Đây là cơ quan do Quốc hội thành lập, thừa hành quyền lực từ Quốc hội và được Quốc hộigiao cho chức năng thực hành quyền công tố; nhân danh Nhà nước sử dụngtổng hợp các quyền năng pháp l
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệuđược trích dẫn theo nguồn đã công bố Kết quả nêu trong luận văn này là trungthực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Thừa Thiên Huế, ngày tháng năm 2021
Học viên
Lê Thị Phương Nhung
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được luận văn với đề tài “Bảo đảm quyền công tố
trong giai đoạn điều tra, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự - từ thực tiễn Viện
kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình” Bên cạnh sự nỗ lực của bản thân, tôi
luôn nhận được sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô, đồng nghiệp và bạn bè Tôixin gửi lời cảm ơn đến TS Huỳnh Quý – người đã tận tình hướng dẫn tôinghiên cứu đề tài này, giúp đỡ tôi cũng như đã cung cấp cho tôi những kiếnthức sâu rộng để tôi có nền tảng nghiên cứu đề tài Bên cạnh đó tôi xin gửi lờicảm ơn đến Ban Giám hiệu Nhà trường, tất cả các thầy cô trong Học viện Hànhchính quốc gia, Phân viện Học viện Hành chính quốc giatại Huế và gia đình đãhết sức giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu đề tài
Trong quá trình thực hiện luận văn, mặc dù đã cố gắng hoàn thiện đề tàiqua tham khảo tài liệu, trao đổi và tiếp thu ý kiến đóng góp nhưng chắc chắnkhông tránh khỏi những tồn tại Vì vậy tôi rất mong muốn và chân thành cảm
ơn các ý kiến đóng góp của Quý Thầy, Cô
Trân trọng cảm ơn!
Học viên
Lê Thị Phương Nhung
Trang 3MỤC LỤC Trang bìa
Lời cam đoan
xử sơ thẩm vụ án hình sự 171.2 Các văn bản, quy định pháp luật về quyền công tố trong giai đoạn điều tra, xét xử
sơ thẩm vụ án hình sự 221.2.1 Quy định về quyền công tố ở các bản Hiến pháp của nhà nước ViệtNam qua các thời kỳ 221.2.2 Quy định về quyền công tố trong Bộ luật Tố tụng hình sự 261.2.3 Quy định về quyền công tố trong Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân301.2.4 Quy định về quyền công tố trong các văn bản pháp luật khác 34
Trang 41.3 Những điều kiện bảo đảm quyền công tố trong giai đoạn điều tra, xét xử sơ thẩm
vụ án hình sự 361.3.1 Những quy định hiện hành trong các văn bản Luật và dưới Luật 361.3.2 Mối quan hệ của các cơ quan trong thực hiện quyền công tố (Cơ quanđiều tra, Tòa án, Mặt trận tổ quốc, Ban nội chính, tổ chức chính trị, tổ chức xãhội, các đoàn thể quần chúng ) 371.3.3 Sự giám sát, kiểm tra của các cơ quan có thẩm quyền 391.3.4 Nguồn nhân lực và cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động quyền công tốhiện nay 41
Chương 2 THỰC TRẠNG BẢO ĐẢM QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA, XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ TẠI VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH 442.1.Thực trạng tổ chức thực hiện quyền công tố trong giai đoạn điều tra, xét xử sơ thẩm
vụ án hình sự tại Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình từ năm 2016 -2020
442.1.1 Thực trạng tổ chức thực hiện quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình
sự tại Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình từ năm 2016 -2020 442.1.2 Thực trạng tổ chức thực hiện quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ
án hình sự tại Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình từ năm 2016 -2020 512.2 Thực trạng các điều kiện bảo đảm quyền công tố tại Viện kiểm sát
nhân dân tỉnh Quảng Bình 572.2.1 Về cơ cấu, tổ chức, bộ máy Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình 572.2.2 Nguồn nhân lực và cơ sở vật chất của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh
Quảng Bình 592.2.3 Các văn bản chỉ đạo ngành Kiểm sát, Tỉnh ủy và Ủy ban nhân dân tỉnhQuảng Bình về công tác giám sát hiện nay liên quan đến công tác thực hànhquyền công tố trong điều tra, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 622.2.4 Về sự phối hợp, giám sát, kiểm tra của các cơ quan có thẩm quyền
Trang 52.3 Đánh giá kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân 69
2.4.1 Kết quả đạt được 69
2.4.2 Hạn chế và nguyên nhân 71
Chương 3 GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN ĐIÊU TRA, XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ TẠI VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH 83
3.1 Giải pháp chung bảo đảm quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân trong giai đoạn điều tra, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 83
3.1.1 Giải pháp về hoàn thiện quy định pháp luật tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho hoạt động công tố của VKS trong giai đoạn điều tra, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 83
3.1.2 Giải pháp về nguồn nhân lực 87
3.1.3 Giải pháp về tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng và quan hệ phối hợp trong giai đoạn điều tra, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 95
3.2 Giải pháp cụ thể bảo đảm quyền công tố trong giai đoạn điều tra, xét xử sơ thẩm tại Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình 100
3.2.1 Giải pháp về đội ngũ thực thi quyền công tố 100
3.2.2 Bảo đảm cơ sở vật chất, kinh phí, phương tiện, kỹ thuật để tổ chức thực hiện quyền công tố trong giai đoạn điều tra, xét xử sơ thẩm tại Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình 102
3.2.3 Tăng cường công tác quản lý, chỉ đạo điều hành đối với các vấn đề liên quan đến việc thực hiện chức năng thực hành quyền công tố 104
3.2.4 Đổi mới sự giám sát của Hội đồng nhân dân địa phương 106
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 108
KẾT LUẬN 109 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6Tố tụng hình sựViện kiểm sátViện kiểm sát nhân dân
Xã hội chủ nghĩa
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Thống kê tình hình tội phạm tại tỉnh Quảng Bình trong 5 năm
2016-2020 46Bảng 2.2: Kết quả hoạt động công tố trong giai đoạn điều tra (từ năm 2016đến năm 2020) 48Bảng 2.3: Kết quả tổ chức thực hiện quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơthẩm 5 năm (2016-2020) 52
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Quyền công tố là một dạng quyền lực nhà nước trong lĩnh vực tư pháp,
là một chế định Hiến pháp quan trọng của Nhà nước ta Đây là một trongnhững biện pháp hữu hiệu của Nhà nước dùng để đấu tranh phòng, chống tộiphạm, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp củacông dân, đồng thời thể hiện quan điểm đường lối của Đảng, pháp luật của Nhànước nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội, người phạm tội phải được pháthiện, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử kịp thời, nghiêm minh, đúng người, đúngtội, đúng pháp luật, không làm oan người vô tội, không để lọt tội phạm vàngười phạm tội,
Cải cách tư pháp là nhiệm vụ quan trọng trong quá trình xây dựng vàhoàn thiện Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, được Đảng vàNhà nước quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo Ngày 02/1/2002, Bộ Chính trị đã banhành Nghị quyết số 08-NQ/TW về “Một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tưpháp trong thời gian tới”, trong đó đã nêu rõ quan điểm chỉ đạo và các nhiệm
vụ trọng tâm công tác tư pháp Tiếp đó, ngày 02/6/2005, Bộ Chính trị đã banhành Nghị quyết số 49-NQ/TW về “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm2020”, trong đó xác định rõ mục tiêu, quan điểm, phương hướng, nhiệm vụ cảicách tư pháp Để thể hiện đầy đủ hơn ý nghĩa chính trị và quyết tâm mạnh mẽcủa Đảng và Nhà nước ta về thực hiện chủ trương và triển khai thực hiện cácnhiệm vụ cải cách tư pháp, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ Xcủa Đảng tiếp tục nhấn mạnh “Xây dựng hệ thống cơ quan tư pháp trong sạchvững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, quyền con người Đẩymạnh việc thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp đên năm 2020 Cải cách tưpháp khẩn trương, đồng bộ; lấy cải cách hoạt động xét xử làm trọng tâm; thựchiện cơ chế công tố gắn với hoạt động điều tra” Đặc biệt, Nghị quyết
Trang 9Đại hội Đảng lần thứ XI đã một lần nữa khẳng định chủ trương “Đẩy mạnhviệc thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, xây dựng hệ thống
tư pháp trong sạch, vững mạnh, bảo vệ công lý, tôn trọng và bảo vệ quyền conngười…Viện kiểm sát được tổ chức phù hợp với hệ thống tổ chức Tòa án, bảođảm tốt hơn các điều kiện để Viện kiểm sát nhân dân thực hiện hiệu quả chứcnăng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp; tăng cườngtrách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điềutra”
Có thể nói bảo đảm và tăng cường trách nhiệm công tố là một chủtrương nhất quán của Đảng và Nhà nước ta từ khi thành lập ngành Kiểm sátnhân dân và được Đảng ta đặc biệt nhấn mạnh trong giai đoạn hiện nay Cácnghị quyết của Đảng về cải cách tư pháp như Nghị quyết 08- NQ/TW, Nghịquyết 49- NQ/TW và Văn kiện Đại hội lần thứ XI nêu trên đã khẳng định vàyêu cầu VKSND phải nâng cao hơn nữa chất lượng công tác công tố
Nghị quyết số 08- NQ/TW năm 2002 của Bộ Chính trị xác định: “Hoạt động công tố phải thực hiện ngay từ khi khởi tố vụ án và trong suốt quá trình tố tụng nhằm bảo đảm không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội; nâng cao chất lượng công tố của Kiểm sát viên tại phiên toà”.
Trong Nghị quyết số 49-NQ/TW, Bộ Chính trị tiếp tục yêu cầu VKSND phải “tăng cường trách nhiệm của công tố trong hoạt động điều tra, nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên toà xét xử”.
Như vậy, Đảng và Nhà nước luôn luôn khẳng định chủ trương xây dựngmột nền công tố mạnh Khi thực hành quyền công tố, VKSND có trách nhiệmlớn trong đấu tranh phòng, chống tội phạm Công tác công tố của VKS phảibảo đảm mọi hành vi phạm tội và người phạm tội được phát hiện kịp thời, đầy
đủ, xử lý nghiêm minh, có căn cứ và đúng pháp luật, không để lọt tội phạm vàngười phạm tội; đồng thời, không để làm oan người vô tội
Trang 10Quyền công tố được Hiến pháp năm 2013 ghi nhận và giao cho Việnkiểm sát nhân dân (VKSND) thực hiện để góp phần phòng chống tội phạm,bảo vệ các quyền cơ bản của công dân, là nền tảng cơ bản của nhà nước phápquyền xã hội chủ nghĩa Quyền công tố của Viện kiểm sát được thực hiện trongsuốt quá trình giải quyết vụ án, đặc biệt là trong giai đoạn điều tra, xét xử vụ ánhình sự Hiệu quả của việc thực hiện quyền công tố trong giai đoạn điều tra, xét
xử phụ thuộc vào nhiều yếu tố mang tính chất bảo đảm thực hiện quyền công
tố như cơ sở pháp lý, năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức Viện kiểm sát,yếu tố cơ sơ vật chất và một số yếu tố khác
Về cơ bản, các yếu tố này đã giúp cho Viện kiểm sát thực hiện tốt quyềncông tố, tuy nhiên, thực tiễn thực hiện quyền công tố trong giai đoạn điều tra,xét xử vụ án hiện nay cho thấy, những yếu tố bảo đảm quyền công tố của Việnkiểm sát vẫn còn một số hạn chế nhất định, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệuquả của thực hiện quyền công tố Đó là những hạn chế cụ thể như: sự bất cậpcủa cơ sở pháp lý quy định về quyền công tố; sự phối hợp của chính quyền địaphương, các cơ quan hữu quan trong công tác thực hành quyền công tố cònthiếu kịp thời; quá trình thực thi quyền công tố trong giai đoạn điều tra, giaiđoạn xét xử vụ án hình sự còn nhiều hạn chế Thông qua nghiên cứu thực tiễnvấn đề bảo đảm quyền công tố trong giai đoạn điều tra, xét xử tại Viện kiểmsát nhân dân tỉnh Quảng Bình, ta sẽ thấy rõ được những tồn tại hạn chế này.Việc hoàn thiện các yếu tố bảo đảm quyền công tố của VKSND trong giaiđoạn điều tra, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là một đòi hỏi cấp bách của Đảng
và Nhà nước trong giai đoạn hiện nay Xuất phát từ lý do thực tiễn nêu trên,
học viên quyết định lựa chọn đề tài luận văn: “Bảo đảm quyền công tố trong giai đoạn điều tra, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự - từ thực tiễn Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình”để làm luận văn thạc
Trang 11sỹ chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật hành chính Nội dung nghiên cứu củaluận văn thật sự có những ý nghĩa nhất định về mặt lý luận và thực tiễn.
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Liên quan đến quá trình nghiên cứu của luận văn có một số công trình khoahọc đã được công bố, trong đó có thể kể đến một số công trình tiêu biểu sau:
- Luận án Tiến sĩ Luật học: Quyền công tố ở Việt Nam, của Lê Thị Tuyết
Hoa, năm 2002 Trong luận án này, tác giả đã đề cập đến những vấn đề lý luận
về QCT và tổ chức thực hành QCT ở một số nước trên thế giới; thực trạng tổchức thực hànhquyền công tốở Việt Nam từ 1988 đến 2000 và một số kiếnnghị nhằm hoàn thiện pháp luật về hoạt động công tố ở trước Tòa án Còn luậnvăn mà tác giả lựa chọn lại tập trung nghiên cứu sâu về việc về việc bảo đảmquyền công tố trong giai đoạn điều tra, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
- Sách chuyên khảo: Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra do tác giả Lê Hữu Thể làm chủ biên xuất
bản năm 2005, Nxb Tư pháp Cuốn sách này là công trình nghiên cứu về cơ sở
lý luận của quyền công tố, thực hành quyền công tốvà kiểm sát hoạt động tưpháp trong tố tụng hình sự của Viện kiểm sát, kết quả nghiên cứu về tổ chức vàhoạt động của cơ quan công tố của một số nước trên thế giới
- Đề tài khoa học cấp bộ: “Những giải pháp nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp” do VKSND tối cao thực
hiện năm 2002 Trong công trình này trên cơ sở tổng kết thực tiễn, các tác giả
đã đưa ra nhiều giải pháp khác nhau nhằm nâng cao chất lượng công tác thựchành quyền công tốvà kiểm sát hoạt động tư pháp
- Đề tài khoa học cấp bộ:“Những vấn đề lý luận về quyền công tố và thực tiễn hoạt động công tố ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay” của Viện khoa
học VKSNDTC thực hiện năm 1999 cũng đã tiếp cận nghiên cứu về vấn đềquyền công tố ở góc độ lý luận lý luận và thực tiễn
Trang 12- Sách tham khảo “Một số vấn đề về tăng cường trách nhiệm của công
tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra theo yêu cầu cải cách tư pháp”, của tác giả Nguyễn Hải Phong, xuất bản năm 2014, Nxb
chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội Trong cuốn sách này đã đề cập đến nộidung tăng cường trách nhiệm công tố, gắn công tố với hoạt động điều tra theoyêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp mà đảng và nhà nước đã đề ra Tuynhiên, cuốn sách này chỉ chủ yếu tập trung đề cập đến những giải pháp nhằmtăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra hình sự
Ngoài ra còn có một số công trình, bài viết đăng tải trên các tạp chí
chuyên ngành như: Tổ chức bộ máy và chức năng, nhiệm vụ của Viện Kiểm sát nhân dân trong tiến trình cải cách tư pháp của tác giả Lê Hữu Thể, Tạp chí kiểm sát số 14-16/2008; Quyền công tố và tổ chức thực hiện quyền công tố trong nhà nước pháp quyền của tác giả Nguyễn Minh Đức, tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 1-2/2012; Một số ý kiến về tổ chức và hoạt động của Viện Kiểm sát theo yêu cầu cải cách tư pháp của tác giả Bùi Đức Long, tạp chí Kiểm sát
số 14-16/ 2008; Những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động thực hành quyền công
tố của kiểm sát viên của tác giả Trần Văn Quý, đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 15/2010; Bài viết “Một số vấn đề về quyền công tố” của PGS.TS Trần Hữu Độ, đăng trên Tạp chí Luật học, số 3/2001; Bài viết “Viện kiểm sát với hai chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp và
sự lựa chọn thích hợp trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” của Nguyễn Văn Quảng, đăng trên Tạp chí Kiểm sát,
số 13/2012…
Những công trình nghiên cứu trên đã trình bày những lý luận căn bản vềquyền công tố, về chức năng thực hành quyền công tố của VKSND theo quyđịnh của Hiến pháp, BLTTHS, chỉ ra những đặc điểm trong các khâu công táccủa VKSND Tuy nhiên, chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu
Trang 13về bảo đảm quyền công tố trong giai đoạn điều tra, xét xử sơ thẩm vụ án hình
sự, từ thực tiễn VKSND tỉnh Quảng Bình Mặc dù vậy, những nội dung củacác công trình nghiên cứu trên thật sự là tài liệu tham khảo hữu ích đối với tácgiả trong quá trình thực hiện luận văn của mình
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Mục đích nghiên cứu: Làm sáng tỏ về quyền công tố, những quy định
bảo đảm quyền công tố…; đề xuất giải pháp bảo đảm quyền công tố tại ViệnKSND tỉnh Quảng Bình trong thời gian tới đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp
và các quy định của Hiến pháp năm 2013
Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt được mục tiêu trên, luận văn đặt ra và giải
quyết những nhiệm vụ như sau:
- Nghiên cứu, làm rõ những vấn đề lý luận bảo đảm quyền công tố tronggiai đoạn điều tra, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự được quy định trong Hiếnpháp và Bộ luật TTHS hiện hành; một số khái niệm, nội dung, đặc điểm,những yếu tố ảnh hưởng bảo đảm quyền công tố trong giai đoạn điều tra, xét
xử sơ thẩm vụ án hình sự;
- Đánh giá thực trạng bảo đảm quyền công tố trong giai đoạn điều tra,xét xử sơ thẩm vụ án hình sự tại VKSND tỉnh Quảng Bình từ năm 2016 đến2020
- Nghiên cứu, nêu quan điểm, giải pháp bảo đảm quyền công tố củaVKSND trong giai đoạn điều tra, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu một số vấn đề lý luận, pháp lý và
thực tiễn bảo đảm quyền công tố trong giai đoạn điều tra, xét xử sơ thẩm vụ ánhình sự, thực tiễn bảo đảm quyền công tố trong giai đoạn điều tra, xét xử vụ ánhình sự tại VKSND tỉnh Quảng Bình
Trang 14Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu các vấn đề về bảo
đảm quyền công tố trong giai đoạn điều tra, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự tạiViện KSND tỉnh Quảng Bình
+ Phạm vi quy mô: Tại VKSND tỉnh Quảng Bình
+ Phạm vi thời gian: Từ năm 2016 đến năm 2020, định hướng đếnnăm 2025
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận: Để thực hiện được những mục tiêu và nhiệm
vụ nêu trên, luận văn sử dụng phương pháp luận là phép luận chứng duy vậtcủa chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm, đường lối,chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước về bảo đảm quyền công tố củaVKSND trong giai đoạn điều tra, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
5.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể
Luận văn nghiên cứu theo chuyên ngành luật hiến pháp và hànhchínhcùng với các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:
- Phương pháp thu thập và nghiên cứu các tài liệu có liên quanđếnnhững vấn đề lý luận về bảo đảm quyền công tố
- Phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp được sử dụng để thốngkêvà phân tích các tài liệu, báo cáo của VKSND trong thực tiễn nhằm tổng hợprút ra những ưu điểm, hạn chế, vướng mắc
- Phương pháp tọa đàm, trao đổi với các chuyên gia nhằm tìm hiểu các kinhnghiệm để đưa ra các giải pháp trong việc bảo đảm quyền công tố trên thực tiễn
- Phương pháp luận của khoa học TTHS, khoa học luật Hiến pháp được
sử dụng để xác định cơ sở pháp lý, nội dung và phương thức bảo đảm quyềncông tố
Trang 156 Ý nghĩa của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận: Luận văn sẽ góp phần bổ sung, hoàn thiện lý luận
luật Hiến pháp và luật Hành chính; làm rõ ý nghĩa, vai trò và nội dung, cácđiều kiện bảo đảm quyền công tố trong giai đoạn điều tra, xét xử sơ thẩm vụ ánhình sự, các luật về tổ chức VKS trong giai đoạn hiện nay
6.2 Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận văn làm tài liệu
tham khảo trong công tác giảng dạy, nghiên cứu luật học, bồi dưỡng nghiệp vụkiểm sát viên, điều tra viên các cấp Luận văn cũng sẽ là nguồn tư liệu thamkhảo cho đội ngũ cán bộ, công chức trên địa bàn tỉnh Quảng Bình và các địaphương khác, đặc biệt là đối với đội ngũ cán bộ, công chức trong ngành kiểmsát trong quá trình thực thi chức trách, nhiệm vụ liên quan đến vấn đề này
7 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo thì luận văn bao gồm 03 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp luật về bảo đảm quyền công tố của Viện
kiểm sát nhân dân trong giai đoạn điều tra, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Chương 2:Thực trạng bảo đảm quyền công tố trong giai đoạn điều tra,
xét xử sơ thẩm vụ án hình sự tại Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình
Chương 3: Giải pháp bảo đảm quyền công tố trong giai đoạn điều tra,
xét xử sơ thẩm vụ án hình sự tại Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình
Trang 161.1.1.1 Khái niệm quyền công tố:
Theo Từ điển Tiếng Việt đã định nghĩa: Công tố có nghĩa là "điều tra, truy tố và buộc tội kẻ phạm pháp trước Tòa án".[ 38, tr 204]
Từ điển Luật học đưa ra khái niệm: Công tố là "Quyền của Nhà nước truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội”.[ 7, tr188]
Như vậy, công tố chính là quyền của Nhà nước truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội
Ở Việt Nam, quyền công tố là một khái niệm pháp lý gắn liền với chứcnăng của Viện kiểm sát nhân dân Nghiên cứu lý luận về quyền công tố, có thểthấy thời gian qua đã có nhiều đề tài nghiên cứu về vấn đề này và đưa ra nhiềuquan điểm, khái niệm khác nhau về quyền công tố Trong tiến trình thực hiệncải cách bộ máy nhà nước, cải cách hoạt động tư pháp, khi đề cập đến chứcnăng của VKSND thì khái niệm quyền công tố lại được các nhà nghiên cứu đềcập nhiều hơn Có một số tác giả cho rằng quyền công tố không phải là chứcnăng độc lập của Viện kiểm sát mà mọi hoạt động kiểm sát việc tuân theo phápluật đều là thực hành quyền công tố, quyền công tố là một quyền năng, công tố
là một hình thức thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trongTTHS Có một số tác giả khác lại cho rằng, quyền
Trang 17công tố tồn tại trong cả lĩnh vực tố tụng hình sự và các lĩnh vực dân sự, kinh tế,lao động, hành chính, dẫn đến tình trạng mở rộng phạm vi quyền công tố vượtkhỏi lĩnh vực tố tụng hình sự hoặc một số tác giả lại quá thu hẹp phạm viquyền công tố, coi quyền công tố là quyền của VKS truy tố kẻ phạm tội ra Toà
án và thực hiện việc buộc tội tại phiên toà hình sự sơ thẩm [11]
Những quan điểm này, tác giả đều không đồng tình vì đã không thể hiệnđúng bản chất của quyền công tố Bởi lẽ, quyền công tố là quyền lực nhà nước,
nó tồn tại trong bất kì các kiểu Nhà nước nào, gắn liền với bản chất giai cấpsâu sắc và được nhà nước sử dụng nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự đối vớingười phạm tội Bản chất của quyền công tố là sự buộc tội, luôn gắn liền vớivấn đề tội phạm và người phạm tội vì vậy nó chỉ phát sinh khi có tội phạm vàchỉ xuất hiện trong lĩnh vực tố tụng hình sự Quyền công tố được được phátđộng khi có hành vi nguy hiểm xâm phạm tới các quan hệ xã hội được phápluật hình sự bảo vệ xảy ra, trong phạm vi chức năng của mình, chủ thể thựchiện quyền công tố (ở Việt Nam là VKS) sử dụng các quyền năng, biện phápTTHS cần thiết nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người bị coi là thựchiện hành vi phạm tội Vì quyền công tố gắn liền với quyền lực nhà nước nênmang tính cưỡng chế, dù đối tượng bị tác động có muốn hay không, phân biệtvới việc đề cao sự thỏa thuận của các đương sự trong lĩnh vực dân sự, kinh tế,lao động
Trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm của các nhà nghiên cứu đi trước,
có thể hiểu: Quyền công tố là một loại quyền lực Nhà nước được giao cho VKS
thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội nhằm truy
tố người phạm tội ra trước Tòa án để xét xử và thực hiện sự buộc tội người đótrước phiên tòa nhằm bảo đảm quyền con người, quyền công dân được côngnhận, tôn trọng, bảo vệ và thực hiện theo quy định của Hiến pháp
Trang 18và pháp luật Việc thực hiện quyền công tố được Nhà nước giao cho chủ thểnhất định và được tiến hành theo những phương thức đặc thù.
Về chủ thể thực hiện quyền công tố, tại Điều 2 Luật tổ chức VKSNDnăm 2014 quy định: “Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan thực hành quyền công
tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa ViệtNam” Vậy, VKSND chính là chủ thể thực hiện quyền công tố Đây là cơ quan
do Quốc hội thành lập, thừa hành quyền lực từ Quốc hội và được Quốc hộigiao cho chức năng thực hành quyền công tố; nhân danh Nhà nước sử dụngtổng hợp các quyền năng pháp lý theo quy định của pháp luật để thực hiện sựbuộc tội đối với người phạm tội trong giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố và xét
xử vụ án hình sự và bảo vệ sự buộc tội đó nhằm bảo đảm quyền con người,quyền công dân được công nhận, tôn trọng, bảo vệ và thực hiện theo quy địnhcủa Hiến pháp và pháp luật Để làm tốt thực hiện tốt quyền này, Viện kiểm sát
có trách nhiệm bảo đảm việc thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để xác định tộiphạm và người phạm tội Trên cơ sở đó truy tố bị can ra trước Toà án và thựchiện sự buộc tội đó tại phiên toà
Về chức năng thực hành quyền công tố, tại Điều 3 Luật tổ chức VKSNDnăm 2014 đã quy định: “Thực hành quyền công tố, là hoạt động của VKSNDtrong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với ngườiphạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm,kiến nghị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự.” VKS thực hiện quyềncông tố trong tất cả các giai đoạn tố tụng (từ khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử)
và tùy từng giai đoạn tố tụng cụ thể mà việc sử dụng các quyền năng pháp lýcủa VKS cũng khác nhau Như vậy, thực hành quyền công tố là quá trình VKShiện thực hoá quyền truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội bằngcác quyền năng tương ứng mà Nhà nước đã trao cho VKS
Trang 19Đối tượng của quyền công tố là tội phạm và người phạm tội Vì chứcnăng duy nhất của quyền công tố là chức năng buộc tội nhân danh Nhà nướctrong lĩnh vực tố tụng hình sự.
Nội dung của quyền công tố là sự buộc tội của nhà nước đối với người
đã thực hiện hành vi phạm tội
Phạm vi quyền công tố: Về phạm vi không gian: phạm vi quyền công tốchỉ có trong lĩnh vực tố tụng hình sự Về phạm vi thời gian: Phạm vi quyềncông tố bắt đầu khi tội phạm xảy ra và kết thúc khi bản án có hiệu lực phápluật, không bị kháng nghị hoặc khi đình chỉ vụ án Một vụ án hình sự được giảiquyết thông qua nhiều giai đoạn tố tụng khác nhau: khởi tố, điều tra, truy tố vàxét xử Theo pháp luật TTHS nước ta, VKS thực hiện quyền công tố trong tất
cả các giai đoạn tố tụng (từ khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử) và tùy từng giaiđoạn tố tụng cụ thể mà việc sử dụng các quyền năng pháp lý của VKS cũngkhác nhau Trong giai đoạn điều tra, xét xử sơ thẩm thì quyền công tố của VKSđược quy định cụ thể như sau:
- Quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự: là quyền truy
cứu trách nhiệm hình sự đối với cá nhân, pháp nhân có hành vi phạm tội, làquyền mà chủ thể được Nhà nước giao được sử dụng các quyền năng pháp lý
để chứng minh hành vi phạm tội trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự.VKSND thực hiện quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, thểhiện qua các quyền năng pháp lý như: Yêu cầu cơ quan điều tra khởi tố hoặcthay đổi quyết định khởi tố vụ án bị can; Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhânhữu quan cung cấp tài liệu để làm rõ tộiphạm, người phạm tội; đề ra yêu cầuđiều tra và yêu cầu cơ quan điều tra tiến hành điều tra; trực tiếp tiến hành một
số hoạt động điều tra để làm rõ căn cứ quyết định việc buộc tội đối với ngườiphạm tội; quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp bắt, tạm giữ, tạmgiam và các biện pháp ngăn chặn khác; phê chuẩn, không phê chuẩn các
Trang 20quyết định của cơ quan điều tra; hủy bỏ các quyết định trái pháp luật của cơquan điều tra quyết định việc truy tố bị can; quyết định tạm đình chỉ hoặc đìnhchỉ điều tra.
- Quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự: Giai đoạn
xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là một giai đoạn trong tố tụng hình sự, trong đóTòa án có thẩm quyền thay mặt Nhà nước tiến hành việc xét xử lần đầu, toàndiện, tổng thể vụ án hình sự trên cơ sở bản cáo trạng của VKS, xem xét đánhgiá chứng cứ và dựa trên kết quả tranh tụng tại phiên tòa làm cơ sở để ra cácphán quyết công minh, có căn cứ và đúng pháp luật bằng bản án và quyết địnhcủa mình
Quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là quyền lựcNhà nước giao cho VKS thực hiện việc buộc tội cá nhân, pháp nhân có hành viphạm tội trước Tòa án VKSND sử dụng các quyền năng pháp lý để thực hiệnquyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự như sau: Công bốcáo trạng hoặc quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn, quyết định khác về việcbuộc tội đối với bị cáo tại phiên tòa; xét hỏi; xem xét vật chứng, xem xét tạichỗ; thực hiện việc luận tội đối với bị cáo; tranh luận tại phiên tòa; thực hiệnnhiệm vụ, quyền hạn khác trong việc buộc tội theo quy định của BLTTHS (giảiquyết việc Tòa án trả hồ sơ điều tra bổ sung; giải quyết việc rút quyết định truy
tố trước khi mở phiên tòa)
1.1.1.2 Khái niệm bảo đảm quyền công tố:
Theo cuốn Từ điển Tiếng Việt của Trung tâm từ điển học định nghĩa thì:
“Bảo đảm là làm cho chắc chắn, thực hiện được, giữ gìn được hoặc có đầy đủ những gì cần thiết”.[35, tr.36]
Như vậy, có thể hiểu: Bảo đảm quyền công tố trong giai đoạn điều tra, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là việc Nhà nước chính thức ghi nhận quyền đó trong các văn bản pháp luật và tạo ra các điều kiện cần thiết, tốt nhất để
Trang 21quyền công tố trong giai đoạn điều tra, xét xử vụ án hình sự được thực thi hiệu quả, bảo đảm truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội, không bỏ lọt tội phạm
và làm oan người vô tội.
Các điều kiện để bảo đảm quyền công tố nói chung, quyền công tố tronggiai đoạn điều tra, xét xử nói riêng chính là các cơ sở pháp lý, các điều kiện về
tổ chức bộ máy, cơ sở vật chất, kinh phí và nguồn nhân lực Các điều kiện nàyphải thỏa mãn những tiêu chuẩn nhất định thì việc bảo đảm quyền công tố mới
có chất lượng, đạt hiệu quả
Trước hết, Nhà nước phải xây dựng các cơ sở pháp lý là các quy địnhpháp luật về quyền hạn và nghĩa vụ của các chủ thể trong bảo đảm thực hiệnquyền công tố, các cơ chế, phương thức thực thi quyền công tố, các chế tài, xử
lý khi có vi phạm trong thực hiện quyền công tố Đây là yếu tố quan trọng đểquyền công tố được bảo đảm thực hiện trong thực tế
Bên cạnh đó, yếu tố con người được đánh giá là một trong những nhân
tố quan trọng quyết định đến chất lượng của việc bảo đảm quyền công tố Vìvậy, tiêu chuẩn của yếu tố nguồn nhân lực trong bảo đảm quyền công tố phảiđược quy định trong luật Hệ thống pháp luật phải có quy định cụ thể về trình
độ, năng lực, đạo đức, tinh thần, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ công chức vàquy định về chế độ tài chính, cơ sở vật chất mà Nhà nước xây dựng để tạo điềukiện cho VKS thực hiện có hiệu quả quyền công tố
Ngoài ra, quyền công tố được bảo đảm thực hiện khi có cơ chế để bảođảm thực thi Các quy định pháp luật về cơ chế bảo đảm thực thi quyền công tốchính là quy định về kiểm tra, giám sát của các cơ quan Nhà nước có thẩmquyền đối với việc thực hiện quyền công tố của Viện kiểm sát Các quy địnhnày sẽ góp phần để quyền công tố được bảo đảm thực hiện trên thực tế
Trang 221.1.2 Nội dung bảo đảm quyền công tố trong giai đo n đi u tra, ạ ề xét x s th m v án hình s ử ơ ẩ ụ ự
Thứ nhất, cần ghi nhận quyền công tố và bảo đảm quyền công tố trong
Hiến pháp và các văn bản pháp luật khác như luật, nghị định, thông tư Đây làmột nội dung hết sức quan trọng của bảo đảm quyền công tố
Thứ hai, để bảo đảm quyền công tố pháp luật cần quy định rõ thẩm
quyền, trách nhiệm của chủ thể thực thi quyền công tố, trách nhiệm của các cơquan, tổ chức có liên quan
Thứ ba, để VKS thực hiện quyền công tố có hiệu quả và các cơ quan, tổ
chức có liên quan có trách nhiệm nghiêm túc phối hợp thực hiện các yêu cầu,quyết định của VKS, cần quy định cụ thể, rõ ràng trình tự, thủ tục tổ chức thựchiện quyền công tố
Thứ tư, cần quy định và thực hiện các quy định về nguồn lực bảo đảm
quyền công tố Nội dung này đòi hỏi hệ thống pháp luật phải có quy định vềtrình độ, năng lực, đạo đức, tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ côngchức và quy định về chế độ tài chính, cơ sở vật chất mà Nhà nước xây dựng đểtạo điều kiện cho VKS thực hiện có hiệu quả quyền công tố
1.1.3 Đặc điểm bảo đảm quyền công tố trong giai đoạn điều tra, xét
xử sơ thẩm vụ án hình sự
Từ các khái niệm trên, có thể rút ra một số đặc điểm của bảo đảm quyềncông tố trong giai đoạn điều tra, xét xử như sau:
Một là, bảo đảm quyền công tố trong giai đoạn điều tra, xét xử là bảo
đảm một trong các quyền của Nhà nước Nhà nước uỷ quyền cho cơ quan cụthể thực hiện quyền này và Nhà nước tạo các điều kiện cần thiết để quyền công
tố được thực hiện, thực hiện có hiệu quả
Hai là, bảo đảm quyền công tố trong giai đoạn điều tra, xét xử sơ thẩm
là quá trình tổng hợp nhiều yếu tố như quy định pháp luật, nguồn nhân lực, cơ
Trang 23sở vật chất, cơ sở tinh thần để thực hiện quyền năng của Nhà nước trong giaiđoạn điều tra, xét xử vụ án hình sự Đây là các yếu tố mang tính chất quyếtđịnh việc quyền công tố có thực hiện được hay không trong thực tế, và cũng lànhững yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng của thực hiện quyền công tố.
Ba là, nội dung của bảo đảm quyền công tố trong điều tra, xét xử sơ
thẩm vụ án hình sự chính là bảo đảm quyền truy cứu trách nhiệm hình sự đốivới người thực hiện hành vi phạm tội trong giai đoạn điều tra, xét xử sơ thẩm
vụ án hình sự; Bảo đảm tổ chức và thực hiện quyền công tố trong giai đoạnđiều tra, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Bốn là, phương thức của bảo đảm quyền công tố trong giai đoạn điều
tra, xét xử được ghi nhận trong các văn bản pháp luật có hiệu lực pháp lý khácnhau từ đạo luật cao nhất là Hiến pháp, cho đến các bộ luật, luật và các văn bảndưới luật
Năm là, kết quả của bảo đảm quyền công tố trong giai đoạn điều tra, xét
xử là một trong những tiêu chuẩn dùng để đánh giá cơ chế hoạt động của hệthống tư pháp, chất lượng bảo vệ quyền con người, quyền công dân và phầnnào cũng đánh giá được chất lượng của hệ thống lập pháp, hành pháp và tưpháp của quốc gia
Trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung và trong giaiđoạn điều tra, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự nói riêng, hoạt động thực hànhquyền công tố của VKSND đóng vai trò đặc biệt quan trọng nhằm bảo đảmcho việc điều tra, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự được tiến hành khách quan,toàn diện, đầy đủ và đúng pháp luật; bảo đảm phát hiện kịp thời và xử lýnghiêm minh mọi hành vi phạm tội, người phạm tội, không bỏ lọt tội phạm,không làm oan người vô tội; bảo vệ các quyền cơ bản của công dân, tăngcường pháp chế xã hội chủ nghĩa.Như vậy, muốn cải cách tư pháp, xây dựngNhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN, nhà nước mà chế độ đề cao hiến
Trang 24pháp và pháp luật, bảo đảm hiến pháp và pháp luật được tôn trọng và tuân thủtuyệt đối, bảo đảm ngày một tốt hơn quyền con người, quyền công dân thì cầnphải bảo đảm quyền công tố.VKS thừa hành quyền lực từ Quốc hội, được giaoquyền công tố, là một trong những bộ phận hợp thành của hệ thống tư pháp.
Do vậy cần phải tăng cường, bảo đảm quyền công tố trong điều kiện xây dựngnhà nước pháp quyền, cải cách tư pháp Hoạt động thực hiện quyền công tốcủaVKS cần xác định là công cụ quan trọng để thực hiện có hiệu quả tư tưởng củanhà nước pháp quyền
1.1.4 Sự cần thiết phải bảo đảm quyền công tố trong giai đoạn điều tra, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
- Bảo đảm quyền công tố của VKSND trong giai đoạn điều tra, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự có vai trò quan trọng trong công cuộc cải cách tư
pháp, xây dựng nhà nước pháp quyền.
Như đã phân tích ở trên, quyền công tố là một khái niệm pháp lý gắnliền với bản chất của nhà nước, là một bộ phận cấu thành và không thể tách rờicủa công quyền Quyền công tố xuất hiện, tồn tại cùng với sự ra đời của nhànước và pháp luật; cho đến nay đã trở thành một chế định pháp lý độc lập đượcthừa nhận chung trong tố tụng hình sự của các Nhà nước pháp quyền XHCN
Nhà nước Việt Nam hiện nay đang xây dựng và hoàn thiện Nhà nướcpháp quyền Việt Nam XHCN của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân Xâydựng Nhà nước pháp quyền là yêu cầu tất yếu khách quan, là nội dung trọngyếu của thời kỳ đổi mới ở Việt Nam hiện nay, được ghi nhận tại Điều 2 Hiến
pháp năm 2013: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả
Trang 25quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức" [ 19]
Nhưng xây dựng pháp luật thì cần tăng cường hiệu quả thực thi phápluật, việc thực hiện pháp luật có vai trò hết sức quan trọng trong xây dựng nhànước pháp quyền Hệ thống pháp luật có thể rất đầy đủ hoàn thiện nhưng việcthực hiện không nghiêm thì không thể nói đến sự hiện diện của nhà nước phápquyền
Cùng với việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, Việt Namđang tiến hành đổi mới trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội “VKS các cấpthực hiện tốt chức năng công tố… Hoạt động công tố phải được thực hiện ngay
từ khi khởi tố vụ án và trong suốt quá trình tố tụng nhằm bảo đảm không bỏ lọttội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội, xử lý kịp thời nhữngtrường hợp sai phạm của những người tiến hành tố tụng khi thi hành nhiệmvụ”, “…tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra”, “…thựchiện cơ chế công tố gắn với hoạt động điều tra”[1, 2]là những nội dung quantrọng được đặt ra trong công cuộc cải cách tư pháp mà Việt Nam đang tiếnhành Điều này chứng tỏ rằng, việc bảo đảm quyền công tố là những nội dungquan trọng trong nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền ViệtNam XHCN Nhất là bảo đảm quyền công tố trong giai đoạn điều tra, xét xử sơthẩm vụ án hình sự- hai giai đoạn quan trọng trong việc chứng minh tội phạm
và thực hiện việc buộc tội đối với người phạm tội Vấn đề này luôn được Đảng
và Nhà nước ta quan tâm, mục tiêu của các chủ trương, chính sách, pháp luật
về cải cách tư pháp gần đây đều hướng đến kiện toàn, xây dựng và nâng caochất lượng hoạt động thực hành quyền công tố của VKS, cải cách đổi mới tổchức VKS để bảo đảm quyền công tố
Như vậy, trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung vàtrong giai đoạn điều tra, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, hoạt động thực hành
Trang 26quyền công tố của VKSND đóng vai trò đặc biệt quan trọng nhằm bảo đảmcho việc điều tra, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự được tiến hành khách quan,toàn diện, đầy đủ và đúng pháp luật; bảo đảm phát hiện kịp thời và xử lýnghiêm minh mọi hành vi phạm tội, người phạm tội, không bỏ lọt tội phạm,không làm oan người vô tội; bảo vệ các quyền cơ bản của công dân, tăngcường pháp chế xã hội chủ nghĩa.
- Bảo đảm quyền công tố của VKSND trong giai đoạn điều tra, xét xử
sơ thẩm các vụ án hình sự góp phần xử lý nghiêm minh tội phạm, giải quyết đúng đắn quá trình chứng minh vụ án hình sự,
Nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội, người phạm tội phải được pháthiện, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử kịp thời, nghiêm minh, đúng người, đúngtội, đúng pháp luật không làm oan người vô tội, không để lọt tội phạm vàngười phạm tội; Để không ai bị khởi tố, bị bắt tạm giữ, tạm giam, bị hạn chếquyền con người quyền công dân trái luật thì cần thiết phải bảo đảm quyềncông tố của VKSND trong giai đoạn điều tra, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.Đối với người phạm tội, thì dù họ là ai, nắm giữ chức vụ cương vị gì trong cơquan nhà nước tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế các tổ chức chính trị, tổ chức xãhội khác nếu có hành vi phạm tội đều phải truy cứu trách nhiệm hình sự, phải
bị xử lý theo pháp luật hình sự; bảo đảm không để một người nào, một côngdân nào bị xâm phạm tính mạng, sức khỏe, tài sản, quyền nhân thân Bởi vấn
đề cốt lõi ở đây, không phải để trừng trị người phạm tội thật nặng mà vấn đềquan trọng là có thiết chế để bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều được phát hiện
và xử lý nghiêm minh trước pháp luật Thực thi quyền công tố hiệu quả có ýnghĩa quan trọng, hạn chế bỏ lọt tội phạm, bảo đảm tính nghiêm minh của phápluật, bảo đảm sự pháp chế xã hội
Quá trình thực hiện quyền công tố, VKSND phải sử dụng tổng hợp cácquyền năng pháp lý được quy định để chứng minh tội phạm, thực hiện việc
Trang 27truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi phạm tội Cơ quan điềutra, người thực hiện hành vi phạm tội phải chấp hành nghiêm chỉnh các quyếtđịnh, yêu cầu của VKS Trong quá trình chứng minh tội phạm, VKS phảinghiên cứu kĩ càng, sử dụng tổng hợp các chứng cứ có thật, được thu thập theotrình tự tố tụng hình sự quy định để ra các quyết định phê chuẩn khởi tố bị can,phê chuẩn lệnh tạm giam bị can Nếu quá trình nghiên cứu xét thấy không đủ
cơ sở phê chuẩn VKS có thể ra quyết định không phê chuẩn các quyết địnhtrên Hoặc quá trình thực hành quyền công tố, phát hiện tội phạm chưa bị khởi
tố thì VKS có quyền yêu cầu khởi tố bị can hoặc tự mình ra quyết định khởi tố
bị can
VKS là một hệ thống cơ quan trong cơ cấu quyền lực nhà nước, hoạtđộng thực hiện quyền công tố của VKS là hoạt động thực hiện quyền lực nhànước độc lập Chủ trương của Đảng là xây dựng một nền công tố mạnh, tăngcường trách nhiệm của VKS trong hoạt động điều tra theo đó VKS phải cótrách nhiệm cao hơn, chủ động hơn trong quá trình chứng minh tội phạm, theosát, gắn chặt với hoạt động điều tra nhằm bảo vệ tốt hơn các khách thể luậthình sự bảo vệ trong đó có quyền lợi ích hợp pháp của công dân
-Bảo đảm quyền công tố góp phần giữ vững an ninh trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, có điều kiện phát triển toàn diện.
Với chức năng thực hành quyền công tố, VKSND có trách nhiệm trongviệc bảo vệ pháp luật, quyền con người, quyền công dân, xử lý kịp thời các viphạm pháp luật, đặc biệt là các vi phạm pháp luật hình sự
VKSND thực hiện tốt quyền công tố, bảo đảm quyền công tố được thựcthi là góp phần thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới đất nước góp phần đấutranh phòng ngừa tội phạm, duy trì trật tự an toàn xã hội
Trang 28Xuất phát từ tính chất và tầm quan trọng của quyền công tố và mối quan
hệ phối hợp cùng cấp giữa các cơ quan điều tra, xét xử và quan hệ với cấp ủyđảng, chính quyền có thể nói VKSND là hệ thống cơ quan có vị trí hết sứcquan trọng thể hiện được vai trò to lớn trong đấu tranh phòng chống tội phạm,thực hiện quyền lực nhà nước nói riêng và đối với sự phát triển của đất nướcnói chung Như đã phân tích ở trên, tuy có vị trí độc lập nhưng không có nghĩa
là VKSND các cấp trong hoạt động thực hành quyền công tố hoàn toàn thoát lyvới hoạt động của các cơ quan nhà nước khác mà phải đảm bảo vai trò lãnhđạo của cấp uỷ Đảng cùng cấp nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị tại địaphương Nguyên tắc Đảng lãnh đạo đối với Nhà nước và xã hội là nguyên tắc
cơ bản được quy định trong Hiến pháp của Nhà nước ta; nhờ có sự lãnh đạosáng suốt của Đảng, hoạt động của VKS luôn có phương hướng đúng, đã phục
vụ tích cực nhiệm vụ chính trị trong từng giai đoạn cách mạng Các cấp ủyĐảng đã quan tâm lãnh đạo, kiểm tra và tạo điều kiện cho VKS các cấp thựchiện quyền công tố Các VKS đã chủ động tham mưu cho cấp ủy Đảng nhữngvấn đề về pháp chế và đã có tác dụng tích cực Bên cạnh đó, pháp luật của Nhànước ta thể chế hoá chủ trương, chính sách của Đảng; trong khi đó ngànhKSND thực thi quyền công tố nhằm bảo đảm việc chấp hành pháp luậtnghiêmchỉnh Do vậy, VKSND ở địa phương phải quán triệt, vận dụng nhuần nhuyễncác chủ trương, nghị quyết của Đảng về phát triển kinh tế, xã hội; bảo đảm anninh, trật tự an toàn xã hội vào công tác chuyên môn của mình; đồng thời tíchcực tham mưu, đề xuất với cấp uỷ Đảng về những giải pháp nâng cao chấtlượng, hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống vi phạm và tội phạm; qua đógóp phần quan trọng giữ vững lòng tin của nhân dân vào công lý, vào chế độ,giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội nhằm phục vụ có hiệu quả cácnhiệm vụ chính trị của đất nước cũng như nhiệm vụ chính trị của địa phương
Trang 29VKSND đã góp phần chấn chỉnh công tác bắt, giam, khởi tố vụ án, khởi
tố bị can, khắc phục hiệu quả tình hình oan, sai, bỏ lọt trong xử lý án hình sự
Góp phần làm cho pháp luật được thực thi nghiêm chỉnh, thống nhất,bảo vệ tốt nhất quyền con người trong tố tụng hình sự, bảo đảm pháp chế xãhội chủ nghĩa, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dânchủ, văn minh
1.2 Các văn bản, quy định pháp luật về quyền công tố trong giai đoạn điều tra, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Để bảo đảm thực hiện quyền công tố trong thực tế phòng, chống tộiphạm thì Nhà nước ban hành các văn bản pháp luật, trong đó quy định cácquyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố, chủ thể thực hiện quyềncông tố, bảo đảm thực hiện quyền công tố Các quyền năng đó, Nhà nước giaocho VKS thực hiện để phát hiện tội phạm và truy cứu trách nhiệm hình sự đốivới người phạm tội Điều này được thể hiện rõ trong các văn bản pháp luật vàcác văn bản dưới luật
1.2.1 Quy định về quyền công tố ở các bản Hiến pháp của nhà nước Việt Nam qua các thời kỳ
- Hiến pháp năm 1946 và Hiến pháp năm 1959 của nước ta chưa trựctiếp đề cập đến công tố và hoạt động công tố Nhưng được quy định ở các sắclệnh số 33/SL ngày 13/9/1945, sắc lệnh số 13/SL ngày 24/01/1946, sắc lệnh số131/SL ngày 20/7/1947, Sắc lệnh số 19/SL ngày 16/02/1947 Trong đó, sắclệnh 33/SL ngày 13/9/1945 là văn bản pháp lý đầu tiên quy định về tổ chức vàhoạt động của Cơ quan Công tố của Nhà nước ta Văn bản này đã ban hành vềviệc thiết lập các Tòa án quân sự, nội dung của quyền công tố theo quy địnhcủa Sắc lệnh này là đưa một người phạm tội ra xét xử tại Tòa án và các ủy viênQuân sự (công tố ủy viên) thay mặt Nhà nước buộc tội các bị cáo Về
Trang 30chức năng công tố, tại Điều V Sắc lệnh 33 quy định rõ “Đứng buộc tội là một
Uỷ viên quân sự hay một Ủy viên của Ban Trinh sát” Đây là, lần đầu tiên chứcnăng công tố nhà nước được quy định bằng một văn bản pháp lý do ngườiđứng đầu Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ban hành Tòa án Quân sự làTòa án đầu tiên có sự hiện diện của tổ chức Công tố và quyền công tố
Có thể nói, ngay từ khi được thành lập, Nhà nước ta đã sử dụng bộ máycông tố làm công cụ bảo vệ và phục vụ sự nghiệp cách mạng của nhân dân.Sắc lệnh số 13/SL ngày 24/01/1946 thiết lập Tòa án thường có quy định “Tòa
đệ nhị gồm có: một Chánh án, một Biện lý, một Dự thẩm” (Điều 15); “Tạiphiên tòa, Chánh án ngồi xử, Biện lý ngồi ghế công tố viện” (Điều 16); “ôngChưởng lý hoàn toàn giữ quyền truy tố và hành động” (Điều 51) Sắc lệnh số51/SL ngày 17/4/1946 xác định rõ vị trí của công tố, quy định cụ thể nhiệm vụcủa Chưởng lý và biện lý “Ông Biện lý bắt buộc phái có mặt tại các phiên tòahình”; “Khi cuộc thẩm vấn tại các phiên tòa xong rồi, ông Biện lý thay mặt xãhội buộc tội bị can” (Điều 26) “Về việc hình khi án đã tuyên rồi, ông Biện lýcũng như những người đương sự có quyền kháng cáo” (Điều 28)
Một số sắc lệnh khác như Sắc lệnh 131/SL ngày 20/7/1947, Sắc lệnh số19/SL ngày 16/02/1947 cũng có quy định về quyền công tố Theo các sắc lệnhnêu trên thì hệ thống Tòa án nhân dân được thành lập ở 3 cấp: Tòa sơ thẩm, ởcấp quận, huyện; Tòa đệ nhị cấp ở cấp tỉnh và thành phố; Tòa thượng thẩm ở 3khu vực: Bắc bộ, Trung bộ, Nam bộ Bộ Tư pháp là cơ quan Trung ương quản
lý Tòa án các cấp Ngạch thẩm phán chia làm 2 loại: Thẩm phán xét xử vàThẩm phán buộc tội (Thẩm phán buộc tội gọi là Công tố ủy viên) Hệ thốngcông tố ở Tòa thượng thẩm và Tòa đệ nhị cấp do một viên Chưởng lý đứngđầu Các công tố viên có nhiệm vụ: Tư pháp cảnh sát (điều tra), thực hànhquyền công tố, Cảnh sát điều tra Mặc dù còn nằm trong Tòa án, nhưng
Trang 31công tố viên thực hiện nhiệm vụ một cách độc lập và chịu sự lãnh đạo thốngnhất của viên Chưởng lý Ngoài nhiệm vụ đại diện cho công quyền; thực hiệnquyền công tố trước tòa, các cấp ủy viên công tố còn có quyền giám sát hoạtđộng điều tra của tư pháp công an (nay là cơ quan điều tra).
Ngoài ra còn có những văn bản dưới luật khác quy định về quyền công
tố ở những thời kỳ đầu như Nghị định số 256-TTg, ngày 01/7/1959, do Thủtướng Chính phủ ban hành qui định về tổ chức và nhiệm vụ của Viện công tốlà: “Giám sát việc tuân thủ và chấp hành pháp luật của Nhà nước, truy tố theopháp luật hình sự những kẻ phạm pháp để bảo vệ chế độ dân chủ nhân dân, giữgìn trật tự an ninh, bảo vệ quyền và lợi ích của công dân, đảm bảo công cuộckiến thiết và cải tạo xã hội chủ nghĩa” Trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự,Viện công tố có nhiệm vụ: “Điều tra và truy tố trước Toà án những kẻ phạmpháp về hình sự”.[30]
Ngày 18/12/ 1980, Quốc hội nước Cộng hoà XHCN Việt Nam khoá VI,
kỳ họp thứ 7 thông qua Hiến pháp năm 1980 khẳng định vị trí, vai trò quantrọng của VKSND trong tổ chức bộ máy nhà nước, bảo đảm pháp chế Có thểthấy, các quy định về quyền công tố và thực hành quyền công tố đã được nânglên một bước rõ rệt trong Hiến pháp năm 1980.Điều 138 lần đầu tiên qui định
về việc chuyển giao quyền công tố cho VKSND
Điều 138 Hiến pháp năm 1980 quy định: “VKSND tối cao nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các Bộ, các cơ quan khác thuộc Hội đồng Bộ trưởng, các cơ quan chính quyền địa phương, tổ chức xã hội và đơn vị vũ trang nhân dân, các nhân viên Nhà nước
và công dân, thực hành quyền công tố, bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.
Các VKSND địa phương, các VKS Quân sự kiểm sát việc tuân theo pháp luật, thực hành quyền công tố trong phạm vi trách nhiệm của mình”.
Trang 32Các Điều từ 139 đến 141 Hiến pháp năm 1980 quy định cơ bản về tổchức và hoạt động của VKS: Nhiệm kỳ của Viện trưởng VKSND tối cao theonhiệm kỳ của Quốc hội ( Điều 139) VKSND do Viện trưởng lãnh đạo Việntrưởng VKSND cấp dưới chịu sự lãnh đạo của Viện trưởng VKSND cấp trên;Viện trưởng VKSND các địa phương chịu sự lãnh đạo thống nhất của Việntrưởng VKSND tối cao Viện trưởng, các Phó Viện trưởng và Kiểm sát viênVKSND địa phương do Viện trưởng VKSND tối cao bổ nhiệm và bãi miễn( Điều 140) Viện trưởng VKSND tối cao chịu trách nhiệm và báo cáo công táctrước Quốc hội; trong thời gian Quốc hội không họp thì chịu trách nhiệm vàbáo cáo công tác trước Hội đồng Nhà nước (Điều 141).
Ngày 15/4/1992, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Namkhoá VIII, kỳ họp thứ 11 thông qua Hiến pháp năm 1992 Điều 137 Hiến phápnăm 1992 quy định cụ thể về quyền công tố của VKSND trong TTHS:
“VKSND tối cao kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các Bộ, các cơ quanngang Bộ, các cơ quan khác thuộc Chính phủ, các cơ quan chính quyền địaphương, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân,thực hành quyền công tố, bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh
và thống nhất Các VKSND địa phương, các Viện kiểm sát quân sự kiểm sátviệc tuân theo pháp luật, thực hành quyền công tố trong phạm vi trách nhiệm
do luật định”
Hiến pháp năm 2013 được Quốc hội Khoá XIII thông qua ngày28/11/2013 trên cơ sở kế thừa những thành tựu lập hiến của các bản Hiến pháptrước đây, đồng thời, tiếp thu những tư tưởng mới về Nhà nước pháp quyền,đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế, là cơ sở cho công cuộc đổi mới toàn diệncủa đất nước ta Đặc biệt, Hiến pháp năm 2013 tiếp tục ghi nhận chức năngthực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp của VKSND các cấp,ghi nhận nguyên tắc tranh tụng , tạo cơ sở cho công cuộc cải cách toàn
Trang 33diện hoạt động tố tụng ở nước ta Hiến pháp năm 2013 là dấu mốc chính trị,pháp lý quan trọng, là cơ sở pháp lý của quá trình cải cách hành chính cũngnhư cải cách tư pháp Bên cạnh việc tiếp tục khẳng định chức năng củaVKSND là thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, Hiến phápnăm 2013 đã có những sửa đổi, bổ sung làm rõ hơn nhiệm vụ và nguyên tắchoạt động của VKS khi hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp; sửađổi quy định về hệ thống tổ chức của VKS phù hợp với chủ trương cải cách tưpháp.[19]
Khoản 1 Điều 107 Hiến pháp 2013 khẳng định: “VKSND thực hànhquyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp,góp phần bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thốngnhất…”
Trong Hiến pháp năm 2013, chức năng thực hành quyền công tố củaVKS đã được đặt lên trước chức năng kiểm sát tư pháp so với các Hiến pháptrước đây và đặc biệt là chức năng công tố ngày càng được đề cao hơn
Có thể nói, từ bản Hiến pháp năm 1980 đến nay, đã quy định quyềncông tố là quyền năng hiến định, quy định về bảo đảm quyền công tố trong giaiđoạn điều tra, xét xử vụ án hình sự
1.2.2 Quy định về quyền công tố trong Bộ luật Tố tụng hình sự
BLTTHS đầu tiên của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đượcQuốc hội thông qua ngày 28/6/1988 đã quy định trình tự, thủ tục khởi tố, điềutra, truy tố,xét xử và thi hành án hình sự; chức năng, nhiệm vụ và quyền hạncủa các cơquan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tốtụng, bêncạnh đó có quy định về hoạt động kiểm sát khởi tố của VKS với mụcđích là nhằm xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tộiphạm và không làm oan người vô tội Điều 23 BLTTHS năm 1988 quy định:
"VKS có nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật tố tụng hình sự,
Trang 34thực hành quyền công tố bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh
và thống nhất Trong các giai đoạn của tố tụng hình sự, VKS có trách nhiệm
áp dụng những biện pháp do Bộ luật này quy định để loại trừ việc vi phạm pháp luật của bất kỳ cá nhân hoặc tổ chức nào"
Khoản 1 Điều 141 qui định “VKSND kiểm sát việc tuân theo pháp luật, thực hành quyền công tố, bảo đảm việc điều tra được khách quan, toàn diện và đầy đủ”; khoản 2 quy định 4 nhiệm vụ (cơ bản như Điều 9 Luật Tổ chức
VKSND năm 1981), khoản 3 qui định 7 quyền (6 quyền như Điều 10 Luật Tổchức VKSND năm 1981, nhấn mạnh quyền “tự mình khởi tố” và bổ sungquyền yêu cầu Thủ trưởng cơ quan điều tra thay đổi Điều tra viên vi phạmpháp luật trong khi tiến hành điều tra), đây là sự tiến bộ trong lập pháp, là bắtđầu sự phát triển tạo nền tảng pháp lý cho thực hành quyền công tố của VKS
Nhằm khắc phục những hạn chế, vướng mắc trong thực hiện BLTTHSnăm 1988, ngày 30/6/1990 Quốc hội thông qua BLTTHS sửa đổi, bổ sung Bộluật này bổ sung quyền “khởi tố bị can” (điểm a, khoản 1, Điều 141); thay đổithẩm quyền gia hạn thời hạn kiểm sát của VKS cấp trên bằng VKS trực tiếpgiải quyết án (khoản 1 Điều 142) và bổ sung quyền quyết định áp dụng biệnpháp ngăn chặn, quyền gia hạn tạm giam sau khi nhận hồ sơ kết thúc điều tracủa VKS (khoản 2 điều 142) Như vậy,VKS phải nghiên cứu kĩ căn cứ khởi tố
bị can để ra quyết định khởi tố bị can bảo đảm có căn cứ
Tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XI đã tiến hành thảo luận và thông quaBLTTHS năm 2003, thể hiện những tư tưởng mới về cải cách tư pháp hình sự,trong đó có nhiều điểm mới về hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sátcác hoạt động tư pháp của VKSND Điều 23 BLTTHS năm 2003 quy định:
"VKS kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự, có trách nhiệm phát hiện kịp thời vi phạm pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng, áp dụng những biện pháp do Bộ luật này quy định để loại trừ việc vi
Trang 35phạm pháp luật của những cơ quan hoặc cá nhân này VKS thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phải được xử lý kịp thời; việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội".
Bên cạnh đó, BLTTHS năm 2003 còn có nhiều quy định mới liên quanđến hoạt động thực hành quyền công tố như: VKS không trực tiếp giải quyếttin báo, tố giác tội phạm mà tập trung vào Cơ quan điều tra và các cơ quankhác được giao nhiệm vụ thực hiện một số hoạt động điều tra, việc khởi tố bịcan phải có sự phê chuẩn của VKS Để bảo đảm VKS tổ chức thực hiện tốtquyền công tố, BLTTHS năm 2003 đã quy định cụ thể về nhiệm vụ quyền hạncủa VKS khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự tạiĐiều 112 và trách nhiệm của Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao nhiệm vụtiến hành một số hoạt động điều tra, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhântrong việc thực hiện yêu cầu, quyết định của VKS tại các Điều 114, 115.[25]Tuy nhiên, BLTTHS năm 2003chưa có quy định cụ thể về nhiệm vụ quyềnhạn của VKS khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ
án hình sự
Ngày 27 tháng 11 năm 2015, Quốc hội thông qua BLTTHS mới vớinhiều thay đổi quan trọng gắn liền với chức năng thực hành quyền công tố củaVKS như: Chức năng thực hành quyền công tố được quy định sớm hơn, từ khigiải quyết tố giác, tin báo về tội phạm mà không phải từ khi khởi tố vụ án;Trong giai đoạn điều tra, VKS có quyền ra quyết định khởi tố bị can nếu pháthiện có người đã thực hiện hành vi mà BLHS quy định là tội phạm nhưng chưa
bị khởi tố và đã yêu cầu nhưng Cơ quan điều tra không thực hiện; Điều chỉnhhợp lý thời hạn VKS xét phê chuẩn các quyết định tố tụng; Bổ sung nguyên tắctranh tụng tại phiên tòa hình sự; Phân định rõ thẩm quyền
Trang 36quản lý hành chính tư pháp; mở rộng quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm sátviên [26] Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để xây dựng, kiện toàn tổ chức vàhoạt động của VKS các cấp trong quá trình cải cách tư pháp, xây dựng hệthống văn bản pháp luật liên quan.
Điều 20 BLTTHS năm 2015 quy định như sau:“VKS thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự, quyết định việc buộc tội, phát hiện vi phạm pháp luật nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội, người phạm tội, pháp nhân phạm tội, vi phạm pháp luật đều phải được phát hiện và xử lý kịp thời, nghiêm minh, việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, pháp nhân phạm tội, không làm oan người vô tội”.
Để bảo đảm VKS tổ chức thực hiện tốt quyền công tố, BLTTHS năm
2015 đã quy định cụ thể hơn về nhiệm vụ quyền hạn của VKS khi thực hànhquyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự tại Điều 165 và tráchnhiệm của Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một sốhoạt động điều tra, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc thựchiện yêu cầu, quyết định của VKS tại các Điều 167, 168 Theo đó, Cơ quanđiều tra, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, cơquan, tổ chức,cá nhân phải nghiêm chỉnh thực hiện các yêu cầu, quyết định củaVKS Và đặc biệt BLTTHS năm 2015 đã quy định một cách cụ thể về nhiệm
vụ quyền hạn của VKS khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơthẩm vụ án hình sự tại khoản 1 Điều 266 bảo đảm cho VKS tổ chức thực hiệntốt quyền công tố
Trang 371.2.3 Quy định về quyền công tố trong Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân
Ngày 26/7/1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Lệnh công bố Luật tổchức VKSND đầu tiên với 6 chương và 25 điều Luật này đã qui định và kháiquát những nhiệm vụ, quyền hạn cơ bản của VKS khi thực hành quyền công tốtại Điều 13: “Điều tra những việc phạm pháp về hình sự và truy tố trước Toà
án nhân dân những người phạm pháp về hình sự; kiểm sát việc tuân theo phápluật trong việc điều tra của cơ quan Công an và của cơ quan điều tra khác”.[21]
Luật Tổ chức VKSND năm 1981 được ban hành thay thế Luật Tổ chứcVKSND năm 1960 là thể hiện sự quan tâm thường xuyên của Đảng và Nhànước ta đối với công tác thực hành quyền công tố Nhà nước Luật tổ chức Việnkiểm sát nhân dân năm 1981 đã quy định cụ thể chức năng thực hành quyềncông tố, kiểm sát khởi tố tại chương II Tuy nhiên trong giai đoạn này chưa cómột văn bản quy phạm pháp luật nào quy định một cách chặt chẽ, cụ thể vềtrình tự thủ tục hoạt động thực hành quyền công tố, từ đó dẫn đến việc gặpnhiều khó khăn trong công tác đấu tranh phòng và chống tội phạm.[20]
Trong Điều 1, Luật Tổ chức VKSND năm 1981 có quy định: “VKSND tối cao, các VKSND địa phương, các VKS quân sự trong phạm vi quyền hạn của mình thực hiện quyền công tố Quyền công tố là quyền của Nhà nước giao cho VKS truy tố kẻ phạm tội ra trước Tòa án Hiện nay chưa có quy định về thủ tục tư tố Trong một số tội phạm nhất định như tội phạm vu khống, làm nhục và một số tội phạm khác, việc tiến hành các vụ án đó theo thủ tục tư tố”.
Tiếp đó, Luật Tổ chức VKSND (sửa đổi) năm 1988 ban hành, qui địnhtại Điều 9 về công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ ánhình sự thực hiện theo quy định tại Điều 141, Điều 142 BLTTHS năm 1988
Trang 38Đến Luật Tổ chức VKSND năm 1992 thì tại Điều 1, Điều 3, Điều 15,Điều 16 đã quy định một cách cụ thể về quyền công tố của VKSND trongTTHS Đây là một sự hoàn thiện có tính hệ thống về mặt lập pháp Lần đầutiên, quyền công tố được nhắc đến ở rất nhiều điều luật và quyền công tố đượcxác định như là một quyền năng được quy định trong chương 4.
Thể chế hoá các quan điểm của Đảng về cải cách tư pháp, cụ thể hoá cácquy định của Hiến pháp năm 1992; sửa đổi, bổ sung năm 2001, Quốc hội đãthông qua Luật tổ chức VKSND năm 2002 Theo quy định tại Điều 3 Luật tổchức VKSND năm 2002, VKSND thực hiện chức năng, nhiệm vụ bằng 6 côngtác sau:
“1 Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra các vụ án hình sự của các cơ quan điều tra và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra;
2 Điều tra một số loại tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ thuộc các cơ quan tư pháp;
3 Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xét xử các vụ án hình sự;
4 Kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, hành chính, kinh tế, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật;
5 Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc thi hành bản án, quyết định của Toà án nhân dân;
6 Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc tạm giữ, tạm giam, quản
lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù”.
So với các Luật tổ chức VKSND năm 1960, 1981 và 1992, Luật tổ chứcVKSND năm 2002 đã có sự điều chỉnh đáng kể chức năng của VKS Kể từđây, VKS không thực hiện công tác kiểm sát chung mà tập trung làm tốt
Trang 39chức năng công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp Lần đầu tiên, Luật đãphân định rõ phạm vi, nội dung của chức năng thực hành quyền công tố vàchức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp (các Điều 13, 14, 17 và 18) Có thểnói, đây là bước thay đổi lớn nhất về chức năng, nhiệm vụ của VKS kể từ ngàythành lập VKSND.[24]
Sau khi Quốc hội khóa XIII thông qua Hiến pháp năm 2013, VKSND tối
cao đã trình Quốc hội thông qua Luật tổ chức VKSND năm 2014 (Luật 63/2014/QH13 ngày 24/11/2014) Tại Điều 3 Luật tổ chức VKSND năm 2014
đã đưa ra khái niệm thực hành quyền công tố Đây là lần đầu tiên khái niệmthực hành quyền công tố được ghi nhận trong một văn bản pháp lý chính thức
và là cơ sở định hướng để các nhà khoa học tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về vấn
đề quyền công tố và tổ chức thực hiện quyền công tố dưới góc độ khoa họcpháp lý.[27]
Ngoài ra, tại các Điều 12, 14, 16, 18 của Luật cũng quy định cụ thể nộidung, nhiệm vụ hoạt động thực hành quyền công tố trong các giai đoạn tố tụngkhác nhau
Về chức năng thực hành quyền công tố, khoản 1 Điều 3 Luật tổ chức
VKSND năm 2014 đã quy định cụ thể: “Thực hành quyền công tố là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự”.
Và Điều 3 Luật tổ chức VKSND năm 2014 đã quy địnhVKSND thựchiện chức năng, nhiệm vụ bằng các công tác sau:
- Yêu cầu khởi tố, hủy bỏ quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ ántrái pháp luật, phê chuẩn, không phê chuẩn quyết định khởi tố bị can của Cơquan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều
Trang 40tra; trực tiếp khởi tố vụ án, khởi tố bị can trong những trường hợp do Bộ luật tốtụng hình sự quy định.
- Quyết định, phê chuẩn việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháphạn chế quyền con người, quyền công dân trong việc giải quyết tố giác, tin báo
về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong việc khởi tố, điều tra, truy tố theoquy định của Bộ luật tố tụng hình sự
- Hủy bỏ các quyết định tố tụng trái pháp luật khác trong việc giải quyết
tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong việc khởi tố,
điều tra của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra
- Khi cần thiết đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thực hiện
- Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan cung cấp tài liệu để làm
rõ tội phạm, người phạm tội
- Trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; tiếnhành một số hoạt động điều tra để làm rõ căn cứ quyết định việc buộc tội
đối với người phạm tội
- Điều tra các tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp, các tội phạm vềtham nhũng, chức vụ xảy ra trong hoạt động tư pháp theo quy định của luật
- Quyết định việc áp dụng thủ tục rút gọn trong giai đoạn điều tra, truy tố
- Quyết định việc truy tố, buộc tội bị cáo tại phiên tòa
- Kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án trong trường hợp Viện kiểm sát nhân dân phát hiện oan, sai, bỏ lọt tội phạm, người phạm tội
Luật tổ chức VKSND năm 2014 cũng đã quy định cụ thể hơn về bảođảm hoạt động của VKSND với các Điều luật từ 93 đến 99 quy định về tổngbiên chế, số lượng, cơ cấu tỷ lệ ngạch Kiểm sát viên, Điều tra viên củaVKSND; về kinh phí và cơ sở vật chất; về chế độ tiền lương, phụ cấp; Ngoài