Phương pháp luận: Để thực hiện được những mục tiêu và nhiệm vụ nêu trên, luận văn sử dụng phương pháp luận là phép luận chứng duy vật của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; qu
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
…………/………… ……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
LÊ THỊ PHƯƠNG NHUNG
BẢO ĐẢM QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA, XÉT XỬ
SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ - TỪ THỰC TIỄN VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
…………/………… ……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
LÊ THỊ PHƯƠNG NHUNG
BẢO ĐẢM QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA, XÉT XỬ
SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ - TỪ THỰC TIỄN VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu được trích dẫn theo nguồn đã công bố Kết quả nêu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Thừa Thiên Huế, ngày tháng năm 2021
Học viên
Lê Thị Phương Nhung
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được luận văn với đề tài “Bảo đảm quyền công tố
trong giai đoạn điều tra, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự - từ thực tiễn Viện
kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình” Bên cạnh sự nỗ lực của bản thân, tôi
luôn nhận được sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô, đồng nghiệp và bạn bè Tôi xin gửi lời cảm ơn đến TS Huỳnh Quý – người đã tận tình hướng dẫn tôi nghiên cứu đề tài này, giúp đỡ tôi cũng như đã cung cấp cho tôi những kiến thức sâu rộng để tôi có nền tảng nghiên cứu đề tài Bên cạnh đó tôi xin gửi lời cảm ơn đến Ban Giám hiệu Nhà trường, tất cả các thầy cô trong Học viện Hành chính quốc gia, Phân viện Học viện Hành chính quốc giatại Huế và gia đình đã hết sức giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu đề tài
Trong quá trình thực hiện luận văn, mặc dù đã cố gắng hoàn thiện đề tài qua tham khảo tài liệu, trao đổi và tiếp thu ý kiến đóng góp nhưng chắc chắn không tránh khỏi những tồn tại Vì vậy tôi rất mong muốn và chân thành cảm
ơn các ý kiến đóng góp của Quý Thầy, Cô
Trân trọng cảm ơn!
Học viên
Lê Thị Phương Nhung
Trang 5MỤC LỤC Trang bìa
Lời cam đoan
1.1.Nhận thức chung về mặt lý luận bảo đảm quyền công tố trong giai đoạn điều điều
tra, xét xử vụ án hình sự của cơ quan Viện kiểm sát 9
1.1.1 Khái niệm bảo đảm quyền công tố trong giai đoạn điều tra, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 9 1.1.2 Nội dung bảo đảm quyền công tố trong giai đoạn điều tra, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 15 1.1.3 Đặc điểm bảo đảm quyền công tố trong giai đoạn điều tra, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 15 1.1.4 Sự cần thiết phải bảo đảm quyền công tố trong giai đoạn điều tra, xét
xử sơ thẩm vụ án hình sự 17 1.2 Các văn bản, quy định pháp luật về quyền công tố trong giai đoạn điều tra, xét xử
sơ thẩm vụ án hình sự 22
1.2.1 Quy định về quyền công tố ở các bản Hiến pháp của nhà nước Việt Nam qua các thời kỳ 22 1.2.2 Quy định về quyền công tố trong Bộ luật Tố tụng hình sự 26 1.2.3 Quy định về quyền công tố trong Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân30 1.2.4 Quy định về quyền công tố trong các văn bản pháp luật khác 34
Trang 61.3 Những điều kiện bảo đảm quyền công tố trong giai đoạn điều tra, xét xử sơ thẩm
vụ án hình sự 36
1.3.1 Những quy định hiện hành trong các văn bản Luật và dưới Luật 36 1.3.2 Mối quan hệ của các cơ quan trong thực hiện quyền công tố (Cơ quan điều tra, Tòa án, Mặt trận tổ quốc, Ban nội chính, tổ chức chính trị, tổ chức xã hội, các đoàn thể quần chúng ) 37 1.3.3 Sự giám sát, kiểm tra của các cơ quan có thẩm quyền 39 1.3.4 Nguồn nhân lực và cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động quyền công tố hiện nay 41
Chương 2 THỰC TRẠNG BẢO ĐẢM QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA, XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ TẠI VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH 44
2.1.Thực trạng tổ chức thực hiện quyền công tố trong giai đoạn điều tra, xét xử sơ thẩm
vụ án hình sự tại Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình từ năm 2016 -2020 44
2.1.1 Thực trạng tổ chức thực hiện quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình
sự tại Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình từ năm 2016 -2020 44
2.1.2 Thực trạng tổ chức thực hiện quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ
án hình sự tại Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình từ năm 2016 -2020 51
2.2 Thực trạng các điều kiện bảo đảm quyền công tố tại Viện kiểm sát
nhân dân tỉnh Quảng Bình 57 2.2.1 Về cơ cấu, tổ chức, bộ máy Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình 57
2.2.2 Nguồn nhân lực và cơ sở vật chất của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình 59 2.2.3 Các văn bản chỉ đạo ngành Kiểm sát, Tỉnh ủy và Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Bình về công tác giám sát hiện nay liên quan đến công tác thực hành quyền công tố trong điều tra, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 62 2.2.4 Về sự phối hợp, giám sát, kiểm tra của các cơ quan có thẩm quyền trong việc bảo đảm quyền công tố 66
Trang 72.3 Đánh giá kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân 69
2.4.1 Kết quả đạt được 69
2.4.2 Hạn chế và nguyên nhân 71
Chương 3 GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN ĐIÊU TRA, XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ TẠI VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH 83
3.1 Giải pháp chung bảo đảm quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân trong giai đoạn điều tra, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 83
3.1.1 Giải pháp về hoàn thiện quy định pháp luật tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho hoạt động công tố của VKS trong giai đoạn điều tra, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 83
3.1.2 Giải pháp về nguồn nhân lực 87
3.1.3 Giải pháp về tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng và quan hệ phối hợp trong giai đoạn điều tra, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 95
3.2 Giải pháp cụ thể bảo đảm quyền công tố trong giai đoạn điều tra, xét xử sơ thẩm tại Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình 100
3.2.1 Giải pháp về đội ngũ thực thi quyền công tố 100
3.2.2 Bảo đảm cơ sở vật chất, kinh phí, phương tiện, kỹ thuật để tổ chức thực hiện quyền công tố trong giai đoạn điều tra, xét xử sơ thẩm tại Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình 102
3.2.3 Tăng cường công tác quản lý, chỉ đạo điều hành đối với các vấn đề liên quan đến việc thực hiện chức năng thực hành quyền công tố 104
3.2.4 Đổi mới sự giám sát của Hội đồng nhân dân địa phương 106
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 108
KẾT LUẬN 109 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 8DANH MỤC VIẾT TẮT
Trang 9DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Thống kê tình hình tội phạm tại tỉnh Quảng Bìnhtrong 5 năm
2016-2020 46Bảng 2.2: Kết quả hoạt động công tố trong giai đoạn điều tra (từ năm 2016 đến năm 2020) 48Bảng 2.3: Kết quả tổ chức thực hiện quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm 5 năm (2016-2020) 52
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Quyền công tố là một dạng quyền lực nhà nước trong lĩnh vực tư pháp,
là một chế định Hiến pháp quan trọng của Nhà nước ta Đây là một trong những biện pháp hữu hiệu của Nhà nước dùng để đấu tranh phòng, chống tội phạm, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, đồng thời thể hiện quan điểm đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội, người phạm tội phải được phát hiện, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử kịp thời, nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không làm oan người vô tội, không để lọt tội phạm
và người phạm tội,
Cải cách tư pháp là nhiệm vụ quan trọng trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, được Đảng và Nhà nước quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo Ngày 02/1/2002, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 08-NQ/TW về “Một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới”, trong đó đã nêu rõ quan điểm chỉ đạo và các nhiệm
vụ trọng tâm công tác tư pháp Tiếp đó, ngày 02/6/2005, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 49-NQ/TW về “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020”, trong đó xác định rõ mục tiêu, quan điểm, phương hướng, nhiệm vụ cải cách tư pháp Để thể hiện đầy đủ hơn ý nghĩa chính trị và quyết tâm mạnh
mẽ của Đảng và Nhà nước ta về thực hiện chủ trương và triển khai thực hiện các nhiệm vụ cải cách tư pháp, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ
X của Đảng tiếp tục nhấn mạnh “Xây dựng hệ thống cơ quan tư pháp trong sạch vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, quyền con người Đẩy mạnh việc thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp đên năm 2020 Cải cách
tư pháp khẩn trương, đồng bộ; lấy cải cách hoạt động xét xử làm trọng tâm; thực hiện cơ chế công tố gắn với hoạt động điều tra” Đặc biệt, Nghị quyết
Trang 11Đại hội Đảng lần thứ XI đã một lần nữa khẳng định chủ trương “Đẩy mạnh việc thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, xây dựng hệ thống
tư pháp trong sạch, vững mạnh, bảo vệ công lý, tôn trọng và bảo vệ quyền con người…Viện kiểm sát được tổ chức phù hợp với hệ thống tổ chức Tòa án, bảo đảm tốt hơn các điều kiện để Viện kiểm sát nhân dân thực hiện hiệu quả chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp; tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra”
Có thể nói bảo đảm và tăng cường trách nhiệm công tố là một chủ trương nhất quán của Đảng và Nhà nước ta từ khi thành lập ngành Kiểm sát nhân dân và được Đảng ta đặc biệt nhấn mạnh trong giai đoạn hiện nay Các nghị quyết của Đảng về cải cách tư pháp như Nghị quyết 08- NQ/TW, Nghị quyết 49- NQ/TW và Văn kiện Đại hội lần thứ XI nêu trên đã khẳng định và yêu cầu VKSND phải nâng cao hơn nữa chất lượng công tác công tố
Nghị quyết số 08- NQ/TW năm 2002 của Bộ Chính trị xác định: “Hoạt
động công tố phải thực hiện ngay từ khi khởi tố vụ án và trong suốt quá trình
tố tụng nhằm bảo đảm không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội; nâng cao chất lượng công tố của Kiểm sát viên tại phiên toà”
Trong Nghị quyết số 49-NQ/TW, Bộ Chính trị tiếp tục yêu cầu VKSND phải “tăng cường trách nhiệm của công tố trong hoạt động điều tra,
nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên toà xét xử”
Như vậy, Đảng và Nhà nước luôn luôn khẳng định chủ trương xây dựng một nền công tố mạnh Khi thực hành quyền công tố, VKSND có trách nhiệm lớn trong đấu tranh phòng, chống tội phạm Công tác công tố của VKS phải bảo đảm mọi hành vi phạm tội và người phạm tội được phát hiện kịp thời, đầy đủ, xử lý nghiêm minh, có căn cứ và đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội; đồng thời, không để làm oan người vô tội
Trang 12Quyền công tố được Hiến pháp năm 2013 ghi nhận và giao cho Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) thực hiện để góp phần phòng chống tội phạm, bảo vệ các quyền cơ bản của công dân, là nền tảng cơ bản của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Quyền công tố của Viện kiểm sát được thực hiện trong suốt quá trình giải quyết vụ án, đặc biệt là trong giai đoạn điều tra, xét
xử vụ án hình sự Hiệu quả của việc thực hiện quyền công tố trong giai đoạn điều tra, xét xử phụ thuộc vào nhiều yếu tố mang tính chất bảo đảm thực hiện quyền công tố như cơ sở pháp lý, năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức Viện kiểm sát, yếu tố cơ sơ vật chất và một số yếu tố khác
Về cơ bản, các yếu tố này đã giúp cho Viện kiểm sát thực hiện tốt quyền công tố, tuy nhiên, thực tiễn thực hiện quyền công tố trong giai đoạn điều tra, xét xử vụ án hiện nay cho thấy, những yếu tố bảo đảm quyền công tố của Viện kiểm sát vẫn còn một số hạn chế nhất định, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả của thực hiện quyền công tố Đó là những hạn chế cụ thể như:
sự bất cập của cơ sở pháp lý quy định về quyền công tố; sự phối hợp của chính quyền địa phương, các cơ quan hữu quan trong công tác thực hành quyền công tố còn thiếu kịp thời; quá trình thực thi quyền công tố trong giai đoạn điều tra, giai đoạn xét xử vụ án hình sự còn nhiều hạn chế Thông qua nghiên cứu thực tiễn vấn đề bảo đảm quyền công tố trong giai đoạn điều tra, xét xử tại Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình, ta sẽ thấy rõ được những tồn tại hạn chế này Việc hoàn thiện các yếu tố bảo đảm quyền công tố của VKSND trong giai đoạn điều tra, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là một đòi hỏi cấp bách của Đảng và Nhà nước trong giai đoạn hiện nay Xuất phát từ lý do
thực tiễn nêu trên, học viên quyết định lựa chọn đề tài luận văn: “Bảo đảm quyền công tố trong giai đoạn điều tra, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự - từ thực tiễn Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình”để làm luận văn thạc
Trang 13sỹ chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật hành chính Nội dung nghiên cứu của luận văn thật sự có những ý nghĩa nhất định về mặt lý luận và thực tiễn
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Liên quan đến quá trình nghiên cứu của luận văn có một số công trình khoa học đã được công bố, trong đó có thể kể đến một số công trình tiêu biểu sau:
- Luận án Tiến sĩ Luật học: Quyền công tố ở Việt Nam, của Lê Thị
Tuyết Hoa, năm 2002 Trong luận án này, tác giả đã đề cập đến những vấn đề
lý luận về QCT và tổ chức thực hành QCT ở một số nước trên thế giới; thực trạng tổ chức thực hànhquyền công tốở Việt Nam từ 1988 đến 2000 và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về hoạt động công tố ở trước Tòa án Còn luận văn mà tác giả lựa chọn lại tập trung nghiên cứu sâu về việc về việc bảo đảm quyền công tố trong giai đoạn điều tra, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
- Sách chuyên khảo: Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt
động tư pháp trong giai đoạn điều tra do tác giả Lê Hữu Thể làm chủ biên
xuất bản năm 2005, Nxb Tư pháp Cuốn sách này là công trình nghiên cứu về
cơ sở lý luận của quyền công tố, thực hành quyền công tốvà kiểm sát hoạt động tư pháp trong tố tụng hình sự của Viện kiểm sát, kết quả nghiên cứu về
tổ chức và hoạt động của cơ quan công tố của một số nước trên thế giới
- Đề tài khoa học cấp bộ: “Những giải pháp nâng cao chất lượng thực
hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp” do VKSND tối cao thực
hiện năm 2002 Trong công trình này trên cơ sở tổng kết thực tiễn, các tác giả
đã đưa ra nhiều giải pháp khác nhau nhằm nâng cao chất lượng công tác thực hành quyền công tốvà kiểm sát hoạt động tư pháp
- Đề tài khoa học cấp bộ:“Những vấn đề lý luận về quyền công tố và
thực tiễn hoạt động công tố ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay” của Viện khoa
học VKSNDTC thực hiện năm 1999 cũng đã tiếp cận nghiên cứu về vấn đề quyền công tố ở góc độ lý luận lý luận và thực tiễn
Trang 14- Sách tham khảo “Một số vấn đề về tăng cường trách nhiệm của công
tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra theo yêu cầu cải cách tư pháp”, của tác giả Nguyễn Hải Phong, xuất bản năm 2014, Nxb
chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội Trong cuốn sách này đã đề cập đến nội dung tăng cường trách nhiệm công tố, gắn công tố với hoạt động điều tra theo yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp mà đảng và nhà nước đã đề ra Tuy nhiên, cuốn sách này chỉ chủ yếu tập trung đề cập đến những giải pháp nhằm tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra hình sự
Ngoài ra còn có một số công trình, bài viết đăng tải trên các tạp chí
chuyên ngành như: Tổ chức bộ máy và chức năng, nhiệm vụ của Viện Kiểm
sát nhân dân trong tiến trình cải cách tư pháp của tác giả Lê Hữu Thể, Tạp
chí kiểm sát số 14-16/2008; Quyền công tố và tổ chức thực hiện quyền công
tố trong nhà nước pháp quyền của tác giả Nguyễn Minh Đức, tạp chí Nghiên
cứu lập pháp, số 1-2/2012; Một số ý kiến về tổ chức và hoạt động của Viện
Kiểm sát theo yêu cầu cải cách tư pháp của tác giả Bùi Đức Long, tạp chí
Kiểm sát số 14-16/ 2008; Những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động thực hành
quyền công tố của kiểm sát viên của tác giả Trần Văn Quý, đăng trên Tạp chí
Nghiên cứu lập pháp, số 15/2010; Bài viết “Một số vấn đề về quyền công tố”
của PGS.TS Trần Hữu Độ, đăng trên Tạp chí Luật học, số 3/2001; Bài viết
“Viện kiểm sát với hai chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt
động tư pháp và sự lựa chọn thích hợp trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” của Nguyễn Văn Quảng, đăng trên
Tạp chí Kiểm sát, số 13/2012…
Những công trình nghiên cứu trên đã trình bày những lý luận căn bản
về quyền công tố, về chức năng thực hành quyền công tố của VKSND theo quy định của Hiến pháp, BLTTHS, chỉ ra những đặc điểm trong các khâu công tác của VKSND Tuy nhiên, chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu
Trang 15về bảo đảm quyền công tố trong giai đoạn điều tra, xét xử sơ thẩm vụ án hình
sự, từ thực tiễn VKSND tỉnh Quảng Bình Mặc dù vậy, những nội dung của các công trình nghiên cứu trên thật sự là tài liệu tham khảo hữu ích đối với tác giả trong quá trình thực hiện luận văn của mình
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Mục đích nghiên cứu: Làm sáng tỏ về quyền công tố, những quy định
bảo đảmquyền công tố…; đề xuất giải pháp bảo đảm quyền công tố tại Viện KSND tỉnh Quảng Bình trong thời gian tới đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp
và các quy định của Hiến pháp năm 2013
Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt được mục tiêu trên, luận văn đặt ra và
giải quyết những nhiệm vụ như sau:
- Nghiên cứu, làm rõ những vấn đề lý luận bảo đảm quyền công tố trong giai đoạn điều tra, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự được quy định trong Hiến pháp và Bộ luật TTHS hiện hành; một số khái niệm, nội dung, đặc điểm, những yếu tố ảnh hưởng bảo đảm quyền công tố trong giai đoạn điều tra, xét
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu một số vấn đề lý luận, pháp lý và
thực tiễn bảo đảm quyền công tố trong giai đoạn điều tra, xét xử sơ thẩm vụ
án hình sự, thực tiễn bảo đảm quyền công tố trong giai đoạn điều tra, xét xử
vụ án hình sự tại VKSND tỉnh Quảng Bình
Trang 16Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu các vấn đề về bảo
đảm quyền công tố trong giai đoạn điều tra, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự tại Viện KSND tỉnh Quảng Bình
+ Phạm vi quy mô: Tại VKSND tỉnh Quảng Bình
+ Phạm vi thời gian: Từ năm 2016 đến năm 2020, định hướng đến năm 2025
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận: Để thực hiện được những mục tiêu và nhiệm
vụ nêu trên, luận văn sử dụng phương pháp luận là phép luận chứng duy vật của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước về bảo đảm quyền công tố của VKSND trong giai đoạn điều tra, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
5.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể
Luận văn nghiên cứu theo chuyên ngành luật hiến pháp và hành
chínhcùng với các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:
- Phương pháp thu thập và nghiên cứu các tài liệu có liên quan đếnnhững vấn đề lý luận về bảo đảm quyền công tố
- Phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp được sử dụng để thống kêvà phân tích các tài liệu, báo cáo của VKSND trong thực tiễn nhằm tổng hợp rút ra những ưu điểm, hạn chế, vướng mắc
- Phương pháp tọa đàm, trao đổi với các chuyên gia nhằm tìm hiểu các kinh nghiệm để đưa ra các giải pháp trong việc bảo đảm quyền công tố trên thực tiễn
- Phương pháp luận của khoa học TTHS, khoa học luật Hiến pháp được
sử dụng để xác định cơ sở pháp lý, nội dung và phương thức bảo đảm quyền công tố
Trang 176 Ý nghĩa của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận: Luận văn sẽ góp phần bổ sung, hoàn thiện lý luận
luật Hiến pháp và luật Hành chính; làm rõ ý nghĩa, vai trò và nội dung, các điều kiện bảo đảm quyền công tố trong giai đoạn điều tra, xét xử sơ thẩm vụ
án hình sự, các luật về tổ chức VKS trong giai đoạn hiện nay
6.2 Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận văn làm tài liệu
tham khảo trong công tác giảng dạy, nghiên cứu luật học, bồi dưỡng nghiệp
vụ kiểm sát viên, điều tra viên các cấp Luận văn cũng sẽ là nguồn tư liệu tham khảo cho đội ngũ cán bộ, công chức trên địa bàn tỉnh Quảng Bình
và các địa phương khác, đặc biệt là đối với đội ngũ cán bộ, công chức trong ngành kiểm sát trong quá trình thực thi chức trách, nhiệm vụ liên quan đến vấn đề này
7 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo thì luận văn bao gồm 03 chương:
Chương 1 : Cơ sở lý luận và pháp luật về bảo đảm quyền công tố của
Viện kiểm sát nhân dân trong giai đoạn điều tra, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Chương 2 :Thực trạng bảo đảm quyền công tố trong giai đoạn điều tra,
xét xử sơ thẩm vụ án hình sự tại Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình
Chương 3 : Giải pháp bảo đảm quyền công tố trong giai đoạn điều tra,
xét xử sơ thẩm vụ án hình sự tại Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình
Trang 181.1.1.1 Khái niệm quyền công tố:
Theo Từ điển Tiếng Việt đã định nghĩa: Công tố có nghĩa là "điều tra, truy tố và buộc tội kẻ phạm pháp trước Tòa án".[ 38, tr 204]
Từ điển Luật học đưa ra khái niệm: Công tố là "Quyền của Nhà nước truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội”.[ 7, tr188]
Như vậy, công tố chính là quyền của Nhà nước truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội
Ở Việt Nam, quyền công tố là một khái niệm pháp lý gắn liền với chức năng của Viện kiểm sát nhân dân Nghiên cứu lý luận về quyền công tố, có thể thấy thời gian qua đã có nhiều đề tài nghiên cứu về vấn đề này và đưa ra nhiều quan điểm, khái niệm khác nhau về quyền công tố Trong tiến trình thực hiện cải cách bộ máy nhà nước, cải cách hoạt động tư pháp, khi đề cập đến chức năng của VKSND thì khái niệm quyền công tố lại được các nhà nghiên cứu đề cập nhiều hơn Có một số tác giả cho rằng quyền công tố không phải là chức năng độc lập của Viện kiểm sát mà mọi hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật đều là thực hành quyền công tố, quyền công tố là một quyền năng, công tố là một hình thức thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTHS Có một số tác giả khác lại cho rằng, quyền
Trang 19công tố tồn tại trong cả lĩnh vực tố tụng hình sự và các lĩnh vực dân sự, kinh
tế, lao động, hành chính, dẫn đến tình trạng mở rộng phạm vi quyền công tố vượt khỏi lĩnh vực tố tụng hình sự hoặc một số tác giả lại quá thu hẹp phạm vi quyền công tố, coi quyền công tố là quyền của VKS truy tố kẻ phạm tội ra Toà án và thực hiện việc buộc tội tại phiên toà hình sự sơ thẩm [11]
Những quan điểm này, tác giả đều không đồng tình vì đã không thể hiện đúng bản chất của quyền công tố Bởi lẽ, quyền công tố là quyền lực nhà nước, nó tồn tại trong bất kì các kiểu Nhà nước nào, gắn liền với bản chất giai cấp sâu sắc và được nhà nước sử dụng nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội Bản chất của quyền công tố là sự buộc tội, luôn gắn liền với vấn đề tội phạm và người phạm tội vì vậy nó chỉ phát sinh khi có tội phạm
và chỉ xuất hiện trong lĩnh vực tố tụng hình sự Quyền công tố được được phát động khi có hành vi nguy hiểm xâm phạm tới các quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ xảy ra, trong phạm vi chức năng của mình, chủ thể thực hiện quyền công tố (ở Việt Nam là VKS) sử dụng các quyền năng, biện pháp TTHS cần thiết nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người bị coi
là thực hiện hành vi phạm tội Vì quyền công tố gắn liền với quyền lực nhà nước nên mang tính cưỡng chế, dù đối tượng bị tác động có muốn hay không, phân biệt với việc đề cao sự thỏa thuận của các đương sự trong lĩnh vực dân
sự, kinh tế, lao động
Trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm của các nhà nghiên cứu đi trước,
có thể hiểu: Quyền công tố là một loại quyền lực Nhà nước được giao cho
VKS thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội nhằm truy tố người phạm tội ra trước Tòa án để xét xử và thực hiện sự buộc tội người đó trước phiên tòa nhằm bảo đảm quyền con người, quyền công dân được công nhận, tôn trọng, bảo vệ và thực hiện theo quy định của Hiến pháp
Trang 20và pháp luật Việc thực hiện quyền công tố được Nhà nước giao cho chủ thể
nhất định và được tiến hành theo những phương thức đặc thù
Về chủ thể thực hiện quyền công tố, tại Điều 2 Luật tổ chức VKSND năm 2014 quy định: “Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” Vậy, VKSND chính là chủ thể thực hiện quyền công tố Đây là cơ quan do Quốc hội thành lập, thừa hành quyền lực từ Quốc hội và được Quốc hội giao cho chức năng thực hành quyền công tố; nhân danh Nhà nước sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý theo quy định của pháp luật để thực hiện sự buộc tội đối với người phạm tội trong giai đoạn khởi tố, điều tra, truy
tố và xét xử vụ án hình sự và bảo vệ sự buộc tội đó nhằm bảo đảm quyền con người, quyền công dân được công nhận, tôn trọng, bảo vệ và thực hiện theo quy định của Hiến pháp và pháp luật Để làm tốt thực hiện tốt quyền này, Viện kiểm sát có trách nhiệm bảo đảm việc thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ
để xác định tội phạm và người phạm tội Trên cơ sở đó truy tố bị can ra trước Toà án và thực hiện sự buộc tội đó tại phiên toà
Về chức năng thực hành quyền công tố, tại Điều 3 Luật tổ chức VKSND năm 2014 đã quy định: “Thực hành quyền công tố, là hoạt động của VKSND trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự.” VKS thực hiện quyền công tố trong tất cả các giai đoạn tố tụng (từ khởi tố, điều tra, truy
tố và xét xử) và tùy từng giai đoạn tố tụng cụ thể mà việc sử dụng các quyền năng pháp lý của VKS cũng khác nhau Như vậy, thực hành quyền công tố là quá trình VKS hiện thực hoá quyền truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội bằng các quyền năng tương ứng mà Nhà nước đã trao cho VKS
Trang 21Đối tượng của quyền công tố là tội phạm và người phạm tội Vì chức năng duy nhất của quyền công tố là chức năng buộc tội nhân danh Nhà nước trong lĩnh vực tố tụng hình sự
Nội dung của quyền công tố là sự buộc tội của nhà nước đối với người
đã thực hiện hành vi phạm tội
Phạm vi quyền công tố: Về phạm vi không gian: phạm vi quyền công
tố chỉ có trong lĩnh vực tố tụng hình sự Về phạm vi thời gian: Phạm vi quyền công tố bắt đầu khi tội phạm xảy ra và kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật, không bị kháng nghị hoặc khi đình chỉ vụ án Một vụ án hình sự được giải quyết thông qua nhiều giai đoạn tố tụng khác nhau: khởi tố, điều tra, truy
tố và xét xử Theo pháp luật TTHS nước ta, VKS thực hiện quyền công tố trong tất cả các giai đoạn tố tụng (từ khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử) và tùy từng giai đoạn tố tụng cụ thể mà việc sử dụng các quyền năng pháp lý của VKS cũng khác nhau Trong giai đoạn điều tra, xét xử sơ thẩm thì quyền công
tố của VKS được quy định cụ thể như sau:
- Quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự: là quyền truy
cứu trách nhiệm hình sự đối với cá nhân, pháp nhân có hành vi phạm tội, là quyền mà chủ thể được Nhà nước giao được sử dụng các quyền năng pháp lý
để chứng minh hành vi phạm tội trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự VKSND thực hiện quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, thể hiện qua các quyền năng pháp lý như: Yêu cầu cơ quan điều tra khởi tố hoặc thay đổi quyết định khởi tố vụ án bị can; Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan cung cấp tài liệu để làm rõ tộiphạm, người phạm tội; đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu cơ quan điều tra tiến hành điều tra; trực tiếp tiến hành một
số hoạt động điều tra để làm rõ căn cứ quyết định việc buộc tội đối với người phạm tội; quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam và các biện pháp ngăn chặn khác; phê chuẩn, không phê chuẩn các
Trang 22quyết định của cơ quan điều tra; hủy bỏ các quyết định trái pháp luật của cơ quan điều tra quyết định việc truy tố bị can; quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ điều tra
- Quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự: Giai
đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là một giai đoạn trong tố tụng hình sự, trong đó Tòa án có thẩm quyền thay mặt Nhà nước tiến hành việc xét xử lần đầu, toàn diện, tổng thể vụ án hình sự trên cơ sở bản cáo trạng của VKS, xem xét đánh giá chứng cứ và dựa trên kết quả tranh tụng tại phiên tòa làm cơ sở
để ra các phán quyết công minh, có căn cứ và đúng pháp luật bằng bản án và quyết định của mình
Quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là quyền lực Nhà nước giao cho VKS thực hiện việc buộc tội cá nhân, pháp nhân có hành vi phạm tội trước Tòa án VKSND sử dụng các quyền năng pháp lý để thực hiện quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự như sau: Công bố cáo trạng hoặc quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn, quyết định khác về việc buộc tội đối với bị cáo tại phiên tòa; xét hỏi; xem xét vật chứng, xem xét tại chỗ; thực hiện việc luận tội đối với bị cáo; tranh luận tại phiên tòa; thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong việc buộc tội theo quy định của BLTTHS (giải quyết việc Tòa án trả hồ sơ điều tra bổ sung; giải quyết việc rút quyết định truy tố trước khi mở phiên tòa)
1.1.1.2 Khái niệm bảo đảm quyền công tố:
Theo cuốn Từ điển Tiếng Việt của Trung tâm từ điển học định nghĩa
thì: “Bảo đảm là làm cho chắc chắn, thực hiện được, giữ gìn được hoặc có
đầy đủ những gì cần thiết”.[35, tr.36]
Như vậy, có thể hiểu: Bảo đảm quyền công tố trong giai đoạn điều tra,
xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là việc Nhà nước chính thức ghi nhận quyền đó trong các văn bản pháp luật và tạo ra các điều kiện cần thiết, tốt nhất để
Trang 23quyền công tố trong giai đoạn điều tra, xét xử vụ án hình sự được thực thi hiệu quả, bảo đảm truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội, không bỏ lọt tội phạm và làm oan người vô tội
Các điều kiện để bảo đảm quyền công tố nói chung, quyền công tố trong giai đoạn điều tra, xét xử nói riêng chính là các cơ sở pháp lý, các điều kiện về tổ chức bộ máy, cơ sở vật chất, kinh phí và nguồn nhân lực Các điều kiện này phải thỏa mãn những tiêu chuẩn nhất định thì việc bảo đảm quyền công tố mới có chất lượng, đạt hiệu quả
Trước hết, Nhà nước phải xây dựng các cơ sở pháp lý là các quy định pháp luật về quyền hạn và nghĩa vụ của các chủ thể trong bảo đảm thực hiện quyền công tố, các cơ chế, phương thức thực thi quyền công tố, các chế tài,
xử lý khi có vi phạm trong thực hiện quyền công tố Đây là yếu tố quan trọng
để quyền công tố được bảo đảm thực hiện trong thực tế
Bên cạnh đó, yếu tố con người được đánh giá là một trong những nhân
tố quan trọng quyết định đến chất lượng của việc bảo đảm quyền công tố Vì vậy, tiêu chuẩn của yếu tố nguồn nhân lực trong bảo đảm quyền công tố phải được quy định trong luật Hệ thống pháp luật phải có quy định cụ thể về trình
độ, năng lực, đạo đức, tinh thần, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ công chức và quy định về chế độ tài chính, cơ sở vật chất mà Nhà nước xây dựng để tạo điều kiện cho VKS thực hiện có hiệu quả quyền công tố
Ngoài ra, quyền công tố được bảo đảm thực hiện khi có cơ chế để bảo đảm thực thi Các quy định pháp luật về cơ chế bảo đảm thực thi quyền công
tố chính là quy định về kiểm tra, giám sát của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đối với việc thực hiện quyền công tố của Viện kiểm sát Các quy định này sẽ góp phần để quyền công tố được bảo đảm thực hiện trên thực tế
Trang 241.1.2 Nội dung bảo đảm quyền công tố trong giai đoạn điều tra, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Thứ nhất, cần ghi nhận quyền công tố và bảo đảm quyền công tố trong
Hiến pháp và các văn bản pháp luật khác như luật, nghị định, thông tư Đây
là một nội dung hết sức quan trọng của bảo đảm quyền công tố
Thứ hai, để bảo đảm quyền công tố pháp luật cần quy định rõ thẩm
quyền, trách nhiệm của chủ thể thực thi quyền công tố, trách nhiệm của các
cơ quan, tổ chức có liên quan
Thứ ba, để VKS thực hiện quyền công tố có hiệu quả và các cơ quan,
tổ chức có liên quan có trách nhiệm nghiêm túc phối hợp thực hiện các yêu cầu, quyết định của VKS, cần quy định cụ thể, rõ ràng trình tự, thủ tục tổ chức thực hiện quyền công tố
Thứ tư, cần quy định và thực hiện các quy định về nguồn lực bảo đảm
quyền công tố Nội dung này đòi hỏi hệ thống pháp luật phải có quy định về trình độ, năng lực, đạo đức, tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ công chức và quy định về chế độ tài chính, cơ sở vật chất mà Nhà nước xây dựng
để tạo điều kiện cho VKS thực hiện có hiệu quả quyền công tố
1.1.3 Đặc điểm bảo đảm quyền công tố trong giai đoạn điều tra, xét
xử sơ thẩm vụ án hình sự
Từ các khái niệm trên, có thể rút ra một số đặc điểm của bảo đảm quyền công tố trong giai đoạn điều tra, xét xử như sau:
Một là, bảo đảm quyền công tố trong giai đoạn điều tra, xét xử là bảo
đảm một trong các quyền của Nhà nước Nhà nước uỷ quyền cho cơ quan cụ thể thực hiện quyền này và Nhà nước tạo các điều kiện cần thiết để quyền công tố được thực hiện, thực hiện có hiệu quả
Hai là, bảo đảm quyền công tố trong giai đoạn điều tra, xét xử sơ thẩm
là quá trình tổng hợp nhiều yếu tố như quy định pháp luật, nguồn nhân lực, cơ
Trang 25sở vật chất, cơ sở tinh thần để thực hiện quyền năng của Nhà nước trong giai đoạn điều tra, xét xử vụ án hình sự Đây là các yếu tố mang tính chất quyết định việc quyền công tố có thực hiện được hay không trong thực tế, và cũng là những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng của thực hiện quyền công tố
Ba là, nội dung của bảo đảm quyền công tố trong điều tra, xét xử sơ
thẩm vụ án hình sự chính là bảo đảm quyền truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi phạm tội trong giai đoạn điều tra, xét xử sơ thẩm
vụ án hình sự; Bảo đảm tổ chức và thực hiện quyền công tố trong giai đoạn điều tra, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Bốn là, phương thức của bảo đảm quyền công tố trong giai đoạn điều
tra, xét xử được ghi nhận trong các văn bản pháp luật có hiệu lực pháp lý khác nhau từ đạo luật cao nhất là Hiến pháp, cho đến các bộ luật, luật và các văn bản dưới luật
Năm là, kết quả của bảo đảm quyền công tố trong giai đoạn điều tra, xét xử là một trong những tiêu chuẩn dùng để đánh giá cơ chế hoạt động của
hệ thống tư pháp, chất lượng bảo vệ quyền con người, quyền công dân và phần nào cũng đánh giá được chất lượng của hệ thống lập pháp, hành pháp và
tư pháp của quốc gia
Trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung và trong giai đoạn điều tra, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự nói riêng, hoạt động thực hành quyền công tố của VKSND đóng vai trò đặc biệt quan trọng nhằm bảo đảm cho việc điều tra, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự được tiến hành khách quan, toàn diện, đầy đủ và đúng pháp luật; bảo đảm phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm minh mọi hành vi phạm tội, người phạm tội, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội; bảo vệ các quyền cơ bản của công dân, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.Như vậy, muốn cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN, nhà nước mà chế độ đề cao hiến
Trang 26pháp và pháp luật, bảo đảm hiến pháp và pháp luật được tôn trọng và tuân thủ tuyệt đối, bảo đảm ngày một tốt hơn quyền con người, quyền công dân thì cần phải bảo đảm quyền công tố.VKS thừa hành quyền lực từ Quốc hội, được giao quyền công tố, là một trong những bộ phận hợp thành của hệ thống tư pháp Do vậy cần phải tăng cường, bảo đảm quyền công tố trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền, cải cách tư pháp Hoạt động thực hiện quyền công tốcủa VKS cần xác định là công cụ quan trọng để thực hiện có hiệu quả
tư tưởng của nhà nước pháp quyền
1.1.4 Sự cần thiết phải bảo đảm quyền công tố trong giai đoạn điều tra, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
- Bảo đảm quyền công tố của VKSND trong giai đoạn điều tra, xét xử
sơ thẩm vụ án hình sự có vai trò quan trọng trong công cuộc cải cách tư pháp, xây dựng nhà nước pháp quyền
Như đã phân tích ở trên, quyền công tố là một khái niệm pháp lý gắn liền với bản chất của nhà nước, là một bộ phận cấu thành và không thể tách rời của công quyền Quyền công tố xuất hiện, tồn tại cùng với sự ra đời của nhà nước và pháp luật; cho đến nay đã trở thành một chế định pháp lý độc lập được thừa nhận chung trong tố tụng hình sự của các Nhà nước pháp quyền XHCN
Nhà nước Việt Nam hiện nay đang xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân Xây dựng Nhà nước pháp quyền là yêu cầu tất yếu khách quan, là nội dung trọng yếu của thời kỳ đổi mới ở Việt Nam hiện nay, được ghi nhận tại Điều 2
Hiến pháp năm 2013: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả
Trang 27quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức" [ 19]
Nhưng xây dựng pháp luật thì cần tăng cường hiệu quả thực thi pháp luật, việc thực hiện pháp luật có vai trò hết sức quan trọng trong xây dựng nhà nước pháp quyền Hệ thống pháp luật có thể rất đầy đủ hoàn thiện nhưng việc thực hiện không nghiêm thì không thể nói đến sự hiện diện của nhà nước pháp quyền
Cùng với việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, Việt Nam đang tiến hành đổi mới trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội “VKS các cấp thực hiện tốt chức năng công tố… Hoạt động công tố phải được thực hiện ngay từ khi khởi tố vụ án và trong suốt quá trình tố tụng nhằm bảo đảm không
bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội, xử lý kịp thời những trường hợp sai phạm của những người tiến hành tố tụng khi thi hành nhiệm vụ”, “…tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra”,
“…thực hiện cơ chế công tố gắn với hoạt động điều tra”[1, 2]là những nội dung quan trọng được đặt ra trong công cuộc cải cách tư pháp mà Việt Nam đang tiến hành Điều này chứng tỏ rằng, việc bảo đảm quyền công tố là những nội dung quan trọng trong nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN Nhất là bảo đảm quyền công tố trong giai đoạn điều tra, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự- hai giai đoạn quan trọng trong việc chứng minh tội phạm và thực hiện việc buộc tội đối với người phạm tội Vấn đề này luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm, mục tiêu của các chủ trương, chính sách, pháp luật về cải cách tư pháp gần đây đều hướng đến kiện toàn, xây dựng và nâng cao chất lượng hoạt động thực hành quyền công tố của VKS, cải cách đổi mới tổ chức VKS để bảo đảm quyền công tố
Như vậy, trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung và trong giai đoạn điều tra, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, hoạt động thực hành
Trang 28quyền công tố của VKSND đóng vai trò đặc biệt quan trọng nhằm bảo đảm cho việc điều tra, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự được tiến hành khách quan, toàn diện, đầy đủ và đúng pháp luật; bảo đảm phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm minh mọi hành vi phạm tội, người phạm tội, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội; bảo vệ các quyền cơ bản của công dân, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa
- Bảo đảm quyền công tố của VKSND trong giai đoạn điều tra, xét xử
sơ thẩm các vụ án hình sự góp phần xử lý nghiêm minh tội phạm, giải quyết đúng đắn quá trình chứng minh vụ án hình sự,
Nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội, người phạm tội phải được phát hiện, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử kịp thời, nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật không làm oan người vô tội, không để lọt tội phạm
và người phạm tội; Để không ai bị khởi tố, bị bắt tạm giữ, tạm giam, bị hạn chế quyền con người quyền công dân trái luật thì cần thiết phải bảo đảm quyền công tố của VKSND trong giai đoạn điều tra, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự Đối với người phạm tội, thì dù họ là ai, nắm giữ chức vụ cương vị gì trong cơ quan nhà nước tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế các tổ chức chính trị,
tổ chức xã hội khác nếu có hành vi phạm tội đều phải truy cứu trách nhiệm hình sự, phải bị xử lý theo pháp luật hình sự; bảo đảm không để một người nào, một công dân nào bị xâm phạm tính mạng, sức khỏe, tài sản, quyền nhân thân Bởi vấn đề cốt lõi ở đây, không phải để trừng trị người phạm tội thật nặng mà vấn đề quan trọng là có thiết chế để bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều được phát hiện và xử lý nghiêm minh trước pháp luật Thực thi quyền công tố hiệu quả có ý nghĩa quan trọng, hạn chế bỏ lọt tội phạm, bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật, bảo đảm sự pháp chế xã hội
Quá trình thực hiện quyền công tố, VKSND phải sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý được quy định để chứng minh tội phạm, thực hiện việc
Trang 29truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi phạm tội Cơ quan điều tra, người thực hiện hành vi phạm tội phải chấp hành nghiêm chỉnh các quyết định, yêu cầu của VKS Trong quá trình chứng minh tội phạm, VKS phải nghiên cứu kĩ càng, sử dụng tổng hợp các chứng cứ có thật, được thu thập theo trình tự tố tụng hình sự quy định để ra các quyết định phê chuẩn khởi tố
bị can, phê chuẩn lệnh tạm giam bị can Nếu quá trình nghiên cứu xét thấy không đủ cơ sở phê chuẩn VKS có thể ra quyết định không phê chuẩn các quyết định trên Hoặc quá trình thực hành quyền công tố, phát hiện tội phạm chưa bị khởi tố thì VKS có quyền yêu cầu khởi tố bị can hoặc tự mình ra quyết định khởi tố bị can
VKS là một hệ thống cơ quan trong cơ cấu quyền lực nhà nước, hoạt động thực hiện quyền công tố của VKS là hoạt động thực hiện quyền lực nhà nước độc lập Chủ trương của Đảng là xây dựng một nền công tố mạnh, tăng cường trách nhiệm của VKS trong hoạt động điều tra theo đó VKS phải có trách nhiệm cao hơn, chủ động hơn trong quá trình chứng minh tội phạm, theo sát, gắn chặt với hoạt động điều tra nhằm bảo vệ tốt hơn các khách thể luật hình sự bảo vệ trong đó có quyền lợi ích hợp pháp của công dân
-Bảo đảm quyền công tố góp phần giữ vững an ninh trật tự, an toàn xã
hội, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, có điều kiện phát triển toàn diện
Với chức năng thực hành quyền công tố, VKSND có trách nhiệm trong việc bảo vệ pháp luật, quyền con người, quyền công dân, xử lý kịp thời các vi phạm pháp luật, đặc biệt là các vi phạm pháp luật hình sự
VKSND thực hiện tốt quyền công tố, bảo đảm quyền công tố được thực thi là góp phần thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới đất nước góp phần đấu tranh phòng ngừa tội phạm, duy trì trật tự an toàn xã hội
Trang 30Xuất phát từ tính chất và tầm quan trọng của quyền công tố và mối quan hệ phối hợp cùng cấp giữa các cơ quan điều tra, xét xử và quan hệ với cấp ủy đảng, chính quyền có thể nói VKSND là hệ thống cơ quan có vị trí hết sức quan trọng thể hiện được vai trò to lớn trong đấu tranh phòng chống tội phạm, thực hiện quyền lực nhà nước nói riêng và đối với sự phát triển của đất nước nói chung Như đã phân tích ở trên, tuy có vị trí độc lập nhưng không có nghĩa là VKSND các cấp trong hoạt động thực hành quyền công tố hoàn toàn thoát ly với hoạt động của các cơ quan nhà nước khác mà phải đảm bảo vai trò lãnh đạo của cấp uỷ Đảng cùng cấp nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị tại địa phương Nguyên tắc Đảng lãnh đạo đối với Nhà nước và xã hội là nguyên tắc cơ bản được quy định trong Hiến pháp của Nhà nước ta; nhờ có sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, hoạt động của VKS luôn có phương hướng đúng, đã phục vụ tích cực nhiệm vụ chính trị trong từng giai đoạn cách mạng Các cấp ủy Đảng đã quan tâm lãnh đạo, kiểm tra và tạo điều kiện cho VKS các cấp thực hiện quyền công tố Các VKS đã chủ động tham mưu cho cấp ủy Đảng những vấn đề về pháp chế và đã có tác dụng tích cực Bên cạnh đó, pháp luật của Nhà nước ta thể chế hoá chủ trương, chính sách của Đảng; trong khi đó ngành KSND thực thi quyền công tố nhằm bảo đảm việc chấp hành pháp luậtnghiêm chỉnh Do vậy, VKSND ở địa phương phải quán triệt, vận dụng nhuần nhuyễn các chủ trương, nghị quyết của Đảng về phát triển kinh
tế, xã hội; bảo đảm an ninh, trật tự an toàn xã hội vào công tác chuyên môn của mình; đồng thời tích cực tham mưu, đề xuất với cấp uỷ Đảng về những giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống vi phạm và tội phạm; qua đó góp phần quan trọng giữ vững lòng tin của nhân dân vào công lý, vào chế độ, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội nhằm phục vụ có hiệu quả các nhiệm vụ chính trị của đất nước cũng như nhiệm vụ chính trị của địa phương
Trang 31VKSND đã góp phần chấn chỉnh công tác bắt, giam, khởi tố vụ án, khởi tố bị can, khắc phục hiệu quả tình hình oan, sai, bỏ lọt trong xử lý án hình sự
Góp phần làm cho pháp luật được thực thi nghiêm chỉnh, thống nhất, bảo vệ tốt nhất quyền con người trong tố tụng hình sự, bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
1.2 Các văn bản, quy định pháp luật về quyền công tố trong giai đoạn điều tra, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Để bảo đảm thực hiện quyền công tố trong thực tế phòng, chống tội phạm thì Nhà nước ban hành các văn bản pháp luật, trong đó quy định các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố, chủ thể thực hiện quyền công tố, bảo đảm thực hiện quyền công tố Các quyền năng đó, Nhà nước giao cho VKS thực hiện để phát hiện tội phạm và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội Điều này được thể hiện rõ trong các văn bản pháp luật và các văn bản dưới luật
1.2.1 Quy định về quyền công tố ở các bản Hiến pháp của nhà nước Việt Nam qua các thời kỳ
- Hiến pháp năm 1946 và Hiến pháp năm 1959 của nước ta chưa trực tiếp đề cập đến công tố và hoạt động công tố Nhưng được quy định ở các sắc lệnh số 33/SL ngày 13/9/1945, sắc lệnh số 13/SL ngày 24/01/1946, sắc lệnh
số 131/SL ngày 20/7/1947, Sắc lệnh số 19/SL ngày 16/02/1947 Trong đó, sắc lệnh 33/SL ngày 13/9/1945 là văn bản pháp lý đầu tiên quy định về tổ chức và hoạt động của Cơ quan Công tố của Nhà nước ta Văn bản này đã ban hành về việc thiết lập các Tòa án quân sự, nội dung của quyền công tố theo quy định của Sắc lệnh này là đưa một người phạm tội ra xét xử tại Tòa án và các ủy viên Quân sự (công tố ủy viên) thay mặt Nhà nước buộc tội các bị cáo Về
Trang 32chức năng công tố, tại Điều V Sắc lệnh 33 quy định rõ “Đứng buộc tội là một
Uỷ viên quân sự hay một Ủy viên của Ban Trinh sát” Đây là, lần đầu tiên chức năng công tố nhà nước được quy định bằng một văn bản pháp lý do người đứng đầu Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ban hành Tòa án Quân sự là Tòa án đầu tiên có sự hiện diện của tổ chức Công tố và quyền công tố
Có thể nói, ngay từ khi được thành lập, Nhà nước ta đã sử dụng bộ máy công tố làm công cụ bảo vệ và phục vụ sự nghiệp cách mạng của nhân dân Sắc lệnh số 13/SL ngày 24/01/1946 thiết lập Tòa án thường có quy định “Tòa
đệ nhị gồm có: một Chánh án, một Biện lý, một Dự thẩm” (Điều 15); “Tại phiên tòa, Chánh án ngồi xử, Biện lý ngồi ghế công tố viện” (Điều 16); “ông Chưởng lý hoàn toàn giữ quyền truy tố và hành động” (Điều 51) Sắc lệnh số 51/SL ngày 17/4/1946 xác định rõ vị trí của công tố, quy định cụ thể nhiệm
vụ của Chưởng lý và biện lý “Ông Biện lý bắt buộc phái có mặt tại các phiên tòa hình”; “Khi cuộc thẩm vấn tại các phiên tòa xong rồi, ông Biện lý thay mặt xã hội buộc tội bị can” (Điều 26) “Về việc hình khi án đã tuyên rồi, ông Biện lý cũng như những người đương sự có quyền kháng cáo” (Điều 28)
Một số sắc lệnh khác như Sắc lệnh 131/SL ngày 20/7/1947, Sắc lệnh số 19/SL ngày 16/02/1947 cũng có quy định về quyền công tố Theo các sắc lệnh nêu trên thì hệ thống Tòa án nhân dân được thành lập ở 3 cấp: Tòa sơ thẩm, ở cấp quận, huyện; Tòa đệ nhị cấp ở cấp tỉnh và thành phố; Tòa thượng thẩm ở
3 khu vực: Bắc bộ, Trung bộ, Nam bộ Bộ Tư pháp là cơ quan Trung ương quản lý Tòa án các cấp Ngạch thẩm phán chia làm 2 loại: Thẩm phán xét xử
và Thẩm phán buộc tội (Thẩm phán buộc tội gọi là Công tố ủy viên) Hệ thống công tố ở Tòa thượng thẩm và Tòa đệ nhị cấp do một viên Chưởng lý đứng đầu Các công tố viên có nhiệm vụ: Tư pháp cảnh sát (điều tra), thực hành quyền công tố, Cảnh sát điều tra Mặc dù còn nằm trong Tòa án, nhưng
Trang 33công tố viên thực hiện nhiệm vụ một cách độc lập và chịu sự lãnh đạo thống nhất của viên Chưởng lý Ngoài nhiệm vụ đại diện cho công quyền; thực hiện quyền công tố trước tòa, các cấp ủy viên công tố còn có quyền giám sát hoạt động điều tra của tư pháp công an (nay là cơ quan điều tra)
Ngoài ra còn có những văn bản dưới luật khác quy định về quyền công
tố ở những thời kỳ đầu như Nghị định số 256-TTg, ngày 01/7/1959, do Thủ tướng Chính phủ ban hành qui định về tổ chức và nhiệm vụ của Viện công tố là: “Giám sát việc tuân thủ và chấp hành pháp luật của Nhà nước, truy tố theo pháp luật hình sự những kẻ phạm pháp để bảo vệ chế độ dân chủ nhân dân, giữ gìn trật tự an ninh, bảo vệ quyền và lợi ích của công dân, đảm bảo công cuộc kiến thiết và cải tạo xã hội chủ nghĩa” Trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, Viện công tố có nhiệm vụ: “Điều tra và truy tố trước Toà án những
kẻ phạm pháp về hình sự”.[30]
Ngày 18/12/ 1980, Quốc hội nước Cộng hoà XHCN Việt Nam khoá VI,
kỳ họp thứ 7 thông qua Hiến pháp năm 1980 khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của VKSND trong tổ chức bộ máy nhà nước, bảo đảm pháp chế Có thể thấy, các quy định về quyền công tố và thực hành quyền công tố đã được nâng lên một bước rõ rệt trong Hiến pháp năm 1980.Điều 138 lần đầu tiên qui định về việc chuyển giao quyền công tố cho VKSND
Điều 138 Hiến pháp năm 1980 quy định: “VKSND tối cao nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các Bộ, các cơ quan khác thuộc Hội đồng Bộ trưởng, các cơ quan chính quyền địa phương, tổ chức xã hội và đơn vị vũ trang nhân dân, các nhân viên Nhà nước
và công dân, thực hành quyền công tố, bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất
Các VKSND địa phương, các VKS Quân sự kiểm sát việc tuân theo pháp luật, thực hành quyền công tố trong phạm vi trách nhiệm của mình”.
Trang 34Các Điều từ 139 đến 141 Hiến pháp năm 1980 quy định cơ bản về tổ chức và hoạt động của VKS: Nhiệm kỳ của Viện trưởng VKSND tối cao theo nhiệm kỳ của Quốc hội ( Điều 139) VKSND do Viện trưởng lãnh đạo Viện trưởng VKSND cấp dưới chịu sự lãnh đạo của Viện trưởng VKSND cấp trên; Viện trưởng VKSND các địa phương chịu sự lãnh đạo thống nhất của Viện trưởng VKSND tối cao Viện trưởng, các Phó Viện trưởng và Kiểm sát viên VKSND địa phương do Viện trưởng VKSND tối cao bổ nhiệm và bãi miễn ( Điều 140) Viện trưởng VKSND tối cao chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội; trong thời gian Quốc hội không họp thì chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Hội đồng Nhà nước (Điều 141)
Ngày 15/4/1992, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá VIII, kỳ họp thứ 11 thông qua Hiến pháp năm 1992 Điều 137 Hiến pháp năm 1992 quy định cụ thể về quyền công tố của VKSND trong TTHS:
“VKSND tối cao kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các Bộ, các cơ quan ngang Bộ, các cơ quan khác thuộc Chính phủ, các cơ quan chính quyền địa phương, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân, thực hành quyền công tố, bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất Các VKSND địa phương, các Viện kiểm sát quân sự kiểm sát việc tuân theo pháp luật, thực hành quyền công tố trong phạm vi trách nhiệm do luật định”
Hiến pháp năm 2013 được Quốc hội Khoá XIII thông qua ngày 28/11/2013 trên cơ sở kế thừa những thành tựu lập hiến của các bản Hiến pháp trước đây, đồng thời, tiếp thu những tư tưởng mới về Nhà nước pháp quyền, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế, là cơ sở cho công cuộc đổi mới toàn diện của đất nước ta Đặc biệt, Hiến pháp năm 2013 tiếp tục ghi nhận chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp của VKSND các cấp, ghi nhận nguyên tắc tranh tụng , tạo cơ sở cho công cuộc cải cách toàn
Trang 35diện hoạt động tố tụng ở nước ta Hiến pháp năm 2013 là dấu mốc chính trị, pháp lý quan trọng, là cơ sở pháp lý của quá trình cải cách hành chính cũng như cải cách tư pháp Bên cạnh việc tiếp tục khẳng định chức năng của VKSND là thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, Hiến pháp năm 2013 đã có những sửa đổi, bổ sung làm rõ hơn nhiệm vụ và nguyên tắc hoạt động của VKS khi hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp; sửa đổi quy định về hệ thống tổ chức của VKS phù hợp với chủ trương cải cách tư pháp.[19]
Khoản 1 Điều 107 Hiến pháp 2013 khẳng định: “VKSND thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp, góp phần bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất…”
Trong Hiến pháp năm 2013, chức năng thực hành quyền công tố của VKS đã được đặt lên trước chức năng kiểm sát tư pháp so với các Hiến pháp trước đây và đặc biệt là chức năng công tố ngày càng được đề cao hơn
Có thể nói, từ bản Hiến pháp năm 1980 đến nay, đã quy định quyền công tố là quyền năng hiến định, quy định về bảo đảm quyền công tố trong giai đoạn điều tra, xét xử vụ án hình sự
1.2.2 Quy định về quyền công tố trong Bộ luật Tố tụng hình sự
BLTTHS đầu tiên của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội thông qua ngày 28/6/1988 đã quy định trình tự, thủ tục khởi tố, điều tra, truy tố,xét xử và thi hành án hình sự; chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các cơquan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia
tố tụng, bêncạnh đó có quy định về hoạt động kiểm sát khởi tố của VKS với mục đích là nhằm xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm và không làm oan người vô tội Điều 23 BLTTHS năm 1988 quy
định: "VKS có nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật tố tụng hình sự,
Trang 36thực hành quyền công tố bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất Trong các giai đoạn của tố tụng hình sự, VKS có trách nhiệm áp dụng những biện pháp do Bộ luật này quy định để loại trừ việc vi phạm pháp luật của bất kỳ cá nhân hoặc tổ chức nào"
Khoản 1 Điều 141 qui định “VKSND kiểm sát việc tuân theo pháp luật,
thực hành quyền công tố, bảo đảm việc điều tra được khách quan, toàn diện
và đầy đủ”; khoản 2 quy định 4 nhiệm vụ (cơ bản như Điều 9 Luật Tổ chức
VKSND năm 1981), khoản 3 qui định 7 quyền (6 quyền như Điều 10 Luật Tổ chức VKSND năm 1981, nhấn mạnh quyền “tự mình khởi tố” và bổ sung quyền yêu cầu Thủ trưởng cơ quan điều tra thay đổi Điều tra viên vi phạm pháp luật trong khi tiến hành điều tra), đây là sự tiến bộ trong lập pháp, là bắt đầu sự phát triển tạo nền tảng pháp lý cho thực hành quyền công tố của VKS
Nhằm khắc phục những hạn chế, vướng mắc trong thực hiện BLTTHS năm 1988, ngày 30/6/1990 Quốc hội thông qua BLTTHS sửa đổi, bổ sung Bộ luật này bổ sung quyền “khởi tố bị can” (điểm a, khoản 1, Điều 141); thay đổi thẩm quyền gia hạn thời hạn kiểm sát của VKS cấp trên bằng VKS trực tiếp giải quyết án (khoản 1 Điều 142) và bổ sung quyền quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn, quyền gia hạn tạm giam sau khi nhận hồ sơ kết thúc điều tra của VKS (khoản 2 điều 142) Như vậy,VKS phải nghiên cứu kĩ căn cứ khởi tố
bị can để ra quyết định khởi tố bị can bảo đảm có căn cứ
Tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XI đã tiến hành thảo luận và thông qua BLTTHS năm 2003, thể hiện những tư tưởng mới về cải cách tư pháp hình sự, trong đó có nhiều điểm mới về hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp của VKSND Điều 23 BLTTHS năm 2003
quy định: "VKS kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự, có
trách nhiệm phát hiện kịp thời vi phạm pháp luật của các cơ quan tiến hành
tố tụng, áp dụng những biện pháp do Bộ luật này quy định để loại trừ việc vi
Trang 37phạm pháp luật của những cơ quan hoặc cá nhân này VKS thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phải được xử lý kịp thời; việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội"
Bên cạnh đó, BLTTHS năm 2003 còn có nhiều quy định mới liên quan đến hoạt động thực hành quyền công tố như: VKS không trực tiếp giải quyết tin báo, tố giác tội phạm mà tập trung vào Cơ quan điều tra và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ thực hiện một số hoạt động điều tra, việc khởi tố bị can phải có sự phê chuẩn của VKS Để bảo đảm VKS tổ chức thực hiện tốt quyền công tố, BLTTHS năm 2003 đã quy định cụ thể về nhiệm vụ quyền hạn của VKS khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự tại Điều 112 và trách nhiệm của Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao nhiệm
vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện yêu cầu, quyết định của VKS tại các Điều 114, 115.[25]Tuy nhiên, BLTTHS năm 2003chưa có quy định cụ thể về nhiệm vụ quyền hạn của VKS khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Ngày 27 tháng 11 năm 2015, Quốc hội thông qua BLTTHS mới với nhiều thay đổi quan trọng gắn liền với chức năng thực hành quyền công tố của VKS như: Chức năng thực hành quyền công tố được quy định sớm hơn,
từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm mà không phải từ khi khởi tố vụ án; Trong giai đoạn điều tra, VKS có quyền ra quyết định khởi tố bị can nếu phát hiện có người đã thực hiện hành vi mà BLHS quy định là tội phạm nhưng chưa bị khởi tố và đã yêu cầu nhưng Cơ quan điều tra không thực hiện; Điều chỉnh hợp lý thời hạn VKS xét phê chuẩn các quyết định tố tụng; Bổ sung nguyên tắc tranh tụng tại phiên tòa hình sự; Phân định rõ thẩm quyền
Trang 38quản lý hành chính tư pháp; mở rộng quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm sát viên [26] Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để xây dựng, kiện toàn tổ chức và hoạt động của VKS các cấp trong quá trình cải cách tư pháp, xây dựng hệ thống văn bản pháp luật liên quan
Điều 20 BLTTHS năm 2015 quy định như sau:“VKS thực hành quyền
công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự, quyết định việc buộc tội, phát hiện vi phạm pháp luật nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội, người phạm tội, pháp nhân phạm tội, vi phạm pháp luật đều phải được phát hiện và xử lý kịp thời, nghiêm minh, việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, pháp nhân phạm tội, không làm oan người vô tội”
Để bảo đảm VKS tổ chức thực hiện tốt quyền công tố, BLTTHS năm
2015 đã quy định cụ thể hơn về nhiệm vụ quyền hạn của VKS khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự tại Điều 165 và trách nhiệm của Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện yêu cầu, quyết định của VKS tại các Điều 167, 168 Theo đó, Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, cơ quan, tổ chức,cá nhân phải nghiêm chỉnh thực hiện các yêu cầu, quyết định của VKS Và đặc biệt BLTTHS năm 2015 đã quy định một cách cụ thể về nhiệm vụ quyền hạn của VKS khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự tại khoản 1 Điều 266 bảo đảm cho VKS tổ chức thực hiện tốt quyền công tố
Trang 391.2.3 Quy định về quyền công tố trong Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân
Ngày 26/7/1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Lệnh công bố Luật tổ chức VKSND đầu tiên với 6 chương và 25 điều Luật này đã qui định và khái quát những nhiệm vụ, quyền hạn cơ bản của VKS khi thực hành quyền công
tố tại Điều 13: “Điều tra những việc phạm pháp về hình sự và truy tố trước Toà án nhân dân những người phạm pháp về hình sự; kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra của cơ quan Công an và của cơ quan điều tra khác” [21]
Luật Tổ chức VKSND năm 1981 được ban hành thay thế Luật Tổ chức VKSND năm 1960 là thể hiện sự quan tâm thường xuyên của Đảng và Nhà nước ta đối với công tác thực hành quyền công tố Nhà nước Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1981 đã quy định cụ thể chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát khởi tố tại chương II Tuy nhiên trong giai đoạn này chưa có một văn bản quy phạm pháp luật nào quy định một cách chặt chẽ, cụ thể về trình tự thủ tục hoạt động thực hành quyền công tố, từ đó dẫn đến việc gặp nhiều khó khăn trong công tác đấu tranh phòng và chống tội phạm.[20]
Trong Điều 1, Luật Tổ chức VKSND năm 1981 có quy định: “VKSND
tối cao, các VKSND địa phương, các VKS quân sự trong phạm vi quyền hạn của mình thực hiện quyền công tố Quyền công tố là quyền của Nhà nước giao cho VKS truy tố kẻ phạm tội ra trước Tòa án Hiện nay chưa có quy định
về thủ tục tư tố Trong một số tội phạm nhất định như tội phạm vu khống, làm nhục và một số tội phạm khác, việc tiến hành các vụ án đó theo thủ tục tư tố”
Tiếp đó, Luật Tổ chức VKSND (sửa đổi) năm 1988 ban hành, qui định tại Điều 9 về công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự thực hiện theo quy định tại Điều 141, Điều 142 BLTTHS năm 1988
Trang 40Đến Luật Tổ chức VKSND năm 1992 thì tại Điều 1, Điều 3, Điều 15, Điều 16 đã quy định một cách cụ thể về quyền công tố của VKSND trong TTHS Đây là một sự hoàn thiện có tính hệ thống về mặt lập pháp Lần đầu tiên, quyền công tố được nhắc đến ở rất nhiều điều luật và quyền công tố được xác định như là một quyền năng được quy định trong chương 4
Thể chế hoá các quan điểm của Đảng về cải cách tư pháp, cụ thể hoá các quy định của Hiến pháp năm 1992; sửa đổi, bổ sung năm 2001, Quốc hội
đã thông qua Luật tổ chức VKSND năm 2002 Theo quy định tại Điều 3 Luật
tổ chức VKSND năm 2002, VKSND thực hiện chức năng, nhiệm vụ bằng 6 công tác sau:
“1 Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra các vụ án hình sự của các cơ quan điều tra và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra;
2 Điều tra một số loại tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ thuộc các cơ quan tư pháp;
3 Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xét xử các vụ án hình sự;
4 Kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, hành chính, kinh tế, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật;
5 Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc thi hành bản án, quyết định của Toà án nhân dân;
6 Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc tạm giữ, tạm giam, quản