát hoạt động cung ứng dịch vụ công ích vệ sinh môi trường 53
Trang 72.4 Đánh giá chung hoạt động quản lý nhà nước về dịch vụ công ích
vệ sinh môi trường trên địa bàn quận Hà Đông 56
2.4.1 Kết quả đạt được 56
2.4.2 Hạn chế và nguyên nhân của hạn chế 57
TIểU KếT CHƯƠNG 2 59
CHƯƠNG 3: PHƯỚNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆNQUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DỊCH VỤ CÔNG ÍCH VỆ SINHMÔI TRƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 60
3.1 Phướng hướng hoàn thiện quản lý nhà nước về dịchvụ công ích vệ sinh môi trường trên địa bàn quận Hà Đông 60
3.1.1 Quan điểm 60
3.1.2 Mục tiêu 60
3.1.3 Định hướng 62
3.2 Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về dịchvụ công ích vệ sinh môi trường trên địa bàn quận Hà Đông 63
3.2.1 Đổi mới cơ chế quản lý và phương thức cung cấp dịch vụ công ích vệ sinh môi trường 63
3.2.2 Tuyên truyền, giáo dục, nâng cao ý thức của người dân trong hoạt động duy trì vệ sinh môi trường 66
3.2.3 Giải pháp tài chính 68
3.2.4 Xã hội hóa dịch vụ công ích vệ sinh môi trường 70
3.2.5 Tăng cường kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm 72
3.3 Một số kiến nghị 73
3.3.1 Đối với Chính phủ 73
3.3.2 Đối với quận Hà Đông 74
TIểU KếT CHƯƠNG 3 76
KẾT LUẬN 77
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
HĐND : Hội đồng nhân dânQLDA : Quản lý dự ánQLNN : Quản lý nhà nướcUBND : Ủy ban nhân dânVSMT : Vệ sinh môi trường
Trang 9DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1.1: Ba loại hình tổ chức cung ứng dịch vụ công 11Hình 2.1: Mô hình thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt 40Hình 2.2: Cơ cấu tổ chức của Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng 46
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, cải cách hành chính, Nhànước không chỉ tổ chức, quản lý xã hội bằng các thiết chế pháp luật mà cònphải thông qua việc thỏa mãn những nhu cầu thiết yếu của người dân - cungứng các dịch vụ công nói chung và dịch vụ công ích nói riêng Nhà nước cótrách nhiệm xây dựng và ban hành chính sách, xác lập hành lang pháp lý làm
cơ sở để quản lý và tổ chức cung ứng các dịch vụ công ích Thông qua các vănbản pháp lý, nhằm tạo ra một môi trường thuận lợi, khuyến khích các tổ chức,
cá nhân tham gia cung ứng dịch vụ công ích theo định hướng xã hội hóa, tăngtính tự chủ trong tham gia cung ứng dịch vụ công ích; quản lý việc cung ứngdịch vụ công ích một cách hiệu quả; tạo thuận lợi cho người dân trong tiếp cậndịch vụ công ích một cách công bằng
Theo Nghị định số 130/2013/NĐ-CP ngày 16/10/2013 của Chính phủ vềsản xuất và cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích, dịch vụ công ích ở đô thịbao gồm: dịch vụ vận tải công cộng tại các đô thị; dịch vụ cấp, thoát nước đôthị; dịch vụ thu gom, phân loại, xử lý chất thải rắn, vệ sinh công cộng; dịch vụquản lý công viên, trồng và quản lý chăm sóc cây xanh, hoa cảnh vỉa hè,đường phố, dải phân cách, vòng xoay; dịch vụ cấp điện, chiếu sáng đô thị; dịch
vụ tang lễ, nghĩa trang đô thị
Quận Hà Đông là một trong những quận của thành phố Hà Nội có tốc độ
đô thị hóa nhanh, hàng loạt các khu đô thị mới hình thành trên địa bàn và dân
số cũng tăng rất nhanh, đã tạo ra sức ép không nhỏ về công tác bảo vệ môitrường Trước thực trạng đó, quận Hà Đông đã kịp thời cân đối, bổ sung nguồnlực để đáp ứng cho công tác vệ sinh môi trường (VSMT), thu gom rác thải sinhhoạt; đã bố trí lực lượng hợp lý kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện công tác vệsinh môi trường đảm bảo rác thải được vận chuyển ra khỏi thành phố trước 7hhàng ngày Đặc biệt, thời gian gần đây, quận Hà Đông đã phối hợp với UBNDcác phường và doanh nghiệp chuyên trách thu gom rác thải
Trang 11sinh hoạt, khảo sát, đề xuất dịch chuyển 20 điểm tập kết rác thải gây mất mỹquan và vệ sinh môi trường ra khỏi khu vực trung tâm quận; thực hiện lắp đặt
và đưa vào hoạt động 6 container chứa xe gom rác hợp vệ sinh và cải thiện mỹquan đô thị Song song với đó, quận Hà Đông còn phối hợp với các đơn vị,nghiên cứu tập trung sắp xếp, dồn các điểm tập kết rác trên các trục đườngchính về nơi xa dân cư
Mặc dù đã có nhiều nỗ lực, nhưng hoạt động quản lý dịch vụ công ích
vệ sinh môi trường trên địa bàn quận Hà Đông cũng gặp một số khó khăn, cụthể như: Do ý thức bảo vệ môi trường, tham gia các hoạt động tập thể vệ sinhmôi trường của một số người dân còn hạn chế (đổ rác không đúng giờ, đúngnơi quy định); việc sử dụng vỉa hè để kinh doanh, để xe (không theo quy định)gây khó khăn cho công tác duy trì vệ sinh môi trường Công tác phối hợp giámsát xử lý hiện trường với UBND các phường, các đơn vị, phòng, ban, vẫn cònhạn chế do đặc thù công việc chủ yếu diễn ra trong thời gian ngoài giờ, banđêm.Trên địa bàn thành phố có nhiều dự án, công trình đang thi công, gây mất
vệ sinh môi trường; hiện tượng chở cát, đất đá làm rơi vãi ra đường, đổ trộmphế thải xây dựng, đất trôi sau các cơn mưa do dự án san gạt vẫn còn tồn tại,gây khó khăn cho việc duy trì và đảm bảo vệ sinh môi trường
Ngoài ra, bộ quy trình, định mức kinh tế kỹ thuật, đơn giá của dịch vụduy trì VSMT áp dụng trong thực tế còn thiếu một số quy trình, định mức thựchiện ngoài hiện trường dẫn tới việc xây dựng khối lượng mời thầu chưa sát vớithực tế Do đó, trong quá trình triển khai có nhiều khối lượng phát sinh nằmngoài khối lượng đã được trúng thầu mà chưa có hướng dẫn xử lý cụ thể
Công tác phối hợp giữa các sở chuyên ngành và quận Hà Đông nóiriêng, các quận, huyện trên địa bàn thành phố Hà Nội nói chung trong việcthực hiện các quy định của pháp luật về sản xuất và cung ứng dịch vụ công íchVSMT, cũng như việc tổ chức bàn giao phạm vi, lĩnh vực được quản lý theophân cấp chưa thường xuyên, chặt chẽ và hiệu quả Quận Hà Đông chưa
Trang 12chủ động xây dựng phương án tổng thể quản lý việc thực hiện duy trì VSMT,công tác kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm còn chưa triệt để…
Để khắc phục những tồn tại này, quận Hà Đông cần tiếp tục nâng caohiệu quả hoạt động quản lý nhà nước(QLNN) đối với dịch vụ công ích vệ sinhmôi trườngtrên địa bàn Đồng thời, tổ chức triển khai đấu thầu dịch vụ côngích đô thị; kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện nhiệm vụ theo hợp đồng củacác đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp cung ứng đảm bảo tiết kiệm, hiệu quả
Từ những lý do trên, tác giả đã lựa chọn đề tài“Quản lý Nhà nước về
dịch vụ công ích vệ sinh môi trường trên địa bàn Quận Hà Đông” là nội
dung nghiên cứu luận văn thạc sĩ chuyên ngành quản lý công
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Trong lĩnh vực quản lý nhà nước về dịch vụ công nói chung và dịch vụcông ích vệ sinh môi trường nói riêng đã nhận được sự quan tâm tìm hiểu củanhiều tác giả, các nhà nghiên cứu ở nhiều góc độ và cách tiếp cận khác nhau
Cụ thể như sau:
Đỗ Thị Hải Hà (2007), Quản lý nhà nước đối với cung ứng dịch vụ
công, sách chuyên khảo, Nxb Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội Quản lý nhà nước
đối với cung ứng dịch vụ công là một trong các nhiệm vụ sống còn của mọinhà nước; chịu sự chi phối của rất nhiều yếu tố cả chủ quan lẫn khách quan ởmỗi nước và 1uôn luôn xảy ra sự bất cập giữa một bên Ià cung về dịch vụ công
mà đại diện là nhà nước, và một bên 1à cầu về dịch vụ công mà đại diện 1à đòihỏi của mọi người dân trong xã hội Nội dung gồm 4 chương: (1) Quản lý nhànước đối với cung ứng dịch vụ công, (2) Quản lý nhà nước đối với cung ứngdịch vụ công của một số nước trên thế giới; (3) Quản lý nhà nước đối với cungứng dịch vụ công ở Việt Nam Giai đoạn vừa qua; (4) một số giải pháp nhằmhoàn thiện quản lý nhà nước đối với cung ứng dịch vụ công ở Việt Nam tronggiai đoạn tới(2007-2020).[13]
Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương (2017), Cơ chế chính sách
cung ứng dịch vụ công ích tại các đô thị ở Việt Nam, Hội thảo khoa học Nội
Trang 13dung của hội thảo xoay quanh vấn đề, nhà nước đóng vai trò quan trọng trongviệc cung ứng hàng hoá và dịch vụ công: đảm bảo các dịch vụ công cơ bảnđược cung cấp cho xã hội ở mức độ và chất lượng tối thiểu và đảm bảo tínhcông bằng cho người dân Nhà nước cũng có vai trò tạo ra các điều kiện khung
để khuyến khích đầy đủ được chức năng điều phối từ sự cạnh tranh, cũng nhưkhuyến khích việc sẵn sàng cung cấp các dịch vụ công, đồng thời thực hiệnviệc kiểm tra, giám sát việc cung ứng và chất lượng dịch vụ công nói chung vàdịch vụ công ích nói riêng Và đề xuất nên thay đổi từ quản lý “đầu vào” theo
cơ chế hành chính sang quản lý “đầu ra” theo cơ chế kinh tế thị trường để tạo
dư địa cho các doanh nghiệp đổi mới, sáng tạo, tăng lợi nhuận và nâng cao sứccạnh tranh trong cung ứng dịch vụ công [27]
Phạm Thị Hồng Điệp (2013), Quản lý nhà nước đối với dịch vụ công –
kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách cho Việt Nam, bài viết trên Tạp chí
Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, Kinh tế và kinh doanh, số 3/2013 Bài viếtphân tích kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với dịch vụ công của một số nướctrên thế giới và rút ra một số khuyến nghị cho Việt Nam: (1) tăng cường tạolập cơ sở pháp lý (ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, chính sách, chế
độ, thể lệ…), đảm bảo sự ổn định và thúc đẩy sự phát triển của hệ thống cungứng dịch vụ công cho toàn xã hội; (2) cần phân định rõ những dịch vụ công docác cơ quan, tổ chức nhà nước trực tiếp cung ứng, từ đó cơ cấu lại chi tiêungân sách theo hướng tập trung đầu tư thích đáng; (3) đa dạng hóa phươngthức quản lý đối với cung ứng dịch vụ công của các đơn vị thuộc sở hữu nhànước; (4) hỗ trợ, khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức ngoàinhà nước tham gia cung ứng dịch vụ công cho cộng đồng và xã hội trên cơ sởgiải quyết tốt mối quan hệ lợi ích của Nhà nước, của xã hội và của tổ chức,công dân; (5) ban hành cơ chế, chính sách, quy định tiêu chuẩn, định mức, chấtlượng, giá, phí… của dịch vụ công và công khai các tiêu chuẩn này trên cácphương tiện thông tin đại chúng.[10]
Trang 14Lê Chi Mai (2018), Áp dụng giá dịch vụ trong cải cách cung ứng dịch
vụ công, Tạp chí Quản lý nhà nước điện tử Tác giả cho rằng việc áp dụng giá
dịch vụ công sẽ tạo ra những thay đổi đáng kể trong quá trình cải cách cungứng dịch vụ công, khuyến khích các đơn vị sự nghiệp công lập có điều kiệnchuyển đổi cơ chế hoạt động theo hướng doanh nghiệp, tự bù đắp chi phí, nângcao chất lượng dịch vụ và có tích lũy đểmở rộng hoạt động Cơ chế giá dịch vụcũng làm tăng khả năng cạnh tranh của các đơn vị cung ứng dịch vụ công cônglập với các tổ chức cung ứng dịch vụ công thuộc khu vực tư Áp dụng giá dịch
vụ cũng là một giải pháp để giảm chi tiêu từ ngân sách nhà nước cho các đơn
vị này, phần kinh phí ngân sách đó sẽ được dùng để tăng cường năng lực quản
lý nhà nước, đồng thời hỗ trợ cho những người nghèo và các đối tượng chínhsách trong thụ hưởng các dịch vụ công thiết yếu Đương nhiên, áp dụng giádịch vụ công cũng sẽ có các tác động đa chiều đến các bên liên quan, vì vậycần phân tích đầy đủ các khía cạnh, từ đó có những bước đi phù hợp để khônggây ra những biến động tiêu cực, đặc biệt không làm giảm khả năng tiếp cậncủa người dân đến các dịch vụ công.[19]
Đào Ngọc Báu (2019), Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp cung
ứng dịch vụ chuẩn công ích, Tạp chí nghiên cứu lập pháp, số 10(386)-2019.
Bài viết đã chỉ ra rằng để nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp chuẩncông ích, đồng thời hạn chế những tác động tiêu cực do đặc điểm của loại hìnhdoanh nghiệp này gây ra, chúng ta phải tác động vào doanh nghiệp chuẩn côngích theo hai hướng sau đây: (1) khuyến khích cạnh tranh trong khu vực chuẩncông ích; (2) kiểm soát độc quyền đối với doanh nghiệp cung ứng dịch vụchuẩn công ích Và để thực hiện cạnh tranh trong khu vực này, có các biệnpháp như cần phân tách rõ ràng mạng lưới độc quyền tự nhiên ra khỏi nghiệp
vụ kinh doanh có khả năng cạnh tranh Đối với lĩnh vực nghiệp vụ, cần chophép cạnh tranh như các loại hình doanh nghiệp thông thường [2]
Phạm Thị Giang (2015), Nâng cao hiệu quả công tác quản lý duy trì vệ
sinh môi trường trên địa bàn quận Hà Đông, thành phố Hà Nội, luận văn thạc
Trang 15sĩ quản lý đô thị và công trình, Đại học kiến trúc Luận văn đã đưa ra các giảipháp quản lý hiệu quả trên cơ sở khoa học để quản lý duy trì vệ sinh môitrường trên địa bàn quận Hà Đông Trên cơ sở phân tích thực trạng công tác
đó, tìm ra những tồn tại và khó khăn Và đưa ra 06 nhóm giải pháp chính: giảipháp kỹ thuật để nâng cao hiệu quả công tác duy trì vệ sinh môi trường trên địabàn quận Hà Đông; giải pháp về cơ chế chính sách, thể chế pháp lý; giải pháp
về công tác tổ chức quản lý; giải pháp về tài chính, về xã hội hóa công tác duytrì vệ sinh môi trường và công tác tuyên truyền giáo dục [12]
Bounkeomanyxay Khamsouk (2017), Quản lý nhà nước về dịch vụ công
cộng trên địa bàn tỉnh Xiêng Khoảng, nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào,
luận văn thạc sĩ quản lý công, Học viện Hành chính Quốc gia Luận văn đã
đóng góp hoàn thiện thêm cơ sở lý luận về hoạt động QLNN đối với các dịch
vụ công cộng nói chung và QLNN của UBND tỉnh đối với dịch vụ công cộng
ở nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào trong giai đoạn hiện nay Về mặt thựctiễn luận văn cũng cấp một số vấn đề về thực trạng công tác QLNN về dịch vụcông cộng cho cán bộ, công chức của tỉnh để từng bước đổi mới cách thức điềuhành, quản lý và cung ứng dịch vụ nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước đối vớicác dịch vụ công cộng của tỉnh Xiêng Khoảng.[3]
Âu Thị Vui (2018), Quản lý dịch vụ công ích đô thị tại thành phố Bắc
Kạn, luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế, Đại học Kinh tế và quản trị kinh doanh,
Thái Nguyên Luận văn đã hệ thống hóa một số vấn đề lý luận và thực tiễn vềquản lý hoạt động dịch vụ công ích đô thị, dịch vụ vệ sinh môi trường, cụ thểquản lý hoạt động thu gom, xử lý chất thải rắn sinh hoạt; Phân tích, đánh giáthực trạng quản lý hoạt động dịch vụ công ích đô thị tại thành phố Bắc Kạn;Đánh giá các nhân tố ảnh hưởng công tác quản lý dịch vụ công ích đô thị (cụthể là dịch vụ vệ sinh môi trường) tại thành phố Bắc Kạn; Đề xuất một số giảipháp nhằm nâng cao công tác quản lý dịch vụ công ích đô thị tại thành phốBắc Kạn [29]
Trang 16Nhìn chung, các công trình đều tập trung nghiên cứu làm rõ những nộidung, bản chất của dịch vụ công, dịch vụ công ích và đưa ra cơ sở xác định nộidung, tiêu chí đánh giá chất lượng dịch vụ Các tác giả cũng chỉ ra các phươnghướng, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ công nói chung
và công ích nói riêng Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu chưa cụ thể về tìnhhình, thực trạng hoạt động QLNN về dịch vụ công ích vệ sinh môi trường trênđịa bàn quận Hà Đông Chính vì vậy, luân văn hy vọng sẽ làm rõ các kháiniệm cơ bản hơn nữa và đề xuất các giải pháp thiết thực đóng góp cho hoạtđộng QLNN về dịch vụ công ích vệ sinh môi trường tại quận Hà Đông trongthời gian tới
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
- Mục đích nghiên cứu: luận văn nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận QLNN
về dịch vụ công ích VSMT; phân tích thực trạng QLNN về dịch vụ công ích VSMT trênđịa bàn quận Hà Đông; từ đó nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện QLNN
về dịch vụ công ích VSMT tại quận Hà Đông trong thời gian tới
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
+ Hệ thống hoá lý luận và thực tiễn về dịch vụ công ích VSMT, QLNN đối với dịch vụ công ích VSMT
+ Phân tích thực trạng QLNN về dịch vụ công ích VSMT trên địa bàn quận
Hà Đông, thành phố Hà Nội
+ Đề xuất một số giải pháp góp phần hoàn thiện hoạt động QLNN về dịch
vụ công ích VSMT trên địa bàn quận Hà Đông, thành phố Hà Nội
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: hoạt động QLNN về dịch vụ công ích VSMT
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về không gian: quận Hà Đông, thành phố Hà Nội (Ban Quản lý dự án đầu
tư xây dựng quận Hà Đông, Công ty cổ phần môi trường đô thị Hà Đông và một số đơn
vị khác có liên quan)
7
Trang 17+ Về thời gian: nghiên cứu thực trạng từ năm 2017 đến năm 2019 và đề xuấtgiải pháp trong thời gian tới.
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
- Phương pháp luận:Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận
duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh;quan điểm, đường lối của Đảng về dịch vụ công ích
- Phương pháp nghiên cứu:Trong quá trình nghiên cứu, tác giả sử dụng
các phương pháp phân tích-tổng hợp, so sánh, đối chiếu, thống kê, hệ thống hóa
+ Các phương pháp tổng hợp, phân tích các công trình nghiên cứu hiện
có và các tài liệu khác để làm sáng tỏ những vấn đề lý luận, pháp lý và thựctiễn liên quan đến QLNN về dịch vụ công ích VSMT cấp quận (ở Chương I)
+ Các phương pháp tổng hợp, thống kê, phân tích, so sánh các tài liệu,báo cáo chuyên môn của chính quyền và phương pháp quan sát thực tế để đánhgiá thực trạng QLNN về dịch vụ công ích VSMT trên địa bàn quận Hà Đông,thành phố Hà Nội (ở Chương II)
+ Các phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh để đề xuất các quanđiểm, giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động QLNN về dịch vụ công ích VSMTtrên địa bàn quận Hà Đông, thành phố Hà Nội trong thời gian tới (ở ChươngIII)
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Ý nghĩa lý luận: Luận văn đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về dịch vụ công
ích, hoạt động VSMT, QLNN đối với dịch vụ công ích VSMT trên địa bàn quận HàĐông, thành phố Hà Nội
- Ý nghĩa thực tiễn:
+ Phân tích, đánh giá và xác định được nguyên nhân của thực trạng QLNNđối với dịch vụ công ích VSMT trên địa bàn quận Hà Đông, thành phố Hà Nội
8
Trang 18+ Đề tài có thể làm tài liệu cho các nhà quản lý dịch cụ công, chính quyềnđịa phương tham khảo trong thực hiện QLNN đối với dịch vụ công ích VSMT trong thờigian tới.
+ Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho những người quan tâm
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn có ba chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước về dịch vụ công ích vệ sinh môi trường
- Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về dịch vụ công ích vệ sinh môi trường trên địa bàn quận Hà Đông, thành phố Hà Nội
- Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước vềdịch vụ công ích vệ sinh môi trường trên địa bàn quận Hà Đông, thành phố Hà Nội
9
Trang 19Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ
DỊCH VỤ CÔNG ÍCH VỆ SINH MÔI TRƯỜNG 1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Dịch vụ công ích
Khái niệm dịch vụ công được sử dụng phổ biến rộng rãi ở châu Âu sauchiến tranh thế giời thứ hai Dịch vụ công theo từ điển tiếng Anh là “publicservice” Trên thế giới hiện nay có nhiều cách tiếp cận đối với dịch vụ công,mỗi cách tiếp cận đều có ưu và nhược điểm riêng, vì thế không có định nghĩachung nhất nào về dịch vụ công Trong bối cảnh thực tiễn Việt Nam cùng vớihướng tiếp cận về bản chất, chức năng và vai trò của nhà nước, có thể đưa rakhái niệm về dịch vụ công như sau: “dịch vụ công là những dịch vụ đáp ứngcác nhu cầu cơ bản, thiết yếu chung của người dân và cộng đồng, bảo đảm ổnđịnh và công bằng xã hội do nhà nước chịu trách nhiệm, hoạt động không vìmục tiêu lợi nhuận
Theo tác Chu Xuân Thành, dịch vụ công là những hoạt động của các tổchức nhà nước hoặc của các doanh nghiệp, tổ chức xã hội, tư nhân được nhànước ủy quyền để thực hiện nhiệm vụ do pháp luật quy định, phục vụ trực tiếpnhững nhu cầu thiết yếu của cộng đồng, công dân; theo nguyên tắc không vụlợi; đảm bảo sự công bằng và ổn định xã hội; và cho rằng dịch vụ công baogồm dịch vụ sự nghiệp công (hoặc phúc lợi công), dịch vụ công ích và dịch vụhành chính công, đồng thời nhấn mạnh là không được lẫn lộn với hoạt độngcông vụ là hoạt động hàng ngày của bộ máy công quyền [23]
Cũng liên quan đến khái niệm dịch vụ công, tác giả Nguyễn Xuân Lan(2012) lại cho rằng: Dịch vụ công là những hàng hóa, dịch vụ nhà nước canthiệp vào việc cung cấp nhằm mục tiêu hiệu quả và công bằng Theo đó, dịch
vụ công là tất cả những hoạt động nhằm thực hiện những chức anwng vốn cócủa chính phủ, bao gồm từ hoạt động ban hành chính sác, pháp luật, tòa
Trang 20công còn được hiểu là những hàng hóa dịch vụ phục vụ trực tiếp nhu cầu củacác tổ chức và công dân mà chính phủ can thiệp vào việc cung cấp nhằm mụctiêu hiệu quả, công bằng.[16]
Từ những khái niệm trên, có thể khái quát lại: Dịch vụ công là nhữnghoạt động phục vụ các nhu cầu cơ bản, thiết yếu của người dân, vì lợi íchchung của xã hội, do nhà nước trực tiếp cung ứng hoặc ủy quyền cho các chủthể khác cung ứng nhằm bảo đảm ổn định và công bằng xã hội
NGƯỜI SỬ DỤNG DỊCH VỤ
Hình 1.1: Ba loại hình tổ chức cung ứng dịch vụ công
Trang 21Căn cứ vào tính chất và tác dụng của dịch vụ công có thể phân dịch vụ công thành ba loại:
- Dịch vụ hành chính công: là dịch vụ gắn với chức năng quản lý hành chínhnhà nước, thường do các cơ quan hành chính thực hiện
- Dịch vụ sự nghiệp công: là hoạt động cung cấp các phúc lợi xã hội thiết yếu cho người dân như giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao…
- Dịch vụ công ích: là hoạt động cung cấp hàng hóa, dịch vụ có tính kinh tếđáp ứng nhu cầu vật chất thiết yếu cho sinh hoạt của người dân và cộng đồng, tạo ra cơ
sở hạ tầng cơ bản cho sản xuất và sinh hoạt của các tổ chức và dân cư
Dịch vụ công ích bao gồm: vệ sinh môi trường, cung cấp nước sạch,thoát nước, vận tải công cộng, cấp điện, bưu chính Những dịch vụ này khôngcung cấp miễn phí mà có thu phí nhưng chịu sự quản lý chặt chẽ của nhà nước
về định giá và sản lượng cung cấp
1.1.2 Dịch vụ công ích vệ sinh môi trường
Vệ sinh môi trường là các biện pháp nhằm cải tạo và làm sạch môitrường sống, góp phần bảo vệ sức khoẻ nhân dân Đó là các biện pháp đượcthực hiện để bảo đảm vệ sinh thực phẩm, vệ sinh nước sinh hoạt, vệ sinh côngcộng, vệ sinh khi chôn cất người chết , như: xây dựng hệ thống cống rãnhthoát nước, thu gom và xử lí rác thải; cung cấp đầy đủ nước sạch cho ngườidân, không phóng uế và đổ rác bừa bãi, thường xuyên phun thuốc diệt muỗi,diệt côn trùng, chôn cất người chết tại các khu tập trung, xa khu dân cư [12]
Như vậy, dịch vụ công ích VSMT là dịch vụ thu gom, vận chuyển và xử
lý chất thải rắn, vệ sinh công cộng Dịch vụ phục vụ công cộng về vệ sinh,thoát nước đường phố và khu dân cư cung cấp cho tổ chức, cá nhân (kể cả tổchức, cá nhân trong và ngoài khu công nghiệp) bao gồm các hoạt động thu,dọn, vận chuyển, xử lý rác và chất phế thải; thoát nước, xử lý nước thải; bơmhút, vận chuyển và xử lý phân bùn, bể phốt; thông tắc công trình vệ sinh, hệ
Trang 22thống thoát nước thải; quét dọn nhà vệ sinh công cộng; duy trì vệ sinh tại cácnhà vệ sinh lưu động và thu gom, vận chuyển xử lý chất thải khác Trong đó,thu gom chất thải rắn là hoạt động tập hợp, phân loại, đóng gói và lưu giữ tạmthời chất thải rắn tại nhiều điểm thu gom tới địa điểm hoặc cơ sở được cơ quannhà nước có thẩm quyền chấp thuận Lưu giữ chất thải rắn là việc giữ chất thảirắn trong một khoảng thời gian nhất định ở nơi được cơ quan có thẩm quyềnchấp thuận trước khi vận chuyển đến cơ sở xử lý.
Dịch vụ công ích VSMT là một dạng của dịch vụ công nên nó cũngmang những đặc điểm của dịch vụ công là: có tính chất xã hội cao, có mục tiêu
là phục vụ lợi ích cộng đồng, không phân biệt giai cấp, địa vị xã hội, côngbằng và có tính quần chúng rộng rãi Vì vậy, tính kinh tế, lợi nhuận trong cơchế thị trường không phải là điều kiện cần có của hoạt động dịch vụ công ícVSMT
Thị trường dịch vụ công ích VSMT rất khác so với thị trường dịch vụ cánhân về phương thức vận hành, do hàng hóa công cộng mà thị trường này cungứng rất khác với hàng hóa dịch vụ cá nhân Vì đây là dịch vụ công ích thiết yếunên dù do ai cung ứng thì chính quyền đô thị cũng phải kiểm soát giá cả vàchịu trách nhiệm trước nhân dân về sự cung ứng kịp thời cả về chất lượng và
số lượng theo đúng quy định của chính quyền
Nhà nước có trách nhiệm can thiệp vào quá trình cung ứng dịch vụ côngích VSMT để đảm bảo quá trình cung ứng dịch vụ theo định hướng của nhànước, đáp ứng đòi hỏi của các công dân và xã hội
Việc cung ứng dịnh vụ công ích VSMT có thể do cơ quan nhà nước (cóthể là cơ quan công quyền hoặc đơn vị sự nghiệp hay doanh nghiệp nhà nước)đảm nhiệm hoặc nhà nước có thể ủy quyền cung ứng cho các đơn vị nhà nước
Các hoạt động dịch vụ công ích VSMT luôn vận động và phát triển cùng
sự phát triển của đô thị theo hướng mở rộng về quy mô, khối lượng, loại hìnhdịch vụ đồng thời đòi hỏi ngày càng nâng cao chất lượng dịch vụ
Trang 231.2 Quản lý nhà nước về dịch vụ công ích vệ sinh môi trường
1.2.1 Khái niệm
Trong từ điển tiếng Việt, “Quản lý được hiểu là việc tổ chức, điều khiển
hoạt động của một số đơn vị, cơ quan; việc trông coi, gìn giữ và theo dõi việcgì” [28, tr.130]
Các nhà nghiên cứu về khoa học quản lý đưa ra khái niệm cụ thể hơn là
sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản
lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra Để thực hiện công tác quản lý cần phải dựavào các công cụ quản lý là các chính sách về luật pháp, chiến lược phát triển,quy hoạch, đề án bảo vệ và phát huy di sản, nguồn lực, tài chính, các công trìnhnghiên cứu khoa học nhằm đạt được các mục đích đã đề ra
Có nhiều dạng quản lý của nhiều chủ thể quản lý khác nhau trong sự vậnđộng và phát triển của xã hội Trong đó, QLNN là một dạng quản lý có ý nghĩaquan trọng nhất và có nhiều cách hiểu về QLNN Theo nghĩa chung nhất,QLNN vừa là chức năng, vừa là quyền hạn và nhiệm vụ của nhà nước, nó đượchiểu là việc nhà nước sử dụng quyền lực chung đã được thể chế hóa tác độngthường xuyên và liên tục đến các quá trình, lĩnh vực hay quan hệ xã hội nhằmđạt được mục đích quản lý
Chúng ta có thể định nghĩa quản lý nhà nước theo hai bình diện:
+ Theo nghĩa rộng: QLNN là hoạt động tổ chức, điều hành của hệ thống các
cơ quan trong bộ máy nhà nước, nghĩa là bao hàm cả sự tác động, tổ chức của quyền lựcnhà nước trên các phương diện lập pháp, hành phápvà tư pháp
+ Theo nghĩa hẹp: QLNN được hiểu là hoạt động chấp hành và điều hànhcủa các cơ quan hành chính nhà nước, đó là quá trình tổ chức, điều hành của hệ thống cơquan hành chính nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi của con người theopháp luật nhằm đạt được những mục tiêu yêu cầu nhiệm vụ quản lý nhà nước” [14, tr11]
Trong giới hạn của luận văn, khái niệm QLNN được hiểu theo nghĩa hẹp
Trang 24Như vậy, từ những khái niệm trên, có thể hiểu QLNN về dịch vụ công íchVSMT là sự tác động có tổ chức và bằng quyền lực của bộ máy nhà nước lênđối tượng bị quản lý (các cơ quan chức năng quản lý cung cấp dịch vụ công íchVSMT được ủy quyền và công dân sử dụng dịch vụ công ích VSMT) trongviệc đảm bảo các dịch vụ công ích VSMT cho mọi người dân một cách côngbằng, ổn định, hiệu quả và phi lợi nhuận.
1.2.2 Sự cần thiết quản lý nhà nước về dịch vụ công ích vệ sinh môi trường
Dịch vụ công nói chung và dịch vụ công ích VSMT nói riêng ra đời vàtồn tại trên cơ sở cho phép của nhà nước bằng các quy định của chính sách,pháp luật, ngược lại hoạt động QLNN về dịch vụ công ích VSMT rất cần thiết
do đòi hỏi của thực tiễn để điều chỉnh hành vi, hoạt động của các chủ thể liênquan đến việc cung ứng dịch vụ công ích VSMT
Thứ nhất, QLNN về dịch vụ công ích VSMT tạo ra các khuôn mẫu cho
hành vi của các chủ thể tham gia vào dịch vụ
Các chủ thể tham gia dịch vụ công ích VSMT bao gồm: các cơ quan nhànước, các tổ chức, đơn vị thực hiện cung cấp dịch vụ công ích VSMT; các cánhân, tổ chức là người yêu cầu và hưởng thụ dịch vụ Mỗi chủ thể có tư cáchkhác nhau khi tham gia vào hoạt động cung ứng dịch vụ công ích VSMT Do
đó, nếu để các chủ thể tự do thực hiện những hành vi mà họ mong muốn thìhành vi của chủ thể này có thể sẽ cản trở hoặc làm tổn hại đến quyền, nghĩa vụhợp pháp của chủ thể khác, làm cho việc cung cấp dịch vụ công ích VSMT bịrối loạn, dịch vụ công sẽ phát triển theo hướng không theo mục đích điềuchỉnh của nhà nước Vì vậy, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải banhành pháp luật làm khuôn mẫu cho hành vi của các chủ thể, quy định quyền vànghĩa vụ phù hợp với từng chủ thể trong dịch vụ công ích VSMT Với các chủthể cung cấp dịch vụ, pháp luật quy định rõ phạm vi dịch vụ mà chủ thể đượccung cấp hoặc tham gia cũng cấp, các yêu cầu, điều kiện cung cấp, chất lượngdịch vụ, đối tượng phục vụ cụ thể Thậm chí hoạt động
Trang 25QLNN có đề xuất cả biện pháp, chế tài đối với cá nhân, tổ chức cung cấp dịch
vụ công ích VSMT không thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ Với các chủthể yêu cầu và hưởng thụ dịch vụ, pháp luật quy định điều kiện, năng lực củachủ thể, quyền và nghĩa vụ của chủ thể, cách thức đưa ra yêu cầu và hưởng thụdịch vụ, những giới hạn trong yêu cầu dịch vụ Bên cạnh đó, nhà nước còn quyđịnh các biện pháp, chính sách hỗ trợ cá nhân, tổ chức có hoàn cảnh đặc biệt,tạo điều kiện thuận lợi cho họ tiếp cận và sử dụng dịch vụ
Nhà nước càng quy định chi tiết, cụ thể bao nhiêu càng dễ cho các chủthể trong cung cấp, sử dụng dịch vụ công ích VSMT bấy nhiêu, nếu các chínhsách quy định của nhà nước chung chung, không rõ nghĩa, không rõ yêu cầu dễtạo ra sự tùy tiện của các chủ thể tham gia vào dịch vụ công ích VSMT.Hoạtđộng QLNN về dịch vụ công ích VSMT sẽ tạo ra hành lang pháp lý cho cácchủ thể tham gia dịch vụ xác định được hành vi của mình được hay khôngđược làm gì, tránh hành vi tùy tiện, không có căn cứ pháp lý
Thứ hai, hoạt động QLNN về dịch vụ công ích VSMT chính là sự cam
kết của nhà nước về việc cung cấp dịch vụ Xuất phát từ bản chất nhà nước ta
là nhà nước của dân, do dân và vì dân Bởi vậy, nhà nước sẽ sử dụng pháp luật– hình thức phản ánh ý chí của nhà nước, phản ánh yêu cầu, nguyện vọng củanhân dân, để thể hiện sự cam kết của nhà nước về việc cung cấp các dịch vụnói chung và dịch vụ công ích VSMT nói riêng nhằm đáp ứng nhu cầu thực tếcủa người dân
Nội dung các quy định của pháp luật thể hiện sự trương quan giữa nhucầu của nhân dân với khả năng đáp ứng của các cơ quan nhà nước, tổ chức,đơn vị cung cấp dịch vụ Nếu quy định của pháp luật lạc hậu hơn khả năng đápứng của nhà nước về các dịch vụ công ích VSMT thì sẽ không thỏa mãn đượcnhu cầu của nhân dân và gây ra những trở ngại trong tiếp nhận, hưởng thụ dịch
vụ Ngược lại, nếu pháp luật quy định vượt quá khả năng cung ứng dịch vụ củanhà nước thì các quy định trở thành bất khả thi, vai trò điều chỉnh
Trang 26của pháp luật không được phát huy, dễ tạo ra những lộn xộn trong cung cấp vàhưởng thụ dịch vụ công ích, gây mất niềm tin trong dân chúng.
Thứ ba, thông qua việc quy định các điều kiện hoạt động của các chủ thể
tham gia dịch vụ công ích VSMT, nhà nước không chỉ giải quyết tình trạnggây ô nhiễm môi trường từ chính các hoạt động của cong người mà từ chínhhoạt động này còn thúc đẩy sự phát triển của các dịch vụ công ích VSMT theohướng hiện đại hơn về công nghệ, an toàn hơn trong hoạt động từ đó đạt hiệuquả cao hơn về kinh tế Điều đó cũng có nghĩa là nhà nước sẽ tạo ra hành langpháp lý thuận lợi cho sự phát triển của các dịch vụ công ích VSMT
Thứ tư, hoạt động quản lý của nhà nước sẽ góp phần thay đổi và nâng
cao nhận thức của cộng đồng theo hướng có lợi, bảo vệ môi trường QLNN vềdịch vụ công ích VSMT sẽ định hướng cho cộng đồng về cách xử sự có lợi chomôi trường khi tiến hành các hoạt động có liên quan tới dịch vụ công íchVSMT Sự định hướng này góp phần nâng cao nhận thức của cộng đồng trongbảo vệ môi trường Mặt khác, nhà nước bắt buộc người dân không được thựchiện những hành vi gây hại cho môi trường trong quá trình sử dụng dịch vụcông ích VSMT
1.2.3 Nội dung quản lý nhà nước về dịch vụ công ích vệ sinh môi trường
1.2.3.1 Xây dựng chiến lược và cơ chế chính sách về cung cấp dịch vụcông ích vệ sinh môi trường
Để quản lý và bảo đảm trách nhiệm của mình trước xã hội về dịch vụcông nói chung và dịch vụ công ích VSMT nói riêng, nhà nước phải xây dựngchiến lược cung ứng dịch vụ công ích nhằm đề ra định hướng và các giải phápbảo đảm về số lượng và chất lượng dịch vụ công ích VSMT cho xã hội gắn vớitầm nhìn dài hạn Việc xây dựng chiến lược về dịch vụ công tập trung vào:
Trang 27- Xác định các mục tiêu chiến lược bảo đảm cung ứng dịch vụ công ích VSMT, bao gồm các chỉ tiêu cả về số lượng và chất lượng.
- Xác định các yêu cầu đặt ra đối với việc cung ứng dịch vụ công íchVSMT - Xác định mối tương quan giữa khu vực công và khu vực tư về cung ứng dịch vụcông ích VSMT
Trên cơ sở chiến lược cung ứng dịch vụ công ích VSMT trong dài hạn,Nhà nước tiến hành hoạch định chính sách và cơ chế cung ứng dịch vụ côngnày Hệ thống cơ chế chính sách này là căn cứ pháp lý để tổ chức, chỉ đạothống nhất hoạt động cung ứng dịch vụ công ích VSMT Việc xây dựng hệthống chính sách, cơ chế cung ứng dịch vụ công ích VSMT này là để bảo đảmdịch vụ công có đủ số lượng và đáp ứng các yêu cầu về chất lượng, bảo đảmdịch vụ công được cung ứng đến tận tay người hưởng thụ, khắc phục sự thấtthoát
Đồng thời đó cũng là cơ sở để các tổ chức xã hội và công dân có thể lựachọn và tham gia vào việc cung ứng dịch vụ công ích VSMT một cách hiệuquả Các chính sách về cung ứng dịch vụ công cần đáp ứng các yêu cầu sauđây:
- Làm rõ đặc thù của dịch vụ công ích VSMT và tầm quan trọng đối với
xã hội
- Xác định rõ phạm vi và nội dung của loại dịch vụ công ích này
- Xác định rõ vai trò của nhà nước đối với việc bảo đảm cung ứng loại dịch
vụ công íchVSMT
- Xác định rõ vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của cơ sở cung ứng dịch vụ công này
- Xác định cơ chế hoạt động của các cơ sở cung ứng dịch vụ công
- Quy định các biện pháp tổ chức cung ứng và trách nhiệm của các bên thamgia vào quá trình cung ứng dịch vụ công ích VSMT
1.2.3.2 Phân cấp quản lý trong dịch vụ công ích vệ sinh môi trường
Trang 28Nếu xem xét hoạt động của nhà nước bao gồm việc QLNN và việc cungứng dịch vụ công ích VSMT, có thể thấy việc thực hiện chức năng QLNN tậptrung nhiều ở cấp quản lý cao hơn, trong khi đó chức năng cung ứng dịch vụcông ích lại tăng lên theo sự dịch chuyển từ cấp trên xuống các cấp dưới Vềnguyên tắc, các cấp chính quyền bên dưới chủ yếu thực hiện các nhiệm vụ gắnvới cung ứng dịch vụ công ích.Hơn nữa, các cấp chính quyền cơ sở là nhữngcấp gần dân nhất, họ là người nắm vững nguyện vọng của dân và có khả năngđáp ứng trực tiếp nhất các nhu cầu gắn với đời sống của dân cư trên địa bàn.Trên thực tế, đa số dịch vụ công ích VSMT phù hợp với cấp địa phương Hiệuquả kinh tế đã khẳng định ưu thế của việc chuyển giao trách nhiệm cung ứngdịch vụ công ích VSMT cho các cấp chính quyền địa phương, nhằm làm chodịch vụ đó gần với người dân hơn, đồng thời tăng trách nhiệm giải trình và tínhnăng động của chính quyền địa phương Điều đó cũng cho thấy nguồn lực tàichính cho hoạt động của bộ máy nhà nước ở địa phương sẽ phục vụ chủ yếucho việc cung ứng dịch vụ công nói chúng và dịch vụ công ích VSMT nóiriêng Việc xác định dịch vụ công ích VSMT thuộc phạm vi cung ứng củatrung ương hay địa phương căn cứ vào các yếu tố sau:
Thứ nhất, dịch vụ công ích VSMT có lợi chủ yếu cho quốc gia hay chođịa phương? Nếu như lợi ích này thuộc về địa phương và không có tác độnglan truyền nào khác, thì việc cung ứng chúng có thể chuyển giao cho cấp chínhquyền địa phương để đạt hiệu quả lớn nhất Về nguyên tắc, các đơn vị ở cấp cơ
sở gắn trực tiếp với người hưởng lợi sẽ là người cung ứng dịch vụ công íchthích hợp và có hiệu quả nhất, vì họ hiểu rõ nhất nhu cầu của người dân và cóthể tạo ra sự thuận lợi nhất cho người dân trong việc tiếp nhận và sử dụng cácdịch vụ công ích
Thứ hai, dịch vụ công ích VSMT do địa phương đảm nhận sẽ được cungứng bằng nguồn tài chính địa phương Khi địa phương sử dụng ngân sách củamình để trang trải kinh phí cho các dịch vụ công ích thì địa phương đó cũng cóquyền ra quyết định và quyền quản lý dịch vụ công ích này
Trang 291.2.3.3 Phát huy vai trò làm chủ của người dân trong sử dụng dịch vụcông ích vệ sinh môi trường
Nhà nước là cơ quan hoạch định các chính sách về dịch vụ công nóichung và dịch vụ công ích VSMT nói riêng, đồng thời chịu trách nhiệm trước
xã hội về việc bảo đảm cung ứng dịch vụ công íchVSMT nhằm mục tiêu hiệuquả, ổn định và công bằng.Nếu nhà nước không lắng nghe tiếng nói của ngườidân thì các chính sách đề ra có thể tách rời thực tế, không đáp ứng nguyệnvọng của nhân dân Vì vậy, nhà nước cần quán triệt quan điểmcung ứng dịch
Thứ hai, tạo điều kiện cho người dân phát biểu ý kiến của mình nhằmcải thiện khả năng tiếp cận đến dịch vụ và nâng cao chất lượng dịch vụ côngích VSMT Để người dân có điều kiện và cơ sở phát biểu ý kiến của mình, Nhànước phải thông tin cho người dân những vấn đề liên quan đến chính sách vàthực trạng cung ứng dịch vụ công ích VSMT, đồng thời tạo điều kiện và hỗ trợngười dân mạnh dạn đưa ra ý kiến của mình Cụ thể là:
- Thông tin về chủ trương, chính sách của Nhà nước về dịch vụ công ích VSMT
- Công khai ngân sách và việc sử dụng ngân sách cho cung ứng dịch vụcông ích VSMT, cụ thể: Thông tin về kết quả hoạt động cung ứng dịch vụ công íchVSMT; Thông tin kiểm toán các lĩnh vực cung ứng dịch vụ công ích VSMT; Thông tin
về các sai phạm, thất thoát, tham nhũng trong cung ứng dịch vụ công ích VSMT
20
Trang 30- Hỗ trợ các phương tiện thông tin đại chúng phản ánh sự phản hồi về cung ứng dịch vụ công ích VSMT của các tổ chức nhà nước.
1.2.3.4 Công tác thanh toán và thu giá dịch vụ vệ sinh môi trường Trong suốt một thời kỳ dài, nhà nước áp dụng chung một cơ chế quản
lý cho tất cả các cơ quan đơn vị thuộc nhà nước, từ các cơ quan hành chính nhànước đến các đơn vị sự nghiệp trực thuộc các bộ ngành, địa phương Cơ chế đóthích ứng trong thời kỳ bao cấp, khi toàn bộ hoạt động của các tổ chức này đều
sử dụng kinh phí từ ngân sách nhà nước (NSNN) và hoạt động theo cách thứcxin – cho Để khuyến khích các nhà cung ứng tăng cường dịch vụ công ích cả
về số lượng và chất lượng, Chính phủ đang từng bước đổi mới cơ chế quản lýtài chính đối với các đơn vị cung ứng dịch vụ công ích
Các cơ sở cung ứng dịch vụ công ích hoạt động theo luật doanh nghiệp,với nguồn kinh phí được cấp theo kế hoạch, đặt hàng hoặc đấu thầu từ NSNN
Cơ chế quản lý mới đối với các đơn vị cung ứng dịch vụ công ích tạo ra được
sự tự chủ lớn hơn cho các đơn vị này trên các mặt sau:
Thứ nhất, có quyền tự chủ lớn hơn trong việc xác định tổ chức bộ máy
và nhân sự phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao Xác định rõ chứcnăng, nhiệm vụ của các phòng ban, bộ phận trực thuộc; bố trí hợp lý lao động,phân công nhiệm vụ cho từng cán bộ công chức hoặc người lao động, trên cơ
sở đó xác định số biên chế hợp lý, tinh giản những lao động dư thừa hoặc làmviệc không có hiệu quả Thứ hai, đơn vị được chủ động hơn trong quản lý và tổchức thực hiện nhiệm vụ được giao Các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ côngích, bên cạnh các hoạt động công ích theo kế hoạch, đặt hàng hoặc đấu thầucủa nhà nước, có quyền tổ chức hoạt động kinh doanh thêm phù hợp với khảnăng của doanh nghiệp và nhu cầu của thị trường
Thứ ba, đơn vị được trao quyền lớn hơn trong quản lý tài chính, thủtrưởng đơn vị được quyết định các khoản thu và nhiệm vụ chi đối với phầnkinh phí được giao tự chủ
Trang 31Thứ tư, với phần kinh phí dôi ra sau khi trang trải các chi phí hoạt động
và trích lập các quỹ theo quy định, các đơn vị này được sử dụng để tăng thêmthu nhập cho người lao động
Thứ năm, việc chi trả thu nhập cho người lao động được thực hiện dựavào mức độ đóng góp của mỗi người
Việc đổi mới cơ chế hoạt động của các tổ chức cung ứng dịch vụ côngnói chung và dịch vụ công ích VSMT nói riêng đã góp phần đa dạng hoá cáchoạt động cung ứng dịch vụ công ích, mở rộng cung ứng dịch vụ cả về sốlượng dịch vụ, địa bàn, số cơ sở cung ứng và nâng cao chất lượng dịch vụ đápứng nhu cầu ngày càng lớn của các tổ chức và công dân
1.2.3.5 Kiểm tra, xử lý vi phạm trong hoạt động cung ứng dịch vụ côngích vệ sinh môi trường
Dịch vụ công nói chung và dịch vụ công ích VSMT nói riêng do nhànước chịu trách nhiệm cung ứng để bảo đảm tính hiệu quả (khắc phục cáckhiếm khuyết của thị trường) và công bằng xã hội Tuy nhiên, do hoàn cảnhphát triển nền kinh tế thị trường, với sự tham gia của các thành phần kinh tếvào quá trình cung ứng dịch vụ công ích, trong điều kiện phát triển không đồngđều giữa các vùng, do các đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội giữa các địaphương không giống nhau, vì vậy nhà nước cần có sự chỉ đạo, điều hành thốngnhất trên cả nước theo các nguyên tắc cơ bản trong cung ứng dịch vụ công nóichung và dịch vụ công ích VSMT nói riêng, bảo đảm việc cung ứng dịch vụcông có hiệu quả và đến đúng các đối tượng thụ hưởng Dưới sự chỉ đạo tậptrung thống nhất của nhà nước, các địa phương, các ngành và các cơ sở cungứng dịch vụ công ích phải có những điều chỉnh trong việc cung ứng dịch vụcông ích về số lượng, loại hình, chất lượng và giá cả cho phù hợp Sự điềuhành của nhà nước nhằm bảo đảm:
- Duy trì việc cung ứng các dịch vụ công ích VSMT một cách liên tục, ổn định;
Trang 32- Thiết lập được môi trường chung, thống nhất cho các chủ thể tham giacung cấp dịch vụ công ích VSMT để họ tự nguyện cùng tham gia giải quyết các vấn đềcủa cộng đồng;
- Thúc đẩy sự cạnh tranh lành mạnh giữa các tổ chức cung ứng dịch vụ côngích VSMT;
- Tạo điều kiện cho người tiêu dùng là khách hàng có quyền lựa chọn; bảo đảm quyền lợi của người tiêu dùng;
- Bảo đảm cung ứng các loại dịch vụ công ích VSMT, cơ bản đáp ứng yêu cầu đề ra cả về số lượng, chất lượng và có giá cả hợp lý
Trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường và hình thành xã hội dân
sự, việc khu vực tư và các tổ chức xã hội tham gia cung ứng các dịch vụ côngích là một tất yếu khách quan Sự tham gia của nhiều chủ thể trong cung ứngdịch vụ công ích VSMT góp phần làm cho các sản phẩm, dịch vụ đa dạng hơn,giả cả rẻ hơn và chất lượng được nâng cao Tuy nhiên, trên thực tế không phảilúc nào các đơn vị cung ứng dịch vụ công ích VSMT cũng bảo đảm cung ứngdịch vụ theo đúng các yêu cầu của nhà nước Vì vậy, nhà nước cần tăng cườngkiểm tra, kiểm soát, thực hiện sự can thiệp kịp thời, bảo đảm tính công bằngtrong cung ứng dịch vụ công nói chung và dịch vụ công ích VSMT nói riêng
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về dịch vụ công ích vệ sinh môi trường
1.3.1 Yếu tố chính sách, pháp luật
Một hệ thống văn bản pháp luật hoàn chỉnh đảm bảo tính đồng bộ, nhấtquán, ổn định và minh bạch là nhân tố thúc đẩy nền kinh tế nói chung và hoạtđộng QLNN về dịch vụ công ích VSMT nói riêng Chính vì vậy, để quản lýhoạt động dịch vụ công ích VSMT cần ban hành các văn bản quy phạm phápluật một cách rõ ràng, cụ thể, trong quá trình thực hiện nếu có nhiều bất cập,
Trang 33kiến nghị sửa đổi thì cần phải được xem xét, nghiên cứu để sửa đổi, bổ sungban hành cho phù hợp với thực tiễn.
Nhiều văn bản quy phạm pháp luật nhanh chóng lạc hậu sau khi đượcban hành, cần thay thế hoặc sửa đổi, bổ sung, nhiều quy định còn chồng chéonhau Tính ổn định thấp gây ra nhiều khó khăn cho việc tổ chức thực hiện vìbất kỳ một văn bản quy phạm pháp luật nào trước khi thực hiện cũng cần phảichuẩn bị về nhân lực, điều kiện vật chất Pháp luật thường xuyên thay đổi sẽlàm phát sinh nhiều chi phí tốn kém cho triển khai thực hiện, các chủ thể cungcấp trong thực hiện dịch vụ chưa kịp quen cái cũ đã phải đổi sang cái mới, chấtlượng dịch vụ công ích VSMT vì thế khó bảo đảm Ngoài ra, pháp luật thườngxuyên thay đổi thì tính dự báo thấp khó định hướng phát triển dịch vụ công íchVSMT trung và dài hạn
1.3.2 Yếu tố kinh tế - xã hội
Sự ổn định của nền kinh tế vĩ mô là tiền đề cơ bản và quan trọng chomọi sự tăng trưởng nói chung Khi nền kinh tế phát triển ổn định sẽ có nhữngtác động thuận lợi đến hoạt động của các doanh nghiệp, do đó khi đề xuất xâydựng các dịch vụ công ích VSMT địa phương và đơn vị phải phân tích kỹ càngcác biến động của môi trường kinh tế để có thể đưa ra những sản phẩm có tínhthiết thực, hiệu quả
Ngoài ra, với sự thay đổi nhanh chóng của khoa học công nghệ trên thếgiới làm cho các doanh nghiệp cũng như nhà nước phải nghiên cứu, đầu tưthay đổi công nghệ, máy móc trang thiết bị để đáp ứng được đòi hỏi của thịtrường và thời đại Vì vậy, cần phải có kế hoạch đầu tư, lựa chọn các máy mócvừa phù hợp với trình độ phát triển của thời đại, vừa phù hợp với kế hoạchphát triển và ngân sách của địa phương
Hội nhập kinh tế quốc tế cũng đem lại cho các địa phương những cơ hội:học hỏi những kinh nghiệm quản lý dịch vụ công ích VSMT của thế giới, kếthừa những thành tựu khoa học công nghệ trong lĩnh vực VSMT Tuy nhiên,
Trang 34phải đối đầu: chất lượng nguồn nhân lực cũng như năng lực của đội ngũ cán
bộ, công chức, người lao động khi được chuyển giao các công nghệ khoa họctrong lĩnh vực VSMT
1.3.3 Ý thức hợp tác của người dân
Người dân với tư cách là khách hàng sử dụng dịch vụ, là một bên trongquan hệ cung ứng dịch vụ công ích VSMT Chính vì vậy, sự nhận thức củangười dân, ý thức tuân thủ pháp luật, trách nhiệm cùng tham gia hoạch địnhchính sách và giám sát việc cung ứng dịch vụ công ích VSMT sẽ là nhân tốquan trọng tác động vào chất lượng quản lý và cung ứng dịch vụ công íchVSMT Chính vì vậy, Nhà nước cần thực hiện nhiều biện pháp nâng cao ý thứcpháp luật của nhân dân, xây dựng cơ chế để nhân dân có thể tham gia tích cựcvào quá trình cung ứng dịch vụ công ích VSMT
Ngày nay việc giữ gìn VSMT đang trong tình trạng báo động Môitrường lâu nay đang có sự “ô nhiễm” mà đối tượng gây ô nhiễm môi trườngkhông ai khác chính là con người chúng ta Thế nhưng, một số người dân lạidửng dưng làm ngơ, quên đi và thậm chí là không hay biết Chính những thànhphần này cũng thể hiện ý thức rất kém trong việc duy trì VSMT Dẫu biếtrằng,việc tuyên truyền giữ gìn vệ sinh môi trường xanh-sạch-đẹp ở bất kì nơiđâu đã được trang bị và thông tin Song, ở những khu vực hay bị ô nhiễm nhưkhu công nghiệp lớn, khu đông dân cư người dân vứt rác bừa bãi, vứt rác mộtcách thiếu ý thức, thậm chí những hình ảnh này còn mang tính chất rất phổbiến Nguyên nhân của những hành động thiếu ý thức đó là do thói lười biếng,lối sống ích kỷ chỉ biết nghĩ đến quyền lợi cá nhân của một số người Đa sốmọi người nghĩ rằng, những nơi công cộng không phải nhà mình, vậy thì việc
gì mà phải mất công giữ gìn, đã có đội lao công dọn dẹp
Một nguyên nhân nữa là do thói quen vứt rác bừa bãi đã có từ lâu, khósửa đổi khi ở nhà cũng như ở các nơi công cộng Mặc dù, địa phương đã tuyêntruyền, vận động, hợp đồng với người lao động thu gom rác vào những buổisáng hay có những buổi lao động công ích từ các ban, ngành, đoàn thể
Trang 35của địa phương nhưng vẫn không thể nào giữ cho môi trường biển luôn trong
- sạch - đẹp Đây chỉ là những ví dụ điển hình, bề nổi đã trực tiếp làm ảnh hưởngđến môi trường, trên thực tế có những hoạt động của chúng ta vì nhiều lý do vô tình hay
cố ý cũng đã ảnh hưởng đến môi trường
1.3.4 Xã hội hóa dịch vụ công ích vệ sinh môi trường
Hiện nay, nhà nước đang chủ trương đẩy mạnh xã hội hóa, huy độngđược nhiều nguồn lực xã hội để cùng với ngân sách nhà nước đầu tư cho lĩnhvực dịch vụ công ích nói chung và dịch vụ công ích VSMT nói riêng
Tuy nhiên, hiện nay, việc tăng nhanh số lượng các cơ sở cung ứng dịch
vụ ngoài công lập đòi hỏi các cơ quan quản lý nhà nước phải có những biệnpháp quản lý mới, nội dung và phương thức quản lý cần thay đổi do có nhiềuvấn đề nảy sinh trong việc kiểm soát chất lượng dịch vụ Không ít các doanhnghiệp trong khu vực tư nhân thường chú trọng đến lợi nhuận nhiều hơn nên
có xu hướng đẩy cao giá dịch vụ, các loại phí dịch vụ bị điều chỉnh tùy tiện,chất lượng dịch vụ không tương xứng, cơ chế tài chính thiếu minh bạch Nhiều
cơ sở tư nhân được thành lập tự phát khó kiểm soát được chất lượng Tất cảđang đặt ra vấn đề về kiểm soát chất lượng đối với các dịch vụ được khối tưnhân cung ứng cho xã hội Tất nhiên, tình trạng kém chất lượng trong cungứng dịch vụ không bắt nguồn từ việc xã hội hóa, song mức độ xã hội hóa ồ ạt,thiếu kiểm soát rõ ràng đã tác động tiêu cực đến quyền lợi của người thụhưởng dịch vụ…
1.4 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về dịch vụ công ích vệ sinh môi trường của một số địa phương và bài học cho quận Hà Đông
1.4.1 Thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh
Những năm gần đây, Thành phố Hạ Long có tỷ lệ đô thị hóa cao, nhiềucông trình, dự án được đầu tư mạnh, góp phần tạo thuận lợi cho thành phố pháttriển.Để khắc phục những tồn tại trong công tác bảo vệ môi trường, từ đầu năm
2019 đến nay, thành phố đã chi trên 202,2 tỷ đồng phục vụ công tác thu gom,
Trang 36cây xanh, duy trì hệ thống điện chiếu sáng trong khu dân cư Là đơn vị nòngcốt trong công tác phối hợp chỉnh trang đô thị, trên cơ sở nguồn kinh phí dothành phố cấp, từ năm 2019 đến nay, Ban Quản lý các dịch vụ công ích TP HạLong đã chủ động triển khai nhiều gói thầu để phục vụ công tác chỉnh trang đôthị, bảo vệ môi trường.
Điển hình là gói thầu: Duy trì, thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt trịgiá trên 84 tỷ đồng; tưới nước rửa đường chống bụi, vận hành hệ thống bơm vàduy trì vệ sinh dải phân cách bằng máy các tuyến đường chính trị giá trên 6 tỷđồng; quản lý, vận hành hệ thống thu gom và xử lý nước thải sinh hoạt trên địabàn thành phố trị giá trên 15,68 tỷ đồng Công tác chăm sóc cây xanh, vườnhoa tiểu cảnh cũng được đơn vị thực hiện tốt Từ năm 2019 đến nay, đơn vịduy trì các gói thầu chăm sóc 50 vườn hoa cây xanh của thành phố với trị giágần 30 tỷ đồng
Hiện nay, Ban Quản lý các dịch vụ công ích TP Hạ Long được giao phốihợp quản lý 2 nhà máy và 3 trạm xử lý nước thải sinh hoạt với công suất13.477m3/ngày, đêm Theo đó, đơn vị đã thực hiện tốt việc nạo vét các hố ga,giếng tách, duy tu bảo dưỡng thường xuyên các thiết bị trạm bơm Nước thảiđược thu gom triệt để từ các trạm bơm về nhà máy để xử lý, hạn chế tối đanước thải chưa qua xử lý chảy tràn ra biển Đối với việc thu gom rác thải, bìnhquân mỗi ngày trên địa bàn thành phố phát sinh khoảng trên 350 tấn Trướcđây, nhiều điểm tập kết rác nằm ở gần khu dân cư gây ô nhiễm môi trường,nhưng từ năm 2019 đến nay, Ban Quản lý các dịch vụ công ích thành phố đãphối hợp với các địa phương rà soát, điều chỉnh một số điểm tập kết, nên đãgiảm từ 198 điểm xuống còn 96 điểm Đơn vị còn bố trí 6 container chứa ráctại một số khu vực có nhiều rác thải sinh hoạt được tập kết, đồng thời quây bạt,đào hố chứa rác tạm thời ở nhiều khu vực
1.4.2 Thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Năm 2013, Nha Trang là địa phương đầu tiên trong tỉnh tổ chức thí điểmđấu thầu xã hội hóa dịch vụ công ích Thành phố đã tổ chức đấu thầu xã
Trang 37hội hóa thu gom rác thải trên địa bàn phường Phước Long và xã Vĩnh Hiệp.Công ty TNHH một thành viên Môi trường đô thị Nha Trang trúng thầu trongthời gian 24 tháng (bắt đầu từ tháng 10-2013), với nhiệm vụ: thu gom và vậnchuyển rác từ đường hẻm đến điểm tập kết rác theo quy định; quét và thu gomvận chuyển rác đường chính đến vị trí tập kết.
Sau hơn 05 năm thực hiện, chất lượng dịch vụ được các đơn vị trúngthầu thực hiện tương đối tốt Trước mắt, việc đấu thầu giúp tăng khả năng cạnhtranh chất lượng dịch vụ của các đơn vị, tiết kiệm chi ngân sách từ 30 - 33% sovới thực hiện theo hình thức đặt hàng Thời gian tới, TP Nha Trang sẽ tiếp tụcnhân rộng thực hiện thí điểm đấu thầu dịch vụ công ích ở một số khu vực trêncác lĩnh vực vệ sinh môi trường để giảm chi ngân sách Tương lai sẽ đấu thầutoàn bộ các dịch vụ công ích
Hiện nay, TP Nha Trang đã triển khai mô hình thu gom rác tự quản trênđịa bàn các xã, phường: Vĩnh Nguyên, Vĩnh Ngọc, Vĩnh Thạnh, Phước Đồng,Phước Hải, Ngọc Hiệp, Vĩnh Phước và Vĩnh Nguyên với tổng cộng 35 tổ tựquản đang hoạt động Mô hình này xây dựng các cộng đồng dân cư tự lực thugom rác trong hẻm về điểm tập kết, chủ động về tài chính, cân đối thu chitrong các dịch vụ công ích trên cơ sở phí vệ sinh thu được từ các hộ dân Đếnnay, các địa phương được thực hiện đã giải quyết tốt vấn đề vệ sinh môi trường
ở nông thôn, đường hẻm Thời gian tới, TP Nha Trang sẽ triển khai mô hình
này ở 27 xã, phường trong toàn thành phố.
1.4.3 Thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình
Để đảm bảo hoạt động thu gom, xử lý chất thải rắn sinh hoạt trên địabàn thành phố, trong thời gian qua UBND thành phố đã yêu cầu Công ty Cổphần Môi trường và Phát triển đô thị Quảng Bình thực hiện thu gom rác thảirắn sinh hoạt đúng thời gian quy định; vận chuyển toàn bộ lượng rác thải đượcthu gom trên địa bàn thành phố đến chôn lấp tại Bãi rác chung Đồng Hới - BốTrạch đúng quy trình và đảm bảo vệ sinh môi trường; chỉ đạo lực lượng công
Trang 38tập kết rác thải; không để xảy ra tình trạng ứ đọng rác tại các nơi công cộng,nơi tập trung đông người; bố trí thời gian thu gom rác thải sinh hoạt tại khudân cư phù hợp với sinh hoạt của người dân và đảm bảo vệ sinh môi trường đôthị; vận hành có hiệu quả, đảm bảo vệ sinh môi trường bãi rác chung Đồng Hới
- Bố Trạch và Bãi tập kết phế thải xây dựng do đơn vị quản lý
UBND các xã, phường trên địa bàn thành phố tăng cường tuyên truyền,vận động nhằm nâng cao nhận thức của người dân, cá nhân, tổ chức, cơ sở sảnxuất, kinh doanh và dịch vụ trên địa bàn về quản lý rác thải; duy trì tốt hoạtđộng vệ sinh tại khu dân cư, các hoạt động xã hội hóa trong công tác vệ sinhmôi trường; hướng dẫn, vận động người dân tập kết rác thải đúng thời gian, đổrác thải đúng nơi quy định thu gom; vận động tất cả người dân trên địa bàn kýhợp đồng thu gom rác thải sinh hoạt với Công ty Cổ phần Môi trường và Pháttriển đô thị Quảng Bình, trường hợp không chấp hành cần xử lý theo đúng quyđịnh; tăng cường kiểm tra, xử lý kịp thời các điểm đổ chất thải sinh hoạt, chấtthải xây dựng không đúng nơi quy định trên địa bàn, đảm bảo mỹ quan đô thị,
vệ sinh môi trường
Hội đồng Kiểm tra, giám sát, nghiệm thu sản phẩm dịch vụ công íchthành phố thường xuyên chỉ đạo các đơn vị liên quan kiểm tra công tác thugom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn do Công ty Cổphần Môi trường và Phát triển đô thị Quảng Bình thực hiện, đảm bảo đúng quytrình và vệ sinh môi trường
1.4.4 Bài học kinh nghiệm cho quận Hà Đông
Một là, tăng cường cơ sở pháp lý, tạo hành lang pháp lý cơ bản và hoàn thiện để điều chỉnh các quan hệ liên quan đến QLNN về dịch vụ công ích VSMT trên địa bàn quận, đảm bảo sự ổn định và thúc đẩy sự phát triển của hệ thống cung ứng dịch vụ công cho toàn xã hội; xây dựng chiến lược, quy
hoạch, kế hoạch định hướng phát triển mạng lưới cung ứng dịch vụ công ích VSMT cho đại phương
Trang 39Hai là, thiết lập cơ chế kiểm tra, kiểm soát hợp lý, quan trọng là phảiban hành được các chuẩn về chất lượng dịch vụ công ích VSMT Hiện nay,các dịch vụ công ích mới chỉ cung ứng tới người dân và xã hội một cách thụđộng, mức độ cung ứng cơ bản, thiết yếu so với nhu cầu và chưa có một hệthống chuẩn mực để so sánh, đánh giá và hướng tới.
Ba là, đẩy mạnh hơn nữa xã hội hóa dịch vụ công ích VSMT trên địa bàn quận Xã hội hóa dịch vụ công ích VSMT đồng nghĩa với việc giảm thiểu trách nhiệm của nhà nước trong cung cấp các dịch vụ, nhà nước đóng vai trò điều tiết bảo đảm sự có mặt của dịch vụ công đó thay vì trực tiếp cung cấp các dịch vụ công Việc cung ứng dịch vụ được giao cho các thành phần kinh tế tư nhân, cá nhân thực hiện Như vậy, vai trò của nhà nước lúc này dần trở thành người "lái thuyền" thay vì người "chèo thuyền" như trước đây
Bốn là, tăng cường đầu tư xây dựng, thiết lập quy trình và phát triển cơ
sở hạ tầng, công nghệ thông tin đồng bộ trong việc cung ứng dịch vụ công ích VSMT; hiện đại hóa công sở nhằm nâng cao hiệu quả làm việc của cán bộ, công chức và chất lượng cung ứng dịch vụ công ích
vụ công ích vệ sinh môi trường và thông qua thực tiễn triển khai, thực hiệnhoạt động QLNN này tại một số địa phương, đã rút ra bài học kinh nghiệm choquận Hà Đông Và chương 1 cũng là cơ sở lý luận để tác giả phân tích, đánhgiá thực trạng QLNN về dịch vụ công ích VSMT tại quận Hà Đông, thành phố
Hà Nội trong chương 2 của luận văn
Trang 40Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DỊCH VỤ CÔNG ÍCH VỆ SINH MÔI TRƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN
QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 2.1 Giới thiệu chung về quận Hà Đông
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
Quận Hà Đông được thành lập trên cơ sở thành phố Hà Đông - là đô thịtrực thuộc tỉnh Hà Tây cũ trước đây và nay là Quận nội thành phía Tây Nam(là Quận lớn thứ hai của thủ đô Hà Nội), có tọa độ địa lý là 20059' vĩ độ Bắc,
105045' kinh độ Đông, nằm dọc theo Quốc lộ 6 từ Hà Nội đi Hòa Bình và trênngã ba Sông Nhuệ, sông Đáy, kênh La Khê, cách trung tâm Hà Nội 10km vềphía Tây, Tây Nam Hà Đông là nơi đặt trụ sở một số cơ quan hành chính cấpthành phố của Thủ đô Hà Nội
Địa giới hành chính: Phía Bắc giáp Nam Từ Liêm, Hoài Đức; phía Đônggiáp huyện Thanh Trì, quận Thanh Xuân; phía Tây giáp các huyện Quốc Oai,Hoài Đức; phía Nam giáp các huyện Thanh Oai, Chương Mỹ
Ngày 27 tháng 12 năm 2006, Chính phủ đã ban hành Nghị định số155/2006/Đ-CP thành lập Thành phố Hà Đông thuộc Tỉnh Hà Tây, với diệntích như cũ, còn số dân là 228.715 người Sau khi điều chỉnh địa giới hànhchính theo Nghị định số 23/2008/QĐ-CP của Chính phủ, năm 2014, Hà Đông
có diện tích tự nhiên là 48,35km2 và dân số là 271.628 người
Về hành chính, Quận Hà Đông có 17 phường: Quang Trung, NguyễnTrãi, Hà Cầu, Vạn Phúc, Phúc La, Yết Kiêu, Mỗ Lao, Văn Quán, La Khê,